1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đề tài tội phạm học về Nguyên nhân kinh tế xã hội của tội phạm môi trường hiện nay và những vấn đề rút ra đối với công tác phòng ngừa

16 85 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 16
Dung lượng 652,35 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội... Các thuyết kiểm soát xã hội tập trung vào quá trình như hội nhập phát triển.. Các khu công nghiệp, làng nghề, khu đô

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

KHOA LUẬT 🙢 🕮 🙠

TIỂU LUẬN CUỐI KỲ

Môn: Tội phạm học Giảng viên môn học: TS Nguyễn Anh Tuấn Người thực hiện: Trịnh Mai Anh

MSSV: 18032656 Lớp: Kép 11 – Luật học

ĐỀ TÀI:

Nguyên nhân kinh tế - xã hội của tội phạm môi trường hiện nay và những vấn đề rút ra đối với công tác phòng ngừa

Hà Nội, tháng 1 năm 2022

Trang 2

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 3

NỘI DUNG 4

1 Một số vấn đề lý luận về nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường 4

1.1 Khái niệm, đặt điểm của nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường 4

1.1.1 Nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm 4

1.1.2 Tội phạm môi trường 5

1.2 Khung lý thuyết áp dụng 7

1.2.1 Học thuyết học tập xã hội 7

1.2.2 Thuyết kiểm soát xã hội 7

2 Thực trạng hiện nay về tình hình phạm tội liên quan đến vấn đề môi trường ở Việt Nam 8 3 Nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường 10

3.1 Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ bản, môi trường đô thị 10

3.2 Lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản, đa dạng sinh học 10

3.3 Lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, làng nghề 11

3.4 Lĩnh vực thương mại, xuất nhập khẩu và quản lý chất thải nguy hại 11

3.5 Lĩnh vực môi trường y tế và an toàn vệ sinh thực phẩm 12

4 Những vấn đề rút ra đối với công tác phòng ngừa 12

KẾT LUẬN 15

TÀI LIỆU THAM KHẢO 16

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam đang trong giai đoạn đầu của cách mạng công nghiệp lần thứ

tư, khoa học công nghệ ngày càng phát triển vượt bậc, cơ sở hạ tầng ở khắp nơi đều được nâng cấp với tốc độ chóng mặt, đời sống người dân được cải thiện từng ngày Nhưng đi kèm với sự phát triển của công nghiệp 4.0 thì những tác hại đối với môi trường do con người gây ra cũng có xu hướng tăng lên Ô nhiễm môi trường, dịch bệnh truyền nhiễm, biến đổi khí hậu, suy giảm đa dạng sinh học, suy thoái đất, tài nguyên nước, môi trường biển… đã, đang và sẽ tiếp tục là vấn đề mang tính toàn cầu, làm thay đổi hệ sinh thái tự nhiên, đời sống kinh tế – xã hội không chỉ ở Việt Nam mà cả trên toàn thế giới Thực tế cho thấy, tình hình tội phạm về môi trường sẽ ngày càng diễn biến phức tạp và trở thành một trong những thách thức lớn nhất đối với an ninh phi truyền thống Xu hướng toàn cầu hóa, tội phạm môi trường có yếu tố nước ngoài gia tăng, diễn biến phức tạp, tinh vi khó phát hiện… sẽ hình thành những vi phạm pháp luật mới, thậm chí những vi phạm

có tính chất nguy hiểm biến đổi thành tội phạm về môi trường, mang tính quốc tế cần phải phòng ngừa Để làm rõ hơn những vấn đề của tội phạm về môi trường hiện nay, em

quyết định lựa chọn đề tài “Nguyên nhân kinh tế - xã hội của tội phạm môi trường hiện

nay và những vấn đề rút ra đối với công tác phòng ngừa”

Trang 4

NỘI DUNG

1 Một số vấn đề lý luận về nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường

1.1 Khái niệm, đặt điểm của nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi

trường

1.1.1 Nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm

Nguyên nhân của tội phạm là tổng thể những hiện tượng tiêu cực của đời sống xã hội kết hợp với những yếu tố tâm lý, những yếu tố sinh học và những tình huống theo cơ chế biện chứng nhất định làm phát sinh ra tội phạm, hỗ trợ, thúc đẩy hay kìm hãm sự tồn tại và phát triển của nó.1

Có rất nhiều yếu tố dẫn đến hành động cá nhân trở thành tội phạm, các yếu tố có ảnh hưởng lớn đến quá trình phát sinh tội phạm có thể kể đến:

- Nhóm nguyên nhân từ môi trường sống

- Nhóm nguyên nhân xuất phát từ phía người phạm tội

- Tình huống cụ thể (trong một số trường hợp được coi là nguyên nhân đưa đến việc phát sinh tội phạm)

Nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm nằm trong nhóm nguyên nhân từ môi trường sống của tội phạm Việc đất nước đang trong giai đoạn đầu của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đã dẫn đến nhiều sự thay đổi trong kinh tế thị trường cũng như đời sống xã hội Kinh tế ngày càng phát triển, kèm theo đó là sự phát triển của xã hội Bên cạnh đó, sự phân hóa giàu nghèo cũng ngày càng rõ rệt hơn là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc phát sinh tội phạm Nhân tố không thuận lợi từ chính sách, pháp luật được coi là nguyên nhân phát sinh tội phạm có thể là do quy định của chính sách, pháp luật còn lỏng lẻo, sơ hở, chưa chặt chẽ hoặc không công bằng, thiếu thoả đáng, Hoạt động của các cơ quan quản lý trong các lĩnh vực còn chua đồng bộ, lỏng lẻo, thiếu kiên quyết trong xử lý vi phạm Sự phối hợp giữa các cơ quan chức nàng trong xử lý vi phạm, tội phạm còn chưa thực sự hiệu quả Các nhân tố khác có thể ảnh hưởng tới sự phát sinh

1 Trịnh Tiến Việt – Nguyễn Khắc Hải (2020), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.130

Trang 5

tội phạm có thể kể đến như tác động từ phong tục, tập quán lạc hậu, tác động từ trào lưu văn hoá ngoại lai không lành mạnh,

1.1.2 Tội phạm môi trường

Tội phạm về môi trường là tội phạm về môi trường xâm phạm đến các quan hệ xã hội liên quan đến việc bảo vệ môi trường tự nhiên thuận lợi, có chất lượng, đến việc sử dụng hợp lí nguồn tài nguyên thiên nhiên và việc bảo đảm an ninh sinh thái đối với dân

Các tội phạm về môi trường là những hành vi nguy hiểm cho xã hội vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, qua đó gây thiệt hại cho môi trường Căn cứ theo Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung 2017 thì các tội phạm về môi trường được chia thành 4 nhóm và sắp xếp theo trật tự sau:

- Nhóm 1: Các hành vi gây ô nhiễm môi trường (các Điều 235, 236, 237 và 239)

- Nhóm 2: Các hành vi làm lây lan dịch bệnh nguy hiểm cho người và động vật (Điều 240 và Điều 241);

- Nhóm 3: Các hành vi hủy hoại tài nguyên môi trường (Điều 242 và Điều 243);

- Nhóm 4: Các hành vi xâm phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường (Điều 238, 244, 245 và Điều 246)

Dấu hiệu pháp lý của tội phạm môi trường:

- Khách thể của tội phạm:

Các tội phạm về môi trường xâm hại đến sự bền vững và ổn định của môi trường; xâm hại đến các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực quản lý và bảo vệ môi trường, gây ra những hậu quả nghiêm trọng, hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho môi trường sinh thái cũng như cho tính mạng, sức khoẻ, tài sản của con người

- Mặt khách quan của tội phạm:

Hành vi khách quan của các tội phạm về môi trường rất đa dạng Hành vi đó có thể được thực hiện thông qua việc vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, gây ô nhiễm môi trường; gây dịch bệnh cho con người và động vật; huỷ hoại tài nguyên môi trường hoặc vi phạm chế độ bảo vệ đặc biệt đối với một số đối tượng môi trường Hầu hết các hành vi phạm tội đều được thực hiện dưới dạng hành động (làm một việc pháp luật không

Trang 6

cho phép làm) như gây ô nhiễm không khí; gây ô nhiễm nguồn nước; nhập khẩu công nghệ, máy móc, thiết bị, phế thải hoặc các chất không đảm bảo tiêu chuẩn bảo vệ môi trường; huỷ hoại nguồn lợi thuỷ sản

Hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường, hầu hết chỉ cấu thành tội phạm khi có dấu hiệu đã bị xử phạt hành chính Hành vi vi phạm đã bị xử phạt hành chính phải

là hành vi vi phạm pháp luật về môi trường cùng loại mới được coi là căn cứ để xác định dấu hiệu này Ví dụ một người đã bị xử phạt hành chính về hành vi nhập khẩu máy móc, thiết bị không bảo đảm tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, chưa hết thời hạn một năm, nay lại tiếp tục vi phạm thì mới bị coi là đã bị xử phạt hành chính

Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của 11 tội phạm về môi trường (tội làm lây lan dịch bệnh truyền nhiễm nguy hiểm cho người có cấu thành hình thức, hậu quả không phải dấu hiệu bắt buộc)

- Chủ thể của tội phạm:

Chủ thể của các tội phạm về môi trường có thể là cá nhân hoặc pháp nhân thương mại Trong một số tội, chủ thể còn có thể là cả những người có chức vụ, quyền hạn

 Trường hợp chủ thể của tội phạm là cá nhân:

Chủ thể của tội phạm phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự Bộ luật Hình sự không quy định thế nào là năng lực trách nhiệm hình sự nhưng có quy định loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự tại Điều 21 Bộ luật Hình sự Theo đó, người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi đang mắc bệnh tâm thần, một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, thì không phải chịu trách nhiệm hình sự Như vậy, người có năng lực trách nhiệm hình sự phải là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội trong khi có năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình

Độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự Người từ đủ 16 tuổi sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi loại tội Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một số điều nhưng không có điều nào thuộc Chương

Trang 7

XIX Bộ luật hình sự Như vậy chủ thể của tội phạm về môi trường phải là người từ đủ

16 tuổi trở lên

Chủ thể của tội phạm có thể là cá nhân thực hiện tội phạm một mình nhưng cũng

có thể là nhiều người cùng thực hiện tội phạm Trường hợp nhiều người thực hiện cùng một tội phạm được quy định theo Điều 17 Bộ luật Hình sự

 Trường hợp chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại:

Quy định chủ thể của tội phạm là pháp nhân thương mại là một quy định hoàn toàn mới, lần đầu được ghi nhận tại Bộ luật Hình sự năm 2015, trong đó, điều kiện chịu trách nhiệm của pháp nhân thương mại được quy định đầy đủ, cụ thể tại Điều 75 Bộ luật Hình sự

- Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội phạm được thực hiện do lỗi cố ý, có thể là lỗi cố ý trực tiếp hoặc lỗi cố ý gián tiếp Chủ thể phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước được hậu quả của hành vi đó, thường là không mong muốn nhưng có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra

1.2 Khung lý thuyết áp dụng

1.2.1 Học thuyết học tập xã hội

Học thuyết này cho rằng tất cả mọi hành vi được học tập nhiều lần cùng một cách

và tội phạm, như những dạng hành vị khác, cũng được học tập Con người học cách phạm tội từ những người khác, như bao gồm việc học các chỉ tiêu, giá trị và hình mẫu của các hành vi dẫn đến việc phạm tội Do đó, thco như học thuyết nghiên cứu, hành vi phạm tội là một sản phẩm của môi trường xã hội và không phải tính cách bẩm sinh của mỗi người.2

Trong trường hợp này, đối với tội phạm môi trường, có thể nhận định rằng một trong những hành vi gây tác hại đến với môi trường được các đối tượng học tập dựa theo những hành vi sai lệch đã từng xuất hiện một vài hoặc nhiều lần trước đó

1.2.2 Thuyết kiểm soát xã hội

2 Trịnh Tiến Việt – Nguyễn Khắc Hải (2020), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.170

Trang 8

Thuyết kiếm soát xã hội tìm kiếm để xác định những nét đặc trưng của các cá nhân và môi trường giữ cho con người không thực hiện hành vi phạm tội Thuyết kiểm soát

xã hội đạt đến một bước xa hơn khía cạnh tĩnh của nhân cách và đặc trưng vật lý của môi trường để tập trung vào các quá trình mà thông qua đó sự hội nhập xã hội phát triển Chính mức độ hội nhập của một người đôi với các tổ chức xã hội mang tính tích cực và với những tổ chức quan trọng khác để xác định mức đề kháng của người đó đổi với hành

vi lệch lạc và sự cám dỗ phạm tội Các thuyết kiểm soát xã hội tập trung vào quá trình như hội nhập phát triển Thay vì nhấn mạnh yếu tố nhân quả trong hành vi phạm tội, các thuyết kiểm soát xã hội có xu hướng đặt câu hỏi tại sao con người lại thực sự tuân theo quy tắc thay vì phá vỡ chúng.3

Đối với nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường, thuyết kiểm soát xã hội được sử dụng để nhìn nhận được các tác động từ bên ngoài khiến cho các đối tượng thực hiện hành vi phạm tội của mình

2 Thực trạng hiện nay về tình hình phạm tội liên quan đến vấn đề môi trường ở Việt Nam

Thực tiễn hội nhập kinh tế quốc tế những năm qua cho thấy, Việt Nam đã mở ra một giai đoạn mới trong quá trình phát triển kinh tế, xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Bên cạnh hiệu quả về phát triển kinh tế xã hội, Việt Nam cũng đối diện với vấn đề môi trường bị ô nhiễm Các khu công nghiệp, làng nghề, khu đô thị được hình thành nhanh chóng làm cho nguồn rác thải công nghiệp cũng như rác thải sinh hoạt đưa vào môi trường ngày càng nhiều, gây ô nhiễm không khí, đất, nước Hầu hết các khu công nghiệp chưa có hệ thống xử lý môi trường tập trung hoặc có nhưng hoạt động chỉ mang tính chất đối phó, việc các doanh nghiệp, cơ sở sản xuất xả nước thải trực tiếp ra sông, biển là khá phổ biến Tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào nước ta dưới hình thức phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trong nước, kể cả thiết bị công nghệ lạc hậu dẫn đến nguy cơ biến nước ta thành bãi thải công nghiệp Tình trạng săn bắt, buôn bán động vật hoang dã, quý hiếm xảy ra hết sức nghiêm trọng, làm giảm tính đa

3 Trịnh Tiến Việt – Nguyễn Khắc Hải (2020), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.171

Trang 9

dạng sinh học; số vụ ngộ độc thực phẩm, ngộ độc hóa chất bảo vệ thực vật tăng nhanh làm cho tình hình tội phạm về môi trường và vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường ở Việt Nam ngày càng gia tăng, không những ảnh hưởng tới tính mạng, sức khỏe và tài sản của cá nhân, tổ chức mà còn gây thiệt hại nghiêm trọng đối với môi trường nói chung Theo số liệu thống kê của Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường (C05) Bộ Công an, từ năm 2006 đến năm 2015, toàn lực lượng đã phát hiện 170.875 vụ vi phạm pháp luật về môi trường; xử lý hành chính 141.000 vụ, khởi tố 2.624 vụ với 4.357 bị can; xử phạt vi phạm hành chính 97.000 vụ với số tiền 1.166 tỉ đồng Đặc biệt, đã điều tra, xử lý nhiều vụ phạm tội về môi trường, tập trung vào lĩnh vực tài nguyên khoáng sản, an toàn thực phẩm Số liệu của Tòa án nhân dân tối cao cho thấy, trong 11 năm từ năm 2010 đến năm 2020, hệ thống tòa án nhân dân đã thụ lý 2.842 vụ án về môi trường với 4.445 bị cáo Trong đó xét xử 2.237 vụ với 4.145 bị cáo phạm tội về môi trường, chiếm 0,37% tổng số vụ án hình sự đã xét xử.4

Số liệu thống kê trên cho thấy tình hình tội phạm về môi trường diễn ra có xu hướng ngày càng tăng, nhưng chủ yếu mới chỉ điều tra, khởi tố và đưa ra xét xử đối với các hành vi vi phạm thuộc các tội danh: “Gây ô nhiễm môi trường” (Điều 235 Bộ luật Hình sự, chỉ khởi tố được cá nhân phạm tội), “Hủy hoại rừng” (Điều 243 Bộ luật Hình sự) và tội “Vi phạm quy định về bảo vệ động vật hoang dã, quý hiếm” (Điều 244) và gần đây nhất tình hình dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng đối với nhân loại, nước ta đã khởi tố, truy tố, xét xử hành vi “Làm lây lan dịch bệnh” (Điều 240) Trong khi đó, các tội danh khác, mặc dù gây hậu quả rất nghiêm trọng cho sức khỏe, tài sản của người dân và môi trường xung quanh nhưng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự được Điển hình như vụ Vedan, Nicotex Thanh Thái, Hào Dương, Formosa Hà Tĩnh và gần đây nhất là vụ gây ô nhiễm nước sạch sông Đà chỉ xử lý được cá nhân, trong khi pháp nhân thương mại (chủ quản lý nguồn chất thải nguy hại) thì không xử lý được,…

4 Nguyễn Hữu Hòa (2018), Thực trạng và giải pháp phòng ngừa các tội phạm về môi trường ở Việt Nam hiện nay,

Tạp chí Tòa án nhân dân, https://tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/thuc-trang-va-giai-phap-phong-ngua-cac-toi-pham-ve-moi-truong-o-viet-nam-hien-nay, truy cập 13/1/2022

Trang 10

3 Nguyên nhân kinh tế – xã hội của tội phạm môi trường

Đất nước ta trong thời kỳ hội nhập quốc tế, nhiều chính sách ưu đãi nhằm thu hút vốn đầu tư trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh; nhập khẩu máy móc, phương tiện, thiết bị… phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa Kinh tế – xã hội ngày càng phát triển thì lại càng tạo sức ép đối với môi trường và việc ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi Trong tất cả các lĩnh vực kinh tế – xã hội hiện này đều đang diễn ra vấn nạn ô nhiễm môi trường vô cùng nghiêm trọng, nguyên nhân chính dẫn đến những sự ô nhiễm nặng nề đó lại có thể do chính từ những hành động nhỏ tưởng chừng như vô hại của chúng ta hiện nay

3.1 Lĩnh vực công nghiệp, xây dựng cơ bản, môi trường đô thị

Ô nhiễm môi trường ở khu vực đô thị ngày càng gia tăng, chủ yếu là ô nhiễm không khí do phương tiện giao thông, hoạt động xây dựng và chất thải sinh hoạt Tại nhiều dự

án xây dựng khu đô thị, khu chung cư, công tác đánh giá tác động môi trường chỉ mang tính thủ tục Nguyên nhân chủ yếu của tình hình trên là do việc chấp hành pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực xây dựng cơ bản gần như bị xem nhẹ trong thời gian dài, các yêu cầu bảo vệ môi trường trong quá trình triển khai dự án hầu như chỉ mang tính thủ tục, thiếu cơ chế giám sát thực hiện

Do áp lực tăng trưởng kinh tế địa phương, nhận thức chưa đầy đủ về hậu quả của tội phạm môi trường nên chính quyền một số địa phương, ban ngành kêu gọi đầu tư dàn trải, cấp phép kinh doanh ồ ạt, không quan tâm đến việc thẩm định ảnh hưởng của các dự án đối với môi trường; chỉ quan tâm đến lợi ích kinh tế trước mắt, chưa chú trọng đúng mức đến công tác bảo vệ môi trường

3.2 Lĩnh vực tài nguyên, khoáng sản, đa dạng sinh học

Các cơ sở khai thác khoảng sản hiện nay hầu hết đều không thực hiện, hoặc thực hiện không đầy đủ báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường trong quá trình khai thác, chế biến khoáng sản; không thực hiện việc xây dựng công trình

xử lý nước thải hoặc thực hiện không đúng những nội dung xây dựng công trình xử lý chất thải trong bản đăng ký đạt tiêu chuẩn môi trường; xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép; không phục hồi, hoàn thổ hoàn nguyên môi trường sau khai thác Lý do chính có

Ngày đăng: 20/03/2022, 04:41

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w