Nó thay thế bốn Công ước Geneva về Luật Biển năm 1958 và điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của luật biển quốc tế phân định ranh giới các vùng biển khác nhau, chẳng hạn như lãnh hải, vùng t
Trang 1KHOA LUẬT
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TIỂU LUẬN
Nam về bảo vệ môi trường môi trường biển Theo anh chị chúng ta cần phải làm gì để bảo vệ môi trường biển được tốt
hơn
Môn học: LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ
Giảng viên hướng dẫn:TS Mai Hải Đăng
Sinh viên thực hiện: Trần Đình Vũ
Mã sinh viên: 18030429 – Luật Kép 11
Trang 2Mục Lục:
CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG BIỂN 3
1.1 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển 3
1.2 Nội dung của pháp luật về môi trường biển 4
1.2.2 Pháp luật Việt Nam 5
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN HIỆN NAY 6
2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển 6
2.1.1 Quy định pháp luật Quốc Tế về bảo vệ môi trường biển 6
2.1.2 Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển 10
2.2 Tình hình thực hiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển hiện nay 12
CHƯƠNG III ĐÁNH GIÁ PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN HIỆN NAY 13
3.1 Chính sách về bảo vệ môi trường biển 13
3.2 Một số đề xuất, giải pháp, nhằm bảo vệ môi trường biển hiện nay 17
TÀI LIỆU THAM KHẢO 19
Trang 3CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1 Pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển
Pháp luật Việt Nam hiện hành không giải thích thuật ngữ pháp lý bảo vệ môi trường biển và các thuật ngữ liên quan Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cũng không có định nghĩa về môi trường biển Xuất phát từ quan niệm “môi trường” với đặc tính tổng thể, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014 định
nghĩa:“môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhăn tạo có tác động đổi
với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật"
Đây là định nghĩa đầy đủ nhất về môi trường trong đó khẳng định không chỉ con người mà sinh vật cũng là trung tâm của hoạt động bảo vệ Bởi vì, khác với định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, định nghĩa này đã nhìn nhận, đánh giá các yếu
tố môi trường và sự tương tác trong một “hệ thống” Từ góc độ không gian lãnh thổ, có thể phân loại môi trường thành môi trường biển, môi trường đất, môi trường không khí, môi trường nước Như vậy, môi trường biển là một bộ phận cấu thành môi trường chung
Trong pháp luật Việt Nam, “bảo vệ môi trường” được giải thích rất cụ thể thông
qua thuật ngữ “hoạt động bảo vệ môi trường” Theo đó bảo vệ môi trường là “giữ gìn,
phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường; ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm giữ môi trường trong lành”
Như vậy, theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, hoạt động bảo vệ môi trường biển bao gồm các hoạt động giữ gìn, bảo tồn môi trường bao gồm bảo vệ đa dạng sinh học và các nguồn tài nguyên sinh vật và phi sinh vật biển; và kiểm soát môi trường biển Theo định nghĩa này, các mức độ, cách thức bảo vệ môi trường biển bao gồm: (i) giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xấu đến môi trường biển; (ii) ứng phó sự cố môi trường; (iii) khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện, phục hồi môi trường biển; (iv) khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên
Điều 3 khoản 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thiên nhiên biển nhằm giữ môi trường trong lành Định nghĩa này là một định nghĩa mở bởi không nhấn mạnh các
Trang 4nguồn ô nhiễm và cũng không hạn chế phạm vi điều chỉnh đối với các hành vi đang diễn ra Pháp luật Việt Nam cũng phân biệt hai hoạt động ô nhiễm môi trường biển và suy thoái môi trường biển O nhiễm môi trường biển được hiểu là sự biển đổi của các thành phần môi trường biển không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật, đặc biệt sinh vật biển Trong khi đó suy thoái môi trường biển là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần môi trường biển, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật, trong đó, đặc biệt ảnh hưởng tới sinh vật biển (Theo Điều 3 khoản 8 Luật Bào vệ môi trường năm
2014 và Theo Điều 3 khoản 9 Luật Bào vệ môi trường năm 2014) Như vậy, mức độ thay đổi về chất lượng và số lượng của thành phàn môi trường sẽ là thước đo để xác định hiện tượng ô nhiễm hay suy thoái môi trường biển để có sự kiểm soát phù hợp
Tuy nhiên, trong phạm vi chương này chỉ đề cập đến các hành vi gây ô nhiễm
do con người gây ra trực tiếp hoặc gián tiếp và cũng sẽ chỉ giới hạn trong vấn đề kiểm soát ô nhiễm, vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học biển, trong đó, các tài nguyên sinh vật,
ở một góc độ nhất định là một bộ phận cấu thành đa dạng sinh học biển Và chương này cũng chỉ đề cập chủ yểu đến vấn đề bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển Việt Nam cũng như kiểm soát ô nhiễm môi trường biển mà không đề cập đến bảo vệ tài nguyên phi sinh vật của Việt Nam.1
1.2 Nội dung của pháp luật về môi trường biển
1.2.1 Pháp luật Quốc Tế
Với tổng số 320 điều khoản, Công ước là hiệp ước đa phương toàn diện và quan trọng nhất được phát triển trong UN khuôn khổ Nó thay thế bốn Công ước Geneva về Luật Biển năm 1958 và điều chỉnh hầu hết các lĩnh vực của luật biển quốc tế (phân định ranh giới các vùng biển khác nhau, chẳng hạn như lãnh hải, vùng tiếp giáp, eo biển, quần đảo, vùng đặc quyền kinh tế khu vực, thềm lục địa và vùng biển cả; sử dụng các khu vực này bằng hàng hải, hàng không, đặt đường ống và cáp, đánh cá và nghiên cứu; bảo vệ môi trường biển; phát triển và chuyển giao công nghệ biển; khai thác dưới đáy
1 Lê Minh Trường, 09/04/2021, “Quy định của pháp luật Việt Nam về Môi trường biển”, Luật Minh Khuê, truy cập ngày 18/01/2022 tại địa chỉ: https://luatminhkhue.vn/quy-dinh-phap-luat-viet-nam-ve-bao-ve-moi-truong-bien.aspx
Trang 5biển; giải quyết tranh chấp, đặc biệt với việc thành lập Tòa án Quốc tế về Luật Biển) Công ước vừa hệ thống hóa luật hiện hành vừa đưa ra các quy tắc quốc tế mới về luật biển, ví dụ như trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển.Các quốc gia thành viên thảo luận
về việc thực hiện Công ước tại các cuộc họp hàng năm Những nội dung về bảo vệ môi trường biển gồm một số điều cơ bản sau đây:
* Tất cả các Quốc gia được hưởng các quyền tự do truyền thống về hàng hải, hàng không, nghiên cứu khoa học và đánh bắt cá trên biển cả; họ có nghĩa vụ thông qua hoặc hợp tác với các Quốc gia khác trong việc áp dụng các biện pháp quản lý và bảo tồn các nguồn sống;
* Các quốc gia giáp biển kín hoặc nửa kín dự kiến sẽ hợp tác trong việc quản lý các chính sách và hoạt động tài nguyên sinh vật, môi trường và nghiên cứu;
* Các Quốc gia không giáp biển có quyền ra vào biển và được hưởng quyền tự do đi lại qua lãnh thổ của các Quốc gia quá cảnh;
* Các quốc gia có nghĩa vụ ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và chịu trách nhiệm về thiệt hại do vi phạm các nghĩa vụ quốc tế của mình trong việc chống ô nhiễm đó
1.2.2 Pháp luật Việt Nam
Cho đến nay, Việt Nam đã ban hành nhiều đạo luật quan trọng điều chỉnh hoạt động bảo vệ, sử dụng hợp lý tài nguyên thiên :nhiên, kiểm soát ô nhiễm, tạo cơ sở pháp
lý quan trọng cho các hoạt động bảo vệ môi trường biển Ngoài Hiến pháp năm 2013, đạo luật cơ bản xác định các nguyên tắc hiến định về bảo vệ môi trường trong đó có môi trường biển, một số đạo luật điều chỉnh trực tiếp hoặc gián tiếp bảo vệ môi trường biển đã được ban hành Các đạo luật quan trọng trong lĩnh vực này bao gồm Luật Bảo
vệ môi trường năm 2014, Luật Biển Việt Nam năm 2012, Luật Tài nguyên nước năm
2012, Luật Đa dạng sinh học năm 2008, Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004, Luật Năng lượng nguyên tử năm 2008, Luật Dầu khí năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2000
và 2008), Luật Thủy sản năm 2003, Bộ luật Hàng hải năm 2015 và Luật Tài nguyên,
môi trường biển và hải đảo năm 2015
Trang 6Trong các đạo luật trên, Luật Bảo vệ môi trường có vai trò như đạo luật khung, xác định các nguyên tắc chung bảo vệ môi trường biển, một thành tố của môi trường Việt Nam, đặc biệt nhấn mạnh nguyên tắc phát triển bền vững trong bảo vệ môi trường Luật Bảo vệ môi trường cũng chuẩn hóa nhiều khái niệm, thuật ngữ liên quan đến bảo
vệ môi trường biển như môi trường, ô nhiễm mồi trường, hoạt động bảo vệ môi trường, kiểm soát môi trường Một số đạo luật điều chỉnh những khía cạnh nhất định của bảo
vệ môi trường biển như Luật Biển Việt Nam xác định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán đối với bảo vệ môi trường trong các vùng biển của Việt Nam Luật Đa dạng sinh học điều chỉnh vấn đề bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên biển Đặc biệt, Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo được Quốc hội thông qua ngày 25 tháng 6 năm 2015 đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong điều chỉnh pháp lý bảo
vệ môi trường biển, bởi vì, khác với nhiều đạo luật khác, đạo luật này điều chỉnh trực tiếp các hoạt động bảo vệ môi trường biển Việt Nam Luật gồm 10 chương, 81 điều, bao gồm những quy định về quản lý tổng hợp tài nguyên và bào vệ môi trường biển và hải đảo; quyền, nghĩa vụ, trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quản lý tổng hợp tài nguyên, bảo vệ môi trường biển và hải đảo Việt Nam,
Hệ thống các văn bản pháp luật này một mặt giúp Việt Nam thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển, mặt khác, quy định các hành động, biện pháp cụ thể để bảo vệ môi trường biển Việt Nam về cơ bản, các quy định của pháp luật Việt Nam trong lĩnh vực này đã tiếp cận các quan điểm hiện đại trong quản lý, bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển thông qua hệ thống các quy định về phương thức quản lý tổng hợp trong khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên biển nói riêng, môi trường biển nói chung cũng như kiểm soát ô nhiễm môi trường biển
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN HIỆN NAY
2.1 Quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển
2.1.1 Quy định pháp luật Quốc Tế về bảo vệ môi trường biển
Các quy định về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển tập trung vào các nội dung chính sau đây:
Nghĩa vụ chung của các quốc gia trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường biển
Trang 7Điều khoản đầu tiên trong Phần XII Công ước luật biển năm 1982 xác định rõ ràng nghĩa vụ chung của các quốc gia là bảo vệ và giữ gìn môi trường biển (Tên Điều 192 Công ước luật biển năm 1982: “Nghĩa vụ chung”) Có thể nhận định, với cách quy định như vậy, Công ước đã đưa đến cho điều khoản này giá trị hiệu lực của một nguyên tắc pháp lý Điều đó có nghĩa là, trong mọi trường hợp, nghĩa vụ giữ gìn và bảo vệ môi trường biển chính là kim chỉ nam cho các hoạt động của các chủ thể Luật quốc tế trong quá trình sử dụng biển hoặc thực hiện các hành vi có thể gây hại cho môi trường biển Nói cách khác, nghĩa vụ chung này là thước đo tính hợp pháp các hành vi của chủ thể Luật quốc tế cũng như là cơ sở để xây dựng và thực hiện pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển Với tính chất là một nguyên tắc, nghĩa vụ chung này cũng đòi hỏi các chủ thể của Luật quốc tế phải có ý thức thực hiện nghĩa vụ đó trong mọi khả năng có thể cũng như với các yêu cầu cao nhất
Công ước xác định các quốc gia còn có nghĩa vụ thi hành tất cả các biện pháp được thực hiện riêng lẻ hoặc hợp tác với các quốc gia khác để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự các hành vi gây ô nhiễm môi trường biển Điều 194 khoản 1 Công ước luật biển năm 1982 quy định rõ:
“Các quốc gia, tùy theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau tất cả các
biện pháp cần thiết phù hợp với Công ước để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển, sử dụng các phương tiện thích hợp nhất mà mình có, và cố gắng điều hòa các chính sách của mình liên quan đến vấn đề này”
Quy định tại Điều 194 chủ yếu mang tính chất khung, không liệt kê các biện pháp các quốc gia phải sử dụng mà để các quốc gia có thể lựa chọn biện pháp phù hợp trong đó
có thể là các biện pháp chính trị, pháp lý bao gồm biện pháp lập pháp, hành pháp, tư pháp, các cơ chế trách nhiệm pháp lý Điều 235 Công ước luật biển năm 1982 cũng xác định rõ trách nhiệm pháp lý cũng như trách nhiệm bồi thường thiệt hại gây ra đối với môi trường
Quyền được khai thác tài nguyên thiên nhiên phù hợp với chính sách môi trường
Pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển cũng ghi nhận quyền được khai thác tài nguyên thiên nhiên phù hợp với chính sách môi trường Theo đó, các quốc gia có quyền thuộc chủ quyền khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình theo chính sách về môi
Trang 8trường của mình và theo đúng nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển của mình (Điều 193 Công ước luật biển năm 1982) Như vậy, kể cả trong trường hợp quốc gia thực hiện quyền chủ quyền trong khai thác tài nguyên thiên nhiên, quốc gia vẫn có nghĩa
vụ phải bảo vệ và giữ gìn môi trường biển
Quyền và nghĩa vụ của các quốc gia trong việc giữ gìn và bảo vệ môi trường biển
Luật biển quốc tế tiếp cận việc điều chỉnh hoạt động bảo vệ môi trường biển theo thẩm quyền tài phán của các quốc gia theo các vùng biển cũng như xác định thẩm quyền tài phán theo các tiêu chí áp dụng đối với quốc gia ven biển, quốc gia tàu mang quốc tịch hoặc quốc gia cảng biển nơi tàu vi phạm xuất phát hoặc cập bến Các quốc gia này đều
có nghĩa vụ ban hành luật và quy định trong nước nhằm ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển:
- Đối với các quốc gia ven biển, Luật quốc tế ghi nhận quyền tài phán của quốc gia, xuất phát từ chủ quyền hoặc quyền chủ quyền của quốc gia trong các vùng biển như nội thủy, lãnh hải, tiếp giáp lãnh hải, đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, đối với các vi phạm của tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biển của quốc gia Quốc gia ven biển có quyền ban hành các quy định pháp luật nhằm ngăn chặn ô nhiễm biển bởi tàu thuyền trong vùng lãnh hài1 và đặc quyền kinh tế (Điều 211 khoản 4 Công ước luật biển năm
1982 và Điều 211 khoản 5 Công ước luật biển năm 1982) phù hợp với các quy tắc và luật lệ quốc tế Thẩm quyền lập pháp của quốc gia ven biển trong lãnh hải gần như tuyệt đối
Quốc gia ven biển có quyền tiến hành to tụng nếu việc vi phạm gây ra thiệt hại lớn hoặc
đe dọa gây thiệt hại lớn cho bờ biển hoặc các lợi ích liên quan của mình, bao gồm việc bắt giữ tàu theo luật quốc gia mình hoặc cho phép chiếc tàu đó tiếp tục hành trình nếu như nó đã đóng tiền thế chân hoặc có các biện pháp tài chính đảm bảo việc tuân thủ.1 Đồng thời, quốc gia ven biển có quyền áp dụng các biện pháp chế tài dân sự nhằm khắc phục và đền bù cho những thiệt hại gây ra cho môi trường biển Các biện pháp chế tài hình sự được áp dụng đối với những vi phạm cố ý và nghiêm ừọng trong lãnh hải và chỉ
áp dụng các hình thức phạt tiền áp dụng đối với tàu nước ngoài vi phạm ngoài lãnh hải (Điều 220 khoản 7 Công ước luật biển năm 1982 và Điều 230 Công ước luật biển năm 1982)
Trang 9- Đối với các quốc gia mà tàu thuyền mang quốc tịch, Luật quốc tế quy định các quốc gia có nghĩa vụ bảo đảm các tàu thuyền mang cờ của mình hay được mình cho đăng ký tôn trọng các quy tắc và quy phạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua vai trò trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao chung, cũng như các luật và quy định mà các quốc gia này đã thông qua theo đúng Công ước
để ngăn ngừa hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển do tàu thuyền gây ra Quốc gia mà tàu mang cờ phải quan tâm đến việc các quy tắc, quy phạm, luật và quy định này được áp dụng một cách có hiệu quả, không phụ thuộc địa điểm xảy ra vi phạm (Điều
217 Công ước luật biển năm 1982)
- Đối với các quốc gia cảng biển, trong trường hợp một chiếc tàu có mặt ở trong một cảng hay ở một công trình cảng cuối cùng ngoài khơi, quốc gia có cảng có thể mở một cuộc điều tra và, khi có các chứng cứ để chứng minh, có thể khởi tố đối với bất kỳ sự thải đổ nào do chiếc tàu tiến hành ở ngoài nội thủy, lãnh hải hay vùng đặc quyền kinh
tế của mình, vi phạm các luật và quy phạm quốc tế có thể áp dụng, được xây dựng qua vai trò trung gian của tổ chức quốc tế có thẩm quyền hay qua một hội nghị ngoại giao chung
Quy định về kiểm soát các nguồn ô nhiễm
Mục 5 Phần XII Công ước luật biển năm 1982 xác định sáu nguồn gây ô nhiễm chính cần kiểm soát bao gồm:
- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền, kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp;
- Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán của họ;
- Ô nhiễm do các hoạt động trong vùng lan truyền tới;
- Ô nhiễm do sự nhận chìm và trút bỏ chất thải;
- Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền trên biển;
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển
Mặc dù biển cả là nơi được sử dụng chủ yếu cho họạt động của tàu thuyền, tuy nhiên, thực tế, các nguồn ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền chiếm tỉ trọng lớn (khoảng 70%) các nguồn gây ô nhiễm Theo Điều 207 Công ước luật biển năm 1982, các quốc gia có nghĩa
Trang 10vụ ban hành luật, quy định và các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự
ô nhiễm môi trường có nguồn gốc từ đất, kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ, có lưu ý đến các quy tắc và quy phạm cũng như các tập quán và thủ tục được kiến nghị và chấp nhận trên phạm vi quốc tế và khu vực hoặc qua các tổ chức quốc tế trung gian
Về vấn đề ô nhiễm do hoạt động của tàu thuyền gây ra, Công ước chuyên biệt trong lĩnh vực này, Công ước MARPOL 73/78 đã quy định các tiêu chuẩn kỹ thuật được quy định
cụ thể trong 6 phụ lục kèm theo của Công ước như điều chỉnh việc thải dầu xuống biển (Phụ lục 1), kiểm soát chất độc lỏng độc hại trong thùng chứa (Phụ lục 2), kiểm soát các chất độc hại chuyên chở trên biển dưới dạng đóng gói (Phụ lục 3) Bên cạnh đó, Công ước luật biển năm 1982 cũng quy định các quốc gia có nghĩa vụ ban hành luật, quy định và các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường của tàu thuyền nước ngoài trong các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia
Tóm lại, pháp luật quốc tế đã xây dựng một cơ chế pháp lý toàn cầu hữu hiệu để bảo vệ môi trường biển không chỉ ở cấp độ toàn cầu mà còn ở cấp độ khu vực, song phương
và quốc gia
2.1.2 Quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển
Pháp luật Việt Nam hiện hành không giải thích thuật ngữ pháp lý bảo vệ môi trường biển và các thuật ngữ liên quan Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo năm 2015 cũng không có định nghĩa về môi trường biển Xuất phát từ quan niệm “môi trường” với đặc tính tổng thể, Luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam năm 2014 định nghĩa:
“môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhăn tạo có tác động đổi với
sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật"
Đây là định nghĩa đầy đủ nhất về môi trường trong đó khẳng định không chỉ con người
mà sinh vật cũng là trung tâm của hoạt động bảo vệ Bởi vì, khác với định nghĩa trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, định nghĩa này đã nhìn nhận, đánh giá các yếu tố môi trường và sự tương tác trong một “hệ thống” Từ góc độ không gian lãnh thổ, có thể phân loại môi trường thành môi trường biển, môi trường đất, môi trường không khí,