Mô hình hợp tác xã và những vấn đề Sau khi hoàn thành cách mạng ruộng đất 1956 mà thời đó được coi là một bộ phận của cách mạng dân chủ tư sản, Việt Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng
Trang 11 Mô hình hợp tác xã và những vấn đề
Sau khi hoàn thành cách mạng ruộng đất (1956) mà thời đó được coi là một bộ phận của cách mạng dân chủ tư sản, Việt Nam tiếp tục thực hiện cuộc cách mạng thứ hai, tức cách mạng XHCN trong sản xuất nông nghiệp phong trào hợp tác hóa được coi là "khâu then chốt" trong sự nghiệp cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp Tháng 1 năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 16 đã ra Nghị quyết về Hợp tác hóa trong nông nghiệp Trong giai đoạn khôi phục và phát triển kinh tế (1958-1960), khi miền Bắc vừa mới thoát khỏi chiến tranh, nông nghiệp miền Bắc đã đạt được một số kết quá khả quan Cũng như nhiều địa phương trong cả nước, Vĩnh Phúc đã đạt được những thành tựu nhất định: Sản lượng lương thực tính theo đầu người tăng lên nhiều
so với thời kỳ Pháp thuộc Năm 1960, Vĩnh Phúc đạt 478 kg thóc/người, tăng gần gấp đôi so với thời kỳ Pháp thuộc (293 kg/người) Không chỉ cây lúa mà các loại cây hoa màu cũng phát triển mạnh như: Ngô, khoai, sắn đạt gần 7 vạn tấn, mía đạt trên 5 vạn tấn, lạc đạt gần 2.500 tấn, đậu các loại trên 4.000 tấn, v.v Nghề thủ công cũng được phục hồi và phát triển nhanh chóng: Toàn tỉnh có 19.100 lao động chuyên làm nghề thủ công, chiếm 6,3% số lao động trong tỉnh Những làng nghề truyền thống lâu đời như: Rèn Lý Nhân, sành Hương Canh, mộc Thanh Lãng đều sống lại sau bao nhiêu năm bị chiến tranh tàn phá
Thật ra những thành quả mà nông nghiệp miền Bắc đạt được vào những năm
1958-1960 không hẳn là thành quả của hợp tác hóa, vì lúc này, quá trình hợp tác hóa vẫn chưa hoàn thành, trong một phạm vi rất lớn, nông nghiệp vẫn nằm trong tay các hộ nông dân Những thành quả này có những nguyên nhân khá đặc thù của giai đoạn đương thời:
- Thứ nhất, đó là sự phục hồi tất yếu của một nền kinh tế đã từng bị chiến tranh tàn phá nhiều năm Chỉ riêng việc có hòa bình đã là một điều kiện rất thuận lợi để có thể phục hồi ruộng đất hoang hóa trong thời chiến Đồng thời, một số lớn lao động nông nghiệp bị huy động cho chiến tranh (bộ đội, thanh niên xung phong, công nhân quốc phòng ), nay trở lại với ruộng đồng
- Thứ hai, cái gọi là hợp tác xã lúc này mới chỉ là hình thức, thực chất thì phần lớn vẫn là kinh tế tiểu nông Nông dân miền Bắc sau cải cách ruộng đất được chia ruộng, phấn khởi lao động trên mảnh ruộng của mình, những hình thức như hợp tác xã lúc này vẫn chưa xóa bỏ hẳn lối làm ăn của kinh tế hộ
Tuy nhiên, vào lúc đó, những khởi sắc của nông nghiệp thường vẫn được ngộ nhận
là kết quả của hợp tác hóa Cách nhìn này càng khích lệ cả nước nói chung và Vĩnh
Trang 2Phúc nói riêng thêm quyết tâm phát triển Phong trào hợp tác xã trên diện rộng: Trong toàn tỉnh, đến năm 1960, đã tổ chức được 1.350 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút tới 92,6% số hộ nông dân và trên 80% ruộng đất Nông dân trong tỉnh lúc đó đã tưởng tuyệt đối vào chủ trương đường lối của Đảng và hy vọng rằng mô hình hợp tác xã sẽ đem lại một cuộc đổi đời thực sự trong nông nghiệp và trong đời sống nông thôn Thời
kỳ này, phong trào hợp tác xã đã trở thành một phong trào thi đua có sức lôi cuốn rất lớn trong đó HTX Đại phong của tỉnh Quảng Bình là lá cờ đầu Đến cuối năm 1961, Vĩnh Phúc đã có 786 hợp tác xã đăng ký trở thành hợp tác xã Đại Phong Trong số đó,
450 hợp tác xã được công nhận danh hiệu "Đại Phong" của tỉnh, điển hình là Hợp tác
xã Đồng Tâm (huyện Đoan Hùng được Hồ Chủ tịch về thăm vào năm 1961)
Tuy nhiên, thời kỳ "hoàng kim" của mô hình HTX tồn tại không lâu Từ năm 1960, các hợp tác xã đã bắt đầu bộc lộ những nhược điểm của nó Khái quát về mô hình hợp tác xã: Những thế hệ hiện nay và mai sau khó có thể hiểu được thế nào là mô hình hợp tác xã, tại sao nó lại thất bại, tại sao nó được áp đặt một thời gian dài như thế Do vậy, các tác giả xin khái quát một vài nét chính về mô hình đó như sau:
Về nguyên lý, chủ nghĩa xã hội được xây dựng trên hai yếu tố bắt buộc là chế độ
sở hữu xã hội và hình thức lao động tập thể Trong nông nghiệp, hợp tác xã là giai đoạn đầu của chủ nghĩa xã hội Trong đó sở hữu là sở hữu tập thể, tuy chưa phải là sở toàn dân, nhưng không còn là sở hữu tư nhân Tất cả các tư liệu sản xuất như ruộng đất, trâu bò, cày bừa, mương máng đều là của tập thể Về tổ chức lao động, không còn là lối làm ăn cá thể, ai làm nấy hưởng, mà lao động phải được tổ chức trong tập thể, có kế hoạch, có phân công, có chỉ đạo điều hành
Khi sở hữu và lao động đã có tính chất xã hội chủ nghĩa thì phân phối cũng phải theo hình thức xã hội chủ nghĩa Không thể còn hình thức phân phối theo lối kinh doanh tiểu nông mỗi nhà tự lo cày cấy, thu hoạch rồi tự mình làm các nghĩa vụ như nộp thuế, bán nghĩa vụ, đóng góp vào các quỹ của địa phương Sự phân phối đó tất yếu dẫn tới phân hóa giàu nghèo, mà sự phân hóa này lại tất tất yếu dẫn tới bóc lột Trong hợp tác xã thì thu nhập trước hết phải là tài sản của tập thể, được phân phối theo quy luật của chủ nghĩa xã hội: Phân phối theo lao động Cá thể trong nông nghiệp, quy luật này được thực hiện như sau: Tất cả mọi lao động đều được hạch toán thành công và điểm Toàn bộ thu nhập của hợp tác xã sẽ trừ đi các khoán chi phí như nộp thuế, các nghĩa vụ, chi phí quản lý số còn lại chia cho các công điểm
Thế nào là công điểm? Trước hết nói về công: Công là ngày làm việc của người lao động Số ngày làm việc cần thiết cho mỗi loại lao động đều được tính toán theo những định mức do Bộ Nông nghiệp và Ban Nông nghiệp Trung ương hướng dẫn, sau
Trang 3đó được tập thể xã viên họp bàn và xác nhận dựa trên những điều kiện cụ thể của địa phương mình Thí dụ, cày một sào ruộng hết bao nhiêu công cày Gặt một mẫu ruộng hết bao nhiêu công gặt Làm cỏ một sào ruộng hết bao nhiêu công làm cỏ Bón phân, chăn nuôi, giữ trẻ, hộ sinh xã, thầy cô giáo, cán bộ ban chủ nhiệm làm công tác quản
lý và đi họp trên huyện, cán bộ thống kê giữ sổ sách, cán bộ giữ kho, dân quân tự vệ lo việc canh phòng, cán bó văn hóa lo chuyện kẻ khẩu hiệu, gọi loa tuyên truyền, cán bộ văn nghệ và các xã viên đi tập văn nghệ tất cả đều tính ra thành những công Điểm là thước đo mức độ nặng nhọc của các loại công khác nhau Thí dụ, các loại công cày, đào đất, làm thủy lợi là nặng nhọc nhất, mỗi công đó có thể được chấm tới hơn 20 điểm Cô giữ trẻ thì do công việc nhẹ nhàng hơn nên mỗi công chỉ có khoảng mười điểm hoặc thấp hơn nữa (ở HTX nào mà các xã viên không gửi con nhiều, mỗi cô mẫu giáo chỉ trông dăm ba đứa trẻ tại nhà mình, còn có thể kết hợp làm những việc khác trong nhà, thì số điểm của một công còn có thể thấp hơn) Tổng số công các loại được nhân với số điểm tương ứng của các công đó thành ra tổng số điểm của một vụ thu hoạch Tổng số thu hoạch (sau khi trừ các khoản như thuế, nghĩa vụ, tiếp khách ) được chia cho tổng số điểm Mỗi người lao động, từ chủ nhiệm hợp tác xã đến cán bộ thống kê, đến người đi cày, người đánh kẻng, người đi tập văn nghệ đều được hưởng theo tổng số điểm của mình trong vụ
Trên lý thuyết, cách phân phối đó là rất công bằng, rất xã hội chủ nghĩa, tức là làm theo năng lực, hưởng theo lao động Nhưng trong thực tế thì mô hình này đã dẫn hầu hết các hợp tác xã đến chỗ phá sản vì bốn lý do sau đây:
- Thứ nhất, những khoản chi phí ngoài phần thu nhập để chia cho xã viên như tiếp khách, các quỹ khác có xu hướng tăng lên "vô tội vạ."
- Thứ hai, trong phần thu nhập để ăn chia thì số công điểm của những người không trực tiếp sản xuất như họp hành, quản lý có xu hướng tăng lên tới mức "ăn" gần hết vào phần của những người trực tiếp sản xuất, mà thời đó gọi là bệnh "dong công, phóng điểm."
- Thứ ba, do tổ chức lao động tập thể nên lối tính công như vậy làm cho mỗi người lao động không có lợi ích gì trong việc hăng hái lao động Cả một đội năm, bảy người cùng cày một thửa ruộng, gặt một cánh đồng, thì ai làm nhiều hay làm ít, ai đi muộn về sớm hay ai đi sớm về muộn cũng đều được một công như nhau Do đó dẫn tới tình trạng chây lười tập thể, ỷ lại, dây dưa, không ai tích cực lao động cả
- Thứ tư, tình trạng gian dối, khai man ngày càng trở thành phố biến: Chủ nhiệm hay cán bộ HTX chỉ lên xã, lên huyện "đánh chén cũng tính một công đi họp" Bởi
Trang 4vậy, theo điều tra trực tiếp của Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phúc Kim Ngọc thì tại phần lớn các hợp tác xã, người nhiều công điểm nhất lại là các vị trong ban quản trị và các đội trưởng Tại một hợp tác xã, khi xem xong sổ sách, thấy rõ điều bất công đó, ông đã quát mắng cả ban quản trị: "Các anh ăn rồi chỉ có ngồi họp và uống rượu, cả tháng không ra đồng ngày nào, thế mà tại sao công điểm của các anh lại nhiều hơn tất cả những người nai lưng ra làm ở ngoài đồng?"
Biếm họa 17 Đánh kẻng ăn công
- Gớm! Nhà bác này đánh hồi kẻng sao mà dài thế ấy
- Có thế mới ăn được của hợp tác xã hai điểm chứ
(Báo Nhân dân, ngày 11/08/1959)
Biếm họa 18: Việc công, việc tư
Xã viên: Trời ơi, hạn nhe răng thế này, ông chủ nhiệm bỏ chết chúng tôi vác hòm đi
đâu thế?
Chủ nhiệm: Ấy, tôi đi tranh thủ làm nghề phụ mươi hôm rồi về chống hạn với bà con
cũng kịp chán
Xã viên: Thế ông cũng cho chúng lôi đi theo tranh thủ với nhé!
Chủ nhiệm: !?
Cũng vì thế nên xã viên chẳng thiết ra đồng, chỉ đua nhau làm văn nghệ, bỏ mặc ruộng đồng, vừa nhàn hạ, đỡ chịu nắng mưa mà cũng được một công, trong khi đội văn nghệ chưa chắc đã tập tành gì
Tình trạng kể trên là phổ biến trên toàn miền Bắc sau đó trong cả miền Nam Riêng
ở Vĩnh Phúc, Trưởng Ban Nông nghiệp tỉnh lúc đó là ông Nguyễn Văn Tôn đã nhận xét như sau:
"Tình trạng làm chung, hưởng chung, dong công đã gây ra sự tham ô, đặc biệt là sự lãng phí công của rất nhiều Người lao động lúc đó không gắn bó với đồng ruộng, không gắn bó sức lao động của mình, chỉ biết chạy theo công điểm: Đi làm theo lệnh của đội, theo hiệu lệnh, theo kẻng, không chủ động chăm lo sản xuất Cho nên, làm dối, làm ẩu, lãn công là hiện tượng phổ biến trong các hợp tác xã lúc đó."
Trang 5Biếm họa 19: Ăn chia theo công điểm trong HTX (trong đó có những loại công như công văn nghệ, công nhảy nhịp điệu, công tập thể thao và cả công cho người đi đặt vòng)
(Báo Nhân dân, ngày 17/08/1986)
Tình trạng "cha chung không ai khóc" làm cho các xã viên hợp tác xã không ai chú trọng đến việc gặt, cấy cho đúng thời vụ Đến vụ gặt, cấy, có khi Tỉnh ủy phải huy động hàng trăm, thậm chí hàng nghìn cán bộ xuống hợp tác xã để đôn đốc, tuyên truyền giáo dục tư tưởng và động viên nông dân như một "chiến dịch."
"Lúc đó, chúng tôi chỉ có những hợp tác xã tiên tiến, loại khá thì mới được ăn chia
độ 2 kg lương thực/1 công Nhưng số này không nhiều, còn đại bộ phận thì được chia chỉ có: Mỗi buổi công chỉ được 1kg thóc, mà thậm chí có trường hợp những hợp tác xã chỉ được 4-5 lạng thóc cho một công Ngoài ra, không được cấp thêm bất cứ khoản tiền nào Tình trạng này kéo dài đã làm cho người nông dân rất chán nản."
Người nông dân trực tiếp làm ra thóc gạo nhưng không được làm chủ hạt thóc của mình Số lương thực được chia theo công điểm ngày càng không đủ để họ nuôi sống gia đình Trước nhu cầu bức bách của cuộc sống, họ phải tập trung vào mảnh đất 5% (tức là lô đất thuộc kinh tế phụ, dành cho xã viên trồng rau để ăn và để chăn nuôi trong gia đình) để thâm canh và quay vòng triệt để
Biếm họa 20: Tính "nguyên tắc" của xã viên HTX
(Báo Nhân dân, ngày 22/08/1959)
Chết chửa! Để nước chảy thế này ruộng khô mất thôi Phải về báo cáo ban quản trị mới được
Điều trớ trêu và rất phổ biến trong thời kỳ này trên toàn miền Bắc là:
Từ ngày hoàn thành hợp tác hóa thì phần thu nhập của nông dân từ kinh tế tập thể không tăng lên, mà ngày càng giảm đi Chỉ một điều đó cũng đủ cho thấy cái gọi là
"ưu việt" của mô hình này
"Lúc đó, chúng tôi có điều tra thì thu nhập về đất 5% của xã viên đã chiếm tới 60% thu nhập của hộ Trong khi đó thì làm suốt năm với đồng ruộng như thế lại chỉ được có 40% với cuộc sống hết sức nghèo nàn, mà làm việc rất căng thẳng Lúc đó, ngay Nhà nước cũng căng thẳng chứ không Phải mình xã viên Chúng tôi lúc đó có mức ăn, mức
Trang 6chia là bình quân 1 kg lương thực/tháng/người Như vậy là rất thấp, còn tiền thì không
hề có để tiêu tí nào."
2 Con đường đi tới quyết định "đột phá"
Những khuyết tật của mô hình hợp tác hóa là phổ biến trong cả nước Kể cả ở những nơi được gọi là lá cờ đầu của phong trào hợp tác hóa thì, sau một thời gian được bồi dưỡng để dựng lên thành những mẫu điển hình, giá trị thực chất cũng dần dần suy sụp Trước tình trạng sa sút phổ biến, nhận thức và thái độ của lãnh đạo cơ sở không giống nhau Nó thuộc vào trình độ hiểu biết, vào khả năng nắm bắt thực tế đời sống nông nghiệp và nhất là vào tinh thần trách nhiệm và dũng khí của người lãnh đạo Vĩnh Phúc lúc đó có một tập thể lãnh đạo mà đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc,
đã sớm nhận thức ra những nhược điểm này và trăn trở tìm cách giải quyết
Ông Kim Ngọc tên thật là Kim Văn Nguộc Kim Ngọc là bí danh từ ngày ông tham gia hoạt động cách mạng (cũng như tất cả các cán bộ cách mạng thời đó, đều phải dùng bí danh để tránh sự theo dõi của mật thám Pháp) Ông sinh năm 1917 trong một gia đình nông dân nghèo ở xã Bình Định, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc Ông tham gia hoạt động cách mạng từ năm 1939, gia nhập Đảng Cộng sản từ năm 1940, rồi tham gia khởi nghĩa giành chính quyền ở Vĩnh Yên trong Cách mạng tháng Tám 1945 Sau
đó, ông dã từng là cán bộ lãnh đạo của các huyện Tam Dương, Lập Thạch, Bình Xuyên Đến năm 1952, ông là Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc Sau đó, ông được điều lên làm Khu ủy viên Khu ủy Việt Bắc, phó Bí thư Chính ủy Quân khu Việt Bắc đến cuối năm 1958 - đầu năm 1959, đích thân Thủ tướng Phạm Văn Đồng yêu cầu ông trở lại Vĩnh phúc làm Bí thư Tỉnh ủy lần thứ hai Với lộ trình công tác đó, ông rất hiểu nông thôn và đặc biệt rất hiểu tình hình tỉnh ông
Năm 1959, sau khi được bổ nhiệm làm Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Vĩnh Phúc, ông Kim Ngọc đã trăn trở rất nhiều trước thực trạng sản xuất nông nghiệp của tỉnh
Ông Nguyễn Thành Tô, nguyên Thư ký của Bí thư Tỉnh ủy Kim Ngọc kể: "Thứ nhất
là giờ giấc trong lao động tập thể Đã nhiều lần, anh Ngọc đi cùng tôi trên đường, thấy cảnh đã đến 8 giờ sáng rồi mà nông dân vẫn còn ngồi ở gốc đa để chờ nhau đi làm Anh nói với tôi: "Thế này thì nguy lắm chú ạ! Chờ này mà còn ngồi thế kia thì làm được mấy tiếng mỗi ngày 8 giờ sáng mới ra, 11 giờ đã về rồi Chiều lại chờ nhau đến 2-3 giờ, tập trung cho thật đông vui rồi mới ra làm, 4 giờ lại về Một ngày mà chỉ làm
Trang 7có 6 tiếng thì làm sao mà đủ ăn ?" Thứ hai, lối tổ chức lao động như thế này không huy động được lao động phụ, vì làm hợp tác xã thì chỉ là lao động chính thôi Thứ ba, lao động không có hiệu quả Nhiều lần anh đang đi với tôi, bỗng anh bảo bỏ giày và xe bên đường rồi hai thầy tr lội cào giữa ruộng, không thấy xã viên làm cỏ gì cả Họ chỉ làm xung quanh bờ, sạch bờ thì đủ để ông đột trưởng ghi công, ghi điểm, còn ở giữa ruộng cỏ mọc vượt lúa! Như vậy, 1 sào của hợp tác xã chỉ thu được 2030 kg, đến 50 kg
là cao Trong khi đó, 1 sào đất 5% của gia đình xã viên thu tới 200-250 kg thóc." Vốn xuất thân con nhà nông, lại nhiều năm lăn lộn với nông thôn, chỉ vài lần quan sát và kiểm tra cũng đủ cho ông thấy nghi ngờ cái gọi là ưu thế của mô hình hợp tác
xã Ông thường suy nghĩ: Nếu như hợp tác hóa là con đường thực sự mang đến no ấm
và hạnh phúc cho người nông dân, thì đời sống nhân dân phải được nâng cao chứ Nhưng tại sao sản lượng cả thóc, ngô, khoai, sắn đều ngày một giảm: Năng suất lúa bình quân từ 22,43 tạ/ha năm 1959, giảm xuống 18 tạ/ha vào năm 1961 bình quân lương thực đầu người từ 24,2 kg tụt xuống còn 19,7 kg Trong khi đó chi phí sản xuất lại tăng từ 87 đồng/ha năm 1959 lên 140 đồng/ha năm 1965, có nơi giá trị ngày công chỉ còn 300 gram thóc ?
Một bài báo đã viết về ông: "Với bản tính ngay thật và đầy dũng khí, nhiều lần ông
đã phát biểu trong các hội nghị sơ kết, tổng kết Các lối cày chay, cày gãi, bừa chùi đang phổ biến hiện nay trong các hợp tác xã là hết sức xa lạ với cung cách làm ăn của người nông dân thực thụ, xa lạ với truyền thống cần cù lao động của tổ tiên ta."
Từ những bức xúc đó, trong đầu ông bắt đầu lóe lên những lối thoát Mỗi lần xuống các cơ sở, ông thường hỏi cán bộ và bà con nông dân:
- Tại sao ruộng 5% của hộ gia đình năng suất hơn hẳn ruộng hợp tác xã? Vậy nếu giao ruộng cho hộ gia đình thì có chắc nấng suất tăng không? Có còn bỏ hoang ruộng không
- Nếu giao đất đồi cho các hộ trồng sắn thì sẽ thu được bao nhiêu một sào?
- Nếu giao khoán cho xã viên nuôi lợn thì nên trả họ bao nhiêu kg thóc cho 1 kg lợn hơi ?
Ông Nguyễn Văn Sen, nguyên là Chủ nhiệm Hợp tác xã thôn Đại Phúc, xã Đạo Đức, huyện Lập Thạch những năm 1965-1968, nay đã 81 tuổi, kể lại: "Một hôm tôi đang gặt cùng bà con xã viên ngoài đồng thì ông Kim Ngọc ra tận nơi Tay cầm mấy bông lúa rồi đếm xem mỗi bông có bao nhiêu hạt và đưa cho tôi bảo đếm lại xem được bao nhiêu hạt Tôi đếm 2 bông thì được 13 hạt Ông Kim Ngọc thở dài nói: "Hai bông
Trang 8lúa mà được có 13 hạt thì mùa này làm sao sống nổi đây!" Rồi ông hỏi tôi có cách nào
để làm ăn tốt hơn không Tôi mạnh dạn nói thẳng: "Chỉ có cách là thay đổi cách quản
lý đi, phải khoán cho người lao động thì họ mới làm tốt được." Mắt ông Kim Ngọc sáng lên và hỏi tiếp: "Nếu giao ruộng cho xã viên rồi khoán sản lượng họ phải nộp cho Hợp tác xã, còn lại bao nhiêu họ hưởng tất, thì ông thấy thế nào?" Tôi trả lời ngay:
"Nếu thế thì năng suất chắc chắn sẽ lên." Ông Kim Ngọc hỏi dồn: "Ông có dám làm thế không?" Tôi còn ngập ngừng chưa dám nói gì thì ông lại nói: "Ông sợ là phải Đến như tôi đây là Bí thư Tỉnh ủy mà còn phải tính đi tính lại Nhưng nếu tôi sợ, ông sợ, mọi người đều sợ, thì cứ để mặc cho bà con nông dân chết đói à?" Thấy ông tỏ ra quyết chí, tôi mạnh dạn nói: "Nếu Tỉnh ủy giao cho hợp tác xã tôi làm thử thì tôi xin sẵn sàng nhận
Khoảng đầu năm 1966, ông Kim Ngọc triệu tập một cuộc họp cán bộ lãnh đạo trong tỉnh để thảo luận về những vấn đề của nông nghiệp và cách tháo gỡ Một số khá đông trong Tỉnh ủy đều thấy rằng phải mạnh dạn sửa đổi hình thức khoán việc cho tập thể (đội và nhóm) chuyển sang cách khoán trực tiếp cho người lao động, thậm chí khoán
cả cho từng hộ xã viên Sau nhiều lần thảo luận, thấy cái lợi thì đã rõ, nhưng có một điều nửa cũng rất rõ: Khoán như vậy là trái với chủ trương của Trung ương Cũng có ý kiến bàn lùi, cho rằng "thà chịu đói chứ không phản bội chủ nghĩa Mác Lê-nin, không
đi ngược lại con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội".[109] Để thận trọng hơn, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định: trước mắt cử một tổ công tác xuống làm thử ở một vài HTX để rút kinh nghiệm Một tổ công tác của tỉnh đã được thành lập, gồm Trưởng ban Nông nghiệp Tỉnh ủy Nguyễn Văn Tôn cùng với một kỹ sư trồng trọt, một cán bộ quản lý hợp tác xã Sau khi được giao trách nhiệm, tổ này đã xuống nghiên cứu rất kỹ thực tế ở hợp tác xã thôn Thượng, xã Tuân Chính, huyện Vĩnh Tường Kết quả của những đợt khảo sát thực tế đã giúp Tỉnh ủy đi đến kết luận:
"Khuyết điểm phổ biến trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo nông nghiệp là đưa quy mô hợp tác xã lên quá lớn và chuyển từ bậc thấp lên bậc cao quá nhanh, không chú ý thích đáng đến những điều kiện để hợp tác xã hoạt động, mặt khác, lại tiếp tục công hữu hóa
tư liệu sản xuất một cách ồ ạt, tràn lan như cây lưu niên, cây đặc sản, ao hồ của nhân dân dẫn đến tình trạng không quản lý nổi Về quản lý sản xuất thì hầu như dong công, phóng điểm Tình trạng tham ô lãng phí, chè chén xảy ra ở hầu hết các hợp tác
xã Do đó, đời sống xã viên hết sức khó khăn Người lao động chỉ trông vào mảnh ruộng 5% và trên thực tế thu nhập từ nguồn này của các hộ xã viên chiếm tới 60% tổng thu nhập, vì thế họ không quan tâm tới kinh tế tập thể."
Trang 9Sau đó, Thường vụ Tỉnh ủy quyết định cho thực hiện thí điểm cơ chế khoán hộ trên một số điểm và phân công cán bộ trực tiếp chỉ đạo: Một ủy viên Thường vụ Tỉnh ủy là ông Nguyễn Văn San chỉ đạo khoán vụ lúa Đông Xuân ở huyện Vĩnh Tường, quê ông
Bí thư Huyện ủy Lập Thạch Lê Văn Bùi trực tiếp chỉ đạo một hợp tác xã khoán chăn nuôi tập thể cho các hộ xã viên
Sau một vụ thử áp dụng mô hình khoán, trong cả trồng trọt lẫn chăn nuôi đã đạt được những thành công bất ngờ: Năng suất cây và con đều được nâng cao, người nhận khoán rất hăng hái trong lao động sản xuất, thu nhập tăng lên rõ rệt, việc quản lý lại đơn giản nhẹ nhàng hơn
Mùa hè năm đó (1966), Tỉnh ủy tổ chức Hội nghị Sơ kết công tác khoán thí điểm Hội nghị này đã trở thành ngày hội lớn của toàn Vĩnh Phúc Các huyện trong tỉnh đến nghe rất đông để học tập kinh nghiệm của hai huyện Vĩnh Tường và Lập Thạch và cũng để tham gia ý kiến với lãnh đạo tỉnh Hầu hết ý kiến đều ủng hộ mô hình khoán
hộ, coi đó là lối thoát duy nhất của tình thế sa sút hiện nay
Sau Hội nghị, vấn đề và hướng đi đã rõ, Bí thư Tỉnh ủy giao cho Ban Nông nghiệp tỉnh biên soạn một bản Sơ thảo Nghị quyết về cải tiến quản lý lao động nông nghiệp
Từ ngày 3 đến ngày 07/09/1966, Thường vụ Tỉnh ủy họp để đóng góp ý kiến cho dự thảo kể trên Cuối cùng, toàn bộ Thường vụ Tỉnh ủy đã thông qua một bản Nghị quyết lịch sử: Nghị quyết 68-TU, Về một số vấn đề quản lý lao động nông nghiệp trong HTX hiện nay" Nghị quyết được ban hành chính thức vào ngày 10/9/1966, trong đó
có những nội dung chủ yếu như sau:
"Trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt hiện nay, hằng năm toàn tỉnh phải rút đi một lực lượng thanh niên khá lớn (riêng quý I năm 1966, tỉnh có 23.0000 thanh niên lên đường nhập ngũ) Trong khi đó, những nhiệm vụ sản xuất xây dựng và chiến đấu ở địa phương cũng ngày càng lớn hơn nhiều Trong tình thế khẩn trương đó, phải tạo mọi điều kiện huy động, sử dụng được hết và tốt mọi khả năng lao động hiện có và phải dùng mọi biện pháp để tăng năng suất lao động trong nông nghiệp, đảm bảo nhiệm vụ trung tâm chính trị là sản xuất và "
"Kiên quyết làm bằng được, đúng và tốt chế độ 3 khoán: Khoán việc cho nhóm, cho lao động và cho hộ, bảo đảm sử dụng hợp lý sức lao động và tăng năng suất lao động "
"Thực hiện tốt được ba khoán, khoán nhóm đến khoán từng lao động, từng hộ, từng khâu canh tác và cả vụ, sẽ giải quyết được vấn đề tăng năng suất lao động thiết thực,
sẽ kích thích được tính tích cực của người lao động, đẩy mạnh nâng cao được năng
Trang 10suất của từng người, từng nhóm, tập thể hợp tác xã Từ đó, sẽ tránh được ỷ lại, dựa dẫm, lười biếng, tự do, tùy tiện Do đó, quản lý được lao động chặt chẽ, kỷ luật lao động được tự giác, tiết kiệm sức lao động, tận dụng khả năng lao động phụ, lao động nhàn rỗi trong các gia đình và lao động vẫn còn thì giờ nghỉ ngơi, học tập Đồng thời
sẽ khắc phục được tình trạng quan liêu, thoát ly sản xuất, xa rời quần chúng, tham ô, tư lợi của một số cán bộ ở cơ sở "