Theo cách hiểu truyền thống, hành vi thương mại là hành vi mua bán nhằm mục đích lợi nhuận; hành vi thương mại là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng Hoạt động thương mại là việc thực hi
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC MÔN HỌC
HỌC PHẦN: LUẬT THƯƠNG MẠI 2
ĐỀ TÀI 1: Những vấn đề về hành vi thương mại và hợp đồng
thương mại
Giảng viên:
Sinh viên:
Lớp: Luậthọc - K64A
Mã sinh viên:
Hà Nội, năm 2022
Trang 2MỞ ĐẦU:
Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ
sở tự phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Đặc biệt trong nền kinh tế với xu thế hội nhập như ngày nay thì việc xây dựng hành lang pháp lý phù hợp, đảm bảo cho quá trình phát triển kinh tế, tạo điều kiện cho sản xuất, kinh doanh phát triển là vô cùng cần thiết Một trong những nội dung cơ bản của toàn cầu hóa là tự do hóa thương mại, xóa bỏ những rào cản thương mại, tạo điều kiện cho thương mại phát triển Và vấn đề luôn được quan tâm khi nói đến luật thương mại đó là các hành vi thương mại và hợp đồng thương mại thành Để thấy được tầm quan trọng của hành vi thương mại cũng như hợp đồng thương mại thì em xin phép được tìm hiểu về đề tài: “Những vấn đề về hành vi thương mại và hợp đồng thương mại”
NỘI DUNG:
I: Những vấn đề về hành vi thương mại:
1: Khái niệm:
Thương mại là hoạt động ra đời sớm trong lịch sử xã hội loài người, trên cơ
sở sự phân công lao động xã hội, nó đã tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế xã hội khác nhau Sự ra đời và phát triển của thương mại gắn liền với nền sản xuất hàng hoá Khi có sự phân công lao động lần thứ ba trong xã hội, thương nghiệp ra đời, xuất hiện tầng lớp chuyên mua bán các sản phẩm để kiếm lời - các thương nhân, lúc đó hành vi thương mại đã được hình thành
Hoạt động thương mại được biểu hiện trong đời sống thông qua việc các cá nhân, tổ chức thực hiện một hoặc tập hợp các hành vi thương mại Theo cách hiểu truyền thống, hành vi thương mại là hành vi mua bán nhằm mục đích lợi nhuận; hành vi thương mại là cầu nối giữa sản xuất với tiêu dùng
Hoạt động thương mại là việc thực hiện một hay nhiều hành vi thương mại của thương nhân, bao gồm việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại
và các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm mục đích lợi nhuận hoặc nhằm thực hiện các chỉnh sách kinh tế - xã hội
Trang 3Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác
Dưới giác độ học thuật, khái niệm hành vi thương mại được xem xét ở đây tương ứng
với khái niệm hoạt động thương mại cụ thể: mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ, đầu tư
2: Đặc điểm:
Hành vi thương mại có mục đích thu lợi nhuận:
Theo khoản 1, điều 3 Luật Thương mại 2020 thì: “Hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác.” Nếu một hành vi được thực hiện nhằm mục đích tiêu dùng thì đó là hành vi dân sự, ngược lại, cũng là hành vi đó nhưng được thực hiện nhằm mục đích sinh lời thì đó
là hành vi thương mại
Hành vi thương mại diễn ra trên thị trường và thường mang tính chất nghề nghiệp: Hành vi thương mại ó chủ thể của hành vi khi tham gia thương trường thực hiện sự phân công lao động xã hội Các hành vi này được chủ thể tiến hành thường xuyên, liên tục, thể hiện tính chuyên nghiệp cao và mang lại thu nhập chính cho chủ thể thực hiện hành vi Dựa vào nét đặc thù này, dễ dàng nhận thấy rằng mặc dù trên thương trường có thể diễn ra những hành vi nhằm mục đích sinh lợi nhưng chúng chưa chắc được coi là hành vi thương mại, bởi lẽ đó không phải là hành vi thường xuyên của người thực hiện hành vi, hơn nữa, hành vi đó không mang lại thu nhập chính cho người đó
Hành vi thương mại khác hành vi dân sự về thời điểm xuất hiện và về tỉnh ổn định: Hành vi dân sự đã ra đời từ rất sớm trong lịch sử, khi giao dịch những nhu yếu phẩmlà điều bắt buộc phải xảy ra Hành vi thương mại thì xuất hiện muộn hơn, khi trong xã hội bắt đầu xuất hiện những người chuyên “mua rẻ bán đắt” thì thương mại mới ra đời
3: Bản chất pháp lý:
Về bản chất, hành vi thương mại là một loại của hành vi dân sự Mối quan hệ giữa hành vi dân sự và hành vi thương mại cần được xem xét theo nguyên lý của mối
Trang 4quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng: trong đó, hành vi dân sự là cái chung, hành vi thương mại là cái riêng
4: Phân loại hành vi thương mại
Hành vi thương mại thuần tuý: Hành vi thương mại thuần tuý là những hành vi có tính chất thương mại vì bản chất của nó thuộc về công việc buôn bán hoặc vì hình thức của
nó được pháp luật coi là tiêu biểu cho hành vi thương mại
VD: buôn bán hàng hoá để kiếm lời cũng là một hành vi thương mại thuần tuý
Hành vi thương mại phụ thuộc: là những hành vi có bản chất dân sự nhưng do thương nhân thực hiện theo nhu cầu nghề nghiệp hay nhân lúc hành nghề
và do đó được
coi là hành vi thương mại? Một hành vi có bản chất là dân sự chỉ có thể trở thành hành vi thương mại khi hội đủ hai yếu tố: Hành vi đó phải do thương nhân thực hiện và hành vi đó được thương nhân thực hiện nhân dịp hành nghề hoặc do nhu cầu nghề nghiệp
VD: Thương nhân phải mua các dụng cụ, phương tiện để hỗ trợ cho công việc của mình, nếu thiết các thiết bị, dụng cụ đó thì không thể tiến hành công việc hoặc tiến hành một cách vô cùng khó khăn Đây là một ví dụ của hành vi thương mại phụ thuộc
Hành vi thương mại hỗn hợp: là hành vi mà ở đó tồn tại nhiều mối quan hệ thương
mại mà hành vi của nó có thể là thương mại hoặc dân sự Hành vi giữa A và B là hành vi dân sự, tuy nhiên hành vi giữa B và C lại là hành vi thương mại, do đó, tồn tại hành vi thương mại hỗn hợp
Dựa vào đối tượng và lĩnh vực phát sinh của hành vi thương mại:
Nhóm hành vi thương mại hàng hoá: Hành vi thương mại hàng hoá là những hành
vi phát sinh trong quá trình trao đổi hàng hoá, bao gồm: mua bán hàng hoá và các hoạt
động khác liên quan trực tiếp đến mua bán hàng hoá như cung ứng dịch vụ thương mại, xúc tiến thương mại Trong thương mại hàng hoá, mua bán hàng hoá là hành
vi chủ yếu nhất, đặc trưng của hành vi mua bán hàng hoá thể hiện ở đối tượng của
Trang 5hành vi này là hàng hoá, bao gồm: Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai
Nhóm hành vi thương mại dịch vụ: là những hành vi phát sinh trong quá trình cung
ứng và tiêu dùng dịch vụ Thương mại dịch vụ được phân thành 12 khu vực bao gồm: Dịch vụ kinh doanh; dịch vụ thông tin; dịch vụ xây dựng và kĩ thuật; dịch vụ phân phối; dịch vụ giáo dục; dịch vụ môi trường; dịch vụ tài chính; dịch vụ liên quan đến sức khỏe và xã hội; dịch vụ du lịch và các hoạt động có liên quan; dịch
vụ giải trí, văn hoá, thể thao; dịch vụ vận tải và các dịch vụ khác
Nhóm hành vi thương mại trong lĩnh vực đầu tư: nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận của các nhà đầu tư Trải qua rất nhiều quá trình, giai đoạn, từ tự bỏ vốn đầu tư, đến lựa chọn phương thức đầu tư hợp lý rồi sinh lời…
Nhóm hành vi thương mại trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ là các hành vi chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các sản phẩm của trí tuệ nhằm mục đích thương mại
II: Những vấn đề về hợp đồng thương mại:
1: Khái niệm
Hợp đồng thương mại là thoả thuận giữa thương nhân với thương nhân, thương nhân với các bên có liên quan nhằm xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ giữa các bên trong hoạt động mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ thương mại và xúc tiến thương mại
2: Đặc điểm
Đối tượng:
Theo ngôn ngữ hàng ngày thì có thể hiểu hàng hóa là những sản phẩm lao động của con người, được tạo ra để thỏa mãn những nhu cầu và mục đích của con người Dựa vào tính chất pháp lý mà hàng hóa được chia thành nhiều loại khác nhau như tài sản hữu hình, bất động sản…
Đối tượng của hợp đồng thương mại là hàng hóa theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Luật thương mại
Tất cả các loại động sản, kể cả động sản được hình thành trong tương lai;
Những vật gắn liền với đất đai;
Như vậy, hàng hóa có thể là các loại hàng hóa đang tồn tại hoặc hàng hóa có thể được hình thành trong tương lai
Trang 6 Mục đích:
Mục đích của hợp đồng thương mại là lợi nhuận Xuất phát từ mục đích của hợp đồng là lợi nhuận nên khi các thương nhân tham gia vào ký kết một hợp đồng thương mại cũng đều vì mục đích lợi nhuận
Theo quy định của Luật Thương mại thì đối với những hợp đồng giữa thương nhân với chủ thể không phải là thương nhân và không nhằm mục đích sinh lợi thì việc có áp dụng Luật thương mại để điều chỉnh quan hệ hợp đồng này hay không là
do bên tham gia hợp đồng và không có mục đích là lợi nhuận quyết định
Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng:
Hợp đồng thương mại được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật, có thể căn cứ vào Điều 117 Bộ luật dân sự 2015 Việc này sẽ giúp cho các bên khi ký kết hợp đồng sẽ đảm bảo được ý chí thực của
họ, đồng thời, không xâm hại lợi ích của các bên
3: Bản chất:
Hợp đồng thương mại có bản chất chung của hợp đồng là sự thỏa thuận để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt các quyền nghĩa vụ trong hoạt động thương mại Hợp đồng thương mại là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập dựa trên sự
tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên
4: Nội dung và hình thức:
Nội dụng:
Nội dung của hợp đồng thương mại là sự tổng hợp các điều khoản mà các bên tham giao đã giao kết, thoả thuận
Nội dung của hợp đồng được pháp luật tôn trọng, tuy nhiên, nó phải tuân theo những quy định của pháp luật, được quy định tại Bộ Luật dân sự 2015
Hình thức:
Căn cứ điều 24, luật thương mại 2014 thì hình thức hợp đồng trong lĩnh vực thương mại có thể được thiết lập bằng hình thức lời nói, bằng văn bản hoặc bằng hành vi cụ thể của các bên giao kết Tuy nhiên, do tính chất phức tạp trong hoạt động thương mại và những yêu cầu chặt chẽ trong nội dung của hợp đồng mà pháp luật quy định nhiều hợp đồng thương mại cụ thể phải được ký kết dưới hình thức văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương văn bản
Trang 7Ví dụ, hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế, hợp đồng ủy thác mua bán hàng hoá, hợp đồng đại lý thương mại, hợp đồng vận chuyển hàng hoá bằng đường sắt, hợp đồng nhượng quyền thương mại
5: So sánh với hợp đồng dân sự
Giống nhau:
Đều là những giao dịch có bản chất dân sự, thiết lập dựa trên sự tự nguyện, bình đẳng và thỏa thuận của các bên
Đều hướng tới lợi ích của mỗi bên và lợi ích chung của các bên tham gia giao kết hợp đồng;
Hai loại hợp đồng này có một số điều khoản tương tự như: Điều khoản về chủ thể; đối tượng của hợp đồng; giá cả; quyền và nghĩa vụ của các bên; phương thức thực hiện; phương thức thanh toán; giải quyết tranh chấp phát sinh nếu có; Sau khi hợp đồng được xác lập đầy đủ các yếu tố thì hiệu lực ràng buộc như pháp luật Các bên buộc phải thực hiện đúng cam kết
Về hình thức thì một số loại hợp đồng có thể giao kết bằng miệng, bằng văn bản hoặc bằng các hành vi cu thể đã được 2 bên giao kết
Khác nhau:
Các đặc điểm Hợp đồng dân sự Hợp đồng thương mại
Phải là các cá nhân, tổ chức Chủ thể giao kết hợp đồng Là các cá nhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh
(thương nhân)
Mục đích của hợp đồng Nhằm mục đích tiêu dùng
Nhằm mục đích thu được lợi nhuận
Một số điều khoản của hợp
Điều khoản vận chuyển
hàng hoá, điều khoản bảo đồng
hiểm
Cơ quan giải quyết tranh Toà án hoặc trọng tài Chỉ có thể đưa ra Toà án chấp
Trang 86: Nguyên tắc giao kết thực hiện hợp đồng, nội dung, hình thức, các điều kiện có
hiệu lực
Nguyên tắc giao kết hợp đồng thương mại:
Nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng nhưng không được trái với pháp luật, đạo đức xã hội Đây là một trong những nguyên tắc vô cùng quan trọng, xuất phát từ sự thống nhất về mặt ý chí, tự do thoả thuận của các chủ thể
Nguyên tắc trung thực, thiện chí, hợp tác, tự nguyện và bình đẳng giữa các chủ thể giao kết hợp đồng Trên thực tế, không phải lúc nào việc giao kết hợp đồng cũng diễn ra theo ý chí của các bên Giao kết hợp đồng là một quá trình đòi hỏi sự trung thực, thẳng thắn, thiện chí hợp tác trên tinh thần tự nguyện và bình đẳng
Nội dung:
Nội dung của hợp đồng thương mại là sự tổng hợp các điều khoản mà các bên tham giao đã giao kết, thoả thuận
Nội dung của hợp đồng được pháp luật tôn trọng, tuy nhiên, nó phải tuân theo những quy định của pháp luật, được quy định tại Bộ Luật dân sự 2015
Hình thức:
Giao kết hợp đồng bằng lời nói được thực hiện dưới hình thức ngôn ngữ nói, bằng lời hay còn gọi là giao kết miệng
Giao kết hợp đồng bằng văn bản là hình thức các bên thỏa thuận hợp đồng bằng một văn bản cụ thể hoặc bằng các dữ liệu điện tử
Giao kết hợp đồng bằng hành vi cụ thể là hình thức giao kết hợp đồng mà một hoặc các bên đồng thời thực hiện một hành vi thuần túy liên quan đến nội dung chủ yếu của hợp đồng
Giao kết trực tiếp là hình thức giao kết hợp đồng mà các chủ thể hợp đồng gặp mặt nhau hoặc thông qua người đại diện hợp pháp gặp mặt nhau tại một địa điểm trong một thời điểm để ký kết hợp đồng sau khi các bên đã thỏa thuận xong các điều khoản của hợp đồng Giao kết gián tiếp là hình thức giao kết hợp đồng mà các chủ thể hợp đồng không gặp mặt nhau tại một địa điểm trong một thời điểm nhất định
Trang 9 Các điều kiện có hiệu lực:
Hợp đồng thương mại được giao kết phải đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việc quy định nguyên tắc giao kết hợp đồng nhằm đảm bảo sự thỏa thuận của các bên phù hợp với ý chí thực của họ, hướng đến những lợi ích chính đáng của các bên, đồng thời không xâm hại đến những lợi ích
mà pháp luật cần bảo vệ Theo quy định của Bộ Luật dân sự việc giao kết hợp đồng phải tuân theo các nguyên tắc: tự do giao kết những không trái pháp luật và đạo đức xã hội, Luật Thương mại cũng phải chịu sự điều chỉnh của những nguyên tắc trên
Căn cứ quy định tại điều 117, Bộ luật Dân sự quy định về “Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự” thì có thể thấy điều kiện có hiệu lực của hợp đồng thương mại như sau:
Chủ thể (là thương nhân có mục đích lợi nhuận) có năng lực pháp luật dân sự, năng
lực hành vi dân sự phù hợp với hợp đồng được xác lập;
Chủ thể tham gia hợp đồng hoàn toàn tự nguyện;
Mục đích và nội dung của hợp đồng không vi phạm điều cấm của luật, không trái
đạo đức xã hội
Hình thức của hợp đồng là điều kiện có hiệu lực của hợp đồng trong trường hợp luật
có quy định
KẾT LUẬN
Hành vi thương mại đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia, vùng, lãnh thổ nào Hợp đồng thương mại là hình thức pháp lý
để các chủ thể giao kết, xác lập quan hệ thương mại nhằm thu lại lợi nhuận Để bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của các chủ thể tham gia hợp đồng, đảm bảo việc thỏa thuận, thực hiện hợp đồng diễn ra thuận lợi, hạn chế những tranh chấp đáng tiếc, pháp luật về thực hiện hợp đồng thương mại đóng vai trò hết sức quan trọng cả về lý luận và thực tiễn Pháp luật về thực hiện hợp đồng thương mại theo quy định của pháp luật Việt Nam được quy định trong Luật thương mại 2005, Bộ luật dân sự 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan về cơ bản đã tạo thành một hành lang pháp lý điều chỉnh hoạt động thực hiện hợp đồng thương mại Có
Trang 10thể thấy, trải qua một thời gian dài, pháp luật về hợp đồng thương mại có một vai trò vô cùng quan trọng trong việc điều chỉnh mối quan hệ các bêntham gia hợp đồng, thúc đẩy hoạt động thương mại phát triển, thúc đẩy sự phát triển của kinh
tế - xã hội,…Vì vậy việc tìm hiểu để hiểu rõ bản chất của hành vi thương mại cũng như hợp đồng thương mại là vô cùng cần thiết