Trên thế giới, vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh đã được đề cập trong Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định thương mại Việt Nam – Ho
Trang 1DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
TRIPS Hiệp định về các khía cạnh liên quan tới
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ
Luật SHTT Luật Sỡ hữu trí tuệ năm 2005, sửa đổi, bổ
sung năm 2009, 2019 NSDLĐ Người sử dụng lao động
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT TP HỒ CHÍ MINH
KHOA LUẬT DÂN SỰ ***……
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN
MÔN: LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ
LUẬT VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM TỪ NƯỚC NGOÀI
Người thực hiện: TRẦN PHẠM TƯỜNG VÂN MSSV: 185.340102.0306
Lớp: 96-QTL43B2
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2022
Trang 2MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH 2
1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh 2
1.1.1 Khái niệm 2
1.1.2 Đặc điểm 2
1.2 Khái niệm và đặc điểm về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh 3
1.2.1.Khái niệm 3
1.2.2.Đặc điểm 3
1.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh 4
1.3.1.Bảo hộ BMKD khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo 4
1.3.2.Bảo hộ BMKD hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh 4
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ 5
BÍ MẬT KINH DOANH 5
2.1 Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh 5
2.2 Các hành vi xâm phạm đến bí mật kinh doanh: 6
2.3 Biện pháp bảo hộ bí mật kinh doanh 7
2.3.1 Biện pháp tự bảo vệ 7
2.3.2 Biện pháp dân sự 9
2.3.3 Biện pháp hành chính 9
2.3.4 Biện pháp hình sự 10
CHƯƠNG 3 : THỰC TRẠNG BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH Ở VIỆT NAM KINH NGHIỆM NƯỚC NGOÀI VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN 11
3.1 Thực trạng bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam 11
3.1.1 Tóm tắt Bản án 11
3.1.2 Nhận xét và đánh giá 11
3.2 Một số kiến nghị hoàn thiện 13
3.2.1 Về khái niệm và điều kiện bảo hộ BMKD 13
3.2.2 Về việc bảo vệ BMKD bằng biện pháp hình sự 13
KẾT LUẬN 15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 16
Trang 3LỜI MỞ ĐẦU
Định hướng lâu dài của doanh nghiệp không phải là lợi nhuận trước mắt mà chính là sự phát triển bền vững Để đạt được mục tiêu trong thị trường kinh doanh không ngừng biến động và có tính đối chọi cao, doanh nghiệp phải có những bí quyết giúp bản thân nổi bật giữa hàng loạt doanh nghiệp đối thủ Những bí quyết được doanh nghiệp xây dựng trong quá trình kinh doanh và mang tính tuyệt mật được gọi là “bí mật kinh doanh”
Nhu cầu bảo hộ bí mật kinh doanh ngày càng cao trong bối cảnh hội nhập kinh tế, giao lưu thương mại Tại Việt Nam, bảo hộ bí mật kinh doanh không phải là vấn đề mới bởi những quy định
đã tồn tại từ năm 2005 Nhưng giữa thị trường cạnh tranh khốc liệt, chủ thể kinh doanh vì mục đích sống còn có thể lợi dụng các kẽ hở của quy định pháp luật hoặc bất cập trong thực tiễn áp dụng để đánh cắp bí mật kinh doanh Hoàn thiện quy định pháp luật hướng đến mục đích ứng dụng và hiệu quả cao là quá trình không ngừng nghỉ và cần thiết
Trên thế giới, vấn đề bảo hộ bí mật kinh doanh đã được đề cập trong Hiệp định TRIPS về các khía cạnh liên quan tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ, Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa
Kỳ và quy định pháp luật của các quốc gia phát triển Việc nghiên cứu quy định pháp luật của nước ngoài sẽ đem lại những cách tiếp cận mới và đa dạng
Chính vì vậy, tôi quyết định chọn đề tài “Bảo hộ bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam
và kinh nghiệm từ nước ngoài” để làm đề tài tiểu luận
Kết cấu của Tiểu luận gồm 3 chương:
Chương I: Cơ sở lý luận về bảo hộ bí mật kinh doanh
Chương II: Quy định pháp luật của Việt Nam về bảo hộ bí mật kinh doanh
Chương III: Thực trạng bảo hộ bí mật kinh doanh ở Việt Nam, kinh nghiệm nước ngoài và một
số kiến nghị hoàn thiện
Trang 4CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HỘ BÍ MẬT KINH DOANH
1.1 Khái niệm và đặc điểm của bí mật kinh doanh
1.1.1 Khái niệm
Theo khoản 23 Điều 4 Luật SHTT , “Bí mật kinh doanh là thông tin thu được từ hoạt động đầu
tư tài chính, trí tuệ chưa được bộc lộ và có khả năng sử dụng trong kinh doanh”
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, doanh nghiệp đầu tư tài chính, trí tuệ để thu thập tri thức kinh doanh Những tri thức được tích lũy, xây dựng, hình thành nên những luồng thông tin được doanh nghiệp ứng dụng trong hoạt động kinh doanh, mang lại giá trị kinh tế khi tạo được ưu thế cho chính doanh nghiệp trên thị trường Đứng trước tính chất đặc biệt quan trọng của thông tin, doanh nghiệp bắt buộc phải giữ bí mật với người khác Những thông tin đó được gọi là bí mật kinh doanh Trên thực tế kinh doanh ngày nay, các thương nhân có thể coi nhiều loại thông tin khác nhau là
bí mật kinh doanh Đó có thể là các thông tin khoa học, thông tin công nghệ, kỹ thuật, thông tin thương mại…1 Song, các thông tin bí mật về nhân thân, về quản lý nhà nước, về quốc phòng an ninh
và thông tin bí mật khác không liên quan đến kinh doanh không được bảo hộ với danh nghĩa bí mật kinh doanh.2
1.1.2 Đặc điểm
Tài sản trí tuệ là đặc điểm chung của các đối tượng thuộc quyền SHCN Với tư cách là đối tượng của quyền SHCN, bí mật kinh doanh ngoài mang đặc điểm chung còn sở hữu những đặc trưng riêng sau:
Thứ nhất, tính thông tin Bí mật kinh doanh là một dạng thông tin thương mại, chứa đựng
những tri thức kinh doanh được các chủ thể đúc kết, tạo lập trong quá trình hoạt động Thông tin trong bí mật kinh doanh được biểu hiện thông qua nhiều hình thức như công thức, bí quyết, cách thức hoạt động của doanh nghiệp, kỹ năng, kinh nghiệm
Thứ hai, tính bí mật Thông tin trong bí mật kinh doanh không thuộc nhóm đối tượng doanh
nghiệp có thể tiết lộ ra ngoài Chứa đựng những tri thức mà bản thân doanh nghiệp đã đầu tư tài sản
và trí tuệ, chúng không phải là những thông tin dễ suy đoán hoặc dễ dàng có được thông qua sách, báo, tài liệu nghiên cứu Yếu tố bí mật trong BMKD có vai trò tạo ưu thế cạnh tranh giữa người nắm thông tin và những người khác3
Thứ ba, tính quyết định Đây là những thông tin có khả năng sử dụng và có giá trị Tính giá trị
của thông tin được thể hiện thông qua những lợi thế mà thông tin đem lại cho chủ thể nắm giữ Những lợi thế có thể về giá thành, chất lượng, dịch vụ, đội ngũ phát triển, tổ chức bộ máy nội bộ… Trong thị trường cạnh tranh gay gắt, những lợi thế này sẽ giúp doanh nghiệp nổi bật và nâng cao vị
1 Trương Thị Thanh Tuyết (2011), Bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật kinh doanh theo pháp luật Việt Nam, Luận văn
Thạc sĩ Luật học, Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.14
2 Điều 85 Luật SHTT
3 Trương Thị Thanh Tuyết (2011), tlđd 1, tr.15
Trang 5thế, thậm chí đối với những doanh nghiệp mới, khi sở hữu BMKD tốt chính là yếu tố sống còn khi thị trường kinh doanh toàn cá lớn Ngoài ra, thông tin trong BMKD phải có khả năng sử dụng trong kinh doanh, nghĩa là chủ thể nắm giữ có thể dùng những thông tin đó để ứng dụng vào hoạt động kinh doanh tạo ra lợi thế
1.2 Khái niệm và đặc điểm về bảo hộ quyền SHCN đối với bí mật kinh doanh
1.2.1.Khái niệm
Quyền sở hữu công nghiệp là quyền của tổ chức, cá nhân đối với sáng chế, kiểu dáng công
nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, tên thương mại, chỉ dẫn địa lý, bí mật kinh doanh do mình sáng tạo ra hoặc sở hữu và quyền chống cạnh tranh không lành mạnh.4
Quyền SHCN đối với BMKD là quyền sở hữu của tổ chức, cá nhân đối với BMKD Hiện nay, pháp luật chưa đưa ra khái niệm về bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD, nhưng dựa trên nội dung của những quy định liên quan, có thể hiểu: Bảo hộ quyền SHCN đối với BMKD là những phương thức bảo vệ đối với BMKD được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và được cá nhân, tổ chức kinh doanh thực hiện để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình cũng như hạn chế hành vi xâm phạm đến BMKD mà mình đang nắm giữ
1.2.2.Đặc điểm
Tính bí mật và tính quyết định của BMKD yêu cầu việc bảo hộ BMKD phải có những đặc trưng riêng biệt sau:
Cơ sở của việc bảo hộ bí mật kinh doanh chính là sự độc quyền thực tế của chủ thể nắm giữ BMKD Bắt nguồn từ chính những đặc tính, doanh nghiệp khi sở hữu BMKD phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo mật thông tin quý báu này Bảo vệ BMKD cũng là đang bảo vệ chính quyền và lợi ích hợp pháp của người nắm giữ Quy định pháp luật là những công cụ được Nhà nước trao cho chủ sở hữu để bảo vệ hữu hiệu BMKD khỏi những hành vi xâm phạm
Quyền SHCN đối với BMKD được bảo hộ theo cơ chế tự động5.Việc bảo hộ BMKD được xác lập khi thông tin có đủ điều kiện được công nhận là BMKD Chủ thể nắm giữ BMKD không phải thực hiện các thủ tục đăng ký hoặc trả lệ phí như phần lớn các đối tượng khác của quyền SHCN, không sợ bị bộc lộ BMKD do việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền
BMKD được bảo hộ không hạn chế thời hạn Đối với các đối tượng SHCN như: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, nhãn hiệu, văn bằng bảo hộ có hiệu lực từ ngày cấp kéo dài đến năm năm, mười năm, mười lăm năm hoặc hai mươi năm kể từ ngày nộp đơn tùy vào từng đối tượng cụ thể6 Riêng đối với BMKD, thời hạn bảo hộ không có giới hạn BMKD sẽ vẫn sẽ được bảo hộ khi đáp ứng đủ các điều kiện được công nhận là BMKD và chỉ chấm dứt việc bảo hộ khi không còn đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định pháp luật
4 Khoản 4 Điều 4 Luật SHTT
5 Điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT
6 Điều 93 Luật SHTT
Trang 61.3 Ý nghĩa của việc bảo hộ bí mật kinh doanh
Bảo hộ BMKD trở thành vấn đề hết sức quan trọng, quyết định đến sự tồn tại, khả năng phát triển của doanh nghiệp trên thị trường vừa giao lưu, hội nhập vừa cạnh tranh khốc liệt
1.3.1.Bảo hộ BMKD khuyến khích hoạt động nghiên cứu và sáng tạo
Mỗi người luôn có khả năng nghiên cứu và sáng tạo vô định, đặc biệt khi có mục đích, khả năng
ấy càng phát triển Nhận thức được mảnh đất kinh doanh màu mỡ luôn chứa đựng sự cạnh tranh khốc liệt, để trụ vững, doanh nghiệp cần xây dựng vị thế nổi bật trên thị trường Vì mục đích đó, doanh nghiệp đã đầu tư tài sản và trí tuệ để thu thập được những thông tin có giá trị tạo nên BMKD BMKD chính là đứa con kết tinh từ tâm huyết, chất xám và tiền bạc của doanh nghiệp Khi nắm giữ, doanh nghiệp sẽ sử dụng các biện pháp để bảo hộ Tuy nhiên, việc bảo hộ BMKD sẽ không thật sự hiệu quả nếu không có hệ thống quy định pháp luật Những quy định pháp luật về bảo hộ BMKD là hàng rào pháp lý khiến chủ thể nắm giữ BMKD yên tâm hơn Từ đó, họ sẽ ra sức tìm tòi, nghiên cứu thêm các thông tin để hình thành những BMKD mới thúc đẩy sự phát triển, nâng cao vị thế của doanh nghiệp
1.3.2.Bảo hộ BMKD hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh
Đứng trước sự cạnh tranh gay gắt của thị trường, nhiều khi vì mục đích lợi nhuận và giá trị kinh
tế, nhà kinh doanh có thể sử dụng thủ đoạn để đạt được mục đích của mình Lợi thế cạnh tranh từ việc nắm giữ BMKD đã khiến nó trở thành “con mồi” mà các doanh nghiệp đối thủ hướng đến Chủ thể sở hữu BMKD luôn đứng trước nguy cơ bị đánh cắp ngay trong chính doanh nghiệp của mình và đối tượng thực hiện hành vi xâm phạm thông thường là người lao động Trong nền kinh tế thị trường, người lao động có quyền lựa chọn và thay đổi nơi làm việc Chuyển đổi nơi làm việc của người lao động có thể tạo nên rủi ro trong việc bảo hộ BMKD Đối thủ sử dụng chiêu thức lôi kéo,
dụ dỗ người lao động của doanh nghiệp sở hữu để họ mang những thông tin trong BMKD của doanh nghiệp cũ đến nơi làm việc mới Thu thập được BMKD dưới hình thức này chính là bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh Quy định pháp luật về những hành vi xâm phạm đến bảo hộ BMKD và các biện pháp xử lý đã trở thành sự răn đe đối với các đối tượng đang muốn có được BMKD bằng con đường bất hợp pháp, hạn chế hành vi cạnh tranh không lành mạnh xảy ra đồng thời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ thể sở hữu BMKD
Từ những ý nghĩa trên, bảo hộ BMKD không những mang lại ý nghĩa đối với riêng bản thân doanh nghiệp mà ở tầm vĩ mô nó còn là biện pháp hữu hiệu thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế thị trường, là nhân tố đảm bảo cho việc tạo dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh
Trang 7CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT CỦA VIỆT NAM VỀ BẢO HỘ
BÍ MẬT KINH DOANH 2.1 Điều kiện bảo hộ đối với bí mật kinh doanh
Khác với phần lớn các đối tượng SHCN, bảo hộ BMKD không phải trải qua các thủ tục đăng ký
để được cấp các văn bằng bảo hộ mà sẽ được tự động bảo hộ ngay lập tức khi thông tin đó đáp ứng
đủ 3 điều kiện được quy định tại Điều 84 Luật SHTT
Điều kiện thứ nhất: Không phải là hiểu biết thông thường và không dễ dàng có được
BMKD không phải là những hiểu biết phổ thông mà chỉ cần suy luận đơn giản hoặc thông qua các thao tác tìm kiếm trên các báo, sách, công trình nghiên cứu hoặc trên mạng Internet… là có thể tạo nên Để có được những thông tin được gọi là BMKD, chủ thể kinh doanh đã đầu tư không chỉ tài sản mà còn là công sức để thực hiện việc nghiên cứu, sáng tạo hoặc phải trải qua quá trình lâu dài để tích lũy kinh nghiệm, kiến thức để hình thành những tập hợp thông tin mang giá trị kinh tế Những hiểu biết cơ bản, nền tảng mà bất kì chủ thể kinh doanh nào cũng thu thập được từ những kiến thức phổ thông hoặc các tài liệu công cộng không phải là BMKD Song điều này chỉ đúng nếu những
hiểu biết cơ bản này đứng riêng lẻ “Sự bí mật có thể đơn thuần chỉ là sự kết hợp của tất cả những
điều đã biết”.7 Khi chúng được tập hợp, sắp xếp và điều chỉnh tạo thành chuỗi thông tin liên kết, phù hợp với hoạt động kinh doanh của chính doanh nghiệp thì có thể sẽ trở thành BMKD Bởi quá trình biến những thông tin riêng lẻ phổ thông thành những thông tin mang lại ưu thế nổi bật cho doanh nghiệp cũng thể hiện sự đầu tư trí tuệ và tài sản của người tạo ra nó
Điều kiện thứ hai: khi được sử dụng, BMKD sẽ tạo ra lợi thế cho người nắm giữ hoặc người
sử dụng BMKD đó so với người không nắm giữ hoặc không sử dụng
Bảo hộ BMKD không phải là một quá trình đơn giản bởi luôn tồn tại nhiều nguy cơ đe dọa đến
sự an toàn của BMKD Chính vì thế, doanh nghiệp không thể bảo hộ những thông tin không mang lại lợi ích gì cho doanh nghiệp Những thông tin được bảo hộ phải là yếu tố trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tích cực đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, đem lại những lợi thế khi doanh nghiệp được đặt trong quan hệ so sánh với các doanh nghiệp cùng thị trường Những giá trị BMKD mang lại có thể là những kết quả trực tiếp như: tăng lợi nhuận, mở rộng thị trường, được nhận diện cao,… hoặc là gián tiếp tác động đến định hướng lâu dài của doanh nghiệp là sự phát triển bền vững, nâng cao vị thế trên thị trường
Ví dụ: công thức chế biến hương liệu của nước hoa Chanel đã khiến cho loại nước hoa của hãng thời trang danh tiếng này tuy đã xuất hiện từ năm 1921 mà cho đến nay vẫn được ưa chuộng và còn được mệnh danh là “Nước hoa của mọi thời đại”8
7 Nguyễn Xuân Quang, Lê Nết và Nguyễn Hồ Bích Hằng (2007), Luật Dân sự Việt Nam, Nxb.Đại học Quốc gia TPHCM, tr.201
8 Trường Đại học Luật TPHCM, Giáo trình Luật Sở hữu trí tuệ (tái bản, có sửa chữa, bổ sung), TS Nguyễn Hồ Bích Hằng, TS.
Nguyễn Xuân Quang, NXB Hồng Đức, tr.395
Trang 8Điều kiện thứ ba: được chủ sở hữu bảo mật bằng các biện pháp cần thiết để không bị bộc lộ
và không dễ dàng tiếp cận được.
BMKD chỉ tồn tại khi nó vẫn mang tính chất bí mật Khi BMKD mất đi đặc tính của nó thì sẽ trở thành những thông tin bình thường Việc bảo hộ BMKD không chỉ dừng lại ở ý định mà phải được thực hiện bằng các biện pháp cần thiết Chủ thể phải thể hiện tính chủ động trong việc ngăn ngừa việc các thông tin trong BMKD bị tiết lộ bằng các biện pháp cần thiết Pháp luật không quy định cụ thể như thế nào là biện pháp cần thiết, có thể hiểu tính cần thiết của các biện pháp do chính chủ sở hữu BMKD nhận định và áp dụng tùy vào từng trường hợp cụ thể
2.2 Các hành vi xâm phạm đến bí mật kinh doanh:
BMKD là một tài sản vô hình, mang lại giá trị kinh tế cao nên luôn là đối tượng có nguy cơ bị xâm phạm Việc xâm phạm BMKD có thể được thực hiện thông qua nhiều hình thức:
Thứ nhất, tiếp cận, thu thập thông tin BMKD bất hợp pháp
Theo khoản 2 Điều 127 Luật SHTT, ngoài chủ sở hữu BMKD, người được nhận chuyển giao hợp pháp quyền sử dụng BMKD và người quản lý BMKD là những đối tượng được tiếp cận với BMKD Nghĩa vụ bảo mật của nhưng người này được xác lập trên cơ sở hợp đồng bảo mật, quy định pháp luật hoặc văn bản của chủ thể có quyền Ngoài ra cơ quan nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền khi cấp giấy phép kinh doanh, lưu hành dược phẩm, nông hóa phẩm trên cơ sở có yêu cầu của người nộp đơn cũng có nghĩa vụ bảo mật cho BMKD mà họ biết được trong khi thi hành nhiệm vụ, công vụ của mình (Điều 128 – Luật SHTT) Các giám định viên có nghĩa vụ bảo mật cho các kết quả giám định, các thông tin, tài liệu giám định (Khoản 4 Điều 44 – Nghị định 105)9 Để thực hiện nghĩa vụ này, các chủ thể đã sử dụng các biện pháp bảo mật Song những người kiểm soát hợp pháp BMKD vẫn có nguy cơ đánh mất BMKD bởi chính những thủ đoạn chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm sử dụng để chống lại các biện pháp bảo mật Chủ thể thực hiện hành vi tiếp cận, thu thập thông tin bất hợp pháp là bất kì ai (nhân viên công ty, người bên ngoài công ty…) Ngoài
ra, những trường hợp không phải chống lại các biện pháp bảo mật của chủ thể kiếm soát BMKD bởi
sử dụng những thủ đoản lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ, lợi dụng lòng tin người có nghĩa vụ bảo mật thông tin để tiếp cận, thu thập thông tin BMKD
Thứ hai, bộc lộ BMKD bất hợp pháp
Trong trường hợp này, BMKD bị tiết lộ trong 2 trường hợp là chủ động hoặc bị động Chủ động bộc lộ BMKD tức chủ thể thực hiện chính là những đối tượng đã biết được BMKD bằng con đường hợp pháp như chủ thể được chuyển giao quyền sử dụng hợp pháp BMKD, chủ thể quản lý BMKD,
cơ quan nhà nước tại Điều 128 Luật SHTT, cơ quan, tổ chức giải quyết tranh chấp… Những chủ thể này nhận thức được bản thân có nghĩa vụ bảo mật thông tin nhưng vì mục đích lợi nhuận hoặc mục đích khác đã tiết lộ những BMKD bản thân nắm giữ cho đối tượng khác, chủ yếu là các doanh nghiệp đối thủ Ngoài ra, những chủ thể biết hoặc có nghĩa vụ phải biết BMKD mình nắm giữ là do
9 Trương Thị Thanh Tuyết (2011), tlđđ 1, tr.74
Trang 9đạt được từ những biện pháp không ngay tình nhưng vẫn bộc lộ BMKD đó vẫn là hành vi xâm phạm đến BMKD Nếu như hình thức chủ động, BMKD được bộc lộ đến từ chính mong muốn, dự định của chủ thể thực hiện hành vi xâm phạm thì đến hình thức bị động, chủ thể thực hiện hành vi ban đầu không có ý định sẽ tiết lộ BMKD nhưng chính những cám dỗ, thủ đoản lừa gạt, xui khiến, mua chuộc, ép buộc, dụ dỗ của các đối tượng đang “săn” BMKD đã làm lung lay ý định ban đầu và khiến
họ phải tiết lộ BMKD
Thứ ba, sử dụng BMKD bất hợp pháp
BMKD được chủ thể sở hữu sử dụng Đối với các đối tượng khác, việc sử dụng BMKD phải được sử đồng ý của chủ sở hữu Chính vì thế, mọi hành vi sử dụng BMKD khi không có được sử đồng ý của chủ sở hữu hoặc sử dụng những BMKD được tạo lập bằng hành vi không hợp pháp đều xâm phạm đến BMKD Hành vi sử dụng này đi trái lại ý muốn của chủ sở hữu BMKD, được thực hiện nhằm giành lấy những lợi thế trên thị trường, tạo ra thế bất lợi cho doanh nghiệp đang nắm giữ BMKD hợp pháp
2.3 Biện pháp bảo hộ bí mật kinh doanh
2.3.1 Biện pháp tự bảo vệ
Điểm c khoản 3 Điều 6 Luật SHTT có quy định: “Quyền sở hữu công nghiệp đối với bí mật
kinh doanh được xác lập trên cơ sở có được một cách hợp pháp bí mật kinh doanh và thực hiện việc bảo mật bí mật kinh doanh đó" Theo đó, đối với BMKD quyền sở hữu công nghiệp được xác lập
khi BMKD có được một cách hợp pháp và chủ thể nắm giữ phải thực hiện bảo vệ BMKD đó Vì đặc tính và vai trò quan trọng của BMKD đối với doanh nghiệp, pháp luật ưu tiên cho các chủ thể sở hữu chủ động bảo vệ BMKD của mình
Tự bảo vệ BMKD là việc chủ thể quyền đối với BMKD áp dụng mọi biện pháp, cách thức cần thiết để bảo vệ BMKD đó chống lại các hành vi xâm phạm từ phía các chủ thể khác Tự bảo vệ BMKD trước hết xuất phát từ nhu cầu thiết yếu của chủ thể quyền trong việc bảo vệ tài sản của mình Ngoài ra, tự bảo vệ BMKD còn là một trong những điều kiện để bí mật đó được pháp luật bảo
hộ.10
Tại khoản 1 Điều 198 Luật SHTT có quy định những biện pháp chủ thể quyền SHTT có quyền
áp dụng để bảo vệ quyền SHCN của mình, song trong số 4 biện pháp chỉ có 1 biện pháp mang tính ngăn ngừa, 3 biện pháp còn lại đều được thực hiện khi hành vi xâm phạm đã diễn ra Đối với BMKD, việc ngăn ngừa hành vi xâm phạm BMKD luôn đặt lên hàng đầu vì khi BMKD bị tiết lộ sẽ kéo theo hàng loạt những hậu quả về sau đối với doanh nghiệp Chính vì thế, trên thực tiễn, doanh nghiệp đã sử dụng phần lớn các biện pháp để phòng ngừa hành vi xâm phạm BMKD
10 Trương Thị Thanh Tuyết (2011), tlđđ 1, tr.83
Trang 102.3.1.1 Bảo hộ BMKD bằng các thỏa thuận trong hợp đồng lao động
Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận bằng văn bản trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng giữa NSDLĐ
và NLĐ Hợp đồng lao động có hiệu lực sẽ phát sinh hiệu lực pháp lý ràng buộc đối với 2 bên NLĐ khi làm việc trong doanh nghiệp là những đối tượng có cơ hội được tiếp cận với BMKD Chính vì thế, để bảo vệ BMKD, NSDLĐ đã chủ động quy định những điều khoản ghi nhận trong hợp đồng lao động
Theo các cam kết đó, trong thời hạn lao động, NLĐ phải chấp hành nội quy, quy định do NSDLĐ đặt ra Khi không còn làm việc nữa, tùy vào vị trí công tác, tầm quan trọng của công việc đảm trách mà NLĐ không được làm việc, ký kết hợp đồng lao động với một, một vài NSDLĐ nhất định nào đó trong cùng lĩnh vực ngành nghệ hoạt động kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định.11 Có thể thấy, để hạn chế những làm bộc lộ BMKD, doanh nghiệp đã áp dụng những biện pháp ngay cả khi NLĐ không còn làm việc trong doanh nghiệp Trong thời hạn lao động, NLĐ đương nhiên sẽ chịu sự điều chỉnh và kiểm soát của doanh nghiệp nhưng ngay cả chính lúc này, BMKD vẫn có thể bị tiết lộ khi có những hành vi can thiệp, phá vỡ các biện pháp bảo mật Nếu khi hết thời hạn lao động, doanh nghiệp trước đó không đặt ra các biện pháp bảo mật tương ứng sử dụng thời điểm này trong hợp đồng lao động thì khả năng BMKD bị tiết lộ là rất cao khi NLĐ chuyển đổi nơi làm việc Bởi trong quá trình làm việc cho doanh nghiệp, NLĐ có thể đã thu thập được các thông tin
và nếu chức vụ của người này càng cao thì những thông tin họ sỡ hữu càng có giá trị Những thông tin này có thể trở thành cơ hội kinh doanh cho các doanh nghiệp cạnh tranh khác Nhận thức được các mối đe dọa, doanh nghiệp ngay khi lập hợp đồng lao động đã quy định những điều khoản để giảm thiểu hành vi xâm phạm đến BMKD Có những điều khoản sẽ áp dụng trong thời hạn NLĐ làm việc cho NSDLĐ, có những điều khoản chỉ áp dụng khi NLĐ chấm dứt quan hệ lao động với NSDLĐ
2.3.1.2 Bảo hộ BMKD bằng thỏa thuận bảo mật thông tin và không cạnh tranh (NDA)
Một số chủ sở hữu BMKD bảo vệ BMKD bằng việc soạn thảo các điều khoản bảo mật trong hợp đồng lao động, một số chủ sở hữu BMKD chọn bảo vệ BMKD bằng thỏa thuận NDA riêng biệt.12 Theo khoản 2 Điều 23 BLLĐ 2012, pháp luật đã thừa nhận sự thỏa thuận bảo mật BMKD giữa các bên miễn là sự thỏa thuận này không trái với quy định pháp luật và đảm bảo cân bằng quyền lợi các bên Đối với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, pháp luật không nhắc đến định nghĩa nhưng mục đích ngăn chặn BMKD bị tiết lộ, có thể định nghĩa: Điều khoản hạn chế cạnh tranh là loại điều khoản thỏa thuận giữa các bên mà theo đó NLĐ đưa ra cam kết và phải tuân thủ những giới hạn về việc tìm việc làm mới trong một giới hạn về thời gian, không gian, lĩnh vực để bảo vệ bí mật công nghệ, kinh doanh cho NSDLĐ và dự kiến cả hậu quả pháp lý trong trường hợp NLĐ vi phạm
11, 12 Trường Đại học Luật TPHCM, Sách tình huống Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam ,TS Nguyễn Hồ Bích Hằng, NXB Hồng Đức,
tr.516
12