3.Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm6.Đầu tư cho khoa học công nghệ - đầu tư cho tương lai 10.Thập niên chất lượng lần thứ hai: Năng suất chất lượng đã xuyên suốt m
Trang 1NGÀNH SỮA
CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA
ĐẦU TƯ CHO TƯƠNG LAI
ĐẦU TƯ CHO
Trang 23.Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm
6.Đầu tư cho khoa học công nghệ - đầu tư cho tương lai
10.Thập niên chất lượng lần thứ hai: Năng suất chất lượng đã xuyên suốt mọi hoạtđộng kinh tế xã hội
12.Chiến lược tăng năng suất lao động dài hơi của TKV
14.Ngành Hóa chất: Đa dạng sản phẩm mới thân thiện môi trường
16.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ của ngành Sữa
20.Bình Dương: Phát triển kinh tế - xã hội gắn với khoa học và công nghệ
22.Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1: Công trình của người Việt
24.Nghiên cứu công nghệ thu hồi Mannitol từ dịch lên men
27 Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện đường hóa đến quá trình tạopolymaltose de 25
30.Nghiên cứu xác định thời điểm cấy giống vi khuẩn lên men malolactic thíchhợptrong sản xuất rượu vang đỏ
34.Nghiên cứu chế độ sục khí thích hợp cho lên men rượu vang đỏ từ dịch ép nhoCabernet Sauvignon quy mô pilot
38.Dòng thuốc lá mới d9 có triển vọng cho các vùng trồng phía Bắc
42.Ảnh hưởng của phân bón đa lượng đến năng suất và chất lượng hạt giống bông laivn35ks và vn04-5
46.Hiệu quả cải thiện, nâng cao chất lượng và năng suất thuốc lá vàng sấy của chế độphân bón mới trên đất bạc màu ở Cao Bằng và Bắc Giang
48.Ứng dụng thiết bị di động trong quản lý kinh doanh và chăm sóc khách hàng
50.Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sản xuất chế biến tinh bột khoai mì dựa vào độctính tác động trên chỉ thị sinh học Daphnia magna
54.Petrolimex Sài Gòn: 40 năm một chặng đường phát triển khoa học công nghệ
56.PLC: Không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất dầu mỡ nhờn
58.Đầu tư đổi mới công nghệ ở Công ty Than Uông Bí
60.Tổng công ty Khí Việt Nam giá trị lớn từ phong trào phát huy sáng kiến
62.Tổng công ty Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn: Đổi mới từ quản lý đến công nghệ
64.Tôn Phương Nam: Tiến dài trong công nghệ
67.Giải pháp thông minh cho bảo mật IT trên xe hơi
TS Nguyễn Văn Sưa
PGS.TS Đào Văn Hoằng
VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PHÍA NAM
Số 173 Hai Bà Trưng, Quận 3,
In tại: Công ty CP Đầu tư và Hợp tác quốc tế
Tin tc & S kin
Nghiên cu & Trin khai
Bc tin công ngh
Câu chuyn khoa hc
68.Rạng Đông: Dám đầu tư, dám chấp nhận thất bại để thành công
70.Một ngày “thử” làm tư vấn viên sản xuất sạch hơn
Khoa hc công ngh th gii
Gp g
-ISSN: 0866-7756 Số 23 tháng 9 năm 2015
khoa hc
Trang 3Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm
Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Tập đoàn Mitsubishi và Trung
tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM vừa tổ chức nghiệm thu
và bàn giao thiết bị của Dự án thúc đẩy xây dựng bệnh viện xanh
thông qua nâng cao sử dụng năng lượng hiệu quả và môi trường tại
Việt Nam cho Bệnh viện Việt Đức quản lý sử dụng
Dự án được chuẩn bị từ tháng 01/2014, sau khi khảo sát và đi
đến thống nhất, ngày 13/5/2014, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và
Tập đoàn Mitsubishi đồng ý triển khai thực hiện dự án với nội
dung: Mitsubishi sẽ tiến hành lắp đặt tại Bệnh viện 526 máy điều
hòa inveter, 4 tủ hệ thống quản lý năng lượng, 6 bộ thông gió tận
dụng nhiệt thải và 6 bộ quạt đảo gió Tổng giá trị của Dự án xấp xỉ
8,39 tỉ đồng, trong đó, tổ chức Phát triển Công nghệ, công nghiệp
và năng lượng mới (NEDO) tài trợ 63% và Bệnh viện Việt Đức chi trả 37% Đến nay, 100% người bệnh tại các khoa, phòngđược hưởng lợi từ Dự án Bệnh viện cũng được tăng thêm tiềm lực tài chính thông qua việc tiết kiệm trên 830.000 kWh (tươngđương 1,23 tỷ đồng) và giảm phát thải 518 tấn CO2mỗi năm, góp phần cải thiện môi trường nhằm nâng cao chất lượng phục
vụ người bệnh, hướng tới mục tiêu Bệnh viện xanh trong tương lai
Đại diện Bộ Công Thương, ông Nguyễn Phú Cường – Vụ trưởng Vụ KHCN, cho biết, việc tham gia thực hiện các cơ chế
bù trừ tín chỉ phát thải các-bon song phương, đa phương là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần thực hiện cácmục tiêu theo Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Biên bản ghi nhớ đã ký giữa hai Chính phủ Việt Nam – Nhật Bản
về tăng trưởng Cac-bon thấp để thực hiện Cơ chế tín chỉ chung thông qua giải quyết các vấn đề và thách thức liên quan đếnnăng lượng và môi trường để hỗ trợ sự phát triển bền vững tại Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn chuẩn
bị thực hiện dự án, tiềm năng ứng dụng, phổ biến sử dụng máy điều hòa nhiệt độ công nghệ biến tần (Inverter), hệ thốngthông gió thu hồi năng lươ=ng và hệ thống quản lý năng lượng theo công nghệ tiên tiến của Nhật Bản trong các cơ sở côngcộng nói chung, các bệnh viện nói riêng trên toàn quốc là rất lớn Dự án được triển khai thành công sẽ là cơ sở và điểm khởiđầu để mở rộng quy mô, số lượng các bệnh viện có dự án tham gia cơ chế JCM Đây chính là cơ hội cho các bệnh viện tạiViệt Nam quyết định đầu tư, đổi mới, lựa chọn công nghệ tiên tiến, công nghệ cao trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng từNhật Bản phục vụ cho hoạt động của bệnh viện
Ông Huỳnh Kim Tước – Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP HCM cho biết, từ kết quả của Dự án, sắp tới, 44bệnh viện của TP HCM sẽ tiếp tục triển khai mô hình bệnh viện xanh Dự án cũng góp phần hoàn thiện cơ sở thực tiễn đểđăng ký và triển khai thực hiện Cơ chế tín chỉ chung trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản
2013 thứ 17 và năm 2012 thứ 27), dựa trên điểm trung bình của 79 chỉ số chia làm hai nhóm: nhóm các tiểu chỉ số đầu vào
và nhóm các tiểu chỉ số đầu ra của đổi mới sáng tạo Như vậy, năm 2015, dù hiệu quả đổi mới sáng tạo chúng ta giảm 4bậc, nhưng ở chỉ số xếp hạng chung quan trọng nhất thì chúng ta đã tăng bậc ngoạn mục
Đây là lần thứ 8 liên tiếp, Báo cáo Chỉ số GII được công bố Mục đích của Chỉ số GII là đưa ra các đánh giá về trình độđổi mới sáng tạo của mỗi quốc gia một cách toàn diện nhất Cốt lõi của Báo cáo GII 2014 là Bảng xếp hạng về đổi mới sángtạo toàn cầu Trong 8 năm qua, GII đã trở thành một tài liệu tham khảo hàng đầu về đổi mới sáng tạo
Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore vẫn duy trì vị trí thứ 7 như năm 2014 Ngoài ra, Singapore còn có nhiều tiểu chỉ sốđứng đầu thế giới như: môi trường pháp luật, môi trường kinh doanh, trình độ phát triển kinh doanh, hấp thụ tri thức ViệtNam đã nằm trong Top 3, đứng sau Singapore (hạng 7), Malaysia (32), nhưng trên Thái Lan (55) Trong số các nước ASEAN,chỉ có hai nước đã tụt hạng so với năm 2014 là Thái Lan và Indonesia Các nước còn lại đều tăng bậc, tuy nhiên mức tăngkhác nhau, Việt Nam tăng bậc ấn tượng nhất (từ 71 lên 52, tăng 19 bậc), tiếp đến là Philippines (tăng 17 bậc), Campuchia(15 bậc), trong khi Myanma chỉ tăng 2 bậc, Malaysia tăng 1 bậc
PHÙNG ANH TIẾN
Tin tc - S kin
Trang 4Thái Bình: Khởi công đề án thăm dò than trữ lượng lớn
Ngày 21/9/2015, tại xã Nam Thịnh (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản ViệtNam tổ chức lễ khởi công đề án thăm dò than tại khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải
Khu vực khoan thăm dò thuộc xã Nam Thịnh và xã Nam Hưng, huyện Tiền Hải, nằm trong phạm vi bể than đồng bằngsông Hồng với tổng diện tích thăm dò 5,29km2, độ sâu -1.200m, có 23 lỗ khoan với tổng số mét khoan là 19.650m Đề ánthăm dò thực hiện qua hai giai đoạn Giai đoạn 1 thi công tại hiện trường trong khoảng thời gian 24 tháng, từ tháng 9/2015đến tháng 9/2017 do Công ty Địa chất mỏ (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam) thi công Giai đoạn 2thực hiện trong 12-18 tháng, từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019, tổng hợp kết quả thăm dò, lập báo cáo địa chất và hoànthiện hồ sơ, thông qua tại Hội đồng trữ lượng quốc gia
Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng đánh giá việc triển khai đề án thăm dò than của Tậpđoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tại khu vực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là bước đi ban đầu trong chiếnlược phát triển khai thác bể than đồng bằng sông Hồng rộng lớn và giàu tiềm năng
Việc thăm dò tại khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải góp phần phục vụ công tác xác định cấu trúc địa chất, trữ lượng, chấtlượng than, đặc điểm điều kiện địa chất kỹ thuật Từ đó xem xét, nghiên cứu, lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp và tiếntới đầu tư khai thác, tạo giá trị lớn về mặt kinh tế và phát triển xã hội của đất nước
THU HOÀI
Tin tc - S kin
Quảng Ngãi: Nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất
Ngày 21/9/2015, Ban quản lý dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) cùng liêndanh Quad Personnel Consultants - Công ty TNHH Giác Thành ký kết hợp đồng tư vấn giám sát giai đoạn FEED -
Dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất Theo đó, Công ty Quad Personnel Consultants và Công ty TNHH GiácThành sẽ đảm nhiệm vai trò hỗ trợ công tác giám sát thiết kế tổng thể (FEED) cho dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọcdầu Dung Quất với hợp đồng trị giá gần 50 tỷ đồng; trong đó, khoảng 32 tỷ đồng để trả cho Công ty Quad và hơn 15 tỷđồng cho Công ty Giác Thành
Công việc sẽ được triển khai song song với hợp đồng tư vấn lập thiết kế tổng thể mà Công ty TNHH Lọc hóa dầu BìnhSơn đã ký kết với nhà thầu Amec Foster Weeler Energy Limited đã ký kết trước đó
Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy được Chính phủ chấp nhận với công suất chế biến Nhà máy tăng từ 6,5 lên 8,5 triệutấn dầu thô/năm, tăng khoảng 30% Sau khi hoàn thành, Nhà máy sẽ chế biến được các chủng loại dầu thô thông dụngtrên thế giới
Dự án có tổng vốn đầu tư trên 1,8 tỷ USD sẽ được thực hiện trong 78 tháng, dự kiến hoàn thành trong năm 2021, vớimục tiêu nhằm nâng công suất chế biến, nâng cao độ linh động lựa chọn dầu thô trên thế giới, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩnEURO V, tiêu chuẩn môi trường và đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam
SỸ THẮNG
Thanh Hóa: Khởi công dự án Nhiệt điện 2,3 tỷ USD
Ngày 18/9/2015, tại xã Hải Hà (huyện Tĩnh Gia), Công ty TNHH Điện Nghi Sơn phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa đã tổchức lễ động thổ dự án (DA) Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2
Tổng mức đầu tư của DA là 2,3 tỷ USD Trong đó, 25% vốn được góp do Liên danh nhà đầu tư Marubeni - KEPCO, phầncòn lại được huy động từ các ngân hàng quốc tế gồm: Ngân hàng Hợp tác phát triển Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng Xuất nhậpkhẩu Hàn Quốc (KEXIM bank) và một số ngân hành thương mại quốc tế khác
Theo kế hoạch, tổ máy đầu tiên công suất 600 MW sẽ được xây dựng hoàn tất vào tháng 9/2019, tổ máy thứ 2, cùngcông suất hoàn thành vào tháng 3/2020 để phát điện hòa vào lưới điện quốc gia Dự kiến, Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn sẽđược Công ty bàn giao cho phía Việt Nam sau 25 năm vận hành (BOT)
Được biết, đây là DA theo hình thức BOT đầu tiên và lớn nhất của Tập đoàn Marubeni tại Việt Nam Trước đó, Tập đoànnày đã hợp tác với EVN và tỉnh Thanh Hóa, với vai trò tổng thầu tại DA Nhiệt điện Nghi Sơn 1 với tổng công suất 600 MW
ĐÀO NGUYÊN
Trang 5Tin tc - S kin
Hải Phòng: Đánh giá dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời trong chiếu sáng tại đảo Dấu, Đồ Sơn”
Ngày 12/9/2015, tại Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, Hội đồng KH&CN thành phố đánh giá kết quả thực hiện
dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời trong chiếu sáng tại Đảo Dấu, quận Đồ Sơn, thành phố HảiPhòng” do UBND quận Đồ Sơn chủ trì thực hiện
Tại Hội nghị, đại diện cơ quan chủ trì dự án trình bày những nội dung cốt lõi khi xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặttrời (NLMT) trong chiếu sáng từ việc tiếp nhận công nghệ điện mặt trời cục bộ Madicub Cơ quan chủ trì dự án đã sử dụng đènLED tiết kiệm năng lượng trên 10 trụ đèn NLMT khu vực dẫn vào khuôn viên Đền Nam Hải Đại Vương với quy mô 10 tấm pinNLMT bằng kính có công suất 175Wp/tấm, hệ điện mặt trời tập trung 2kWp Nguyên lý của công nghệ Madicub là sạc điện mặttrời; đổi điện độc lập; bảo vệ toàn diện; tồn trữ năng lượng và điều khiển thông minh Khi có ánh nắng mặt trời, năng lượngđiện từ pin được nạp tự động, ổn định dòng vào ắc-quy qua bộ nạp, sau đó điện áp 12VDC sẽ qua bộ Inverter tạo dòng điệnAC220/50 Hz hình sin cung cấp cho tải
Ưu điểm chính của công nghệ Madicub là cung cấp giải pháp toàn diện về nguồn điện cho những nơi chưa có điện lướiquốc gia, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, trên thuyền đánh bắt hải sản hay các tàu thuyền du lịch, các đảo hoặc nhữngđơn vị an ninh quốc phòng Tuy nhiên, do điện năng sử dụng hoàn toàn được chuyển đổi từ nguồn NLMT nên cần tính toán
dự trữ năng lượng đủ lớn để duy trì điện năng cho phụ tải khi thời tiết xấu kéo dài, bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho Madicubcòn khá cao
Hội đồng đánh giá, dự án đã được triển khai có hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, góp phần bảo vệ môi trường, an toàn khi
sử dụng, cung cấp điện sinh hoạt cho người dân trên đảo Tuy vậy, cơ quan chủ trì dự án cần bổ sung các số liệu về chi phívận hành, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn; cập nhật các văn bản pháp luật liên quan; cần có phương án để sử dụng song song,kết nối với điện lưới quốc gia khi có dự án kéo điện ra đảo để tránh lãng phí trong vận hành mô hình trong những năm tiếp theo
THỤY ĐIỂN
Thái Nguyên: Đào tạo ISO 9001 - 2008 cho cán bộ cơ sở
Ngày 16/7/2015, Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp cùng UBND huyện Phú Bình
tổ chức khóa đào tạo Chuyên gia đánh giá chất lượng nội bộ theo chuẩn ISO 9001-2008, đối tượng tham gia lớp đàotạo này là cán bộ của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Phú Bình
Tại buổi đào tạo, chuyên gia tư vấn về hệ thống quản lý chất lượng ISO đã truyền đạt các kiến thức về hệ thống quản
lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 900-2008 giúp các học viên có kiến thức để đánh giá hệ thống nội bộ, làm cơ sở cho cáchoạt động duy trì và cải tiến hệ thống Tiêu chuẩn ISO 9001-2008 quy định các tổ chức phải thực hiện đánh giá nội bộ hệthống được xây dựng, bên cạnh đó, hoạt động đánh giá còn cung cấp cho Ban Lãnh đạo địa phương các thông tin kháchquan về hệ thống để phục vụ cho các hoạt động quản lý, điều hành Đánh giá nội bộ là một hoạt động tổng hợp cũng đòihỏi nhiều kỹ năng và kỹ thuật Cùng với đó là các nguyên tắc quản lý chất lượng hướng vào phục vụ công dân như là xácđịnh nhu cầu và mong đợi của nhân dân, xử lý công việc theo yêu cầu của dân
Kết thúc khóa đào tạo, các học viên được cấp chứng chỉ ISO về Đánh giá chất lượng nội bộ do Công ty TNHH tư vấnquản lý và phát triển doanh nghiệp Á Châu cấp
ĐINH LƯƠNG THẮM
Đà Nẵng: Bàn giao website cho 10 cơ sở công nghiệp nông thôn
Thực hiện đề án Hỗ trợ nâng cao năng lực ứng dụng thương mại điện tử, quản lý hệ thống thông tin nội bộ cho các
cơ sở công nghiệp nông thôn thuộc chương trình Khuyến công quốc gia năm 2015, Trung tâm Phát triển thương mạiđiện tử - Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ thông tin phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển côngnghiệp Đà Nẵng xây dựng 10 website miễn phí cho các cơ sở công nghiệp nông thôn
Theo đó, ngày 04/9/2015, tại Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Đà Nẵng đã diễn ra buổi bàngiao website cho 10 cơ sở, doanh nghiệp tham gia chương trình lần này gồm: Công ty TNHH Nến Hướng Dương; Cơ sở sảnxuất than sinh học Khải Đăng; Cơ sở sản xuất móc áo inox Nguyễn Tri Vinh; Công ty CP đầu tư Hồng Hoàng Hồng; Công tyTNHH sản xuất TM&DV Phổ Huy Quang; Hợp tác xã đá trang trí Hòa Sơn; Xí nghiệp chế biến lâm sản Hòa Nhơn; Cơ sở sảnxuất rượu cần Lê Văn Nghĩa; Công ty TNHH Tuấn Hòa; Công ty TNHH MTV Đá Phong thủy trúc xanh
Trong khuôn khổ chương trình lần này, Trung tâm phát triển thương mại điện tử còn hỗ trợ duy trì 03 website cho Cơ sởđiêu khắc đá mỹ nghệ Thanh Thiện, DNTN cơ khí xây dựng Quang Vinh và Công ty TNHH cơ khí tự động hóa Dameco
PV
Trang 6PV: Thưa ông, ông luôn cho rằng,
đầu tư cho KHCN là đầu tư cho
tương lai Vậy ông có thể cho
biết, với ngành Công Thương,
điều đó thể hiện như thế nào?
TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:
Chúng ta đều thấy rõ một điều,
không riêng gì ngành Công Thương
mà cuộc sống của chúng ta hiện đang
chịu sự ảnh hưởng rất lớn của KHCN
Các thành quả của KHCN thay đổi
từng ngày, từng giờ, ảnh hưởng trực
tiếp đến cuộc sống mà điển hình là
sự thay đổi của công nghệ điện tử,
liên tục cập nhật, hôm nay vừa là
công nghệ mới, sản phẩm mới, mai
đã thành lạc hậu, trở thành phiên bản
cũ Với ngành Công Thương, đó là
những nghiên cứu dài hơi mà cácngành có khi đã phải đầu tư từ vàichục năm trước, bây giờ mới hưởngthành quả, hay bây giờ bắt đầu đầu
tư để tính đến vài chục năm sau mớiđược gặt hái Điển hình có thể kể đếnnhư ngành Than, mỗi mét lò đào sâutrong lòng đất là chi phí tăng, nhưngnhờ sự nỗ lực đầu tư, ứng dụng cáccông nghệ mới nhằm cơ giới hóa khaithác than, nên sản lượng khai tháctăng, môi trường làm việc của thợ lòđược cải thiện rõ rệt, đảm bảo năngsuất, chất lượng và cả an toàn củangười lao động Hay như ngành Dầukhí, cách đây mấy chục năm, việckhai thác dầu khí hoàn toàn phụthuộc vào chuyên gia nước ngoài,
Chính phủ ta đã đầu tư quyết liệt đểnhiều thế hệ cán bộ chuyên gia được
đi học tập, đào tạo ở nước ngoài, trở
về làm chủ công nghệ từ khai thácđến vận hành máy móc Bây giờkhông những làm chủ các công trìnhlớn, hiện đại không thua kém cácnước trên thế giới, ngành Dầu khí còn
có cả những đầu tư ra nước ngoài,khẳng định trình độ, tay nghề củangười thợ dầu khí Việt Nam Một ví
dụ điển hình nữa là ngành Điện Nếunhư trước đây chúng ta không mạnhdạn đầu tư cho đường dây 500 kVBắc Nam, thì nay không thể có một
TP Hồ Chí Minh đầu tầu năng động,bởi muốn phát triển sản xuất thìnguồn năng lượng luôn được coi
Tin tc - S kin
TS.Nguyn Phú Cng – V trng V KHCN, B Công Thng vi Chuyên san Khoa hc
và Công ngh k này Trân trng gii thiu cùng bn đc!
Đầu tư cho khoa học
công nghệ đầu tư cho tương lai
-TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG
HỒ NGA (thực hiện)
Trang 7trọng hàng đầu Hiện tại, ngành Điện
đang tiếp tục đầu tư cho dự án phát
triển điện hạt nhân và nay nhiều lượt
cán bộ đã được cử đi học tại các nước
có công nghệ điện hạt nhân phát
triển hàng đầu thế giới như Pháp,
Nhật Bản… Với dự án này, phải vài
chục năm nữa chúng ta mới có thể
hưởng thành quả, nhưng nếu như
hôm nay chúng ta không đầu tư thì
tương lai, khi các nguồn tài nguyên
thiên nhiên cạn kiệt, chúng ta sẽ
không có nguồn năng lượng để sử
dụng Trong ngành công nghiệp nhẹ,
tôi chỉ lấy một ví dụ điển hình nhất là
ngành Sữa Bằng việc đầu tư vùng
nguyên liệu, đầu tư máy móc thiết bị
mà từ khi chỉ có thể sản xuất được
một loại sản phẩm duy nhất là sữa
đặc có đường thì đến nay, ngành Sữa
đã có vài chục loại sản phẩm các loại
Sữa đang dần trở thành một sản
phẩm không thể thiếu trong cuộc
sống, do đó, việc phát triển ngành
Sữa tiên tiến, hiện đại, giảm phụ
thuộc vào nguồn nguyên liệu nước
ngoài sẽ giúp ngày càng nhiều hơn
người Việt Nam được sử dụng các
sản phẩm chế biến từ sữa…
Nói vậy để thấy, đầu tư cho KHCN
là cực kỳ quan trọng, xã hội muốn
PV: Vậy trong giai đoạn này,
ngành Công Thương đang có
những dự án dài hơi nào cho
tương lai, thưa ông?
TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:
Ngành Công Thương luôn là ngành có
nhiều chương trình, đề án KHCN quan
trọng Hầu như ngành nào cũng đều
có các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp
Bộ Ngoài các chương trình, đề án giao
cho các đơn vị cơ sở thực hiện, Vụ
KHCN cũng đang trực tiếp triển khai
thực hiện các đề án do Thủ tướng
Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ
trì như: Ðề án phát triển và ứng dụng
công nghệ sinh học trong lĩnh vực
công nghiệp chế biến đến năm 2020;
Đề án phát triển nhiên liệu sinh học
đến năm 2015, tầm nhìn đến năm
2025; Đề án phát triển ngành công
nghiệp môi trường đến năm 2015, tầm
nhìn đến năm 2025; Đề án đổi mới vàhiện đại hoá công nghệ trong ngànhcông nghiệp khai khoáng đến năm
2015, tầm nhìn đến năm 2025; Đề ánPhát triển ứng dụng bức xạ và đồng vịphóng xạ trong công nghiệp đến năm2020; Chương trình mục tiêu quốc gia
về an toàn vệ sinh thực phẩm; Chiếnlược sản xuất sạch hơn trong côngnghiệp đến năm 2020; Dự án “Nângcao năng suất và chất lượng sản phẩmhàng hóa ngành công nghiệp”; Đề ánthực hiện Hiệp định rào cản kỹ thuậttrong thương mại Ngoài ra, trong năm
2014, Vụ đã tích cực triển khai một sốchương trình KHCN mới như: Chươngtrình phát triển sản phẩm quốc gia,Chương trình phát triển một số ngànhcông nghiệp công nghệ cao, Chiếnlược sử dụng công nghệ sạch, Kếhoạch hành động phát triển ngànhcông nghiệp môi trường và tiết kiệmnăng lượng Đây đều là các đề án dàihơi, hướng tới phát triển bền vững vàmục tiêu đưa Việt Nam trở thành nướccông nghiệp vào năm 2020
Thực tế việc đầu tư cần được chútrọng từ máy móc thiết bị, công nghệđến con người Ngành Công Thươnghiện cũng đang đi đúng theo hướngnhư vậy
PV: Thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đầu
tư cho đổi mới trang thiết bị và công nghệ Tuy nhiên, năng suất lao động của người Việt Nam vẫn
bị đánh giá là thấp nhất trong khu vực Vậy theo ông, đây có phải do yếu tố con người.
TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:Đóchính là lý do vì sao chúng ta phải đầu
tư cho phát triển nguồn nhân lực, đặcbiệt là nhân lực có trình độ cao Vớiviệc Việt Nam ký kết các hiệp địnhsong phương, đa phương thời gianqua và sắp tới thì nguồn nhân công giá
rẻ đã không còn là lợi thế của chúng
ta, mà xã hội bây giờ cần những laođộng có tay nghề cao, kỷ luật tốt vàhơn hết là có tinh thần trách nhiệm vớicông việc Việt Nam hiện đang có sốngười ở độ tuổi lao động nhưng khôngqua đào tạo tay nghề cao, do đó, khảnăng kiếm được việc làm tốt, thu nhậpkhá là rất khó Chưa kể, tính kỷ luậttrong lao động còn kém, tinh thầntrách nhiệm chưa cao, nên so với các
nước trong khu vực, nếu được lựachọn, các nhà đầu tư sẽ lựa chọn laođộng ở các nước khác
Các doanh nghiệp cũng đã rất nỗlực trong việc đầu tư máy móc thiết
bị, đổi mới công nghệ, nhưng ngườicông nhân muốn làm chủ máy móc
ấy, muốn vận hành được công nghệ
ấy thì phải có tri thức Thực tế đãchứng minh, năng suất lao độngmuốn được nâng lên thì người laođộng phải không ngừng sáng tạo,phát huy sáng kiến cải tiến để cỗ máy
ấy, dây chuyền ấy vận hành năngsuất cao hơn, chất lượng tốt hơn.Muốn vậy, cần phải đầu tư để đào tạonhững người cán bộ kỹ thuật, côngnhân có trình độ, có tay nghề
Vì thế, chúng ta phải dành nguồnkinh phí đầu tư cho các trường đạihọc, cao đẳng, dạy nghề… Không nênmong việc đầu tư kinh phí vào cáctrường để đem lại lợi nhuận bằng tiền
mà phải hiểu cái lãi ở đây chính lànguồn nhân lực chất lượng cao, cókhả năng tham gia sản xuất, làm chủcông nghệ, vận hành được các loạimáy móc tiên tiến hiện đại Đầu tư đểđội ngũ cán bộ giáo viên tham gianghiên cứu khoa học vừa nâng caotrình độ giáo viên, vừa góp phần đàotạo đội ngũ sinh viên có điều kiện tiếpcận công nghệ mới, nâng cao cơ sởvật chất cho cơ sở đào tạo, thực hành
về KHCN… Việc đầu tư không nhấtthiết hoàn toàn từ ngân sách nhànước mà có thể huy động bằng cácnguồn khác nhau của xã hội, từ cácquỹ đổi mới KHCN
Ngành Công Thương trong nhữngnăm qua cũng dành khá nhiều sựquan tâm tới hoạt động nghiên cứukhoa học của khối đào tạo Một sốtrường có hoạt động nghiên cứu khoahọc mạnh có thể kể đến như Đại họcCông nghiệp Hà Nội, Đại học Côngnghiệp TP Hồ Chí Minh…
Luật KHCN sửa đổi cũng đã cónhiều điểm mới, tháo gỡ khó khăn chocác đơn vị nghiên cứu khoa học, đồngthời tăng cường khuyến khích, đãi ngộđội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học
Hy vọng trong thời gian tới, hoạt độngKHCN sẽ có nhiều thuận lợi, thu hútnhiều hơn sự quan tâm và đầu tư của
xã hội nhằm gặt hái những thành quảtrong tương lai
PV: Trân trọng cảm ơn ông!
Tin tc - S kin
Trang 8Tổng công ty Đức Giang xác định, muốn phát triển thì phải đầu tư Do đó, trong những năm qua, bình quân
cứ 1 đến 2 năm, Đức Giang lại có một nhà máy mới Các nhà máy đều chia ra xây dựng theo từng giaiđoạn, mỗi giai đoạn lại nâng công suất lên và tuyển thêm nhiều lao động Thông thường một nhà máy
sẽ giải quyết khoảng 1.500-2.000 lao động, sản xuất các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Đức Giang như
sơ mi, jacket, quần âu
Chúng tôi xác định, đầu tư bây giờ là đầu tư cho tương lai nên tư duy đầu tư cũng thay đổi Khi đặt vấn đềđầu tư một nhà máy, chúng tôi quan tâm tới nhà xưởng, máy móc, lao động và chuyển giao công nghệ Nếunhư trước kia, quan niệm đầu tư thêm nhà máy mới là tận dụng máy móc thiết bị, rồi cố gắng tiết kiệm chi phí,thì nay, càng đầu tư sau công nghệ càng phải hiện đại mới đủ sức cạnh tranh Không đầu tư máy móc quá đơngiản mà đầu tư máy móc hiện đại làm sao để giảm thiểu công sức lao động và đem lại năng suất cao hơn, chấtlượng tốt hơn
Về lao động, khi mới thành lập chúng tôi tổ chức đào tạo nhân công để tuyển vào nhà máy Còn khi nhàmáy đã đi vào hoạt động, công nhân được đào tạo ngay tại nhà máy, trên dây chuyền hiện đại luôn Liên tục
tổ chức các lớp học mời giáo viên của Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội về dạy cho các chuyềntrưởng, tổ trưởng, quản lý Tổ chức cả các lớp tập huấn về các giải pháp sản xuất sạch hơn, nâng cao năngsuất chất lượng cho người lao động Do đó, người lao động yên tâm làm việc và tự họ phải hiểu, càng năngsuất cao, tiết kiệm chi phí thì thu nhập của họ càng cao Còn sản phẩm bị lỗi, làm việc không năng suất thì thunhập thấp Điều đó tất cả là phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm và kỹ năng của chính người lao động.Riêng đối với chuyển giao công nghệ thì nhất định phải có yếu tố nước ngoài Có những loại sản phẩm caocấp mà kỹ thuật của nó rất khó, phải áp dụng công nghệ hiện đại mới sản xuất được thì việc lựa chọn công nghệ
và nhận chuyển giao công nghệ phải đặc biệt ưu tiên Thường là những công nghệ đó chỉ có được khi mình hợptác với các khách hàng nước ngoài, có uy tín, bởi không phải cứ có tiền là mua được mà có những loại máy muốnmua cũng không có trên thị trường Nhưng nếu đối tác đồng ý chuyển giao công nghệ, họ sẽ có trách nhiệmđưa máy đến cho mình, để có thể sản xuất những sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng họ đưa ra
Với tất cả các yếu tố trên, cuối cùng chúng tôi sẽ xem xét để so sánh, nếu một nhà máy được đầu tư ápdụng công nghệ hiện đại ngay từ đầu thì hiệu quả như thế nào Chúng tôi thấy rất tốt, rất hiệu quả và đây sẽ
là định hướng cho những năm tới đây của Đức Giang, các nhà máy tiếp theo chúng tôi cũng sẽ làm như vậy.Đức Giang đang phấn đấu đến năm 2020 đạt doanh thu 5.000-6.000 tỉ đồng, gần gấp đôi so với hiện nay.Muốn vậy thì đầu tư phải rất mạnh mới có thể đạt được mục tiêu này Đây là vấn đề rất quan trọng với ĐứcGiang trong thời gian tới Trong kế hoạch phát triển của mình, Đức Giang đang nung nấu và chắc chắn sẽ xâydựng một nhà máy veston hiện đại với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 400 tỉ đồng, công suất 3 triệu sản phẩm/năm,giải quyết việc làm cho khoảng 2.000-3.000 lao động Chúng tôi đang cân nhắc lựa chọn công nghệ để khi đầu
tư sẽ mua chuyển giao công nghệ, đảm bảo khi sản phẩm ra là xuất khẩu 100% Như vậy sẽ góp phần để ĐứcGiang đạt được mục tiêu đề ra
Tin tc - S kin
Ông HOÀNG VỆ DŨNG Chủ tịch Tổng công ty Đức Giang:
Càng đầu tư sau công nghệ càng phải hiện đại mới
đủ sức cạnh tranh
Trang 9Thực tế của việc khai thác than hầm lò đang càng ngày càng xuống sâu, mỗi mét lò là mỗi chi
phí tăng thêm để xử lý rất nhiều vấn đề như vận chuyển than, thông gió, đảm bảo các điều
kiện về an toàn trong mỏ Nếu như trước kia và bây giờ ta không tập trung nghiên cứu hiện
đại hóa công nghệ, đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại thì những năm sau, ngành Than
không thể đảm bảo được năng suất lao động, cũng như chất lượng và sự an toàn cho người lao
động Là một đơn vị thiết kế, thi công các công trình cơ khí cho ngành năng lượng mỏ, từ khi thành
lập đến nay, Viện Cơ khí Năng lượng Mỏ luôn bám sát các vấn đề phát sinh trong khai thác mỏ để
đầu tư nghiên cứu, thiết kế các máy móc thiết bị theo kịp công nghệ thế giới, giảm sức lao động
của con người và đảm bảo an toàn Một trong những đề tài có thể nói rất thành công là “Nghiên
cứu thiết kế chế tạo tời cáp treo chuyên dụng chở người trong các mỏ than hầm lò – TCCN 1200”
Theo thống kê tại đường lò lắp đặt, ngoài việc đảm bảo về sức khỏe cho người lao động, trong mỗi
ca làm việc, một người công nhân có thể tiết kiệm từ 15-20 phút so với khi phải đi bộ hoặc di chuyển
trên thiết bị không liên tục Đặc biệt, với công nghệ khai thác than của Việt Nam hiện nay mỗi ca
làm việc có từ 100-300 công nhân lên và xuống lò đầu ca, giữa ca, do đó các thiết bị vận tải liên
tục như TCCN 1200 sẽ là ưu điểm của công nghệ so với áp dụng các thiết bị không liên tục khác
Thiết bị được Công ty Than Quang Hanh-TKV đánh giá vận hành ổn định, chất lượng tốt và đã nhận
chuyển giao sản phẩm vào hoạt động sản xuất Nhiều đề tài nghiên cứu khác của Viện cũng thể hiện
được tầm nhìn tương lai, góp phần tích cực nâng cao năng suất lao động cho ngành Than
Trong khai thác than hầm lò, chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý doanh nghiệp đầu tư thích đáng cho
công tác bảo dưỡng - sửa chữa vì đó chính là đầu tư cho tương lai Bảo dưỡng - sửa chữa không
chỉ là việc loại bỏ sự cố, mà còn đảm bảo sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp, là một hạng mục
đầu tư liên tục và lâu dài đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được lợi ích về mặt kinh tế
Ngoài việc nghiên cứu các trang thiết bị cho ngành Than, Viện cũng đang đầu tư rất mạnh vào
Trung tâm Thử nghiệm – Kiểm định Công nghiệp, thử nghiệm Không phá hủy (NDT), Hóa học, Cơ
học, Điện – Điện tử, Xây dựng, Giao thông vận tải, kiểm định, giám định, kiểm tra chất lượng các
loại vật liệu, mối hàn, sản phẩm công nghiệp cho các công trình thủy điện, nhiệt điện, nhà ga, sân
bay, đường sắt, cơ khí, đóng tàu, xây dựng, giao thông vận tải, nhà cao tầng trong phạm vi Phòng
thí nghiệm hợp chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005, và Phòng thí nghiệm cung cấp các dịch vụ của
Cục Đăng kiểm Việt Nam; Thử nghiệm Hiệu suất năng lượng cho các sản phẩm điện gia dụng như
điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, ti vi, nồi cơm điện, quạt… trong phạm vi của Phòng thí nghiệm hợp
chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 Đây chính là những đầu tư dài hơi sẽ đảm bảo cho sự phát triển
của Viện trong tương lai
Tin tc - S kin
Ông BẠCH ĐÔNG PHONG Viện trưởng Viện Cơ khí Năng lượng Mỏ:
Nếu không đầu tư
từ bây giờ, tương lai không thể duy trì được năng suất
và chất lượng
Trang 10NÂNG CAO NHẬN THỨC
CỦA XÃ HỘI VỀ NĂNG
SUẤT CHẤT LƯỢNG
Qua 10 năm triển khai thực hiện,
các hoạt động thông tin, tuyên truyền,
đào tạo, tư vấn về NSCL đã được quan
tâm, đẩy mạnh Thông qua các
phương tiện thông tin đại chúng và hội
nghị, hội thảo đã tác động mạnh mẽ
đến nhận thức của toàn xã hội đối với
vấn đề NSCL Cặp phạm trù “năng
suất, chất lượng” đã xuyên suốt trong
các hoạt động kinh tế xã hội nói chung
và hoạt động sản xuất, kinh doanh nói
riêng Nhận thức trên đã thể hiện trong
các quyết sách của Chính phủ, các Bộ,
ngành, địa phương và doanh nghiệp
Thông qua việc tuyên truyền,
doanh nghiệp ngày càng nhận thức
được vai trò của NSCL, chủ động liên
hệ với các cơ quan, tổ chức về NSCL
để được đào tạo, hỗ trợ áp dụng các
hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng
suất, ứng dụng tiến bộ khoa học công
nghệ vào sản xuất… Nhiều doanh
nghiệp đã chú trọng đến thực hành
NSCL để nâng cao hiệu quả của hoạt
động sản xuất, kinh doanh, năng lực
cạnh tranh của doanh nghiệp Còn
người tiêu dùng, qua các hoạt động
tuyên truyền, ngày càng nhận thức rõ
hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa
(SPHH), tự bảo vệ quyền lợi của mình
bằng cách lựa chọn các SPHH bảo đảm
tiêu chuẩn chất lượng để sử dụng
Theo đánh giá của Bộ Khoa học vàCông nghệ, thập niên vừa qua đã ghinhận sự chuyển biến có chiều sâu củacác ngành, các cấp từ trung ương đếncác địa phương và của xã hội nóichung về NSCL, đó chính là “chìakhóa” để triển khai có hiệu quả cácgiải pháp nâng cao NSCL trong từng
tổ chức, doanh nghiệp, từng ngành,địa phương Từ nhận thức tới chỉ đạo
và hành động, Thủ tướng Chính phủ
đã phê duyệt Chương trình quốc gia
“Nâng cao năng suất và chất lượngSPHH của doanh nghiệp Việt Nam đếnnăm 2020” với mục tiêu “Tạo bướcchuyển biến rõ rệt về năng suất vàchất lượng của các SPHH chủ lực,nâng cao khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp, đóng góp tích cực vào
sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước” Các bộ, ngành, và hầu hết cácđịa phương đã và đang tích cực triểnkhai thực hiện các dự án nâng caoNSCL các SPHH chủ lực thuộc phạm viquản lý của ngành, địa phương mình
HOÀN CHỈNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ TRIỂN KHAI PHONG TRÀO NSCL
Trong thập niên qua, công tácpháp chế về lĩnh vực tiêu chuẩn đolường chất lượng (TCĐLCL) đã đạtđược thành tựu lớn, đã xây dựng vàhoàn chỉnh được hệ thống văn bản
pháp luật đầy đủ và đồng bộ từ Luậtcho đến các văn bản hướng dẫn thihành Luật cho cả ba lĩnh vực Tiêuchuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Đolường và Chất lượng SPHH Hệ thốngpháp luật về lĩnh vực TCĐLCL phù hợpvới điều kiện và luật pháp Việt Nam,đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế,
là hành lang pháp lý để quản lý, thúcđẩy các hoạt động nâng cao NSCLtrong thời kỳ hội nhập và phát triểnkinh tế của đất nước
Các bộ, ngành và địa phương đãxây dựng và triển khai các hoạt độngnâng cao NSCL cụ thể theo chủtrương, chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ, trong khuôn khổ các chươngtrình quốc gia, dự án, đề án liên quanđến NSCL, tạo dựng được phong tràoNSCL trong phạm vi cả nước Doanhnghiệp đã có sự đầu tư nguồn lực cầnthiết cho hoạt động nâng cao NSCL Rút kinh nghiệm từ việc chậm ápdụng các hệ thống, công cụ quản lýmới cũng như các công cụ nâng caoNSCL của thập niên chất lượng lần thứnhất, thập niên vừa qua, trong khuônkhổ của Chương trình quốc gia “Nângcao năng suất và chất lượng sảnphẩm, hàng hóa của doanh nghiệpViệt Nam đến năm 2020”, việc nghiêncứu, lựa chọn, thử nghiệm áp dụngcác hệ thống quản lý, mô hình, công
cụ cải tiến NSCL mới, tiên tiến thíchhợp vào các loại hình doanh nghiệp
Tin tc - S kin
THẬP NIÊN CHẤT LƯỢNG LẦN THỨ HAI:
Thp niên cht lng ln th hai vi ch đ "Nng sut, Cht lng - Chìa khóa phát trin và h i nhp” đc Lãnh đo Đng, Nhà nc phát đ ng ti H i ngh# Cht lng Vit Nam ln th VI (nm 2005) 10 nm qua, nng sut, cht lng (NSCL) đã và đang tr thành
doanh nghip Vit Nam đã đt đc trong thp niên cht lng v$a qua.
HOÀNG MINH
Năng suất chất lượng
đã xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế xã hội
Trang 11Việt Nam được ưu tiên thực hiện.
Cùng với đó là việc triển khai xây dựng
các mô hình điểm về áp dụng các hệ
thống quản lý, mô hình, công cụ cải
tiến NSCL làm cơ sở nhân rộng cho
cộng đồng doanh nghiệp Hoạt động
chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý
theo tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế, đã
tăng lên nhiều về cả số lượng tổ chức,
doanh nghiệp và loại hệ thống quản lý
được chứng nhận
Ngoài ra, việc tôn vinh các doanh
nghiệp thông qua Giải thưởng Chất
lượng Việt Nam (nay là Giải thưởng
Chất lượng quốc gia) hàng năm đã
góp phần quan trọng vào hệ thống
các giải pháp thúc đẩy nâng cao năng
suất chất lượng SPHH của doanh
nghiệp Việt Nam trong thập niên chất
lượng vừa qua
công nghệ vào quá trình sản xuất,
kinh doanh là giải pháp quan trọng
trong số các giải pháp tác động trực
tiếp đến nâng cao năng suất chất
lượng Trong 10 năm qua, đã có nhiều
chương trình, dự án từ cấp quốc gia
đến cấp ngành, địa phương được triển
khai với mục tiêu cuối cùng là tạo ra
các SPHH mang nhãn hiệu Việt Nam
có chất lượng cao, đạt mức tương
đương và vượt trội so với các SPHH
cùng loại trên thị trường thế giới
Hàng ngàn doanh nghiệp đã sử dụng
công nghệ nhận dạng và thu thập dữ
liệu tự động bằng mã số mã vạch
trong quản lý sản xuất và kinh doanh
thương mại mang lại hiệu quả thiết
thực trong việc nâng cao năng suất,
chất lượng và giảm các chi phí không
cần thiết
Các doanh nghiệp cũng chú trọng
hoạt động phát triển thương hiệu và
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm
nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của
sản phẩm, từ đó định hướng người
tiêu dùng sử dụng sản phẩm bảo đảm
chất lượng Đồng thời, Bộ Khoa học và
Công nghệ đã ban hành nhiều tiêu
chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
đáp ứng yêu cầu hài hoà với tiêu
chuẩn quốc tế và phát triển mạng lướiđánh phù hợp
Trong khuôn khổ Chương trìnhquốc gia Năng suất Chất lượng đãthực hiện phát triển nguồn nhân lựccho hoạt động năng suất chất lượngthông qua biên soạn các bộ chươngtrình, giáo trình đào tạo cán bộ,chuyên gia tư vấn, giảng viên về tiêuchuẩn hoá, hệ thống quản lý, môhình, công cụ cải tiến NSCL, đào tạođội ngũ hoạt động về NSCL
Thập niên chất lượng lần thứ haiđánh dấu sự đầu tư tăng cường nănglực cho các tổ chức thử nghiệm tại cácTrung tâm Kỹ thuật TCĐLCL tỉnh,thành phố Đến tháng 7/2015, Vănphòng công nhận chất lượng (BOA),
đã công nhận được trên 800 phòng thínghiệm, tổ chức giám định, tổ chứcchứng nhận
VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2016-2020
Giai đoạn 2016-2020, Chươngtrình xác định cần tập trung đào tạo,bồi dưỡng kiến thức về NSCL cho độingũ chuyên gia tư vấn thuộc các
ngành, địa phương, doanh nghiệp;Xây dựng các mô hình điểm, điểnhình về cải tiến NSCL tại một số tậpđoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớnthuộc các ngành kinh tế chủ lực; Hỗtrợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận
và thực hiện các dự án cải tiến NSCLthích hợp; Tăng cường năng lực củacác tổ chức đánh giá sự phù hợp đạtchuẩn mực quốc tế Đầu tư xây dựngcác phòng thử nghiệm chất lượngsản phẩm, hàng hoá đạt trình độquốc tế, đáp ứng yêu cầu đánh giáphù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹthuật đối với các sản phẩm, hànghoá chủ lực Triển khai hoạt độngthừa nhận lẫn nhau các kết quả đánhgiá sự phù hợp; Xây dựng TCVN chocác SPHH chủ lực và các lĩnh vực liênquan, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu
về số lượng TCVN được xây dựng và
tỷ lệ TCVN hài hòa với tiêu chuẩnquốc tế, tiêu chuẩn khu vực Tích cựctuyên truyền, phổ biến kiến thức vềNSCL; Nghiên cứu, tính toán, định kỳcông bố các chỉ tiêu năng suất ở cáccấp độ nền kinh tế, ngành kinh tế,địa phương
Tin tc - S kin
KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA DỰ ÁN
“THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG”
+ 4.000 lượt người của các tổ chức, doanh nghiệp được phổ biến kiến thức về NSCL;
+ 26 chương trình truyền hình về NSCL, 28 chuyên đề phổ biến kiến thức về NSCL trên VTV2, các chuyên mục, sách, bản tin
+ Biên soạn 15 chương trình, 30 bộ giáo trình đào tạo kiến thức cơ bản về NSCL;
+ Tổ chức hơn 110 khóa đào tạo cho hơn 5.000 học viên; + Tổ chức 15 khóa đào tạo giảng viên NSCL cho 450 lượt cán bộ trở thành giảng viên;
+ Đào tạo nhiều chuyên gia tư vấn trình độ quốc tế;
+ 778 doanh nghiệp hoàn thành xây dựng, áp dụng các HTQL, mô hình, công cụ cải tiến NSCL;
+ 419 doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng áp dụng các HTQL;
+ 359 doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng áp dụng các
mô hình, công cụ cải tiến NSCL tiên tiến.
(Nguồn: Báo cáo Tổng kết thập niên chất lượng lần thứ hai - Bộ KHCN)
Trang 12đi làm Đến mỏ được ăn tự chọn
với vài chục món cao cấp như tại
khách sạn; quần áo bảo hộ lao
động, dụng cụ lao động có người
phát tận tay Giữa ca có người
mang bồi dưỡng đến tận nơi; cuối
ca ra lò tắm, xông hơi; quần áo trút
ra có người giặt Điều đặc biệt
trong công tác chăm sóc thợ lò là,
nếu thợ lò có ý kiến hợp lý sẽ được
đáp ứng ngay Và quan trọng hơn
cả, tất cả các chi phí trên đều được
đưa vào giá thành sản xuất Theo
tính toán, tới đây, Vinacomin sẽ kết
thúc khai thác tại nhiều khu vực và
đưa mỏ xuống sâu Việc tăng sản
lượng than ngày càng khó khăn do
sản lượng than lộ thiên giảm Hiện
nay TKV chủ yếu khai thác than
hầm lò với tỷ lệ hầm lò trên tổng
số than nguyên khai là gần 65%,tăng tới 20 triệu tấn than hầm lòchỉ trong vài năm Khai thác thanhầm lò xuống mức sâu hơn, đươngnhiên sẽ phải chịu giá thành caohơn như: chi phí thông gió, thoátnước, chi phí đi lại, vận tải than,vật liệu, chi phí điện năng, công tác
an toàn… Tất cả các chi phí trên sẽtăng theo chiều dài của mỗi mét lò
Ngoài ra, hiện nay các doanhnghiệp trên địa bàn Quảng Ninhđang phải chịu áp lực rất lớn vềcông tác an toàn, môi trường vàcông tác xã hội Mỗi năm, toàn Tậpđoàn chi phí hàng ngàn tỷ đồngcho công tác hoàn nguyên môitrường sau khai thác mỏ Nhiềukhu vực dân cư chủ yếu là các giađình thợ mỏ nằm trên địa bàn gầnkhu mỏ cũng được xây dựngđường sá, trồng cây xanh, cảnhquan… và đều được trích trên đầutấn than khai thác Vì vậy, hiện naygiá thành khai thác của nhiều đơn
vị tăng cao Nhưng dường như,những chi phí đó đã là những yếu
GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG HIỆN TẠI…
Những năm gần đây, TKV đangchỉ đạo sâu sát đến các đơn vịbằng nhiều giải pháp đồng bộ như:Chú trọng tổ chức sản xuất ở từng
vị trí sản xuất, từng gương lò, từngđơn vị một cách hợp lý, khoa họctheo hướng tăng tỷ lệ lao độngtrực tiếp, giảm lao động gián tiếp
và phụ trợ; quản lý tốt lao độnghiện có, quản lý hiệu quả ngày, giờ
THÚY HÀ
Trang 13công, tận dụng tối đa thời giờ làm việc
tại gương để tăng năng suất lao động,
nâng cao sản lượng Chẳng hạn, các
gương khấu lò chợ phải bố trí tối đa
các cặp khấu theo công nghệ để nâng
cao năng suất tại gương, việc tổ chức
sản xuất phải khoa học và thực sự hợp
lý; các gương đào lò phải bố trí đủ lao
động, không để tình trạng thiếu hoặc
thừa ảnh hưởng đến năng suất lao
động Từng tổ đội, phân xưởng của
các đơn vị cũng quan tâm đến việc
đào tạo được các cặp thợ, nhóm thợ,
đội thợ đa năng sẵn sàng đảm nhận
giải quyết các công việc tại các vị trí
khó khăn, các diện, các công trình
trọng điểm nhằm đẩy mạnh sản xuất
tăng năng suất lao động… Cùng với
đó, TKV duy trì, đẩy mạnh việc bồi
dưỡng, nâng cao năng lực chỉ đạo của
các phó quản đốc, lò trưởng, gương
trưởng; quản lý tốt công tác kỹ thuật
cơ bản, vệ sinh công nghiệp; nghiệm
thu sản phẩm phải đảm bảo chất
lượng tránh việc làm đi sửa lại ảnh
hưởng đến năng suất lao động
Về cơ chế tiền lương, TKV khoán
cả quỹ lương đối với bộ máy quản lý,
phòng ban, các đơn vị không làm ra
sản phẩm Các đơn vị phải giao khoán
tiền lương cho từng phòng ban, phân
xưởng trên cơ sở định biên lao độngtừng đơn vị, nếu tiết kiệm được laođộng thì được hưởng nguyên tổng tiềnlương khoán Đối với các đơn vị sảnxuất chính làm ra sản phẩm, đơn vịxây dựng hệ thống định mức lao độngphù hợp với điều kiện thực tế để cácđơn vị phát huy hết khả năng đạtnăng suất lao động cao nhất…
… VÀ DÀI HƠI
Mục tiêu phát triển giai đoạn2016-2020 của TKV đặt ra là: Pháttriển Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam trở thành Tậpđoàn kinh tế vững mạnh, góp phầnđảm bảo an ninh năng lượng quốcgia; từng bước nâng cao năng lựccạnh tranh của Tập đoàn Càng ngày,việc khai thác than càng khó khănhơn rất nhiều Để những năm tiếp sauTập đoàn đảm bảo được sản lượngkhai thác, hơn bao giờ hết, công tácđầu tư cho KHCN, nâng cao năng suấtlao động là việc làm quan trọng vàkhôn ngoan Để hoàn thành được "sứmệnh" của mình, TKV đưa ra nhiềugiải pháp dài hơi như: Tiếp tục đẩymạnh đầu tư xây dựng, đầu tư pháttriển khoa học, đổi mới công nghệ,
hiện đại hóa các cơ sở sản xuất, nângcao mức độ an toàn, bảo vệ môitrường, đảm bảo tiến độ các dự ánquyết định tăng trưởng của Tập đoàntrong các lĩnh vực để hoàn thành kếhoạch giai đoạn 2015-2020 và địnhhướng phát triển đến năm 2030.Trước hết tập trung ưu tiên đẩy mạnhcác dự án khai thác mỏ than hầm lò.Đổi mới quản trị doanh nghiệp, ápdụng phương pháp quản trị hiện đại;luôn tạo ra và duy trì động lực pháttriển; mở rộng quan hệ quốc tế; pháttriển thị trường, duy trì và nâng caosức cạnh tranh của sản phẩm, củadoanh nghiệp Trong đó xác địnhnâng cao năng suất lao động, đổi mớicông nghệ, nâng cao chất lượng độingũ CBCN Mỏ là những nhiệm vụtrọng tâm Không ngừng đổi mới,hoàn thiện tổ chức sản xuất; pháttriển nguồn nhân lực lành nghề, thạoviệc, trung thành; tăng cường dânchủ, giữ vững đoàn kết tạo ra sứcmạnh tổng hợp, cải thiện điều kiệnlàm việc, thu nhập cho người laođộng, đặc biệt là đội ngũ thợ lò
Ngoài ra, Vinacomin cũng quantâm nghiên cứu và áp dụng các giảipháp kỹ thuật để giảm tổn thất thantrong khai thác Việc làm này khôngnhững có ý nghĩa bảo vệ và tiết kiệmtài nguyên, mà còn đem lại nhữnghiệu quả kinh tế to lớn Trước đây, tìnhtrạng tổn thất than trong khai thác các
mỏ hầm lò lên tới 40-50% Thậm chí
có những mỏ cao hơn do điều kiện địachất phức tạp không thể khai thácđược Đối với các vỉa mỏng, dốc cóđiều kiện địa chất phức tạp (góc dốcvỉa lớn, biến động, đá vách khó sậpđổ), nhiều mỏ chưa huy động phần tàinguyên này vào khai thác hoặc có huyđộng nhưng hiệu quả khai thác thấp,chủ yếu khai thác bằng phương phápđào lò lấy than có chi phí giá thànhkhai thác lớn, tỷ lệ tổn thất than cao.Nguyên nhân chủ yếu do hiệu quảkhai thác không cao (so với các vỉadày) và đặc biệt chưa lựa chọn đượccông nghệ khai thác phù hợp Tuynhiên, cùng với việc đầu tư công nghệmới trong đào lò, con số tổn thất hiệnnay chỉ là trên 27-31% và TKV đangphấn đấu ở mức dưới 20% trongtương lai…
Tin tc - S kin
Trang 14PHÁT HUY SÁNG KIẾN,
CẢI TIẾN KỸ THUẬT
Hàng năm, ngoài việc tích cực
tham gia các chương trình KHCN của
Nhà nước, Tập đoàn Hóa chất và các
đơn vị thành viên luôn chủ động triển
khai mạnh mẽ các chương trình mục
tiêu quốc gia về KHCN, như: Sản xuất
sạch hơn; sử dụng năng lượng tiết
kiệm hiệu quả; bảo vệ môi trường; an
toàn vệ sinh lao động Những hoạt
động này tác động lan tỏa sâu rộng,
ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động
của nhiều doanh nghiệp trong Ngành
Nhiều công trình KHCN tiêu biểu đã
giành giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt
Nam (VIFOTEC), như: Công trình
“Nghiên cứu công nghệ sản xuất
thuốc tập hợp hữu cơ để tuyển nổi
quặng apatit loại III Lào Cai” và “Ứng
dụng công nghệ sản xuất thuốc tuyển
quặng apatit loại III Lào Cai trên cơ sở
oxy hoá parafin” của Viện Hoá học
Công nghiệp Việt Nam; công trình
“Sản xuất zeolite 4A chuyên dùng cho
chất tẩy rửa” của Công ty CP Phân
bón và Hóa chất Cần Thơ đoạt giải
Nhất VIFOTEC năm 2012 có tính sáng
tạo và khoa học cao, hiện đang được
áp dụng vào sản xuất, mang lại hiệuquả kinh tế cao
Từ kết quả của các công trìnhgiành giải VIFOTEC và những đòi hỏitrong thực tế sản xuất tại các đơn
vị, phong trào sáng kiến cải tiến,hợp lý hoá sản xuất ngày càng pháttriển mạnh mẽ Mỗi năm, Tập đoàn
có khoảng 1.000 sáng kiến cải tiến,hợp lý hóa sản xuất được côngnhận; giá trị làm lợi lên đến hàngtrăm tỷ đồng Từ năm 2009 đến nay,
có 335 lượt người lao động tại cácdoanh nghiệp trong Tập đoàn đượcvinh dự nhận Bằng “Lao động sángtạo” Nổi bật trong phong trào này
là các đơn vị: Công ty TNHH MTVPhân đạm và Hóa chất Hà Bắc, Công
ty CP Phân lân nung chảy Văn Điển,Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam,Công ty CP Supe phốt phát và Hóachất Lâm Thao…
SẢN PHẨM THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG
Các công trình KHCN môi trườngcủa các doanh nghiệp đã và đang góp
phần quan trọng vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của đơn vị, đồng thờitạo ra nhiều sản phẩm mới chất lượng,
có tính cạnh tranh cao Điển hình là tạiCông ty CP Supe phốt phát và Hoáchất Lâm Thao: Công trình chuyển đổicông nghệ sản xuất axit sunphuric làmtăng hiệu quả sản xuất, giảm định mứctiêu hao nguyên liệu, đặc biệt là giảmthiểu ô nhiễm khí thải công nghiệpxuống dưới mức cho phép; hay quytrình công nghệ sử dụng quặng apatittuyển ẩm không qua sấy đã đoạt giải
Ba VIFOTEC năm 2007 và Giải Vàng tạiTriển lãm sáng tạo Quốc tế Seoul - HànQuốc năm 2008
Công ty CP Phân lân nung chảyVăn Điển đã chuyển đổi từ côngnghệ chạy bằng than cok nhập ngoạisang chạy thành công bằng thanVàng Danh nội địa; từ chỗ sử dụngnguyên liệu quặng apatit loại 1 cóhàm lượng P2O5≥ 32% để sản xuất
ra phân bón có hàm lượng 13,5-15%sang chạy bằng quặng loại 2 có hàmlượng P2O522-23%, nhưng sản xuất
ra các loại sản phẩm đạt tiêu chuẩnxuất khẩu
NGÀNH HÓA CHẤT:
Phát trin khoa hc và công ngh (KHCN) là m t
gii pháp mang tính chin lc giúp doanh nghip
nay ca Tp đoàn Hóa cht Vit Nam chính là nh
viên đã kiên trì theo đu3i chin lc đu t cho KHCN,
đ3i mi máy móc, công ngh, giúp doanh nghip
nâng cao cht lng sn ph+m, tng tính cnh tranh
trên th# trng và góp phn bo v môi trng, ci
thin đi u kin làm vic ca ngi lao đ ng
Trang 15Công ty Phân đạm và Hoá chất Hà
Bắc liên tục nghiên cứu chiều sâu đưa
ra các giải pháp nâng cao chất lượng
sản phẩm, sản xuất sạch hơn, tiết
kiệm năng lượng, như: đề tài nâng
cao hiệu quả công đoạn khí hoá than
cục; hiệu chỉnh lò hơi xưởng Nhiệt;
đầu tư hệ thống chưng nước
NH3/669; thu gom toàn bộ nước thải
có NH3; cải tạo nâng cấp toàn bộ hệ
thống hồ môi trường
Công ty CP Phân bón Bình Điền
tập trung nghiên cứu các sản phẩm
phân bón phục vụ từng vùng chuyên
biệt Lĩnh vực sản xuất phân lân nung
chảy có những nghiên cứu giảm định
mức tiêu hao than, điện tại cửa lò; cải
tạo hệ thống xử lý khí thải, nước thải…
Công ty TNHH MTV Apatit Việt
Nam nghiên cứu nâng cao hiệu quả
tuyển nổi quặng Apatit loại III và
thăm dò tuyển quặng apatit loại II
Các đơn vị ngành Cao su cũng có
nhiều công trình KHCN môi trường
mang lại hiệu quả cao Công ty CP
Cao su miền Nam cải tiến khả năng
kháng lão hóa nhiệt của lốp ô tô,
nâng cao kết quả lý trình từ 75 giờ
lên 120 giờ; thay thế dầu aromatic
trong các đơn pha chế cho sản phẩm
xuất sang châu Âu; chuyển đổi sản
xuất săm ô tô bằng cao su butyl sang
cao su chlorobutyl; cải tiến chất
lượng lốp ô tô mành chéo thích hợp
cho sử dụng đường dài Công ty CP
Cao su Đà Nẵng sản xuất thử nghiệm
thành công nhiều loại lốp xe tải đặcchủng cỡ lớn cho ngành khai thácmỏ; lắp đặt và đưa vào vận hành ổnđịnh hệ thống xử lý khói lò hơi đảmbảo đạt tiêu chuẩn về môi trường
Công ty CP Cao su Sao Vàng hoànthiện công nghệ sản xuất đồng bộsăm lốp máy bay SU 22; nghiên cứuchế tạo lốp máy bay bơm hơi khôngsăm; sử dụng oxit kẽm trong nước
để sản xuất lốp ô tô… Trong lĩnh vựcthuốc bảo vệ thực vật, Công ty CPThuốc sát trùng Việt Nam thành lậpTrung tâm nghiên cứu triển khai vềthuốc BVTV, và đã nghiên cứu thànhcông các công thức gia công thuốcBVTV, áp dụng vào sản xuất các sảnphẩm dạng huyền phù đậm đặc, nhũtương trong nước EW và dạng sảnphẩm hạt phân tán trong nước dùngchất mang là khoáng tự nhiên
ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU, ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ
Trong giai đoạn tới, công tácKHCN của Tập đoàn sẽ có bước thayđổi về mục tiêu hoạt động, tập trungvào các nhóm sản phẩm chính; đầu
tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệthiết bị để nâng cao năng lực sảnxuất, chất lượng sản phẩm, giảm tiêuhao nguyên nhiên vật liệu Các đơn vịtiếp tục nghiên cứu đa dạng hoá sảnphẩm, nâng cao chất lượng; triển khaiđưa vào sản xuất thêm nhiều loại chấttẩy rửa an toàn với người sử dụng và
môi trường; thu hồi và xử lý triệt đểthành phần florua trong nước thải vàkhí thải các nhà máy phân lân; nângcao năng lực quản lý chất thải nguyhại và chất thải công nghiệp; kiểmsoát và hạn chế phát thải khí nhàkính Các dự án đầu tư mới sẽ lựachọn công nghệ tiên tiến, có hiệu quả,
dễ làm chủ công nghệ và thiết bị đểchủ động trong sản xuất và phát triển
mở rộng
Nhìn lại những năm qua, ngànhHóa chất khi mới sơ khai, người laođộng vẫn chủ yếu làm thủ công, năngsuất lao động thấp và đặc biệt gầnnhư không biết đến ngày nghỉ Nhưngcùng với nỗ lực đầu tư cho khoa học,đổi mới công nghệ, phát huy sángkiến cải tiến, ngày nay, người lao động
đã được làm việc trong môi trường antoàn hơn, năng suất chất lượng đềunâng cao, các doanh nghiệp đều đảmbảo thời gian làm việc, thời gian nghỉngơi của người lao động Cuộc sốngcủa người lao động được nâng cao cả
Tin tc - S kin
Ngày 28/8/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư
132/2015/TT-BTC hướng dẫn cơ chế quản lý tài
chính đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (Quỹ
BVMTVN)
Theo đó, việc bảo đảm an toàn vốn được thực hiện
như sau:
- Quỹ BVMTVN có trách nhiệm thực hiện các quy
định về bảo đảm an toàn vốn hoạt động, gồm:
+ Quản lý, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu
quả;
+ Mua bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm khác theo
quy định của pháp luật;
+ Trích lập quỹ dự phòng rủi ro đối với hoạt
động cho vay theo quy định về hướng dẫn hoạtđộng nghiệp vụ của Quỹ;
+ Thực hiện các biện pháp khác về đảm bảo antoàn vốn theo quy định của pháp luật
- Nghiêm cấm Quỹ BVMTVN:
+ Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, pháthành kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, vay thương mạicủa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;
+ Sử dụng nguồn vốn hoạt động để thực hiện cácmục đích kinh doanh tiền tệ, đầu tư chứng khoán, kinhdoanh bất động sản và các hoạt động kinh doanhkhông được phép khác
Thông tư 132/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2016
Bảo đảm an toàn vốn Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam
Trang 16VINAMILK LUÔN TIÊN
PHONG
Một trong những doanh nghiệp đi
đầu trong ứng dụng khoa học công
nghệ là Công ty Vinamilk Công ty hiện
có 13 nhà máy sản xuất và 07 trang
trại chăn nuôi nằm trên địa bàn khắp
cả nước Để góp phần thực hiện định
hướng phát triển, ngành chế biến thực
phẩm giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn
đến 2020 của Bộ Công Thương, từng
bước nâng cao năng lực cạnh tranh để
chủ động hội nhập với khu vực và thế
giới, Vinamilk quyết tâm đẩy mạnh
nghiên cứu khoa học, áp dụng các tiến
bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản
xuất, cải tiến mẫu mã, bao bì, nhằm
tăng chủng loại, chất lượng và khả
năng cạnh tranh của sản phẩm Bên
cạnh đó, Công ty tiếp tục thực hiện hệ
thống quản lý chất lượng theo tiêu
chuẩn ISO và HACCP để đưa Công ty
thành một doanh nghiệp hoạt động
theo chuẩn quản trị hiện đại
Hơn bao giờ hết, trên lĩnh vực chế
biến thực phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh an
toàn phải được đặt lên hàng đầu, vì
vậy đầu tư trang thiết bị, công nghệ
hiện đại là một yếu tố mà Vinamilk rất
coi trọng để khẳng định chất lượng và
thương hiệu Trong giai đoạn gần đây,
Công ty đã đầu tư hơn 6.500 tỉ đồng
từ nguồn vốn tự có để hiện đại hóa
máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất
Nhiều dây chuyền tinh chế hiện đại
xuất xứ từ các nước công nghiệp tiên
tiến như Mỹ, Đan Mạch, Ý, Đức, Hà
Lan được lắp đặt, do các chuyên gia
hàng đầu thế giới hướng dẫn vận
hành và chuyển giao công nghệ như,
hệ thống sấy phun của Đan Mạch (làdoanh nghiệp duy nhất của Việt Nam
sở hữu hệ thống máy móc này), cácdây chuyền sản xuất đạt chuẩn quốc
tế do Tetra Pak cung cấp để cho ranhiều chủng loại sản phẩm sữa chấtlượng cao, được các tổ chức kiểm địnhquốc tế xác nhận như: sữa đặc cóđường, sữa đậu nành, sữa chua, sữabột Dielac… Các sản phẩm đã đượcxuất khẩu sang Mỹ, Úc, Nam Phi,Trung Đông và nhiều nước châu Á
Việc đầu tư phát triển xây dựng
mở mang cơ sở vật chấtcòn được Công tyVinamilk hiện thực hóabằng việc đã hoàn thànhđưa nhà máy tại ĐàNẵng với vốn đầu tư 30triệu USD vào hoạt độngvới hai mặt hàng là sữachua và sữa nước Năm
2013, Công ty đã khánhthành, đưa vào hoạtđộng 2 nhà máy lớn là:
Nhà máy Sữa nước tạiBình Dương với vốn đầu
tư là 2.300 tỷ đồng (côngsuất ban đầu là 400 triệulít mỗi năm, giai đoạn 2
là 800 triệu lít), và Nhàmáy sữa bột cho trẻ emvới công suất 55.000tấn/năm với vốn đầu tưtrên 1.750 tỷ đồng
ĐI TẮT ĐÓN ĐẦU
Không chỉ Vinamilk,các nhà máy trong ngànhsữa những năm qua
không ngừng được đầu tư, nâng cấpvới hệ thống dây chuyền thiết bị đồng
bộ, khép kín, tự động hóa từ khâunguyên liệu cho tới khâu thành phẩm,
áp dụng công nghệ tiên tiến của cáchãng có uy tín lớn về công nghiệp chếbiến sữa trên thế giới như: Tetra Pak,Delaval (Thụy Điển); APV (Đan Mạch);DEA, Benco Pak (Italia); Combibloc(Đức), sản phẩm sản xuất ra có chấtlượng ổn định và đạt chỉ tiêu về antoàn thực phẩm
Các doanh nghiệp trong ngành đã
Tin tc - S kin
Cuộc cách mạng khoa học
công nghệ của ngành Sữa
ngh vi qui mô hoàn ch*nh, hin đi đ “đi t4t đón đu”.
HỒNG HẢI
Trang 17xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo
tiêu chuẩn ISO 9001- 2008 Hiện đa số các
doanh nghiệp đã và đang triển khai hệ
thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm
theo ISO 22000
Cùng với các dự án đầu tư trong nước,
các doanh nghiệp trong ngành cũng mở
rộng đầu tư ra nước ngoài, điển hình là
Vinamilk với các dự án: đầu tư tại Công ty
Miraka Limited tại New Zealand với 19,3%
vốn cổ phần (năm 2010); đầu tư vào Hoa
Kỳ bằng cách góp vốn 7 triệu USD và nắm
giữ 70% vốn chủ sở hữu của Công ty
Driftwood Dairy Holding Corporation (tháng
12/2013); hợp tác với đối tác Campuchia
Angkor Dairy xây dựng Nhà máy Chế biến
các sản phẩm sữa (đầu năm 2014); thành
lập công ty con có vốn điều lệ 3 triệu USD tại
Ba Lan (tháng 5/2014) để buôn bán động
vật sống, nguyên liệu sản xuất sữa, sữa, các
chế phẩm từ sữa, thực phẩm và đồ uống
Một mục tiêu quan trọng nữa mà ngành
Sữa Việt Nam đang tích cực hướng tới là tiêu
chuẩn hóa chất lượng sữa Theo Ủy ban
Tiêu chuẩn thực phẩm Việt Nam (Codex Việt
Nam), hiện nay, các sản phẩm sữa trước khi
đưa ra thị trường đều phải được Cục An
toàn thực phẩm (Bộ Y tế) xem xét và cấp
phép Chất lượng của các sản phẩm được
Cục An toàn thực phẩm xem xét và quản lý
thông qua hệ thống Quy chuẩn Việt Nam
(QCVN) Các quy chuẩn này được xây dựng
tương đối phù hợp dựa trên các tiêu chuẩn
tương ứng của Ủy ban Codex, đưa Việt Nam
hội nhập với quốc tế Những quy chuẩn này
hiện đang được các doanh nghiệp trên thị
trường áp dụng và phù hợp với tình hình sản
xuất, kinh doanh hiện tại
Chất lượng của các sản phẩm sữa ở Việt
Nam được cơ quan quản lý kiểm soát quản
lý thông qua hệ thống Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn Việt Nam, ban hành năm 2010 Trước
khi ban hành hệ thống Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn này, cơ quan soạn thảo đã lấy ý kiến
rộng rãi các bộ, ngành, các tổ chức quốc tế,
hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức hội thảo tại
VCCI Thời điểm đó, cơ quan soạn thảo
cũng phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Codex
Việt Nam để phù hợp với Việt Nam và quốc
tế Thêm vào đó, trước khi ban hành còn
gửi sang Bộ KHCN để thẩm định xem có
phù hợp với điều kiện Việt Nam hay không
Mục đích hướng tới là Tiêu chuẩn và Quy
chuẩn sữa Việt Nam phải phù hợp với tiêu
chuẩn thế giới, nhằm hài hòa lợi ích của
người dân chăn nuôi, của người tiêu dùng
và nhà sản xuất
Tin tc - S kin
Theo hướng dẫn của cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA),
tiến trình chuẩn bị đến khi đưa tổ máy đầu tiên vào vận hành trảiqua 3 giai đoạn Giai đoạn 1 đánh dấu bằng cột mốc tháng11/2009, khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án ĐHN NinhThuận Hiện nay đang ở giai đoạn thứ 2, tiếp tục chuẩn bị những điềukiện cần thiết để có thể kí hợp đồng xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên.Giai đoạn 3 là thực hiện hợp đồng triển khai công tác xây dựng lắp đặt
và đưa vào vận hành
Dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1, công suất khoảng 2.000MW baogồm 02 tổ máy, đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh NinhThuận Dự án đầu tư Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2, công suất khoảng2.000MW bao gồm 02 tổ máy, đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnhNinh Thuận Công nghệ chính trong hai nhà máy này là lò nước nhẹ cảitiến Đây là thế hệ lò từ thứ ba trở lên, đã được kiểm chứng, đảm bảotuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư
Về công tác di dân tái định cư, trước mắt dự án Nhà máy ĐHN NinhThuận 1 là 477 hộ/2.084 nhân khẩu, bố trí một điểm tái định cư tại thôn
Từ Thiện, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, với diện tích 43,67 ha Còntại khu tái định cư Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2, xây dựng cơ sở hạ tầngkhu tái định cư tập trung, xây dựng hạ tầng chỉnh trang khu dân cư hiệnhữu, xây dựng khu nghĩa trang, hệ thống cấp nước phục vụ khu tái định
cư, xây dựng khu tái định canh Tổng mức đầu tư Dự án là 3.235,526 tỷđồng, nguồn vốn do EVN cấp theo kế hoạch sử dụng sau khi thống nhấtvới UBND tỉnh Ninh Thuận
Theo ông Hoàng Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử,
Phát triển theo hướng
THÁI LINH
ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN:
Trang 18Bộ KH&CN, đối với Việt Nam, đây là
dự án ĐHN đầu tiên, nên chúng ta
chưa thể có ngay đội ngũ chuyên gia
và cán bộ, cũng chưa thể có ngay
được hệ thống pháp lý và các hạ tầng
kĩ thuật khác một cách đồng bộ và
hoàn chỉnh Và chúng ta cần thời gian
để làm được những việc đó, chuẩn bị
cho tương lai vận hành nhà máy được
thuận lợi, đảm bảo hiệu quả kinh tế
và an toàn tuyệt đối
Về mảng nhân lực, EVN có dự án
riêng và phát triển nhân lực qua hai
nhà máy Ninh Thuận đã được phê
duyệt Đã có 353 sinh viên của Việt
Nam đang theo học tại cơ sở đào tạo
của Nga Tốp sinh viên đầu tiên đã
tốt nghiệp vào cuối năm 2006 “Hiện
tại đã có thêm 14 sinh viên tốt
nghiệp trường Năng lượng Mátxcơva
Liên bang Nga, và một sinh viên tốt
nghiệp chuyên ngành ĐHN tại Pháp
về làm việc tại dự án, nhóm 15 cán
bộ nòng cốt đợt 1 cho Nhà máy ĐHNNinh Thuận 2 đã hoàn thành khóahọc 2 năm tại Nhật Bản”, ông PhanMinh Tuấn - Phó Trưởng Ban quản lý
Dự án ĐHN Ninh Thuận cho biết
Ngoài ra, công tác đào tạo cán bộcủa chúng ta đã tận dụng được rất tốt
sự giúp đỡ của IAEA và các tổ chứcquốc tế trong việc đào tạo các cán bộtham gia quản lý, tham gia công tácnghiên cứu và hỗ trợ kĩ thuật
Trong khuôn khổ Dự án hợp tác
kỹ thuật của IAEA về Phát triển cơ sở
hạ tầng ĐHN do Bộ KH&CN chủ trì,thời gian qua IAEA đã hợp tác, giúp
đỡ EVN trong việc góp ý Điều khoảntham chiếu dịch vụ tư vấn lập Hồ sơphê duyệt địa điểm và Báo cáonghiên cứu khả thi Dự án Nhà máyĐHN Ninh Thuận; Phối hợp với CụcNăng lượng nguyên tử, EVN tổ chứccác hội thảo, tập huấn về ĐHN chocác cán bộ EVN
Bên cạnh đó, EVN cũng đã phốihợp với IAEA tổ chức Hội thảo quốc tế
về Quản lý các dự án Nhà máy ĐHNvới các đại biểu quốc tế đến từ 16quốc gia khác nhau Tổ chức và tài trợmột số chuyến tham quan học tập tạinước ngoài cho cán bộ, chuyên viêncủa EVN về một số lĩnh vực liên quanĐHN Cung cấp học bổng nâng caotrình độ cho cán bộ, kỹ sư của EVN tạinước ngoài
Đánh giá về tương lai của ĐHN ởViệt Nam, ông Hoàng Anh Tuấn chorằng, bất kì một đất nước nào làmĐHN đều cần phải có những nguyêntắc lấy an toàn là số 1, lấy hiệu quả
là hướng phấn đấu Cốt lõi của làmĐHN là đảm bảo an ninh năng lượngquốc gia Tương lai của ĐHN ở ViệtNam đồng bộ với tương lai chungtrong phát triển ĐHN trên thế giới,phát triển theo hướng dài hạn vàchắc chắn
Tin tc - S kin
Ảnh minh họa: Phối cảnh nhà máy Điện hạt nhân
Trang 19Tin tc - S kin
Trong nhiều năm qua, khoa học và
công nghệ đã mang đến cho
ngành công nghiệp Thuốc lá Việt
Nam một bộ mặt mới khác hẳn so với
vài thập niên trước đây Những vùng
trồng cây thuốc lá gắn với công nghiệp
chế biến phát triển, ngành Thuốc lá tự
chủ được nguồn nguyên liệu và làm nên
các thương hiệu thuốc lá Việt được
người tiêu dùng trong nước ưa chuộng
và tin cậy
NHIỀU SẢN PHẨM MỚI
Ông Nguyễn Đình Trường – Viện
trưởng Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá
cho biết, việc đẩy mạnh đầu tư cho
khoa học công nghệ (KHCN) đã tạo ra
nhiều sản phẩm mới nâng cao năng
suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng
thu nhập của người dân vùng trồng
thuốc lá, góp phần phát triển kinh tế
-xã hội địa phương
Thấy rõ nhu cầu thiết yếu phải đầu
tư, tạo ra nhiều sản phẩm KHCN có tính
ứng dụng cao, những năm qua Viện đã
không ngừng nghiên cứu chọn tạo ra
nhiều giống thuốc lá mới có năng suất
cao, chất lượng tốt, có tính thích nghi
cao Thông qua các mô hình khảo
nghiệm, Viện đã khuyến cáo cho người
nông dân chọn giống thích hợp cho
vùng Việc gieo trồng các giống thuốc
lá mới đã nâng cao năng suất so với
giống cũ tối thiểu 10% Nhờ vậy trong
5 năm qua trên 6.600 tấn nguyên liệu
được tăng thêm, thu nhập của người
nông dân trồng thuốc lá cũng tăng ít
nhất 280 tỷ đồng Đây là con số rất ý
nghĩa khi cây thuốc lá chủ yếu được
trồng tại các tỉnh miền núi, nơi điều
kiện sống còn rất nhiều khó khăn
Để hạn chế xuống màu thuốc lá
nguyên liệu sau sấy và cũng nhằm tăng
cao năng suất, chất lượng sản phẩm,
Viện đã nghiên cứu chế độ dinh dưỡng
cho các vùng đất bạc màu, sau đó sản
xuất và cung ứng hàng nghìn tấn phân
bón hỗn hợp chuyên dùng cho thuốc lá
Hàng năm, Viện theo dõi diễn biến sâu
bệnh hại tại các vùng trồng thuốc lá trên
cả nước và định kỳ 2 lần/tháng để đưa
ra dự báo về sâu bệnh hại và khuyến cáo
các biện pháp phòng trừ, hạn chế đáng
kể mức độ thiệt hại do dịch hại gây ra
Bằng việc xây dựng các mô hìnhsản xuất phù hợp cho mỗi giống tại mỗivùng, các cán bộ kỹ thuật của Viện còn
tổ chức các buổi tập huấn cho ngườitrồng thuốc lá về các khâu kỹ thuậtchính từ sản xuất cây con đến kỹ thuậttrồng trọt và hái sấy Mỗi năm cókhoảng 1.000 lượt nông dân được tậphuấn kỹ thuật, qua đó nâng cao kỹnăng thực hiện các khâu trong quytrình kỹ thuật sản xuất nguyên liệuthuốc lá Ngoài ra, Viện còn phối hợpvới Tổng cục Dạy nghề tổ chức đào tạonghề trồng cây thuốc lá với những kỹthuật tiên tiến cho khoảng 300-400người/năm Qua đó, bà con nông dânvùng trồng ngày càng nắm vững kỹthuật sản xuất thuốc lá mới và áp dụngnhững tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễnsản xuất, không ngừng nâng cao năngsuất chất lượng thuốc lá nguyên liệu,tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất
CÔNG NGHỆ MỚI
Sự phát triển KHCN ngành Thuốc lákhông thể không kể đến sự quan tâmcủa Bộ Công Thương, Tổng công tyThuốc lá Việt Nam, đã không ngừngđầu tư cho nghiên cứu khoa học và ứngdụng những kết quả công nghệ mớitrong các lĩnh vực sản xuất thuốc lá
Nhiều kết quả nghiên cứu về cải tiến quitrình kỹ thuật trồng cây thuốc lá, quitrình sấy kết hợp áp dụng cải tạo hệthống lò sấy mới theo hướng tiết kiệmnăng lượng, tăng công suất sấy, bảo vệmôi trường và cải thiện chất lượngnguyên liệu Nhờ áp dụng đồng bộ cácgiải pháp kỹ thuật, năng suất cây thuốc
có độ thấu khí cao và sử dụng các loạiđầu lọc có khả năng hấp phụ cao đã tạo
ra những sản phẩm thuốc lá điếu có tính
ưu việt vượt trội so với các loại sản phẩmthuốc lá điếu sản xuất theo phươngpháp truyền thống trước đây Có thể nói,đây chính là nhân tố cơ bản tạo bướcphát triển đột phá trong ngành côngnghiệp thuốc lá để sản xuất ra sản phẩmthuốc lá điếu có hàm lượng nicotin vàhàm lượng nhựa (Tar) thấp, giảm thiểuđộc hại cho người tiêu dùng
Theo ông Nguyễn Đình Trường, đểhoạt động sản xuất kinh doanh ngànhthuốc lá đạt kết quả cao hơn thì cần phảitiếp tục đầu tư các nguồn lực cho nghiêncứu khoa học trong việc tạo ra các sảnphẩm có hàm lượng chất xám cao, giảmthiểu độc hại cho người tiêu dùng, đặcbiệt là tạo ra các sản phẩm khoa học cótính khác biệt như hạt giống thuốc lá lai
có năng suất, chất lượng cao và khảnăng kháng hại chính, một số đối tượngsâu bệnh Trong thời gian tới, Viện tiếptục hoạt động theo mô hình doanhnghiệp KHCN, phấn đấu thực hiện ítnhất 16 nhiệm vụ KHCN/năm
“Chúng tôi xác định cần tập trungthực hiện ít nhất 16 đề tài các cấp hàngnăm, trong đó có ít nhất 80% số lượng
đề tài ứng dụng, có địa chỉ ứng dụng
cụ thể và khả năng ứng dụng cao, sảnxuất thuốc lá nguyên liệu có tính khácbiệt về chất lượng và năng suất so vớicác sản phẩm của các đơn vị cùng kinhdoanh” Ông Trường khẳng định
KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
Đồng hành cùng người trồng thuốc lá
THANH NGA
Ch* tính riêng trong 5 nm 2011-2015, Vin Kinh
trin khai thc hin 134 nhim v KHCN các cp, nhi u kt qu nghiên cu
đã đa vào sn xut góp phn nâng cao nng
và hiu qu kinh t cho ngi sn xut.
Trang 20TRIỂN KHAI CÓ HIỆU
QUẢ CÁC CHƯƠNG
TRÌNH, DỰ ÁN KH&CN
TRỌNG ĐIỂM
Thực hiện chương trình hỗ trợ
doanh nghiệp đầu tư vào hoạt
động KH&CN trong 3 năm
(2011-2013), tỉnh Bình Dương đã hỗ trợ
14 doanh nghiệp tiếp nhận
chuyển giao, cải tiến quy trình kỹ
thuật công nghệ, chế tạo trang
thiết bị mới để sản xuất sản phẩm
mới, xử lý ô nhiễm môi trường
trong các ngành chế biến gỗ,
thực phẩm, dược phẩm, sơn,
chăn nuôi
Trong lĩnh vực nông nghiệp,
ngoài các dự án tham gia chương
trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển
giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát
triển kinh tế - xã hội nông thôn do
Bộ KH&CN chủ trì, Sở KH&CN đã tổ
chức nhiều lớp tập huấn và điểm
trình diễn chuyển giao tiến bộ
KH&CN cho nông dân, góp phần
nâng cao năng suất cây trồng, vật
nuôi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế
trong ngành nông nghiệp Chương
trình phát triển nông thôn mới của
tỉnh đã và đang phát huy tác dụng;
nhiều chính sách đã khuyến khích
phát triển theo hướng công nghệ
sinh học kỹ thuật cao xuất hiện
nhiều nơi trong tỉnh
HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI KH&CN
Đến năm 2020, Bình Dương sẽtrở thành một trong những trungtâm công nghiệp lớn trong vùng;
giá trị sản xuất công nghiệp tăng16,1%/năm thời kỳ 2016-2020 tốc
độ bình quân 20,0%/năm Hoànthiện hệ thống kết cấu hạ tầngtrong và ngoài khu công nghiệp
Dự kiến đến năm 2020, toàn tỉnh
có 35 khu công nghiệp với tổngdiện tích gần 13.764,8 ha Đến
năm 2025 sẽ hình thành và đi vàohoạt động 18 cụm công nghiệp,tổng diện tích các cụm côngnghiệp khoảng 1.190,2 ha
Để đạt được mục tiêu đó, cầnthúc đẩy và làm cho KH&CN thực
sự là động lực quan trọng nhất đểchuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển lực lượng sản xuất, nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả
và sức cạnh tranh của nền kinhtế; bảo vệ môi trường, bảo đảm
an ninh, quốc phòng, góp phầnđưa Bình Dương cơ bản hoànthành sự nghiệp công nghiệp hoá
khoa hc
Phát triển kinh tế - xã hội
gắn với khoa học và công nghệ
tng đc xây dng đ7ng b , hin đi, có ngu7n lao đ ng d7i dào, nng đ ng sáng to Thc hin Chin lc phát trin khoa hc và công ngh (KH&CN) giai đon t$
chng trình, đ án, d án KH&CN trng đim, vi đ#nh hng, phát trin kinh t xã
h i g4n vi KH&CN.
HOÀNG MINH
Một góc Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao xã An Thái
BÌNH DƯƠNG:
Trang 21và tạo ra sự phát triển cân đối, bền
vững vào năm 2020
Tập trung nghiên cứu ứng dụng
và đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ
KH&CN, nhằm tạo bước đột phá về
năng suất, chất lượng cho sản
phẩm, hàng hóa và dịch vụ Đến
năm 2020, thông qua yếu tố năng
suất tông hơ=p (TFP), hoạt động
KH&CN đóng góp khoảng 35% tăng
trưởng kinh tế Tốc độ đổi mới công
nghệ, thiết bị đạt 10-15%/năm giai
đoạn đến năm 2015 và
20-25%/năm giai đoạn 2016-2020 Giá
trị giao dịch của thị trường KH&CN
tăng trung bình 15-17%/năm
Tỉnh sẽ đẩy mạnh đầu tư đổi
mới công nghệ; loại thải dần những
công nghệ cũ, lạc hậu; từng bước
trang bị mới những công nghệ tiên
tiến; đặc biệt trong những ngành
sản phẩm công nghệ cao, công
nghệ sạch; công nghệ thân thiện với
môi trường đang ở thời kỳ đầu phát
triển; ưu tiên công nghệ mới cho
những sản phẩm mũi nhọn, sản
phẩm xuất khẩu chủ lực để nâng
cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi
giá trị toàn cầu
Triển khai có hiệu quả các đề
án, chương trình, dự án KH&CN
trọng điểm đã được phê duyệt;
Hình thành và phát triển thị trường
công nghệ; tổ chức tốt hoạt động
tư vấn; dịch vụ chuyển giao công
nghệ; tạo điều kiện hỗ trợ doanh
nghiệp lựa chọn công nghệ mới tiên
tiến, phù hợp với sự phát triển của
doanh nghiệp và của tỉnh Đến năm
2020, thiết lập mạng lưới sàn giao
dịch công nghệ của tỉnh liên thông
có hiệu quả với các sàn giao dịch
công nghệ quốc gia tại Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng
thực hiện kết nối cung - cầu về sản
phẩm KH&CN mới
Bên cạnh đó cũng đầu tư phát
triển các ngành nông nghiệp công
nghệ cao, du lịch, dịch vụ phù hợp
với điều kiện kinh tế của địa
phương
HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI KH&CN
Việc thu hút nguồn vốn cho pháttriển KH&CN sẽ được đẩy mạnhthông qua các hình thức thu hútđầu tư trực tiếp, hợp tác, liên kết,liên doanh của các tập đoàn, cáccông ty lớn, các ngành và các thànhphố lớn trong cả nước Xây dựngquy hoạch, kế hoạch đào tạo, đàotạo lại nhân lực khoa học và côngnghệ theo hướng bảo đảm chấtlượng, đồng bộ, đủ về số lượng và
cơ cấu ngành nghề chuyên môn,đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh
tế - xã hội của tỉnh và hội nhậpquốc tế
Xây dựng cơ chế, chính sách hỗtrợ nhập khẩu công nghệ nguồn,công nghệ cao, mua thiết kế, thuêchuyên gia trong và ngoài nướcthuộc các lĩnh vực ưu tiên phát triểncủa tỉnh Triển khai cơ chế Nhà nướcmua kết quả nghiên cứu và hỗ trợdoanh nghiệp mua công nghệ từ các
tổ chức hoạt động KH&CN Triểnkhai cơ chế giao quyền sở hữu cáckết quả nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ có sử dụng vốnngân sách nhà nước; cơ chế phânchia lợi ích giữa Nhà nước, cơ quanchủ trì và tác giả Bên cạnh đó cần
có các cơ chế, chính sách khuyếnkhích, ưu đãi, hỗ trợ để thực hiện đổimới công nghệ
Xây dựng đề án củng cố hoạtđộng của Quỹ phát triển KH&CN củatỉnh để làm tốt vai trò cầu nối giữaQuỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹđổi mới công nghệ quốc gia vàdoanh nghiệp có nhu cầu vốn nhiều
để thực hiện các dự án chuyển giaocông nghệ lớn; tăng lượng vốnvay/dự án Hướng dẫn, khuyến khíchthành lập và vận hành Quỹ pháttriển của doanh nghiệp Cụ thể hoákịp thời các quy định của các bộ,ngành Trung ương về quản lý và sửdụng quỹ
Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng mởrộng hợp tác quốc tế về KH&CN, đađạng hóa các loại hình hợp tác đểtranh thủ tối đa sự chuyển giao côngnghệ hiện đại từ đối tác nước ngoài
cho phát triển công nghiệp Mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm,khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệpđăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,
áp dụng hệ thống quản lý chất lượngtiên tiến, sản xuất sạch hơn, xâydựng phong trào năng suất, chấtlượng, hiệu quả
Để thực hiện được các mục tiêu
đề ra, Bình Dương chú trọng việcliên kết đào tạo nghề với các cơ sởđào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh
và các địa phương có thế mạnhnhằm gắn công tác đào tạo vớinghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ và phục vụ nhu cầu củasản xuất và đời sống Mặt khác, chútrọng hợp tác liên kết để phát triểnthị trường KH&CN; Hợp tác liên kếtnghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ; Hợp tác liên kết về đổimới công nghệ; Tích cực tham giacác hội chợ, triển lãm quốc tế vềKH&CN; Xây dựng chính sáchkhuyến khích và hợp tác đầu tư vàocông nghệ cao cho nông nghiệp,nhằm gia tăng hiệu suất và giá trịkinh tế cho các sản phẩm nôngnghiệp Nghiên cứu áp dụng môhình đối tác công tư; khuyến khíchđầu tư của doanh nghiệp tư nhântheo hướng tăng trưởng bền vững
Ngoài ra, tỉnh sẽ ưu tiên các dự
án đầu tư sử dụng công nghệ cao,công nghệ sạch thân thiện môitrường Xây dựng cơ chế đặc biệtthu hút các nhà đầu tư, tranh thủcác kênh chuyển giao, hợp tác khoahọc công nghệ, đặc biệt là đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) để nghiêncứu, ứng dụng khoa học công nghệ
Xây dựng thương hiệu và phát triểnsản phẩm công nghệ cao Hìnhthành một số ngành, sản phẩm,doanh nghiệp công nghệ cao Hỗ trợdoanh nghiệp thực hiện các nhiệm
vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học
và phát triển công nghệ, nhằm tạo
ra sản phẩm mới; công nghệ mới,vật liệu mới; đổi mới, cải tiến máymóc thiết bị, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh, đưa Bình Dươngtrở thành tỉnh hấp dẫn các nhà đầu
tư trong và ngoài nước, phát triểnkinh tế xã hội gắn với KH&CN
khoa hc
Trang 22Sáng 17/9/2015, Thủ tướng
Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng
cùng Đoàn công tác của Chính
phủ đã tới dự lễ khánh thành Nhà
máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 tại xã Kỳ
Lợi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Đây
là dự án có tổng mức đầu tư gần 1,25
tỷ USD, là nhà máy nhiệt điện lớn
nhất từ trước tới nay được xây dựng
ở Việt Nam Công trình thuộc Khu
Kinh tế Vũng Áng, do Tập đoàn Dầu
khí Quốc gia Việt Nam (PVN) làm chủ
đầu tư, Tổng công ty lắp máy Việt
Nam LILAMA làm tổng thầu EPC
Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 có
công suất 1.200 MW (2x600MW),
được khởi công xây dựng từ tháng
7/2009 Nhà máy gồm 2 tổ máy lò
hơi-tuabin-máy phát Lò hơi sử dụng côngnghệ than phun PC Nhiên liệu chính
là than cám 5a được cung cấp từ HònGai, Uông Bí (Quảng Ninh) với lượngthan tiêu thụ hàng năm trên 3,2 triệutấn; nhiên liệu phụ là dầu FO
Đây cũng là một trong số ít các
dự án nhiệt điện than đạt mức nộiđịa hóa có tỷ lệ đáng khích lệ(khoảng 30%) đối với thiết kế, chếtạo, vật tư thiết bị trong nước; trong
đó, có gói thầu tỷ lệ nội địa hóa lênđến 55% do các đơn vị trong nướcsản xuất được
Phát biểu tại Lễ khánh thành, Thủtướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũngnhấn mạnh, 2 tổ máy Nhà máy nhiệtđiện Vũng Áng 1 phát điện đạt công
suất thiết kế là sự kiện mang tínhbước ngoặt, bởi đây là nhà máy nhiệtđiện chạy bằng than có công suất lớnnhất của Việt Nam từ trước đến nay.Loại than nhiên liệu của Nhà máythuộc nhóm than khó sử dụng, cungcấp ngay trong nước và đây cũng làlần đầu tiên, tổng thầu của dự án quy
mô lớn này là một doanh nghiệp củaViệt Nam; được thi công, lắp đặt, vậnhành bởi đội ngũ cán bộ, kỹ sư, côngnhân, người lao động Việt Nam Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũngghi nhận và nhiệt liệt biểu dươngnhững cố gắng, nỗ lực của tập thể cán
bộ, kỹ sư của Lilama, PVN cùng cácnhà thầu đã nỗ lực ngày đêm thi côngđảm bảo an toàn và tiến độ Thủ
khoa hc
Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu cắt băng khánh thành nhà máy (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)
NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN VŨNG ÁNG 1:
Công trình của người Việt
QUANG VŨ
Trang 23tướng cho rằng thành công này là
minh chứng cho khả năng quản
lý, trình độ tay nghề của đội ngũ
cán bộ, kỹ sư, công nhân Lilama
nói riêng và các nhà thầu trong
nước nói chung trong việc đảm
nhận vai trò EPC (lắp đặt, chạy
thử và vận hành) các nhà máy
nhiệt điện có công suất lớn
Việc Nhà máy Nhiệt điện
Vũng Áng 1 chạy hết công suất,
khuyến khích đầu tư nước
ngoài nhưng phát huy mạnh
mẽ nội lực trên con đường đilên CNH, HĐH đất nước Thủtướng đề nghị cán bộ, kỹ sư,người lao động PVN, Lilamakhông chủ quan, tự mãn với kếtquả đạt được, tiếp tục phấnđấu, hoàn thành tốt nhữngcông trình tiếp theo với yêu cầu
về chất lượng, trình độ caohơn, đảm bảo tốt hơn các yếu
tố về môi trường, nâng cao hơnnữa tỷ lệ nội địa hóa đi đôi vớiđảm bảo chất lượng, kỹ thuậtcông trình
Ngay sau đó, Thủ tướngChính phủ Nguyễn Tấn Dũng và
Đoàn công tác của Chính phủ đã
dự lễ khánh thành Tổ máy đốtthan số 1, Nhà máy điện củaTập đoàn Formosa tại Khu Kinh
tế Vũng Áng Và nhân dịp thămKhu Kinh tế Vũng Áng, Thủtướng Nguyễn Tấn Dũng vàĐoàn đã thị sát tiến độ thi côngCảng Sơn Dương - Cụm cảngnước sâu với 11 cầu cảng, diệntích hơn 1.018ha, trong đó phầnđất liền hơn 93ha, phần mặtnước gần 925ha, là lợi thế tựnhiên đặc biệt thuận lợi cho KhuKinh tế Vũng Áng, góp phầnquan trọng vào các hoạt độngthông thương của Hà Tĩnh vàkhu vực Bắc miền Trung
khoa hc
đt công sut 631 MW, vt công sut thit k 5%
Ngày 27/5/2015, Nhà máy Nhit đin Vng Áng 1 chính thc đc T3ng
thu EPC Lilama bàn giao cho ch đu t - PVN vn hành thng mi
D kin, Nhà máy Nhit đin Vng Áng 1 đi vào hot đ ng, hòa li đin
đ7ng/nm, s% góp phn gii quyt tình trng thiu ht đin nng ca h
HĐH đt nc
Ngày 01/9/2015, Bộ Khoa học và Công nghệ,
Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch
số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC hướng dẫn quản lý,
xử lý tài sản được hình thành thông qua thực hiện
nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước thì
hình thức xử lý tài sản như sau:
- Ưu tiên giao cho tổ chức chủ trì thực hiện
nhiệm vụ KH&CN trong trường hợp tổ chức chủ trì
là tổ chức KH&CN công lập
- Ưu tiên bán trực tiếp hoặc giao cho tổ chức
chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế
giao vốn nhà nước cho doanh nghiệp trong trường
hợp tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN làdoanh nghiệp có vốn nhà nước
- Ưu tiên bán trực tiếp cho tổ chức chủ trì thựchiện nhiệm vụ KH&CN trong trường hợp tổ chứcchủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN là tổ chức kinh
tế không có vốn nhà nước
- Trong trường hợp không xử lý được theo cáchình thức nêu trên thì tài sản được điều chuyểncho cơ quan, tổ chức, đơn vị công lập hoặc bánđấu giá cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu
Thông tư liên tịch 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC
có hiệu lực từ ngày 01/11/2015
Xử lý tài sản hình thành thông qua thực hiện nhiệm vụ KH&CN
Trang 24I MỞ ĐẦU
Mannitol có công thức hoá học là
C6H14O6 thuộc nhóm polyol, cấu trúc
hóa học một phần tương tự như
đường và một phần tương tự như
rượu nên còn được gọi là "đường
rượu", chúng được sử dụng như một
chất làm ngọt thay thế trong chế biến
thực phẩm, dược phẩm Trong nhóm
polyol thì mannitol có độ hòa tan thấp
nhất, do vậy được lựa chọn làm
nguyên liệu thích hợp trong công
nghệ sản xuất kẹo làm hạn chế khả
năng kết tinh đường xảy ra trong quá
trình bảo quản Một tính chất quan
trọng của mannitol là có khả năng hút
ẩm kém ngay cả khi trong điều kiện
độ ẩm không khí cao, do vậy kéo dài
thời gian sử dụng sản phẩm thực
phẩm, chịu được các điều kiện bảo
quản khắc nghiệt như khí hậu nóng và
ẩm ở miền Bắc nước ta hoặc có thể
không được bao gói kĩ càng Ngoài ra
mannitol cũng mang các đặc tính của
prebiotic nên cũng mang một số tính
chất chức năng sinh học như các
đường chức năng khác [1,5]
Trong các phương pháp sản xuất
mannitol: hóa học, enzym và lên men
thì cho thấy công nghệ lên men có ưu
việt hơn, tạo ra sản phẩm có độ tinh
khiết cao, dễ triển khai sản xuất ở qui
mô công nghiệp [4,5] Thu hồi sảnphẩm mannitol từ dịch sau lên menđược thực hiện bằng phương pháp kếttinh trong điều kiện nhiệt độ thấp Cácđiều kiện thu hồi sản phẩm là nhữngyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chấtlượng, giá thành sản phẩm và hiệusuất của cả quá trình sản xuất.[3,6]
II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Nguyên liệu và hoá chất
- Dịch lên men sinh tổng hợp mannitol bởi chủng vi khuẩn lactic
- Hoá chất: Natri periodate, ammonium axetat, axetyl acetone,natri thiosulfate, D-mannitol, than hoạttính và các hóa chất thông dụng khác
2.2 Phương pháp phân tích
- Xác định độ trong của dịchđường (OD) tại bước sóng 420nmbằng máy so màu UV-Vis 1601 PC(Nhật Bản)
- Xác định pH bằng máy đo pHOrion (Mỹ)
- Xác định hàm lượng mannitolbằng phương pháp so màu Sanchez(1998) [2]
- Hiệu suất thu hồi sản phẩm đượctính theo công thức:
M
H = x 100N/1000 x VTrong đó: H: Hiệu suất thu hồi sảnphẩm bằng kết tinh (%)
M: Khối lượng mannitol thu được(đã trừ độ ẩm) (g)
N: Nồng độ mannitol trong dungdịch (g/l)
V: Thể tích dung dịch đem kết tinh(ml)
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1 Nghiên cứu điều kiện làm sạch dịch sau lên men bằng than hoạt tính
Sau khi dịch lên men sinh tổnghợp mannitol được tách xác tế bào vàcặn thô bằng ly tâm, nhưng trong dịchlên men vẫn còn các chất màu, chấtkeo, mùi của môi trường lên men…được loại bỏ bằng cách xử lý với thanhoạt tính với các nồng độ khác nhautại 800C trong 20 phút Kết quả đánhgiá độ trong dịch đường sau xử lýđược trình bày trong Bảng 3.1.Qua Bảng 3.1 cho thấy, với nồng
độ than hoạt tính từ 1,5 - 2,0% (w/v)
Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cứu công nghệ thu hồi
Mannitol từ dịch lên men
ĐỖ TRỌNG HƯNG, LÊ ĐỨC MẠNH, VŨ THỊ THUẬN, NGUYỄN LA ANH
NGUYỄN THUỲ LINH, LƯƠNG THỊ NHƯ HOA, NGUYỄN HOÀNG PHI
Viện Công nghiệp Thực phẩm
TÓM TẮT
Thu hồi sản phẩm (downstream processing) là một bước quan trọng trong quá trình sản xuất mannitol bằng phươngpháp lên men, nó ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm Trong nghiên cứu này, công nghệ thu hồi sản phẩmmannitol từ dịch lên men bởi chủng vi khuẩn lactic trên môi trường SP qui mô phòng thí nghiệm được tiến hành nhưsau: nâng nhiệt diệt tế bào ở 800C trong 20 phút, ly tâm 8000 rpm trong 15 phút để tách xác tế bào, xử lý làm sạchdịch bằng than hoạt tính với nồng độ 1,5% (w/v) Điều kiện kết tinh thu hồi mannitol: nồng độ mannitol 160-170 g/l,nhiệt độ 5-100C, thời gian kết tinh 30 giờ, pH 5,0-5,5 Hiệu suất thu hồi mannitol từ dịch lên men đạt 71,3-71,7% Sảnphẩm được kết tinh lại 2 lần có độ tinh khiết đạt 99,5%
Từ khóa: Mannitol, thu hồi mannitol, lên men.
Trang 25cho kết quả giá trị OD420nmgần tương
đương nhau và thấp nhất, dịch màu
vàng sáng, rất trong Do vậy chọn
nồng độ than hoạt tính để làm sạch
dịch sau lên men là 1,5% (w/v)
3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng
của nồng độ mannitol trong
quá trình kết tinh
Bản chất của quá trình kết tinh là
quá trình tách chất rắn hoà tan trong
dung dịch dựa vào độ hoà tan hạn
chế của chất rắn Đây là một trong
những phương pháp chủ yếu để thu
được chất rắn ở dạng nguyên chất
Khi nồng độ hoà tan của chất rắn đạt
cực đại (ở một nhiệt độ nhất định),
dung dịch dần đạt đến trạng thái bão
hoà và quá bão hoà Dung dịch quá
bão hoà không bền, chất tan thừa sẽ
chuyển pha từ lỏng sang rắn tinh thể
và được tách ra khỏi dung dịch
Điều kiện thí nghiệm: Dịch sau lên
men được tách xác tế bào bằng ly tâm
và xử lý với than hoạt tính Tiến hành
cô đặc dịch lên men tạo ra các nồng
độ mannitol khác nhau, nhiệt độ kết
tinh 5-70C, thời gian kết tinh 48h, thể
tích mẫu 100 ml Ly tâm thu kết tinh
và sấy ở 600C/3h Kết quả được thể
hiện ở Bảng 3.2
Qua bảng 3.2 cho thấy ở nồng độ
mannitol ban đầu 160-170 g/l quá
trình kết tinh tách mannitol rất tốt,
hiệu suất thu hồi đạt cao nhất và gần
tương đương nhau Do vậy chọn nồng
độ mannitol ban đầu để kết tinh thu
hồi mannitol là 160-170 g/l
3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng
của thời gian trong quá trình
kết tinh.
Thời gian kết tinh cũng ảnh hưởng
đến hiệu suất thu hồi mannitol và hiệu
quả kinh tế Dịch sau lên men được
tách xác tế bào và xử lý làm sạch bằng
than hoạt tính Điều kiện kết tinh như
thí nghiệm trên, trong đó thời gian kết
tinh được thử nghiệm từ 6-36 giờ Kết
quả thí nghiệm được trình bày trong
Bảng 3.3
Qua Bảng 3.3 cho thấy hiệu suất
thu hồi mannitol tăng theo thời gian
kết tinh, nhưng khi thời gian kết tinh
đạt từ 30-36 giờ thì hàm lượng
mannitol thu không tăng lên Do vậy
chọn thời gian kết tinh để thu hồi
mannitol từ dịch lên men là 30 giờ làphù hợp nhất
3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH trong quá trình kết tinh mannitol
pH của dịch lên men mannitol thểhiện nồng độ axit sinh ra trong quátrình lên men, sự ảnh hưởng của cácmuối axit hữu cơ đã được chứng minh
là ảnh hưởng đến quá trình kết tinhmannitol trong dịch lên men
Điều kiện kết tinh như thí nghiệmtrên, trong đó mẫu thử được điềuchỉnh pH ở các giá trị pH khác nhau.Kết quả thí nghiệm được trình bàytrong Bảng 3.4
Qua Bảng 3.4 cho thấy ở giá trị
pH 5,0-5,5 cho hiệu suất kết tinh đạtcao nhất Ở pH cao hơn, do bổ sungkiềm vào dịch đã tạo ra các muốiaxit hữu cơ trộn lẫn với mannitol làmcản trở sự truyền nhiệt từ dung dịchtới mannitol đang ở trạng thái vô
Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nồng độ mannitol trong quá trình kết tinh
TT Thời gian kết tinh
(giờ)
Nồng độ mannitol (g/l) Mannitol (g)
Hiệu suất thu hồi (%)
Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời gian kết tinh tới hiệu suất
thu hồi mannitol
Bảng 3.4 Ảnh hưởng của pH trong quá trình kết tinh mannitol
Trang 26định hình, làm hạn chế kết tinh.
Ngoài ra theo Ken-ichi Izutsu và
cộng sự (2007) cho biết sự điều
chỉnh pH còn làm ảnh hưởng đến độ
linh hoạt của phân tử mannitol ở
trang thái vô định hình, do đó làm
cản trở kết tinh ở nhiệt độ thấp Dịch
lên men có giá trị pH nằm trong
khoảng 5,0-5,2, như vậy không cần
điều chỉnh pH của dịch lên men
trong quá trình kết tinh
3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng
của nhiệt độ kết tinh
mannitol.
Trong quá trình kết tinh, nhiệt độ
ảnh hưởng rất nhiều tới độ hòa tan
của mannitol Khi nhiệt độ giảm thì
độ hòa tan giảm, dung dịch mannitol
dần dần đạt tới trạng thái bão hòa và
quá bão hòa sau đó là hình thành các
tinh thể rắn mannitol
Điều kiện kết tinh như thí nghiệm
trên, trong đó thử nhiệt độ kết tinh
khác nhau Kết quả được thể hiện
qua Bảng 3.5
Qua Bảng 3.5 cho thấy việc sử
dụng phương pháp hạ nhiệt độ để
tạo nên trạng thái quá bão hòa của
dung dịch là thích hợp cho quá trình
kết tinh mannitol, ở nhiệt độ 5-100C
cho kết quả thu hồi mannitol gần
tương đương nhau và cao nhất, vì
vậy nhiệt độ được chọn cho quá trình
kết tinh thu hồi mannitol là 5-100C
3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng
của số lần kết tinh đến hiệu
suất và chất lượng sản phẩm.
Để sản phẩm mannitol có độ tinh
sạch cao, đáp ứng được yêu cầu đặt
ra của đề tài thì quá trình tinh sạch
sản phẩm phải được tinh chế lại
Trong thí nghiệm này chúng tôi tiến
hành thử ảnh hưởng của số lần tinhchế lại đến hiệu suất và chất lượngsản phẩm
Điều kiện thí nghiệm: nồng độmannitol 160 g/l, thể tích mẫu 500
ml, sau đó cho kết tinh lại 3 lần, saumỗi lần thu hồi kết tinh đều được sấykhô để tính hiệu suất và phân tích độtinh khiết sản phẩm Kết quả đượctrình bày trong Bảng 3.6
Qua Bảng 3.6 cho thấy sau khithu hồi kết tinh lần một cho hiệusuất thu hồi cao nhất nhưng độ tinhsạch thấp nhất, tiếp tục cho kết tinhlại lần 2 và lần 3 cho thấy độ tinhsạch gần tương đương nhau nhưnghiệu suất thu hồi của lần 3 thấp nhất
do bị thất thoát trong quá trình lytâm, rửa và thu hồi sản phẩm Vì vậychúng tôi chọn trong quá trình thu
hồi sản phẩm cần tinh chế lại sảnphẩm 2 lần
KẾT LUẬN
Đã xác định được điều kiện côngnghệ thu hồi mannitol từ dịch lên menqui mô phòng thí nghiệm: Dịch sau lênmen được nâng nhiệt diệt tế bào ở
800C trong 20 phút, tiến hành ly tâm
8000 rpm trong 15 phút để tách xác tếbào, tiến hành xử lý làm sạch dịch lênmen bằng than hoạt tính với nồng độ1,5% (w/v) Kết tinh thu hồi mannitol với điều kiện: nồng độmannitol 160-170 g/l, nhiệt độ 5-100C,thời gian kết tinh 30 giờ, pH 5,0-5,5.Hiệu suất thu hồi mannitol từ dịch lênmen đạt 71,3-71,7% Sản phẩm đượckết tinh lại 2 lần có độ tinh khiết đạt99,5% (tính theo chất khô)
Nghiên cu & Trin khai
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Nguyễn Đình Đức (2010) Công nghệ sản xuất đường và các sản phẩm từ đường Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật
2 Juan Sanchez (1998) Colorimetric Assay of Alditols in Complex Biological Samples J Agric Food Chem., Vol.46, p.157-160
3 Ken-ichi Izutsu, Chikako Yomota and Nobuo Aoyagi (2007) Inhibition of Mannitol Crystallization in Frozen Solution by Sodium photphateand citrate Chem., Pharm., Bull., 55(4), 565-570
4 Saha BC (2003) Production of mannitol by fermentation In: Saha BC (ed) Fermentation biotechnology American Chemical Society,Washington, DC, 67–85
5 Saha BC, Racine FM (2011) Biotechnological production of mannitol and its applications Appl Microbiol Biotechnol., 89:879–891
6 Winkler, M.A (1990) Problems in downstream processing In “Chemical Engineering problem in Biotechnology”, Elsevier SciencePublishers, London
Nghiên cu & Trin khai
TT Nhiệt độ kết tinh ( 0 C)
Nồng độ mannitol (g/l) Mannitol(g)
Hiệu suất thu hồi (%)
Độ tinh khiết (tính theo chất khô, %)
Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ trong quá trình kết tinh mannitol
Bảng 3.6 Ảnh hưởng của số lần tinh chế đến hiệu suất
và chất lượng sản phẩm
Ngày nhận bài: 7/8/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 17/8/2015
Trang 27Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
1 MỞ ĐẦU
Polymaltose là sản phẩm thủy
phân từ tinh bột, dễ tan trong nước,
có cấu trúc polyme mạch thẳng bao
gồm các phân tử D-glucose liên kết
với nhau, có công thức cấu tạo
(C6H10O5)n với khối lượng phân tử
dao động khoảng 25000-32000
Dalton, gồm từ 3-20 gốc glucose liên
kết với nhau chủ yếu bằng liên kết
α-1,4 glucoside Polymaltose được sản
xuất và ứng dụng rộng rãi trong
nhiều lĩnh vực chế biến thực phẩm và
dược phẩm Đặc biệt, polymaltose
được dùng để tổng hợp phức sắt
-polymaltose (IPC) và canxi
Hydroxyapatite - polymaltose (HAP)
dùng cho các bệnh nhân bị thiếu máu
và thiếu canxi Để đáp ứng yêu cầu
ứng dụng trong quá trình tạo phức thì
polymaltose phải đảm bảo chất
lượng: DE 25, glucoza (G1) ≤ 3,
maltose (G2) ≤ 15, maltoseoligomers (G>3)>80%.[5]
Quá trình đường hóa là một phầnrất quan trọng trong sản xuấtpolymaltose, ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm và quá trình tạo phức
Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trìnhđường hóa bao gồm: nồng độ enzym,nồng độ dịch bột, nhiệt độ, thời gian
và pH [1,2,3,4]
2 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
2.1 Nguyên vật liệu:
Tinh bột sắn có hàm lượng tinhbột ≥ 85%, độ ẩm 12-13%, enzymeAmylex®HT (Mỹ), Promozyme D2(Novozyme - Danmark) và các hóachất thông dụng: CuSO4.5H2O,KNaC4H4O6, NaOH, HCl, KOH,
K3Fe(CN)6, glucose, maltose chuẩn,Acetonitril (ACN),…
2.2 Phương pháp phân tích
Xác định nồng độ chất khô bằngchiết quang kế
Xác định DE (đường khử) theophương pháp phân tích Lane- EynonXác định pH bằng máy đo pHThermor Orion, Model 410 (Mỹ)Xác định hàm lượng glucose, maltose bằng phương pháp HPLC Xác định độ nhớt bằng máy đo
độ nhớt Viscosimètre capillaire (Germany)
3 KẾT QUẢ
3.1 Xác định nồng độ enzyme promozyme D2 thích hợp trong quá trình đường hóa tạo polymaltose DE 25
Mục đích của thí nghiệm là xácđịnh lượng enzyme tối thiểu đủ để xúctác phản ứng chuyển hóa đạt hiệu
Nghiên cứu ảnh hưởng
của các điều kiện đường hóa
đến quá trình tạo
polymaltose de 25
VŨ THỊ THUẬN, ĐỖ TRỌNG HƯNG, NGUYỄN HOÀNG PHI,
LƯƠNG THỊ NHƯ HOA, NGUYỄN THÙY LINH
Viện Công nghiệp Thực phẩm
TÓM TẮT
Quá trình sản xuất polymaltose từ tinh bột sắn bằng phương pháp enzym bao gồm: quá trình dịch hóa, quá
trình đường hóa, làm sạch dịch và thu hồi sản phẩm bằng phương pháp sấy phun Trong bài này chỉ tập trung
nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện đường hóa đến quá trình tạo polymaltose DE 25 ở qui mô phòng thí
nghiệm Kết quả nghiên cứu: Nồng độ enzyme promozyme D2 là 0,3%, nồng độ dịch bột 200Bx, pH 6-6,5, nhiệt
độ 550C và thời gian đường hóa 25 giờ
Từ khóa: Polymaltose, đường hóa.
Trang 28Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
suất cao nhất, tạo sản phẩm mong
muốn Các thí nghiệm được tiến hành
với điều kiện: DE dịch hóa 6, nồng độ
cơ chất 200Bx, nhiệt độ 550C, pH 6,0,
thời gian đường hóa 30 giờ Nồng độ
enzyme promozyme D2 được thử
0,1-0,5% (so với nồng độ cơ chất) Kết
quả được trình bày trong Bảng 1
Kết quả Bảng 1 cho thấy: nồng độ
enzyme đường hóa được chọn thích
hợp nhất là 0,3% (so với cơ chất), đáp
ứng được yêu cầu đặt ra của đề tài và
đảm bảo được hiệu quả kinh tế hơn
3.2 Xác định nồng độ cơ
chất thích hợp cho quá trình
đường hoá
Khi nồng độ cơ chất cao sẽ tiết
kiệm được nhiều chi phí trong sản
xuất như tiết kiệm được lượng nước
sử dụng, tiết kiệm năng lượng cô đặc
Tuy nhiên enzyme bị ức chế khi thừa
cơ chất dẫn tới hiệu suất thu hồi sản
phẩm thấp Vì vậy cần nghiên cứu lựa
quả được trình bày trong Bảng 2
Qua kết quả Bảng 2 cho thấy:
nồng độ dịch bột thích hợp nhất để
tạo polymaltose DE 25 ở qui mô
phòng thí nghiệm là 200Bx
3.3 Nghiên cứu điều kiện pH
thích hợp cho quá trình đường
hoá
Mỗi loại enzyme của mỗi chủng vi
sinh vật có những khoảng pH hoạt
động tối thích khác nhau Nếu nằm
ngoài khoảng pH tối ưu thì enzyme
hoạt động kém hiệu quả Để xác định
khoảng pH thích hợp cho enzyme
promozyme D2 hoạt động tốt nhất,
chúng tôi tiến hành thực hiện các thí
nghiệm ở các giá trị pH khác nhau, các
điều kiện thí nghiệm khác tương tự
như thí nghiệm trên Kết quả được
trình bày ở Bảng 3
Từ kết quả Bảng 3 cho thấy pH
thích hợp nhất được chọn cho quá
trình đường hóa tạo polymaltose có
chất lượng đáp ứng yêu cầu đề tài là
pH= 6-6,5
TT
Nồng độ
cơ chất ( 0 Bx)
DE đường hóa
Tỷ lệ các thành phần đường
so với đường tổng Tên đường (%)
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,826,892,38
Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)
0,51 5,40 94,09
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,65,294,2
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0.454,794,85
TT pH
DE đường hóa
Tỷ lệ các thành phần đường
so với đường tổng Tên đường (%)
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,324,495,28
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,395,094,61
Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)
0,47 5,5 94,03
Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)
0,5 5,3 94,2
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,405,194,5
Bảng 2 Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất trong quá trình đường hóa
Bảng 3 Xác định pH thích hợp cho quá trình đường hóa
TT Enzyme (%) DE đường hóa (%) Độ nhớt (cP)
Bảng 1 Ảnh hưởng của nồng độ promozyme D2
đến quá trình đường hoá
Trang 29Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
3.4 Xác định nhiệt độ thích
hợp cho quá trình đường hoá
Mỗi loại enzyme từ các chủng vi
sinh vật khác nhau có khoảng nhiệt
độ hoạt động tối thích khác nhau
Do vậy cần phải xác định nhiệt độ
thích hợp nhất để enzyme hoạt
động thuỷ phân ở mức độ cao nhất
Quá trình đường hoá với điều kiện
tương tự như thí nghiệm trên, nhiệt
độ được thử từ 50-650C Kết quả
được trình bày ở Bảng 4
Kết quả Bảng 4 cho thấy nhiệt độ
thích hợp nhất được chọn cho quá
trình đường hóa là 550C
3.5 Xác định thời gian thích
hợp cho quá trình đường hoá
Nghiên cứu xác định thời gian
đường hóa tối thiểu mà enzyme có
thể cắt hết mạch nhánh tạo
polymaltose DE 25 là việc cần được
xác định Quá trình đường hóa với
điều kiện thí nghiệm tương tự thí
nghiệm trên và sau những khoảng
thời gian đường hóa khác nhau tiến
hành lấy mẫu và phân tích đánh giá
chất lượng sản phẩm Kết quả được
Các điều kiện thích hợp cho quá
trình đường hóa tạo polymaltose DE
25 qui mô phòng thí nghiệm là:
nồng độ enzyme promozyme D2
0,3%, nồng độ dịch bột 200Bx, pH=
6,0-6,5 nhiệt độ 550C và thời gian
thủy phân 25 giờ
TT Nhiệt độ
( 0 C)
DE đường hóa
Tỷ lệ các thành phần đường
so với đường tổng Tên đường (%)
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,415,094,59
Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)
0,47 5,4 94,13
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,405,194,5
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,314,395,39
TT
Thời gian đường hóa (giờ)
DE đường hóa
Tỷ lệ các thành phần đường
so với đường tổng Tên đường (%)
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,354,894,85
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,435,294,37
Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)
0,45 5,6 93,95
GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)
0,505,594,0
Bảng 4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình đường hóa.
Bảng 5 Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình đường hóa
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bender H et al (1985) Studies on production of maltooligosaccharides by pullulanase from K Pneumoniae, Carbonhydrate research, 135,291-302
2 Fiona Dufner, Costanzo Bertoldo, Jens T Andersen, Karen Wagner and Garabed Antranikian (2000), “A new thermoactive pullulanasefrom Desulfurococcus mucosus: cloning, sequencing, purification, and characterization of the recombinant enzyme after expression in Bacillussubtilis’’
3 Promozyme D2(2001), product sheet
4 Yamamoto Takehiko et al (1988), Pullulanase in several microorganisms and plan Handbook of amylase and related enzymes: Theirsources, isolation method, properties and applications, Pergamon Press, 131-159
5 http://acac1.ethz.ch/koppenol/IRON_Metabolism_2012_E.pdf
Ngày nhận bài: 7/8/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 17/8/2015
Trang 30Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
MỞ ĐẦU
Theo Henick-Kling và nhiều tác
giả, quá trình lên men malolactic
không chỉ đơn thuần là một quá trình
chuyển axít malic thành axít lactic mà
nó còn có ảnh hưởng lớn đến chất
lượng cảm quan của rượu vang [4]
Chất lượng cảm quan của rượu cao
hay thấp không chỉ phụ thuộc vào
quá trình lên men rượu mà phụ thuộc
rất nhiều vào quá trình lên men
malolactic, trong đó phải kể đến các
yếu tố chủng vi khuẩn lựa chọn, điều
kiện của quá trình lên men[4,7] Để
quá trình lên men malolactic thành
công, thời điểm bổ sung vi khuẩn
lactic là rất quan trọng Xung quanh
vấn đề này có nhiều quan điểm còn
tranh cãi Các ý kiến tán thành cho
việc bổ sung vi khuẩn lactic ngay đầu
quá trình lên men rượu cho rằng vi
khuẩn có thể phát triển tốt với nguồn
dinh dưỡng dồi dào và điều này có
thể cho phép quá trình lên men
malolactic có thể kết thúc trước quá
trình lên men rượu (Beelman,
1985)[2] Tuy nhiên, Lafourcade
(1984) lại báo cáo rằng vi khuẩn phát
triển chậm hơn và sự khử axít malic
trở nên kém hơn do sự tương tác giữa
nấm men và vi khuẩn[5] Mặt khác,
chính nguồn dinh dưỡng cacbon dồi
dào này đã khiến cho vi khuẩn không
thực hiện lên men axít malic và xitricnhư mong muốn Lên men malolacticsau khi kết thúc lên men rượu có thểkhắc phục được tình trạng trên,nhưng vi khuẩn malolactic lại phải đốimặt với các điều kiện khắc nghiệt củamôi trường rượu vang non như hàmlượng ethanol cao, hàm lượng cácchất dinh dưỡng còn rất ít [9]
(Morezoni, 2005) Một quan điểmkhác tán thành việc bổ sung vi khuẩnlactic vào thời điểm khi lên men rượu
đã được một phần với lý do là vikhuẩn vừa tận dụng được nguồn dinhdưỡng trong môi trường mà khôngảnh hưởng đến tiến trình lên menrượu (Fornairon, 2001)[3] Như vậy,mỗi phương pháp lên men malolacticđều có những ưu điểm và hạn chếriêng nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ
ra rằng sự tương tác giữa nấm men
và vi khuẩn malolactic chính là nhân
tố quyết định đến sự thành công củaquá trình lên men malolactic Ngoài
ra, tùy thuộc vào đặc điểm của quytrình sản xuất rượu vang được sửdụng, người ta quyết định nên cấygiống vi khuẩn malolactic theophương pháp nào
Ở Việt Nam, quá trình lên menmalolatic còn ít được thực hiện trongcông nghệ sản xuất rượu vang Hiệnnay trong nước có rất ít nghiên cứu
về quá trình lên men malolatic, tậptrung vào việc tuyển chọn giống vikhuẩn hoặc nâng cao tính thích nghicủa vi khuẩn với môi trường có độcồn cao (P.T.Thủy và cộng sự, 2002;L.Q Phong và cộng sự, 2009)[6,10].Mục tiêu của nghiên cứu này là xácđịnh thời điểm cấy giống vi khuẩn lênmen malolactic thích hợp trong sảnxuất rượu vang đỏ từ dịch ép nhoCabernet Sauvignon
Nghiên cứu xác định
thời điểm cấy giống vi khuẩn lên men malolactic thích hợp trong sản xuất rượu vang đỏ
LẠI QUỐC PHONG, TRƯƠNG HƯƠNG LAN
Viện Công nghiệp Thực phẩm
Trang 31NGUYÊN LIỆU VÀ
PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu
- Rượu vang non thu được sau
quá trình lên men rượu dịch nho bởi
- Chế phẩm Essential Oenos (EO)
của Công ty Gusmer Enterprises: Là
chế phẩm chứa chất dinh dưỡng cần
cho sự sống sót của vi khuẩn
malolactic, bao gồm các vitamin, các
axít amin và muối khoáng
Phương pháp nghiên cứu
- Xác định thời điểm bổ sung vi
khuẩn lactic: Pha loãng 0,25g vi khuẩn
đông khô Viniflora® Oenos với 0,25 lít
nước cất, giữ ở nhiệt độ 250C trong 30
phút Sau đó, bổ sung vào hỗn hợp
này 0,25 lít rượu vang non đã bổ sung
chất dinh dưỡng Essential Oenos (EO)
25g/hl, giữ ở nhiệt độ 250C trong thời
gian 24h Lấy 0,5 lít giống thu được
cấy vào 25L rượu vang non (tỷ lệ
2%v/v) ở các thời điểm lên men rượu
khác nhau như sau:
M (Giữa AF): Cấy giống vi khuẩn
malolactic ở giữa quá trình lên men
rượu (ngày thứ 3 kể từ khi cấy giống
nấm men, khi hàm lượng đường sót
khoảng 50% so với dịch nho ban đầu)
F (Cuối AF): Cấy giống vi khuẩn
malolactic trước khi quá trình lên
men rượu sắp kết thúc (ngày thứ 5
kể từ khi cấy giống nấm men, hàm
lượng đường sót khoảng 20% so với
dịch nho ban đầu)
E (Kết thúc AF): Cấy giống vi
khuẩn malolactic sau khi quá trình lên
men rượu kết thúc (ngày thứ 7 kể từ
khi cấy giống nấm men, hàm lượng
đường sót khoảng 0-2% so với dịch
nho ban đầu)
Quá trình lên men malolactic của
tất cả các mẫu đều thực hiện ở nhiệt
độ 240C
- Phương pháp xác định nồng độoxy hòa tan: bằng máy oxygenMetler Toledo
- Phương pháp phântích ethanol: Ethanol
được xácđịnh bằngphương phápcất trên thiết
bị Distiller tem (Đức), sau
Sys-đó xác định độ cồnbằng alcohol metter
- Phương pháp xácđịnh hàm lượng axít lactic
và axít L-malic: Hàm lượngaxit L-malic được đo bằngphương pháp kit chuẩn enzyme(BOEHRINGER MANNHEIN,Cat.No.10139068035)
- Phương pháp xác định axít bayhơi và diacetyl theo Lonvaud(1999)[7]
- Phương pháp xác định số lượng
vi khuẩn malolactic: đếm khuẩn lạctrên đĩa thạch MRS
Kết quả và thảo luận
Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống tới sự phát triển của vi khuẩn malolactic trong quá trình lên men malolactic
Khi cấy giống vi khuẩn malolacticvào 3 thời điểm khác nhau là giữa(M), cuối (F) và kết thúc (E) quátrình lên men rượu, sự phát triểncủa vi khuẩn trong môi trường có sựkhác nhau đáng kể Kết quả được
so với mẫu E và 2 ngày so với mẫu F.Sau giai đoạn thích nghi, cả ba mẫuthí nghiệm đều có số lượng tế bào vikhuẩn malolactic tăng dần và đạt giátrị lớn hơn 9,5 x 106CFU/mL khi kếtthúc MLF (18 ngày ở mẫu E, 25 ngày
ở mẫu F và 32 ngày ở mẫu M)
Hình 1 còn cho thấy, tại tất cả cácthời điểm của quá trình lên men, sốlượng vi khuẩn ở mẫu E luôn luôn cao
Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
Trang 32Nghiên cu & Trin khai
nhất và số lượng vi khuẩn ở mẫu M
luôn luôn thấp nhất Vi khuẩn
malolactic trong mẫu F có đường
cong sinh trưởng nằm giữa hai đường
cong sinh trưởng của 2 mẫu rượu
vang E và M
Các kết quả mà chúng tôi thu
được phù hợp với một số công bố của
Morenzoni (2005) Các tác giả này
cho thấy vi khuẩn malolactic phát
triển yếu hơn khi chúng được cấy
giống ở thời điểm giữa và cuối quá
trình lên men rượu so với khi chúng
được cấy giống vào rượu vang sau
khi lên men rượu kết thúc[9] Massera
và cộng sự (2009) cũng đã cho thấy
sự phát triển của vi khuẩn malolactic
trong rượu vang đỏ khi nuôi cấy đồng
thời nấm men và vi khuẩn phụ thuộc
vào mối quan hệ giữa từng chủng
nấm men và vi khuẩn malolactic được
sử dụng Các tác giả này đã cho rằng
vi khuẩn malolactic phát triển yếu
hơn và lên men malolactic chậm hơn
khi được cấy vào rượu vang đồng
thời với nấm men có thể do sự đối
kháng của nấm men và vi khuẩn,
cũng như thành phần dinh dưỡng của
dịch nước nho không thích hợp cho
sự phát triển của vi khuẩn Theo các
tác giả này, cặp đôi nấm men rượu
vang ICV và vi khuẩn malolactic D80
phải mất 26 ngày để hoàn thành quá
trình lên men malolactic dịch nho đỏ
B04Malbec Argentina của vụ nho
2004 khi chúng được nuôi cấy đồng
thời, nhưng quá trình này chỉ mất 21
ngày khi vi khuẩn malolactic được
cấy giống vào rượu vang sau khi lên
men rượu đã kết thúc[8]
Trong nghiên cứu này của chúng
tôi, vi khuẩn malolactic ở mẫu E có
sự phát triển tốt nhất so với mẫu M
và F có thể là do nấm men
Saccharomyces cerevisiae SH09 có
sự ức chế vi khuẩn O.oeni (chế
phẩm Viniflora Oenos) nhưng ở thời
điểm kết thúc lên men rượu, nấm
men đã bước vào giai đoạn suy thoái
nên hoạt tính ức chế của nấm men
giảm mạnh Ngoài ra, ở cuối quá
trình lên men rượu, mặc dù vi khuẩn
malolactic phải đối mặt với tình
trạng dinh dưỡng kém, hàm lượngethanol cao nhưng một số chất gây
ức chế trong rượu vang non cũng cóthể đã bị khử tối đa như SO2, cácaxít béo no Mặt khác, trong nghiêncứu này, vi khuẩn malolactic cũng đãđược hoạt hóa và nhân giống trướckhi cấy vào lên men malolactic nênkhả năng thích nghi với môi trườngcũng tốt hơn
Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống malolactic tới khả năng phân giải axít malic và tạo thành một số chất bay hơi
Kết quả thí nghiệm về ảnh hưởngcủa thời điểm cấy giống malolactic tớikhả năng phân giải axit malic và tạothành một số chất bay hơi được trìnhbày trong Hình 2 và Bảng 2
Hình 2 cho thấy khả năng phângiải axít malic mạnh nhất khi cấygiống vi khuẩn ở thời điểm kết thúclên men rượu (mẫu E) và phân giảiyếu nhất khi cấy giống vi khuẩn ởgiữa quá trình lên men rượu (mẫuM) Ở mẫu E, vi khuẩn malolactic bắtđầu phân giải axít malic trong rượuvang sau 3 ngày lên men, nhưng ở
Hình 2 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống tới khả năng
phân giải axít L-malic
Nghiên cu & Trin khai
Hình 1 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống vi khuẩn đến sự
phát triển của vi khuẩn malolactic
Trang 33Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
mẫu F và mẫu M, sự phân giải axít
malic chỉ được quan sát thấy sau 5 và
7 ngày tương ứng Chính vì vậy, quá
trình MLF ở mẫu E được kết thúc
nhanh hơn (chỉ trong 18 ngày), trong
khi đó các mẫu F và M phải mất 25 và
32 ngày tương ứng
Bảng 2 cho thấy mẫu rượu vang
được lên men bằng cấy giống vi
khuẩn malolactic ở giữa quá trình lên
men rượu có hàm lượng axít
axetic là cao nhất và diacetyl là thấp
nhất, tương ứng là 0,91g/L và
1,6mg/L Ngược lại, ở mẫu rượu
vang được cấy giống vi khuẩn
malolactic sau khi lên men rượu kết
thúc lại có hàm lượng axít acetic thấp
nhất (0,35g/L) và hàm lượng diacetyl
cao nhất (2,9mg/L) Axít acetic là
axít bay hơi quan trọng nhất được
sản xuất trong quá trình lên men
rượu vang Ở nồng độ vượt quá
0,7g/L, axít acetic tạo cho rượu vang
vị chua và mùi dấm Diacetyl là một
chất thơm quan trọng, trong khoảng
nồng độ từ 1-4mg/L nó tạo ra hương
thơm của bơ cho rượu vang
(Bar-towsky et al.,, 2004)[1] Các kết quả
mà chúng tôi thu được ở đây cũng
phù hợp với những phát hiện đã
được Morenzoni công bố năm 2005
khi đã chỉ ra rằng, trong lên men
đồng thời giữa nấm men và vi khuẩnmalolactic, rượu vang có hàm lượngaxít bay hơi nhiều hơn và hàm lượngdiaxetyl ít hơn so với rượu vang đượclên men rượu và malolactic tuần
tự[9] Một số nghiên cứu khác cũngcho thấy, nếu quá trình lên men mal-olactic bắt đầu trước khi lên menrượu hoàn thành thì vi khuẩn malo-lactic cũng có thể lên men các loạiđường hexose chưa được lên menhoàn toàn bởi nấm men rượu (Lon-vaud-Funel, 1999)[7], chính vì vậy
mà hàm lượng axit acetic tăng cao
Mặt khác, quá trình lên men lactic sinh ra diaxetyl nhưng chất bayhơi này lại bị khử khi có mặt của nấmmen trong môi trường, làm cho nồng
malo-độ của nó bị giảm đi (Bartowsky
et al., 2004)[1]
KẾT LUẬN
Trong sản xuất rượu vang đỏ từdịch ép nho Cabernet Sauvignon, cấygiống vi khuẩn malolactic (chế phẩmViniflora oenos) sau khi quá trình lênmen rượu bởi chủng nấm menSacharomyces cerevisiae SH09 kết thúc
sẽ góp phần làm cho vi khuẩnmalolactic phát triển tốt, quá trình lênmen malolactic thành công với thời gianngắn nhất (18 ngày), trong khi cácphương pháp lên men hỗn hợp (cấy vikhuẩn malolactic vào giữa hoặc cuốiquá trình lên men rượu) đều có thờigian kéo dài hơn (25-32 ngày) Ngoài
ra, phương pháp lên men malolacticsau khi lên men rượu cũng tạo ra hàmlượng axít bay hơi thấp và hàm lượngdiacetyl cao hơn so với phương pháplên men hỗn hợp nấm men và vi khuẩnmalolatic
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bartowsky, E.J., Costello, P.J., Villa, A & Henschke, P.A., 2004 The chemical and sensorial effects of lysozyme addition to red and white winesover six months cellar storage Aust J Grape Wine Res 10, 143-150
2 Beelman, R B., and R E Kunkee 1985 Inducing simultaneous malolactic-alcoholic fermentation in red table wines Proc Aust Soc Vitic.Oenol Sem on Malolactic Fermentation 97-112
3 Fornairon-Bonnefond C., Camarasa C., Moutounet M., and Salmon J.M., 2001 État des connaissances scientifiques actuelles sur lephénomène d’autolyse des levures et l’élevage des vins sur lies J Int Sci Vigne Vin, 35, 57-78
4 Henick-Kling, T., T E Acree, S A Krieger, M H Laurent, and W D Edinger 1994 Modification of wine flavor by malolactic fermentation WineEast 8-15
5 Lafon-Lafourcade, S., C Geneix, and P Ribéreau-Gayon 1984 Inhibition of alcoholic fermentation of grape must by fatty acids produced bythe yeast and their elimination from yeast ghosts Appl Environ Microbiol 47:1246-1249
6 Lại Quốc Phong, Trương Hương Lan, 2009 Nghiên cứu quá trình lên men malolactic của 2 chủng vi khuẩn lactic O.oeni VF và O.oeni LAB10trong sản xuất nho đỏ tại Việt Nam Báo cáo Khoa học Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, 676-678
7 Lonvaud-Funel, A., 1999 Lactic acid bacteria in the quality improvement and depreciation of wine Antonie van Leeuwenhoek 76, 317-331
8 Massera A, Soria A, Catania C, Krieger S, Combina M., 2009 Simultaneous inoculation of Malbec (Vitis vinifera) musts with yeast andbacteria: effects on fermentation performance, sensory and sanitary attributes of wines Food Technol Biotechnol Vol.47, p.192–201
9 Morenzoni Rich, 2005 Malolactic fermentation in wine, Lallemand Inc Montréal, Canada H1W2N8
10 Phạm Thu Thủy, Nguyễn Thanh Hằng, 2002 Tuyển chọn chủng vi khuẩn thích hợp cho lên men malolactic rượu vang táo Việt Nam, Tạpchí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 10, 876 – 877
Mẫu Thời gian MLF
(ngày)
Hàm lượng axít acetic (g/L)
Hàm lượng diacetyl (mg/L)
Bảng 2 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống vi khuẩn malolactic vào
rượu vang non tới quá trình lên men malolactic
Ngày nhận bài: 10/6/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 19/6/2015
Trang 34Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
ĐẶT VẤN ĐỀ
Oxy có vai trò không thể thiếu đối
với sự phát triển của nấm men trong
giai đoạn đầu của quá trình lên men
rượu Do vậy, sục khí cho môi trường
dịch lên men ảnh hưởng trực tiếp tới
sự phát triển của nấm men và thông
qua đó tác động tới các sản phẩm trao
đổi chất của quá trình lên men như
ethanol, axit axetic, glyxerol, các
sterol và các axit béo không no
Trong suốt quá trình lên men rượu
vang đỏ, sục khí hay sục oxy là một
kỹ thuật cơ bản và được thực hiện
thông qua các hoạt động khuấy trộn
dịch nho và bã nho, bơm đảo dịch
rượu đang lên men (Ribéreaux
Gayon et al., 2000)[1] Ngoài ra, trong
các quá trình lên men có nguy cơ bị ỳ
thì oxy thường được bổ sung để cải
thiện sự tổng hợp sinh khối, từ đó làm
tăng tốc độ lên men (Salmon et al.,
2005)[2] Dưới điều kiện kỵ khí, quá
trình sinh trưởng của nấm men
thường đòi hỏi bổ sung oxy để tổng
hợp sterol và các axit béo không no,
các thành phần này kết hợp với thành
tế bào giúp tăng cường khả năng bền
vững với ethanol của nấm men
Rosenfeld và cộng sự (2003) đã chỉ ra
rằng sự tổng hợp lipid và sự sinh
trưởng tối ưu của nấm men
Saccharomyces cerevisiae trong quá
trình lên men rượu đòi hỏi nồng độ O2
khoảng 5-7,5 mg/L Quá trình sục khí
dịch hèm cũng đã kích thích sự sảnxuất ethanol, 1-propanol, isoamyl al-cohol và isobutyl alcohol Blateyron vàcộng sự (2003) cho rằng việc bổ sung
5 mg/L O2[3] vào dịch hèm đang lênmen không ảnh hưởng tới các đặc tínhcảm quan của rượu vang so với mẫuđối chứng Tuy nhiên, khi bổ sung quámức (50 mg/L) đã làm giảm chấtlượng sản phẩm do sự tăng lên củamàu nâu trong rượu vang[4]
Ở Việt Nam, một số nghiên cứu vềnấm men và quá trình lên men rượuvang đã được thực hiện với nhiều loạitrái cây như nho Cardinal, vải, táo,
mơ, dứa nhưng những nghiên cứusâu về vai trò của oxy trong quá trìnhlên men, đặc biệt là trong lên menrượu vang từ dịch ép nho CabernetSauvignon vẫn chưa được đề cập
Mục đích của nghiên cứu này là xácđịnh chế độ sục khí vô trùng thích hợp
để quá trình lên men rượu vang từdịch ép nho Cabernet Sauvignon đạthiệu quả cao nhất, tạo ra sản phẩmrượu vang có chất lượng cao
NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nguyên liệu và vi sinh vật
- Nước nho cô đặc CabernetSauvignon của Rudolf Keller (Ý) cónồng độ chất khô 680Bx
- Chế phẩm enzyme Pectinex Ultra
Clear của hãng Novozym (Đan Mạch)
- Chủng nấm men Saccharomycescerevisiae SH09 trong Bộ sưu tập giốngcủa Viện Công nghiệp Thực phẩm
Phương pháp nghiên cứu
- Xác định thời gian tiêu thụ oxytrong môi trường dịch nho của nấmmen qui mô pilot 1.000L và ảnhhưởng của sục khí vô trùng đến quátrình lên men: Dịch nho cô đặc đượcpha loãng với nước RO theo tỷ lệ1:3w/w, sau đó bổ sung đường saccharose đạt nồng độ chất khô là
250Bx Bổ sung enzyme Pectinex UltraClear (0,01%) và sulphit hóa bằng
Na2S2O5(40mg/L) trong thời gian 4h
Bổ sung (NH4)2HPO4400mg/L và lênmen dịch nho bằng chủng nấm men
S cerevisiae SH09 với tỷ lệ tiếp giống4x106CFU/mL ở điều kiện nhiệt độ
250C Tiến hành sục khí vô trùng theocác chế độ như sau:
Mẫu ĐC (Mẫu đối chứng): khôngsục khí
Mẫu TN1: sục khí 1 lần vào thờiđiểm 0h, tốc độ 0,1 v.v.m, trong 15phút
Mẫu TN2: sục khí 2 lần vào thờiđiểm 0h và 12h của quá trình lênmen, tốc độ sục khí 0,1 v.v.m, 15phút/lần
Mẫu TN3: sục khí 3 lần vào thờiđiểm 0h, 12h và 24h của quá trình lênmen, tốc độ sục khí 0,1 v.v.m,
15 phút/lần
NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ
sục khí thích hợp cho lên men
rượu vang đỏ từ dịch ép nho
Cabernet Sauvignon quy mô pilot
HÀ TUẤN ANH
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội
TRƯƠNG HƯƠNG LAN, LẠI QUỐC PHONG, NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ, VŨ PHƯƠNG NAM
Viện Công nghiệp Thực phẩm
Trang 35Nghiên cu & Trin khai
Nghiên cu & Trin khai
Xác định thời gian tiêu thụ oxy
trong dịch lên men ở các chế độ sục
khí khác nhau Trong quá trình lên
men rượu, xác định số lượng tế bào
nấm men, hàm lượng đường sót và
hàm lượng ethanol tạo thành
- Xác định số lượng tế bào nấm
men bằng phương pháp đếm tế bào
trên buồng đếm hồng cầu Neubauer
-Improved
- Xác định hàm lượng oxy hòa tan
bằng máy đo oxygen Metler Toledo
- Xác định axít tổng số và axít bay
hơi theo phương pháp của Zoecklein
(1989)[6]
KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Xác định thời gian tiêu thụ oxy
trong môi trường dịch nho của
nấm men rượu
Oxy đóng vai trò quan trọng trong
quá trình làm tăng sinh khối nấm
men Để nấm men nhanh chóng vượt
qua được pha lag và lên men tạo cồn
tốt thì lượng oxy cần phải cung cấp
đầy đủ cho môi trường Tiến hành sục
khí tại các thời điểm khác nhau trong
quá trình lên men rượu vang quy mô
pilot (1.000 L) và sau đó xác định sự
tiêu thụ oxy trong môi trường dịch
nho, kết quả được trình bày ở Bảng 1
Kết quả ở Bảng 1 cho thấy trong
môi trường không sục khí, nấm men
đã tiêu thụ hết oxy hòa tan ngay trong
60 phút đầu của quá trình lên men Ở
các mẫu có sục khí vào các thời điểm
0h, 12h và 24h của quá trình lên men,
lượng oxy cũng bị nấm men tiêu thụ
lần lượt trong các thời gian là 133
phút, 105 phút và 96 phút Có thể dễ
dàng nhận thấy, mặc dù cùng sục khí
với một lượng bằng nhau trong tất cả
các lần nhưng càng ở những lần sục
khí về sau thì thời gian tiêu thụ oxy
càng nhanh hơn Điều này có thể
được giải thích là do sinh khối nấm
men tăng tỷ lệ thuận với thời gian lên
men nên ở thời điểm 24h thì lượng
sinh khối nhiều hơn ở thời điểm 12h
và 0h, do vậy lượng oxy bị tiêu thụ
đã sục khí và so sánh với đối chứng,kết quả được minh họa ở các Hình 1,
2, 3 và Bảng 2
Hình 1 cho thấy chủng
S cerevisiae SH09 có đường cong sinhtrưởng giống nhau ở tất cả các mẫulên men có sục khí và không sục khí
Hai pha sinh trưởng khác nhau rõ ràngxuất hiện: ban đầu là một pha pháttriển trong 2-3 ngày đầu để đạt tớimột quần thể cực đại ở đầu ngày thứ
tư (đối với mẫu thí nghiệm TN1, TN2
và TN3) và ngày thứ năm (đối với mẫuđối chứng), sau đó là một pha tĩnh mà
ở đó số lượng tế bào được duy trì ổnđịnh Tuy nhiên, hàm lượng oxy cómặt càng nhiều trong môi trường lênmen thì nấm men sinh sản càngmạnh Trong điều kiện sục khí 3 lần,
số lượng tế bào đạt cực đại là 160 x
106CFU/mL so với 130 x 106CFU/mL(sục khí 2 lần), 106 x 106CFU/mL (sụckhí 1 lần) và 85 x 106CFU/mL (khôngsục khí) Cuối quá trình lên men, sốlượng tế bào trong môi trường giảmdần do lắng một phần xuống dưới đáytank lên men
Hình 2 cho thấy việc cung cấp oxylàm tăng tốc độ tiêu thụ đường.Chẳng hạn, trong điều kiện sục khí 3lần (mẫu TN3), chủng nấm men
Mẫu Không
sục khí
Sục khí Lần 1 Lần 2 Lần 3
Đối chứng 60
Bảng 1 Thời gian tiêu thụ oxy trong quá trình lên men rượu (phút)
Hình 1 Sự phát triển của nấm men trong quá trình lên men rượu
Trang 36Nghiên cu & Trin khai
S cerevisiae SH09 tiêu thụ đường
nhanh nhất, hết 95,5% lượng đường
ban đầu sau 120h, trong khi đó ở mẫu
đối chứng ở thời điểm này mới tiêu
thụ được 75,9% lượng đường ban
đầu Kết thúc quá trình lên men, ở các
Hình 3 cho thấy, ethanol được hình
thành trong suốt quá trình lên men,
song song với sự tiêu thụ đường Tuy
nhiên, ở mẫu đối chứng, hàm lượng
ethanol được tạo ra nhanh hơn so vớicác mẫu có sục khí Ngay sau 24h củaquá trình lên men, hàm lượng ethanol
ở mẫu đối chứng đã đạt là 0,5%v/v,trong khi đó ở các mẫu sục khí mới chỉđạt 0,2%v/v Đó là do trong điều kiệnyếm khí, quá trình lên men tạo cồnđược thực hiện sớm hơn Còn trongcác mẫu có sục khí, sự tiêu thụ cơchất ban đầu dành cho phát triển sinhkhối nên hàm lượng ethanol tạo thànhchậm hơn Mặc dù vậy, quá trình lênmen ở các mẫu có sục khí lại kết thúcnhanh hơn so với mẫu đối chứngkhông sục khí Hàm lượng ethanol ởmẫu đối chứng đạt peak ở 192h
nhưng ở các mẫu sục khí 2 và 3 lần,hàm lượng ethanol lại đạt peak ở168h Hàm lượng ethanol được tạothành gần như nhau đối với các mẫusục khí (13,2-13,6%v/v) và cao hơntrong điều kiện lên men không sục khí(12,6%v/v)
Nồng độ axit axetic của các mẫukhông sục khí, sục khí 1 lần và 2 lầndao động từ 0,19g/L-0,25g/L (Bảng2) Nói chung, với sự hiện diện củaoxy thì axít axetic được sản xuất tănglên bởi nấm men S cerevisiae Ciani
et al (2000)[7] cho thấy một chủng
S cerevisiae sản xuất đến 3,63g/L axítaxetic trong điều kiện hiếu khí so với0,8g/L trong điều kiện yếm khí [7].Trên thực tế, trong quá trình lên menrượu, axít axetic là sản phẩm của quátrình thủy phân acetyl CoA có nguồngốc từ các phản ứng khử carboxyl hóaoxy hóa axít pyruvic, phản ứng nàydiễn ra ở ty thể, do vậy nên trong quátrình lên men yếm khí, nó bị hạn chế.Như vậy, có thể thấy rằng: ở mẫuđối chứng không sục khí, dịch nho khipha chế đã có sẵn một lượng oxy hòatan nhất định Nấm men ngay lập tứctiêu thụ nguồn oxy này trong 60 phútđầu tiên của quá trình lên men Hàmlượng oxy hòa tan thấp không đủcung cấp oxy cho quá trình sinhtrưởng và phát triển của tế bào nấmmen, giảm khả năng nảy chồi, hấpphụ nitơ, quá trình lên men khôngđược thực hiện hoàn toàn, hàm lượngđường sót còn lại cao (25,2g/L).Không sục khí vào dịch hèm dẫn đếnnguy cơ bị ỳ trong quá trình lên menkhá thường gặp khi sản xuất rượuvang ở qui mô công nghiệp (Ingledew, 1985)[8]
Ở mẫu sục khí vô trùng ngay tạithời điểm 0h, lượng oxy cũng bị tiêuthụ nhanh chóng chỉ sau 132 phút củaquá trình lên men Nấm men mauchóng trải qua pha lag và đạt số lượng
tế bào nấm men cực đại là 106 x106CFU/mL, cao hơn ở mẫu đối chứng(85 x 106CFU/mL) Tuy nhiên, việc chỉ
bổ sung oxy một lần ở giai đoạn đầunày chưa đủ để nấm men tăng trưởng
và lên men triệt để nên hàm lượngđường sót vẫn còn đến 16,4g/L
Do vậy, bổ sung thêm oxy vào giaiđoạn đầu của quá trình lên men, mụcđích làm tăng sinh khối tế bào mộtcách nhanh chóng Lúc này, lượng
Hình 2 Sự tiêu thụ đường trong quá trình lên men rượu
Hình 3 Sự tạo thành ethanol trong quá trình lên men rượu ở
các điều kiện sục khí khác nhau
... mạnh đầu tư đổimới công nghệ; loại thải dần
công nghệ cũ, lạc hậu; bước
trang bị công nghệ tiên
tiến; đặc biệt ngành
sản phẩm công nghệ cao, công
nghệ. ..
án đầu tư sử dụng công nghệ cao ,công nghệ thân thiện môitrường Xây dựng chế đặc biệtthu hút nhà đầu tư, tranh thủcác kênh chuyển giao, hợp tác khoahọc công nghệ, đặc biệt đầu tưtrực tiếp nước...
CÔNG NGHỆ MỚI
Sự phát triển KHCN ngành Thuốc lákhông thể không kể đến quan tâmcủa Bộ Công Thương, Tổng công tyThuốc Việt Nam, không ngừngđầu tư cho nghiên cứu khoa học ứngdụng