1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐẦU TƯ CHO khoa hoc cong nghe ĐẦU TƯ CHO TƯƠNG LAI CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA NGÀNH SỮA

72 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đầu Tư Cho Khoa Học Công Nghệ - Đầu Tư Cho Tương Lai Cuộc Cách Mạng Khoa Học Công Nghệ Của Ngành Sữa
Tác giả TS. Nguyễn Phú Cường, GS.VS. Trần Đình Long, PGS.TS. Trương Hữu Chí, GS.TS. Trần Nhật Chương, TS. Nguyễn Huy Hoàn, PGS.TS. Phùng Mạnh Đắc, TS. Nguyễn Thế Truyện, PGS.TS. Lê Đức Mạnh, TS. Nguyễn Văn Sưa, PGS.TS. Đào Văn Hoằng
Người hướng dẫn Đặng Thị Ngọc Thu, Ngô Thị Diệu Thúy, Hồ Nga
Trường học Học Viện Khoa Học & Công Nghệ
Chuyên ngành Khoa Học Công Nghệ
Thể loại Tạp Chí
Năm xuất bản 2015
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 72
Dung lượng 4,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

3.Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm6.Đầu tư cho khoa học công nghệ - đầu tư cho tương lai 10.Thập niên chất lượng lần thứ hai: Năng suất chất lượng đã xuyên suốt m

Trang 1

NGÀNH SỮA

CUỘC CÁCH MẠNG KHOA HỌC CÔNG NGHỆ CỦA

ĐẦU TƯ CHO TƯƠNG LAI

ĐẦU TƯ CHO

Trang 2

3.Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm

6.Đầu tư cho khoa học công nghệ - đầu tư cho tương lai

10.Thập niên chất lượng lần thứ hai: Năng suất chất lượng đã xuyên suốt mọi hoạtđộng kinh tế xã hội

12.Chiến lược tăng năng suất lao động dài hơi của TKV

14.Ngành Hóa chất: Đa dạng sản phẩm mới thân thiện môi trường

16.Cuộc cách mạng khoa học công nghệ của ngành Sữa

20.Bình Dương: Phát triển kinh tế - xã hội gắn với khoa học và công nghệ

22.Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1: Công trình của người Việt

24.Nghiên cứu công nghệ thu hồi Mannitol từ dịch lên men

27 Nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện đường hóa đến quá trình tạopolymaltose de 25

30.Nghiên cứu xác định thời điểm cấy giống vi khuẩn lên men malolactic thíchhợptrong sản xuất rượu vang đỏ

34.Nghiên cứu chế độ sục khí thích hợp cho lên men rượu vang đỏ từ dịch ép nhoCabernet Sauvignon quy mô pilot

38.Dòng thuốc lá mới d9 có triển vọng cho các vùng trồng phía Bắc

42.Ảnh hưởng của phân bón đa lượng đến năng suất và chất lượng hạt giống bông laivn35ks và vn04-5

46.Hiệu quả cải thiện, nâng cao chất lượng và năng suất thuốc lá vàng sấy của chế độphân bón mới trên đất bạc màu ở Cao Bằng và Bắc Giang

48.Ứng dụng thiết bị di động trong quản lý kinh doanh và chăm sóc khách hàng

50.Đánh giá hiệu quả xử lý nước thải sản xuất chế biến tinh bột khoai mì dựa vào độctính tác động trên chỉ thị sinh học Daphnia magna

54.Petrolimex Sài Gòn: 40 năm một chặng đường phát triển khoa học công nghệ

56.PLC: Không ngừng cải tiến công nghệ sản xuất dầu mỡ nhờn

58.Đầu tư đổi mới công nghệ ở Công ty Than Uông Bí

60.Tổng công ty Khí Việt Nam giá trị lớn từ phong trào phát huy sáng kiến

62.Tổng công ty Bia Rượu Nước giải khát Sài Gòn: Đổi mới từ quản lý đến công nghệ

64.Tôn Phương Nam: Tiến dài trong công nghệ

67.Giải pháp thông minh cho bảo mật IT trên xe hơi

TS Nguyễn Văn Sưa

PGS.TS Đào Văn Hoằng

VĂN PHÒNG ĐẠI DIỆN PHÍA NAM

Số 173 Hai Bà Trưng, Quận 3,

In tại: Công ty CP Đầu tư và Hợp tác quốc tế

Tin tc & S kin

Nghiên cu & Trin khai

Bc tin công ngh

Câu chuyn khoa hc

68.Rạng Đông: Dám đầu tư, dám chấp nhận thất bại để thành công

70.Một ngày “thử” làm tư vấn viên sản xuất sạch hơn

Khoa hc công ngh th gii

Gp g

-ISSN: 0866-7756 Số 23 tháng 9 năm 2015

khoa hc

Trang 3

Dự án bệnh viện xanh tiết kiệm điện hàng tỉ đồng mỗi năm

Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Tập đoàn Mitsubishi và Trung

tâm Tiết kiệm năng lượng TP.HCM vừa tổ chức nghiệm thu

và bàn giao thiết bị của Dự án thúc đẩy xây dựng bệnh viện xanh

thông qua nâng cao sử dụng năng lượng hiệu quả và môi trường tại

Việt Nam cho Bệnh viện Việt Đức quản lý sử dụng

Dự án được chuẩn bị từ tháng 01/2014, sau khi khảo sát và đi

đến thống nhất, ngày 13/5/2014, Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức và

Tập đoàn Mitsubishi đồng ý triển khai thực hiện dự án với nội

dung: Mitsubishi sẽ tiến hành lắp đặt tại Bệnh viện 526 máy điều

hòa inveter, 4 tủ hệ thống quản lý năng lượng, 6 bộ thông gió tận

dụng nhiệt thải và 6 bộ quạt đảo gió Tổng giá trị của Dự án xấp xỉ

8,39 tỉ đồng, trong đó, tổ chức Phát triển Công nghệ, công nghiệp

và năng lượng mới (NEDO) tài trợ 63% và Bệnh viện Việt Đức chi trả 37% Đến nay, 100% người bệnh tại các khoa, phòngđược hưởng lợi từ Dự án Bệnh viện cũng được tăng thêm tiềm lực tài chính thông qua việc tiết kiệm trên 830.000 kWh (tươngđương 1,23 tỷ đồng) và giảm phát thải 518 tấn CO2mỗi năm, góp phần cải thiện môi trường nhằm nâng cao chất lượng phục

vụ người bệnh, hướng tới mục tiêu Bệnh viện xanh trong tương lai

Đại diện Bộ Công Thương, ông Nguyễn Phú Cường – Vụ trưởng Vụ KHCN, cho biết, việc tham gia thực hiện các cơ chế

bù trừ tín chỉ phát thải các-bon song phương, đa phương là một trong những giải pháp hiệu quả góp phần thực hiện cácmục tiêu theo Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh và Biên bản ghi nhớ đã ký giữa hai Chính phủ Việt Nam – Nhật Bản

về tăng trưởng Cac-bon thấp để thực hiện Cơ chế tín chỉ chung thông qua giải quyết các vấn đề và thách thức liên quan đếnnăng lượng và môi trường để hỗ trợ sự phát triển bền vững tại Việt Nam Theo kết quả nghiên cứu trong giai đoạn chuẩn

bị thực hiện dự án, tiềm năng ứng dụng, phổ biến sử dụng máy điều hòa nhiệt độ công nghệ biến tần (Inverter), hệ thốngthông gió thu hồi năng lươ=ng và hệ thống quản lý năng lượng theo công nghệ tiên tiến của Nhật Bản trong các cơ sở côngcộng nói chung, các bệnh viện nói riêng trên toàn quốc là rất lớn Dự án được triển khai thành công sẽ là cơ sở và điểm khởiđầu để mở rộng quy mô, số lượng các bệnh viện có dự án tham gia cơ chế JCM Đây chính là cơ hội cho các bệnh viện tạiViệt Nam quyết định đầu tư, đổi mới, lựa chọn công nghệ tiên tiến, công nghệ cao trong lĩnh vực tiết kiệm năng lượng từNhật Bản phục vụ cho hoạt động của bệnh viện

Ông Huỳnh Kim Tước – Giám đốc Trung tâm Tiết kiệm năng lượng TP HCM cho biết, từ kết quả của Dự án, sắp tới, 44bệnh viện của TP HCM sẽ tiếp tục triển khai mô hình bệnh viện xanh Dự án cũng góp phần hoàn thiện cơ sở thực tiễn đểđăng ký và triển khai thực hiện Cơ chế tín chỉ chung trong khuôn khổ hợp tác Việt Nam – Nhật Bản

2013 thứ 17 và năm 2012 thứ 27), dựa trên điểm trung bình của 79 chỉ số chia làm hai nhóm: nhóm các tiểu chỉ số đầu vào

và nhóm các tiểu chỉ số đầu ra của đổi mới sáng tạo Như vậy, năm 2015, dù hiệu quả đổi mới sáng tạo chúng ta giảm 4bậc, nhưng ở chỉ số xếp hạng chung quan trọng nhất thì chúng ta đã tăng bậc ngoạn mục

Đây là lần thứ 8 liên tiếp, Báo cáo Chỉ số GII được công bố Mục đích của Chỉ số GII là đưa ra các đánh giá về trình độđổi mới sáng tạo của mỗi quốc gia một cách toàn diện nhất Cốt lõi của Báo cáo GII 2014 là Bảng xếp hạng về đổi mới sángtạo toàn cầu Trong 8 năm qua, GII đã trở thành một tài liệu tham khảo hàng đầu về đổi mới sáng tạo

Tại khu vực Đông Nam Á, Singapore vẫn duy trì vị trí thứ 7 như năm 2014 Ngoài ra, Singapore còn có nhiều tiểu chỉ sốđứng đầu thế giới như: môi trường pháp luật, môi trường kinh doanh, trình độ phát triển kinh doanh, hấp thụ tri thức ViệtNam đã nằm trong Top 3, đứng sau Singapore (hạng 7), Malaysia (32), nhưng trên Thái Lan (55) Trong số các nước ASEAN,chỉ có hai nước đã tụt hạng so với năm 2014 là Thái Lan và Indonesia Các nước còn lại đều tăng bậc, tuy nhiên mức tăngkhác nhau, Việt Nam tăng bậc ấn tượng nhất (từ 71 lên 52, tăng 19 bậc), tiếp đến là Philippines (tăng 17 bậc), Campuchia(15 bậc), trong khi Myanma chỉ tăng 2 bậc, Malaysia tăng 1 bậc

PHÙNG ANH TIẾN

Tin tc - S kin

Trang 4

Thái Bình: Khởi công đề án thăm dò than trữ lượng lớn

Ngày 21/9/2015, tại xã Nam Thịnh (huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình), Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản ViệtNam tổ chức lễ khởi công đề án thăm dò than tại khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải

Khu vực khoan thăm dò thuộc xã Nam Thịnh và xã Nam Hưng, huyện Tiền Hải, nằm trong phạm vi bể than đồng bằngsông Hồng với tổng diện tích thăm dò 5,29km2, độ sâu -1.200m, có 23 lỗ khoan với tổng số mét khoan là 19.650m Đề ánthăm dò thực hiện qua hai giai đoạn Giai đoạn 1 thi công tại hiện trường trong khoảng thời gian 24 tháng, từ tháng 9/2015đến tháng 9/2017 do Công ty Địa chất mỏ (thuộc Tập đoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam) thi công Giai đoạn 2thực hiện trong 12-18 tháng, từ tháng 9/2018 đến tháng 3/2019, tổng hợp kết quả thăm dò, lập báo cáo địa chất và hoànthiện hồ sơ, thông qua tại Hội đồng trữ lượng quốc gia

Phát biểu tại buổi lễ, Thứ trưởng Bộ Công Thương Cao Quốc Hưng đánh giá việc triển khai đề án thăm dò than của Tậpđoàn Công nghiệp Than-Khoáng sản Việt Nam tại khu vực này có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, là bước đi ban đầu trong chiếnlược phát triển khai thác bể than đồng bằng sông Hồng rộng lớn và giàu tiềm năng

Việc thăm dò tại khu Nam Thịnh, huyện Tiền Hải góp phần phục vụ công tác xác định cấu trúc địa chất, trữ lượng, chấtlượng than, đặc điểm điều kiện địa chất kỹ thuật Từ đó xem xét, nghiên cứu, lựa chọn công nghệ khai thác phù hợp và tiếntới đầu tư khai thác, tạo giá trị lớn về mặt kinh tế và phát triển xã hội của đất nước

THU HOÀI

Tin tc - S kin

Quảng Ngãi: Nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất

Ngày 21/9/2015, Ban quản lý dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất (tỉnh Quảng Ngãi) cùng liêndanh Quad Personnel Consultants - Công ty TNHH Giác Thành ký kết hợp đồng tư vấn giám sát giai đoạn FEED -

Dự án nâng cấp mở rộng Nhà máy Lọc dầu Dung Quất Theo đó, Công ty Quad Personnel Consultants và Công ty TNHH GiácThành sẽ đảm nhiệm vai trò hỗ trợ công tác giám sát thiết kế tổng thể (FEED) cho dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy Lọcdầu Dung Quất với hợp đồng trị giá gần 50 tỷ đồng; trong đó, khoảng 32 tỷ đồng để trả cho Công ty Quad và hơn 15 tỷđồng cho Công ty Giác Thành

Công việc sẽ được triển khai song song với hợp đồng tư vấn lập thiết kế tổng thể mà Công ty TNHH Lọc hóa dầu BìnhSơn đã ký kết với nhà thầu Amec Foster Weeler Energy Limited đã ký kết trước đó

Dự án nâng cấp, mở rộng Nhà máy được Chính phủ chấp nhận với công suất chế biến Nhà máy tăng từ 6,5 lên 8,5 triệutấn dầu thô/năm, tăng khoảng 30% Sau khi hoàn thành, Nhà máy sẽ chế biến được các chủng loại dầu thô thông dụngtrên thế giới

Dự án có tổng vốn đầu tư trên 1,8 tỷ USD sẽ được thực hiện trong 78 tháng, dự kiến hoàn thành trong năm 2021, vớimục tiêu nhằm nâng công suất chế biến, nâng cao độ linh động lựa chọn dầu thô trên thế giới, sản phẩm đáp ứng tiêu chuẩnEURO V, tiêu chuẩn môi trường và đảm bảo an ninh năng lượng cho Việt Nam

SỸ THẮNG

Thanh Hóa: Khởi công dự án Nhiệt điện 2,3 tỷ USD

Ngày 18/9/2015, tại xã Hải Hà (huyện Tĩnh Gia), Công ty TNHH Điện Nghi Sơn phối hợp với UBND tỉnh Thanh Hóa đã tổchức lễ động thổ dự án (DA) Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn 2

Tổng mức đầu tư của DA là 2,3 tỷ USD Trong đó, 25% vốn được góp do Liên danh nhà đầu tư Marubeni - KEPCO, phầncòn lại được huy động từ các ngân hàng quốc tế gồm: Ngân hàng Hợp tác phát triển Nhật Bản (JBIC), Ngân hàng Xuất nhậpkhẩu Hàn Quốc (KEXIM bank) và một số ngân hành thương mại quốc tế khác

Theo kế hoạch, tổ máy đầu tiên công suất 600 MW sẽ được xây dựng hoàn tất vào tháng 9/2019, tổ máy thứ 2, cùngcông suất hoàn thành vào tháng 3/2020 để phát điện hòa vào lưới điện quốc gia Dự kiến, Nhà máy Nhiệt điện Nghi Sơn sẽđược Công ty bàn giao cho phía Việt Nam sau 25 năm vận hành (BOT)

Được biết, đây là DA theo hình thức BOT đầu tiên và lớn nhất của Tập đoàn Marubeni tại Việt Nam Trước đó, Tập đoànnày đã hợp tác với EVN và tỉnh Thanh Hóa, với vai trò tổng thầu tại DA Nhiệt điện Nghi Sơn 1 với tổng công suất 600 MW

ĐÀO NGUYÊN

Trang 5

Tin tc - S kin

Hải Phòng: Đánh giá dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời trong chiếu sáng tại đảo Dấu, Đồ Sơn”

Ngày 12/9/2015, tại Sở Khoa học và Công nghệ Hải Phòng, Hội đồng KH&CN thành phố đánh giá kết quả thực hiện

dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời trong chiếu sáng tại Đảo Dấu, quận Đồ Sơn, thành phố HảiPhòng” do UBND quận Đồ Sơn chủ trì thực hiện

Tại Hội nghị, đại diện cơ quan chủ trì dự án trình bày những nội dung cốt lõi khi xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặttrời (NLMT) trong chiếu sáng từ việc tiếp nhận công nghệ điện mặt trời cục bộ Madicub Cơ quan chủ trì dự án đã sử dụng đènLED tiết kiệm năng lượng trên 10 trụ đèn NLMT khu vực dẫn vào khuôn viên Đền Nam Hải Đại Vương với quy mô 10 tấm pinNLMT bằng kính có công suất 175Wp/tấm, hệ điện mặt trời tập trung 2kWp Nguyên lý của công nghệ Madicub là sạc điện mặttrời; đổi điện độc lập; bảo vệ toàn diện; tồn trữ năng lượng và điều khiển thông minh Khi có ánh nắng mặt trời, năng lượngđiện từ pin được nạp tự động, ổn định dòng vào ắc-quy qua bộ nạp, sau đó điện áp 12VDC sẽ qua bộ Inverter tạo dòng điệnAC220/50 Hz hình sin cung cấp cho tải

Ưu điểm chính của công nghệ Madicub là cung cấp giải pháp toàn diện về nguồn điện cho những nơi chưa có điện lướiquốc gia, đặc biệt là những vùng sâu, vùng xa, trên thuyền đánh bắt hải sản hay các tàu thuyền du lịch, các đảo hoặc nhữngđơn vị an ninh quốc phòng Tuy nhiên, do điện năng sử dụng hoàn toàn được chuyển đổi từ nguồn NLMT nên cần tính toán

dự trữ năng lượng đủ lớn để duy trì điện năng cho phụ tải khi thời tiết xấu kéo dài, bên cạnh đó, chi phí đầu tư cho Madicubcòn khá cao

Hội đồng đánh giá, dự án đã được triển khai có hiệu quả, tiết kiệm năng lượng, góp phần bảo vệ môi trường, an toàn khi

sử dụng, cung cấp điện sinh hoạt cho người dân trên đảo Tuy vậy, cơ quan chủ trì dự án cần bổ sung các số liệu về chi phívận hành, tiêu chuẩn kỹ thuật, quy chuẩn; cập nhật các văn bản pháp luật liên quan; cần có phương án để sử dụng song song,kết nối với điện lưới quốc gia khi có dự án kéo điện ra đảo để tránh lãng phí trong vận hành mô hình trong những năm tiếp theo

THỤY ĐIỂN

Thái Nguyên: Đào tạo ISO 9001 - 2008 cho cán bộ cơ sở

Ngày 16/7/2015, Chi cục Tiêu chuẩn đo lường chất lượng tỉnh Thái Nguyên đã phối hợp cùng UBND huyện Phú Bình

tổ chức khóa đào tạo Chuyên gia đánh giá chất lượng nội bộ theo chuẩn ISO 9001-2008, đối tượng tham gia lớp đàotạo này là cán bộ của các xã, phường, thị trấn trên địa bàn huyện Phú Bình

Tại buổi đào tạo, chuyên gia tư vấn về hệ thống quản lý chất lượng ISO đã truyền đạt các kiến thức về hệ thống quản

lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 900-2008 giúp các học viên có kiến thức để đánh giá hệ thống nội bộ, làm cơ sở cho cáchoạt động duy trì và cải tiến hệ thống Tiêu chuẩn ISO 9001-2008 quy định các tổ chức phải thực hiện đánh giá nội bộ hệthống được xây dựng, bên cạnh đó, hoạt động đánh giá còn cung cấp cho Ban Lãnh đạo địa phương các thông tin kháchquan về hệ thống để phục vụ cho các hoạt động quản lý, điều hành Đánh giá nội bộ là một hoạt động tổng hợp cũng đòihỏi nhiều kỹ năng và kỹ thuật Cùng với đó là các nguyên tắc quản lý chất lượng hướng vào phục vụ công dân như là xácđịnh nhu cầu và mong đợi của nhân dân, xử lý công việc theo yêu cầu của dân

Kết thúc khóa đào tạo, các học viên được cấp chứng chỉ ISO về Đánh giá chất lượng nội bộ do Công ty TNHH tư vấnquản lý và phát triển doanh nghiệp Á Châu cấp

ĐINH LƯƠNG THẮM

Đà Nẵng: Bàn giao website cho 10 cơ sở công nghiệp nông thôn

Thực hiện đề án Hỗ trợ nâng cao năng lực ứng dụng thương mại điện tử, quản lý hệ thống thông tin nội bộ cho các

cơ sở công nghiệp nông thôn thuộc chương trình Khuyến công quốc gia năm 2015, Trung tâm Phát triển thương mạiđiện tử - Cục Thương mại Điện tử và Công nghệ thông tin phối hợp với Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển côngnghiệp Đà Nẵng xây dựng 10 website miễn phí cho các cơ sở công nghiệp nông thôn

Theo đó, ngày 04/9/2015, tại Trung tâm Khuyến công và Tư vấn phát triển công nghiệp Đà Nẵng đã diễn ra buổi bàngiao website cho 10 cơ sở, doanh nghiệp tham gia chương trình lần này gồm: Công ty TNHH Nến Hướng Dương; Cơ sở sảnxuất than sinh học Khải Đăng; Cơ sở sản xuất móc áo inox Nguyễn Tri Vinh; Công ty CP đầu tư Hồng Hoàng Hồng; Công tyTNHH sản xuất TM&DV Phổ Huy Quang; Hợp tác xã đá trang trí Hòa Sơn; Xí nghiệp chế biến lâm sản Hòa Nhơn; Cơ sở sảnxuất rượu cần Lê Văn Nghĩa; Công ty TNHH Tuấn Hòa; Công ty TNHH MTV Đá Phong thủy trúc xanh

Trong khuôn khổ chương trình lần này, Trung tâm phát triển thương mại điện tử còn hỗ trợ duy trì 03 website cho Cơ sởđiêu khắc đá mỹ nghệ Thanh Thiện, DNTN cơ khí xây dựng Quang Vinh và Công ty TNHH cơ khí tự động hóa Dameco

PV

Trang 6

PV: Thưa ông, ông luôn cho rằng,

đầu tư cho KHCN là đầu tư cho

tương lai Vậy ông có thể cho

biết, với ngành Công Thương,

điều đó thể hiện như thế nào?

TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:

Chúng ta đều thấy rõ một điều,

không riêng gì ngành Công Thương

mà cuộc sống của chúng ta hiện đang

chịu sự ảnh hưởng rất lớn của KHCN

Các thành quả của KHCN thay đổi

từng ngày, từng giờ, ảnh hưởng trực

tiếp đến cuộc sống mà điển hình là

sự thay đổi của công nghệ điện tử,

liên tục cập nhật, hôm nay vừa là

công nghệ mới, sản phẩm mới, mai

đã thành lạc hậu, trở thành phiên bản

cũ Với ngành Công Thương, đó là

những nghiên cứu dài hơi mà cácngành có khi đã phải đầu tư từ vàichục năm trước, bây giờ mới hưởngthành quả, hay bây giờ bắt đầu đầu

tư để tính đến vài chục năm sau mớiđược gặt hái Điển hình có thể kể đếnnhư ngành Than, mỗi mét lò đào sâutrong lòng đất là chi phí tăng, nhưngnhờ sự nỗ lực đầu tư, ứng dụng cáccông nghệ mới nhằm cơ giới hóa khaithác than, nên sản lượng khai tháctăng, môi trường làm việc của thợ lòđược cải thiện rõ rệt, đảm bảo năngsuất, chất lượng và cả an toàn củangười lao động Hay như ngành Dầukhí, cách đây mấy chục năm, việckhai thác dầu khí hoàn toàn phụthuộc vào chuyên gia nước ngoài,

Chính phủ ta đã đầu tư quyết liệt đểnhiều thế hệ cán bộ chuyên gia được

đi học tập, đào tạo ở nước ngoài, trở

về làm chủ công nghệ từ khai thácđến vận hành máy móc Bây giờkhông những làm chủ các công trìnhlớn, hiện đại không thua kém cácnước trên thế giới, ngành Dầu khí còn

có cả những đầu tư ra nước ngoài,khẳng định trình độ, tay nghề củangười thợ dầu khí Việt Nam Một ví

dụ điển hình nữa là ngành Điện Nếunhư trước đây chúng ta không mạnhdạn đầu tư cho đường dây 500 kVBắc Nam, thì nay không thể có một

TP Hồ Chí Minh đầu tầu năng động,bởi muốn phát triển sản xuất thìnguồn năng lượng luôn được coi

Tin tc - S kin

TS.Nguyn Phú Cng – V trng V KHCN, B Công Thng vi Chuyên san Khoa hc

và Công ngh k này Trân trng gii thiu cùng bn đc!

Đầu tư cho khoa học

công nghệ đầu tư cho tương lai

-TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG

HỒ NGA (thực hiện)

Trang 7

trọng hàng đầu Hiện tại, ngành Điện

đang tiếp tục đầu tư cho dự án phát

triển điện hạt nhân và nay nhiều lượt

cán bộ đã được cử đi học tại các nước

có công nghệ điện hạt nhân phát

triển hàng đầu thế giới như Pháp,

Nhật Bản… Với dự án này, phải vài

chục năm nữa chúng ta mới có thể

hưởng thành quả, nhưng nếu như

hôm nay chúng ta không đầu tư thì

tương lai, khi các nguồn tài nguyên

thiên nhiên cạn kiệt, chúng ta sẽ

không có nguồn năng lượng để sử

dụng Trong ngành công nghiệp nhẹ,

tôi chỉ lấy một ví dụ điển hình nhất là

ngành Sữa Bằng việc đầu tư vùng

nguyên liệu, đầu tư máy móc thiết bị

mà từ khi chỉ có thể sản xuất được

một loại sản phẩm duy nhất là sữa

đặc có đường thì đến nay, ngành Sữa

đã có vài chục loại sản phẩm các loại

Sữa đang dần trở thành một sản

phẩm không thể thiếu trong cuộc

sống, do đó, việc phát triển ngành

Sữa tiên tiến, hiện đại, giảm phụ

thuộc vào nguồn nguyên liệu nước

ngoài sẽ giúp ngày càng nhiều hơn

người Việt Nam được sử dụng các

sản phẩm chế biến từ sữa…

Nói vậy để thấy, đầu tư cho KHCN

là cực kỳ quan trọng, xã hội muốn

PV: Vậy trong giai đoạn này,

ngành Công Thương đang có

những dự án dài hơi nào cho

tương lai, thưa ông?

TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:

Ngành Công Thương luôn là ngành có

nhiều chương trình, đề án KHCN quan

trọng Hầu như ngành nào cũng đều

có các đề tài, dự án cấp Nhà nước, cấp

Bộ Ngoài các chương trình, đề án giao

cho các đơn vị cơ sở thực hiện, Vụ

KHCN cũng đang trực tiếp triển khai

thực hiện các đề án do Thủ tướng

Chính phủ giao Bộ Công Thương chủ

trì như: Ðề án phát triển và ứng dụng

công nghệ sinh học trong lĩnh vực

công nghiệp chế biến đến năm 2020;

Đề án phát triển nhiên liệu sinh học

đến năm 2015, tầm nhìn đến năm

2025; Đề án phát triển ngành công

nghiệp môi trường đến năm 2015, tầm

nhìn đến năm 2025; Đề án đổi mới vàhiện đại hoá công nghệ trong ngànhcông nghiệp khai khoáng đến năm

2015, tầm nhìn đến năm 2025; Đề ánPhát triển ứng dụng bức xạ và đồng vịphóng xạ trong công nghiệp đến năm2020; Chương trình mục tiêu quốc gia

về an toàn vệ sinh thực phẩm; Chiếnlược sản xuất sạch hơn trong côngnghiệp đến năm 2020; Dự án “Nângcao năng suất và chất lượng sản phẩmhàng hóa ngành công nghiệp”; Đề ánthực hiện Hiệp định rào cản kỹ thuậttrong thương mại Ngoài ra, trong năm

2014, Vụ đã tích cực triển khai một sốchương trình KHCN mới như: Chươngtrình phát triển sản phẩm quốc gia,Chương trình phát triển một số ngànhcông nghiệp công nghệ cao, Chiếnlược sử dụng công nghệ sạch, Kếhoạch hành động phát triển ngànhcông nghiệp môi trường và tiết kiệmnăng lượng Đây đều là các đề án dàihơi, hướng tới phát triển bền vững vàmục tiêu đưa Việt Nam trở thành nướccông nghiệp vào năm 2020

Thực tế việc đầu tư cần được chútrọng từ máy móc thiết bị, công nghệđến con người Ngành Công Thươnghiện cũng đang đi đúng theo hướngnhư vậy

PV: Thời gian qua, các doanh nghiệp đã chú trọng tới việc đầu

tư cho đổi mới trang thiết bị và công nghệ Tuy nhiên, năng suất lao động của người Việt Nam vẫn

bị đánh giá là thấp nhất trong khu vực Vậy theo ông, đây có phải do yếu tố con người.

TS NGUYỄN PHÚ CƯỜNG:Đóchính là lý do vì sao chúng ta phải đầu

tư cho phát triển nguồn nhân lực, đặcbiệt là nhân lực có trình độ cao Vớiviệc Việt Nam ký kết các hiệp địnhsong phương, đa phương thời gianqua và sắp tới thì nguồn nhân công giá

rẻ đã không còn là lợi thế của chúng

ta, mà xã hội bây giờ cần những laođộng có tay nghề cao, kỷ luật tốt vàhơn hết là có tinh thần trách nhiệm vớicông việc Việt Nam hiện đang có sốngười ở độ tuổi lao động nhưng khôngqua đào tạo tay nghề cao, do đó, khảnăng kiếm được việc làm tốt, thu nhậpkhá là rất khó Chưa kể, tính kỷ luậttrong lao động còn kém, tinh thầntrách nhiệm chưa cao, nên so với các

nước trong khu vực, nếu được lựachọn, các nhà đầu tư sẽ lựa chọn laođộng ở các nước khác

Các doanh nghiệp cũng đã rất nỗlực trong việc đầu tư máy móc thiết

bị, đổi mới công nghệ, nhưng ngườicông nhân muốn làm chủ máy móc

ấy, muốn vận hành được công nghệ

ấy thì phải có tri thức Thực tế đãchứng minh, năng suất lao độngmuốn được nâng lên thì người laođộng phải không ngừng sáng tạo,phát huy sáng kiến cải tiến để cỗ máy

ấy, dây chuyền ấy vận hành năngsuất cao hơn, chất lượng tốt hơn.Muốn vậy, cần phải đầu tư để đào tạonhững người cán bộ kỹ thuật, côngnhân có trình độ, có tay nghề

Vì thế, chúng ta phải dành nguồnkinh phí đầu tư cho các trường đạihọc, cao đẳng, dạy nghề… Không nênmong việc đầu tư kinh phí vào cáctrường để đem lại lợi nhuận bằng tiền

mà phải hiểu cái lãi ở đây chính lànguồn nhân lực chất lượng cao, cókhả năng tham gia sản xuất, làm chủcông nghệ, vận hành được các loạimáy móc tiên tiến hiện đại Đầu tư đểđội ngũ cán bộ giáo viên tham gianghiên cứu khoa học vừa nâng caotrình độ giáo viên, vừa góp phần đàotạo đội ngũ sinh viên có điều kiện tiếpcận công nghệ mới, nâng cao cơ sởvật chất cho cơ sở đào tạo, thực hành

về KHCN… Việc đầu tư không nhấtthiết hoàn toàn từ ngân sách nhànước mà có thể huy động bằng cácnguồn khác nhau của xã hội, từ cácquỹ đổi mới KHCN

Ngành Công Thương trong nhữngnăm qua cũng dành khá nhiều sựquan tâm tới hoạt động nghiên cứukhoa học của khối đào tạo Một sốtrường có hoạt động nghiên cứu khoahọc mạnh có thể kể đến như Đại họcCông nghiệp Hà Nội, Đại học Côngnghiệp TP Hồ Chí Minh…

Luật KHCN sửa đổi cũng đã cónhiều điểm mới, tháo gỡ khó khăn chocác đơn vị nghiên cứu khoa học, đồngthời tăng cường khuyến khích, đãi ngộđội ngũ các nhà nghiên cứu khoa học

Hy vọng trong thời gian tới, hoạt độngKHCN sẽ có nhiều thuận lợi, thu hútnhiều hơn sự quan tâm và đầu tư của

xã hội nhằm gặt hái những thành quảtrong tương lai

PV: Trân trọng cảm ơn ông!

Tin tc - S kin

Trang 8

Tổng công ty Đức Giang xác định, muốn phát triển thì phải đầu tư Do đó, trong những năm qua, bình quân

cứ 1 đến 2 năm, Đức Giang lại có một nhà máy mới Các nhà máy đều chia ra xây dựng theo từng giaiđoạn, mỗi giai đoạn lại nâng công suất lên và tuyển thêm nhiều lao động Thông thường một nhà máy

sẽ giải quyết khoảng 1.500-2.000 lao động, sản xuất các mặt hàng xuất khẩu truyền thống của Đức Giang như

sơ mi, jacket, quần âu

Chúng tôi xác định, đầu tư bây giờ là đầu tư cho tương lai nên tư duy đầu tư cũng thay đổi Khi đặt vấn đềđầu tư một nhà máy, chúng tôi quan tâm tới nhà xưởng, máy móc, lao động và chuyển giao công nghệ Nếunhư trước kia, quan niệm đầu tư thêm nhà máy mới là tận dụng máy móc thiết bị, rồi cố gắng tiết kiệm chi phí,thì nay, càng đầu tư sau công nghệ càng phải hiện đại mới đủ sức cạnh tranh Không đầu tư máy móc quá đơngiản mà đầu tư máy móc hiện đại làm sao để giảm thiểu công sức lao động và đem lại năng suất cao hơn, chấtlượng tốt hơn

Về lao động, khi mới thành lập chúng tôi tổ chức đào tạo nhân công để tuyển vào nhà máy Còn khi nhàmáy đã đi vào hoạt động, công nhân được đào tạo ngay tại nhà máy, trên dây chuyền hiện đại luôn Liên tục

tổ chức các lớp học mời giáo viên của Trường Đại học Công nghiệp Dệt May Hà Nội về dạy cho các chuyềntrưởng, tổ trưởng, quản lý Tổ chức cả các lớp tập huấn về các giải pháp sản xuất sạch hơn, nâng cao năngsuất chất lượng cho người lao động Do đó, người lao động yên tâm làm việc và tự họ phải hiểu, càng năngsuất cao, tiết kiệm chi phí thì thu nhập của họ càng cao Còn sản phẩm bị lỗi, làm việc không năng suất thì thunhập thấp Điều đó tất cả là phụ thuộc vào tinh thần trách nhiệm và kỹ năng của chính người lao động.Riêng đối với chuyển giao công nghệ thì nhất định phải có yếu tố nước ngoài Có những loại sản phẩm caocấp mà kỹ thuật của nó rất khó, phải áp dụng công nghệ hiện đại mới sản xuất được thì việc lựa chọn công nghệ

và nhận chuyển giao công nghệ phải đặc biệt ưu tiên Thường là những công nghệ đó chỉ có được khi mình hợptác với các khách hàng nước ngoài, có uy tín, bởi không phải cứ có tiền là mua được mà có những loại máy muốnmua cũng không có trên thị trường Nhưng nếu đối tác đồng ý chuyển giao công nghệ, họ sẽ có trách nhiệmđưa máy đến cho mình, để có thể sản xuất những sản phẩm đạt yêu cầu chất lượng họ đưa ra

Với tất cả các yếu tố trên, cuối cùng chúng tôi sẽ xem xét để so sánh, nếu một nhà máy được đầu tư ápdụng công nghệ hiện đại ngay từ đầu thì hiệu quả như thế nào Chúng tôi thấy rất tốt, rất hiệu quả và đây sẽ

là định hướng cho những năm tới đây của Đức Giang, các nhà máy tiếp theo chúng tôi cũng sẽ làm như vậy.Đức Giang đang phấn đấu đến năm 2020 đạt doanh thu 5.000-6.000 tỉ đồng, gần gấp đôi so với hiện nay.Muốn vậy thì đầu tư phải rất mạnh mới có thể đạt được mục tiêu này Đây là vấn đề rất quan trọng với ĐứcGiang trong thời gian tới Trong kế hoạch phát triển của mình, Đức Giang đang nung nấu và chắc chắn sẽ xâydựng một nhà máy veston hiện đại với tổng vốn đầu tư xấp xỉ 400 tỉ đồng, công suất 3 triệu sản phẩm/năm,giải quyết việc làm cho khoảng 2.000-3.000 lao động Chúng tôi đang cân nhắc lựa chọn công nghệ để khi đầu

tư sẽ mua chuyển giao công nghệ, đảm bảo khi sản phẩm ra là xuất khẩu 100% Như vậy sẽ góp phần để ĐứcGiang đạt được mục tiêu đề ra 

Tin tc - S kin

Ông HOÀNG VỆ DŨNG Chủ tịch Tổng công ty Đức Giang:

Càng đầu tư sau công nghệ càng phải hiện đại mới

đủ sức cạnh tranh

Trang 9

Thực tế của việc khai thác than hầm lò đang càng ngày càng xuống sâu, mỗi mét lò là mỗi chi

phí tăng thêm để xử lý rất nhiều vấn đề như vận chuyển than, thông gió, đảm bảo các điều

kiện về an toàn trong mỏ Nếu như trước kia và bây giờ ta không tập trung nghiên cứu hiện

đại hóa công nghệ, đầu tư máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại thì những năm sau, ngành Than

không thể đảm bảo được năng suất lao động, cũng như chất lượng và sự an toàn cho người lao

động Là một đơn vị thiết kế, thi công các công trình cơ khí cho ngành năng lượng mỏ, từ khi thành

lập đến nay, Viện Cơ khí Năng lượng Mỏ luôn bám sát các vấn đề phát sinh trong khai thác mỏ để

đầu tư nghiên cứu, thiết kế các máy móc thiết bị theo kịp công nghệ thế giới, giảm sức lao động

của con người và đảm bảo an toàn Một trong những đề tài có thể nói rất thành công là “Nghiên

cứu thiết kế chế tạo tời cáp treo chuyên dụng chở người trong các mỏ than hầm lò – TCCN 1200”

Theo thống kê tại đường lò lắp đặt, ngoài việc đảm bảo về sức khỏe cho người lao động, trong mỗi

ca làm việc, một người công nhân có thể tiết kiệm từ 15-20 phút so với khi phải đi bộ hoặc di chuyển

trên thiết bị không liên tục Đặc biệt, với công nghệ khai thác than của Việt Nam hiện nay mỗi ca

làm việc có từ 100-300 công nhân lên và xuống lò đầu ca, giữa ca, do đó các thiết bị vận tải liên

tục như TCCN 1200 sẽ là ưu điểm của công nghệ so với áp dụng các thiết bị không liên tục khác

Thiết bị được Công ty Than Quang Hanh-TKV đánh giá vận hành ổn định, chất lượng tốt và đã nhận

chuyển giao sản phẩm vào hoạt động sản xuất Nhiều đề tài nghiên cứu khác của Viện cũng thể hiện

được tầm nhìn tương lai, góp phần tích cực nâng cao năng suất lao động cho ngành Than

Trong khai thác than hầm lò, chúng tôi cũng đặc biệt lưu ý doanh nghiệp đầu tư thích đáng cho

công tác bảo dưỡng - sửa chữa vì đó chính là đầu tư cho tương lai Bảo dưỡng - sửa chữa không

chỉ là việc loại bỏ sự cố, mà còn đảm bảo sự tồn tại, phát triển của doanh nghiệp, là một hạng mục

đầu tư liên tục và lâu dài đảm bảo cho doanh nghiệp đạt được lợi ích về mặt kinh tế

Ngoài việc nghiên cứu các trang thiết bị cho ngành Than, Viện cũng đang đầu tư rất mạnh vào

Trung tâm Thử nghiệm – Kiểm định Công nghiệp, thử nghiệm Không phá hủy (NDT), Hóa học, Cơ

học, Điện – Điện tử, Xây dựng, Giao thông vận tải, kiểm định, giám định, kiểm tra chất lượng các

loại vật liệu, mối hàn, sản phẩm công nghiệp cho các công trình thủy điện, nhiệt điện, nhà ga, sân

bay, đường sắt, cơ khí, đóng tàu, xây dựng, giao thông vận tải, nhà cao tầng trong phạm vi Phòng

thí nghiệm hợp chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005, và Phòng thí nghiệm cung cấp các dịch vụ của

Cục Đăng kiểm Việt Nam; Thử nghiệm Hiệu suất năng lượng cho các sản phẩm điện gia dụng như

điều hòa nhiệt độ, tủ lạnh, ti vi, nồi cơm điện, quạt… trong phạm vi của Phòng thí nghiệm hợp

chuẩn quốc tế ISO/IEC 17025:2005 Đây chính là những đầu tư dài hơi sẽ đảm bảo cho sự phát triển

của Viện trong tương lai

Tin tc - S kin

Ông BẠCH ĐÔNG PHONG Viện trưởng Viện Cơ khí Năng lượng Mỏ:

Nếu không đầu tư

từ bây giờ, tương lai không thể duy trì được năng suất

và chất lượng

Trang 10

NÂNG CAO NHẬN THỨC

CỦA XÃ HỘI VỀ NĂNG

SUẤT CHẤT LƯỢNG

Qua 10 năm triển khai thực hiện,

các hoạt động thông tin, tuyên truyền,

đào tạo, tư vấn về NSCL đã được quan

tâm, đẩy mạnh Thông qua các

phương tiện thông tin đại chúng và hội

nghị, hội thảo đã tác động mạnh mẽ

đến nhận thức của toàn xã hội đối với

vấn đề NSCL Cặp phạm trù “năng

suất, chất lượng” đã xuyên suốt trong

các hoạt động kinh tế xã hội nói chung

và hoạt động sản xuất, kinh doanh nói

riêng Nhận thức trên đã thể hiện trong

các quyết sách của Chính phủ, các Bộ,

ngành, địa phương và doanh nghiệp

Thông qua việc tuyên truyền,

doanh nghiệp ngày càng nhận thức

được vai trò của NSCL, chủ động liên

hệ với các cơ quan, tổ chức về NSCL

để được đào tạo, hỗ trợ áp dụng các

hệ thống quản lý, công cụ cải tiến năng

suất, ứng dụng tiến bộ khoa học công

nghệ vào sản xuất… Nhiều doanh

nghiệp đã chú trọng đến thực hành

NSCL để nâng cao hiệu quả của hoạt

động sản xuất, kinh doanh, năng lực

cạnh tranh của doanh nghiệp Còn

người tiêu dùng, qua các hoạt động

tuyên truyền, ngày càng nhận thức rõ

hơn về chất lượng sản phẩm, hàng hóa

(SPHH), tự bảo vệ quyền lợi của mình

bằng cách lựa chọn các SPHH bảo đảm

tiêu chuẩn chất lượng để sử dụng

Theo đánh giá của Bộ Khoa học vàCông nghệ, thập niên vừa qua đã ghinhận sự chuyển biến có chiều sâu củacác ngành, các cấp từ trung ương đếncác địa phương và của xã hội nóichung về NSCL, đó chính là “chìakhóa” để triển khai có hiệu quả cácgiải pháp nâng cao NSCL trong từng

tổ chức, doanh nghiệp, từng ngành,địa phương Từ nhận thức tới chỉ đạo

và hành động, Thủ tướng Chính phủ

đã phê duyệt Chương trình quốc gia

“Nâng cao năng suất và chất lượngSPHH của doanh nghiệp Việt Nam đếnnăm 2020” với mục tiêu “Tạo bướcchuyển biến rõ rệt về năng suất vàchất lượng của các SPHH chủ lực,nâng cao khả năng cạnh tranh của cácdoanh nghiệp, đóng góp tích cực vào

sự phát triển kinh tế - xã hội của đấtnước” Các bộ, ngành, và hầu hết cácđịa phương đã và đang tích cực triểnkhai thực hiện các dự án nâng caoNSCL các SPHH chủ lực thuộc phạm viquản lý của ngành, địa phương mình

HOÀN CHỈNH HỆ THỐNG PHÁP LUẬT VÀ TRIỂN KHAI PHONG TRÀO NSCL

Trong thập niên qua, công tácpháp chế về lĩnh vực tiêu chuẩn đolường chất lượng (TCĐLCL) đã đạtđược thành tựu lớn, đã xây dựng vàhoàn chỉnh được hệ thống văn bản

pháp luật đầy đủ và đồng bộ từ Luậtcho đến các văn bản hướng dẫn thihành Luật cho cả ba lĩnh vực Tiêuchuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, Đolường và Chất lượng SPHH Hệ thốngpháp luật về lĩnh vực TCĐLCL phù hợpvới điều kiện và luật pháp Việt Nam,đáp ứng các yêu cầu hội nhập quốc tế,

là hành lang pháp lý để quản lý, thúcđẩy các hoạt động nâng cao NSCLtrong thời kỳ hội nhập và phát triểnkinh tế của đất nước

Các bộ, ngành và địa phương đãxây dựng và triển khai các hoạt độngnâng cao NSCL cụ thể theo chủtrương, chỉ đạo của Thủ tướng Chínhphủ, trong khuôn khổ các chươngtrình quốc gia, dự án, đề án liên quanđến NSCL, tạo dựng được phong tràoNSCL trong phạm vi cả nước Doanhnghiệp đã có sự đầu tư nguồn lực cầnthiết cho hoạt động nâng cao NSCL Rút kinh nghiệm từ việc chậm ápdụng các hệ thống, công cụ quản lýmới cũng như các công cụ nâng caoNSCL của thập niên chất lượng lần thứnhất, thập niên vừa qua, trong khuônkhổ của Chương trình quốc gia “Nângcao năng suất và chất lượng sảnphẩm, hàng hóa của doanh nghiệpViệt Nam đến năm 2020”, việc nghiêncứu, lựa chọn, thử nghiệm áp dụngcác hệ thống quản lý, mô hình, công

cụ cải tiến NSCL mới, tiên tiến thíchhợp vào các loại hình doanh nghiệp

Tin tc - S kin

THẬP NIÊN CHẤT LƯỢNG LẦN THỨ HAI:

Thp niên cht lng ln th hai vi ch đ "Nng sut, Cht lng - Chìa khóa phát tri n và h i nhp” đc Lãnh đo Đng, Nhà nc phát đ ng ti H i ngh# Cht lng Vit Nam ln th VI (nm 2005) 10 nm qua, nng sut, cht lng (NSCL) đã và đang tr thành

doanh nghip Vit Nam đã đt đc trong thp niên cht lng v$a qua.

HOÀNG MINH

Năng suất chất lượng

đã xuyên suốt mọi hoạt động kinh tế xã hội

Trang 11

Việt Nam được ưu tiên thực hiện.

Cùng với đó là việc triển khai xây dựng

các mô hình điểm về áp dụng các hệ

thống quản lý, mô hình, công cụ cải

tiến NSCL làm cơ sở nhân rộng cho

cộng đồng doanh nghiệp Hoạt động

chứng nhận áp dụng hệ thống quản lý

theo tiêu chuẩn quốc gia/quốc tế, đã

tăng lên nhiều về cả số lượng tổ chức,

doanh nghiệp và loại hệ thống quản lý

được chứng nhận

Ngoài ra, việc tôn vinh các doanh

nghiệp thông qua Giải thưởng Chất

lượng Việt Nam (nay là Giải thưởng

Chất lượng quốc gia) hàng năm đã

góp phần quan trọng vào hệ thống

các giải pháp thúc đẩy nâng cao năng

suất chất lượng SPHH của doanh

nghiệp Việt Nam trong thập niên chất

lượng vừa qua

công nghệ vào quá trình sản xuất,

kinh doanh là giải pháp quan trọng

trong số các giải pháp tác động trực

tiếp đến nâng cao năng suất chất

lượng Trong 10 năm qua, đã có nhiều

chương trình, dự án từ cấp quốc gia

đến cấp ngành, địa phương được triển

khai với mục tiêu cuối cùng là tạo ra

các SPHH mang nhãn hiệu Việt Nam

có chất lượng cao, đạt mức tương

đương và vượt trội so với các SPHH

cùng loại trên thị trường thế giới

Hàng ngàn doanh nghiệp đã sử dụng

công nghệ nhận dạng và thu thập dữ

liệu tự động bằng mã số mã vạch

trong quản lý sản xuất và kinh doanh

thương mại mang lại hiệu quả thiết

thực trong việc nâng cao năng suất,

chất lượng và giảm các chi phí không

cần thiết

Các doanh nghiệp cũng chú trọng

hoạt động phát triển thương hiệu và

bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nhằm

nâng cao giá trị và tính cạnh tranh của

sản phẩm, từ đó định hướng người

tiêu dùng sử dụng sản phẩm bảo đảm

chất lượng Đồng thời, Bộ Khoa học và

Công nghệ đã ban hành nhiều tiêu

chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật quốc gia

đáp ứng yêu cầu hài hoà với tiêu

chuẩn quốc tế và phát triển mạng lướiđánh phù hợp

Trong khuôn khổ Chương trìnhquốc gia Năng suất Chất lượng đãthực hiện phát triển nguồn nhân lựccho hoạt động năng suất chất lượngthông qua biên soạn các bộ chươngtrình, giáo trình đào tạo cán bộ,chuyên gia tư vấn, giảng viên về tiêuchuẩn hoá, hệ thống quản lý, môhình, công cụ cải tiến NSCL, đào tạođội ngũ hoạt động về NSCL

Thập niên chất lượng lần thứ haiđánh dấu sự đầu tư tăng cường nănglực cho các tổ chức thử nghiệm tại cácTrung tâm Kỹ thuật TCĐLCL tỉnh,thành phố Đến tháng 7/2015, Vănphòng công nhận chất lượng (BOA),

đã công nhận được trên 800 phòng thínghiệm, tổ chức giám định, tổ chứcchứng nhận

VÀ ĐỊNH HƯỚNG 2016-2020

Giai đoạn 2016-2020, Chươngtrình xác định cần tập trung đào tạo,bồi dưỡng kiến thức về NSCL cho độingũ chuyên gia tư vấn thuộc các

ngành, địa phương, doanh nghiệp;Xây dựng các mô hình điểm, điểnhình về cải tiến NSCL tại một số tậpđoàn, tổng công ty, doanh nghiệp lớnthuộc các ngành kinh tế chủ lực; Hỗtrợ doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận

và thực hiện các dự án cải tiến NSCLthích hợp; Tăng cường năng lực củacác tổ chức đánh giá sự phù hợp đạtchuẩn mực quốc tế Đầu tư xây dựngcác phòng thử nghiệm chất lượngsản phẩm, hàng hoá đạt trình độquốc tế, đáp ứng yêu cầu đánh giáphù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹthuật đối với các sản phẩm, hànghoá chủ lực Triển khai hoạt độngthừa nhận lẫn nhau các kết quả đánhgiá sự phù hợp; Xây dựng TCVN chocác SPHH chủ lực và các lĩnh vực liênquan, đảm bảo hoàn thành chỉ tiêu

về số lượng TCVN được xây dựng và

tỷ lệ TCVN hài hòa với tiêu chuẩnquốc tế, tiêu chuẩn khu vực Tích cựctuyên truyền, phổ biến kiến thức vềNSCL; Nghiên cứu, tính toán, định kỳcông bố các chỉ tiêu năng suất ở cáccấp độ nền kinh tế, ngành kinh tế,địa phương 

Tin tc - S kin

KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC CỦA DỰ ÁN

“THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG NĂNG SUẤT CHẤT LƯỢNG”

+ 4.000 lượt người của các tổ chức, doanh nghiệp được phổ biến kiến thức về NSCL;

+ 26 chương trình truyền hình về NSCL, 28 chuyên đề phổ biến kiến thức về NSCL trên VTV2, các chuyên mục, sách, bản tin

+ Biên soạn 15 chương trình, 30 bộ giáo trình đào tạo kiến thức cơ bản về NSCL;

+ Tổ chức hơn 110 khóa đào tạo cho hơn 5.000 học viên; + Tổ chức 15 khóa đào tạo giảng viên NSCL cho 450 lượt cán bộ trở thành giảng viên;

+ Đào tạo nhiều chuyên gia tư vấn trình độ quốc tế;

+ 778 doanh nghiệp hoàn thành xây dựng, áp dụng các HTQL, mô hình, công cụ cải tiến NSCL;

+ 419 doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng áp dụng các HTQL;

+ 359 doanh nghiệp được hỗ trợ xây dựng áp dụng các

mô hình, công cụ cải tiến NSCL tiên tiến.

(Nguồn: Báo cáo Tổng kết thập niên chất lượng lần thứ hai - Bộ KHCN)

Trang 12

đi làm Đến mỏ được ăn tự chọn

với vài chục món cao cấp như tại

khách sạn; quần áo bảo hộ lao

động, dụng cụ lao động có người

phát tận tay Giữa ca có người

mang bồi dưỡng đến tận nơi; cuối

ca ra lò tắm, xông hơi; quần áo trút

ra có người giặt Điều đặc biệt

trong công tác chăm sóc thợ lò là,

nếu thợ lò có ý kiến hợp lý sẽ được

đáp ứng ngay Và quan trọng hơn

cả, tất cả các chi phí trên đều được

đưa vào giá thành sản xuất Theo

tính toán, tới đây, Vinacomin sẽ kết

thúc khai thác tại nhiều khu vực và

đưa mỏ xuống sâu Việc tăng sản

lượng than ngày càng khó khăn do

sản lượng than lộ thiên giảm Hiện

nay TKV chủ yếu khai thác than

hầm lò với tỷ lệ hầm lò trên tổng

số than nguyên khai là gần 65%,tăng tới 20 triệu tấn than hầm lòchỉ trong vài năm Khai thác thanhầm lò xuống mức sâu hơn, đươngnhiên sẽ phải chịu giá thành caohơn như: chi phí thông gió, thoátnước, chi phí đi lại, vận tải than,vật liệu, chi phí điện năng, công tác

an toàn… Tất cả các chi phí trên sẽtăng theo chiều dài của mỗi mét lò

Ngoài ra, hiện nay các doanhnghiệp trên địa bàn Quảng Ninhđang phải chịu áp lực rất lớn vềcông tác an toàn, môi trường vàcông tác xã hội Mỗi năm, toàn Tậpđoàn chi phí hàng ngàn tỷ đồngcho công tác hoàn nguyên môitrường sau khai thác mỏ Nhiềukhu vực dân cư chủ yếu là các giađình thợ mỏ nằm trên địa bàn gầnkhu mỏ cũng được xây dựngđường sá, trồng cây xanh, cảnhquan… và đều được trích trên đầutấn than khai thác Vì vậy, hiện naygiá thành khai thác của nhiều đơn

vị tăng cao Nhưng dường như,những chi phí đó đã là những yếu

GIẢI PHÁP TĂNG NĂNG SUẤT LAO ĐỘNG HIỆN TẠI…

Những năm gần đây, TKV đangchỉ đạo sâu sát đến các đơn vịbằng nhiều giải pháp đồng bộ như:Chú trọng tổ chức sản xuất ở từng

vị trí sản xuất, từng gương lò, từngđơn vị một cách hợp lý, khoa họctheo hướng tăng tỷ lệ lao độngtrực tiếp, giảm lao động gián tiếp

và phụ trợ; quản lý tốt lao độnghiện có, quản lý hiệu quả ngày, giờ

THÚY HÀ

Trang 13

công, tận dụng tối đa thời giờ làm việc

tại gương để tăng năng suất lao động,

nâng cao sản lượng Chẳng hạn, các

gương khấu lò chợ phải bố trí tối đa

các cặp khấu theo công nghệ để nâng

cao năng suất tại gương, việc tổ chức

sản xuất phải khoa học và thực sự hợp

lý; các gương đào lò phải bố trí đủ lao

động, không để tình trạng thiếu hoặc

thừa ảnh hưởng đến năng suất lao

động Từng tổ đội, phân xưởng của

các đơn vị cũng quan tâm đến việc

đào tạo được các cặp thợ, nhóm thợ,

đội thợ đa năng sẵn sàng đảm nhận

giải quyết các công việc tại các vị trí

khó khăn, các diện, các công trình

trọng điểm nhằm đẩy mạnh sản xuất

tăng năng suất lao động… Cùng với

đó, TKV duy trì, đẩy mạnh việc bồi

dưỡng, nâng cao năng lực chỉ đạo của

các phó quản đốc, lò trưởng, gương

trưởng; quản lý tốt công tác kỹ thuật

cơ bản, vệ sinh công nghiệp; nghiệm

thu sản phẩm phải đảm bảo chất

lượng tránh việc làm đi sửa lại ảnh

hưởng đến năng suất lao động

Về cơ chế tiền lương, TKV khoán

cả quỹ lương đối với bộ máy quản lý,

phòng ban, các đơn vị không làm ra

sản phẩm Các đơn vị phải giao khoán

tiền lương cho từng phòng ban, phân

xưởng trên cơ sở định biên lao độngtừng đơn vị, nếu tiết kiệm được laođộng thì được hưởng nguyên tổng tiềnlương khoán Đối với các đơn vị sảnxuất chính làm ra sản phẩm, đơn vịxây dựng hệ thống định mức lao độngphù hợp với điều kiện thực tế để cácđơn vị phát huy hết khả năng đạtnăng suất lao động cao nhất…

… VÀ DÀI HƠI

Mục tiêu phát triển giai đoạn2016-2020 của TKV đặt ra là: Pháttriển Tập đoàn Công nghiệp Than -Khoáng sản Việt Nam trở thành Tậpđoàn kinh tế vững mạnh, góp phầnđảm bảo an ninh năng lượng quốcgia; từng bước nâng cao năng lựccạnh tranh của Tập đoàn Càng ngày,việc khai thác than càng khó khănhơn rất nhiều Để những năm tiếp sauTập đoàn đảm bảo được sản lượngkhai thác, hơn bao giờ hết, công tácđầu tư cho KHCN, nâng cao năng suấtlao động là việc làm quan trọng vàkhôn ngoan Để hoàn thành được "sứmệnh" của mình, TKV đưa ra nhiềugiải pháp dài hơi như: Tiếp tục đẩymạnh đầu tư xây dựng, đầu tư pháttriển khoa học, đổi mới công nghệ,

hiện đại hóa các cơ sở sản xuất, nângcao mức độ an toàn, bảo vệ môitrường, đảm bảo tiến độ các dự ánquyết định tăng trưởng của Tập đoàntrong các lĩnh vực để hoàn thành kếhoạch giai đoạn 2015-2020 và địnhhướng phát triển đến năm 2030.Trước hết tập trung ưu tiên đẩy mạnhcác dự án khai thác mỏ than hầm lò.Đổi mới quản trị doanh nghiệp, ápdụng phương pháp quản trị hiện đại;luôn tạo ra và duy trì động lực pháttriển; mở rộng quan hệ quốc tế; pháttriển thị trường, duy trì và nâng caosức cạnh tranh của sản phẩm, củadoanh nghiệp Trong đó xác địnhnâng cao năng suất lao động, đổi mớicông nghệ, nâng cao chất lượng độingũ CBCN Mỏ là những nhiệm vụtrọng tâm Không ngừng đổi mới,hoàn thiện tổ chức sản xuất; pháttriển nguồn nhân lực lành nghề, thạoviệc, trung thành; tăng cường dânchủ, giữ vững đoàn kết tạo ra sứcmạnh tổng hợp, cải thiện điều kiệnlàm việc, thu nhập cho người laođộng, đặc biệt là đội ngũ thợ lò

Ngoài ra, Vinacomin cũng quantâm nghiên cứu và áp dụng các giảipháp kỹ thuật để giảm tổn thất thantrong khai thác Việc làm này khôngnhững có ý nghĩa bảo vệ và tiết kiệmtài nguyên, mà còn đem lại nhữnghiệu quả kinh tế to lớn Trước đây, tìnhtrạng tổn thất than trong khai thác các

mỏ hầm lò lên tới 40-50% Thậm chí

có những mỏ cao hơn do điều kiện địachất phức tạp không thể khai thácđược Đối với các vỉa mỏng, dốc cóđiều kiện địa chất phức tạp (góc dốcvỉa lớn, biến động, đá vách khó sậpđổ), nhiều mỏ chưa huy động phần tàinguyên này vào khai thác hoặc có huyđộng nhưng hiệu quả khai thác thấp,chủ yếu khai thác bằng phương phápđào lò lấy than có chi phí giá thànhkhai thác lớn, tỷ lệ tổn thất than cao.Nguyên nhân chủ yếu do hiệu quảkhai thác không cao (so với các vỉadày) và đặc biệt chưa lựa chọn đượccông nghệ khai thác phù hợp Tuynhiên, cùng với việc đầu tư công nghệmới trong đào lò, con số tổn thất hiệnnay chỉ là trên 27-31% và TKV đangphấn đấu ở mức dưới 20% trongtương lai… 

Tin tc - S kin

Trang 14

PHÁT HUY SÁNG KIẾN,

CẢI TIẾN KỸ THUẬT

Hàng năm, ngoài việc tích cực

tham gia các chương trình KHCN của

Nhà nước, Tập đoàn Hóa chất và các

đơn vị thành viên luôn chủ động triển

khai mạnh mẽ các chương trình mục

tiêu quốc gia về KHCN, như: Sản xuất

sạch hơn; sử dụng năng lượng tiết

kiệm hiệu quả; bảo vệ môi trường; an

toàn vệ sinh lao động Những hoạt

động này tác động lan tỏa sâu rộng,

ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động

của nhiều doanh nghiệp trong Ngành

Nhiều công trình KHCN tiêu biểu đã

giành giải thưởng Sáng tạo KHCN Việt

Nam (VIFOTEC), như: Công trình

“Nghiên cứu công nghệ sản xuất

thuốc tập hợp hữu cơ để tuyển nổi

quặng apatit loại III Lào Cai” và “Ứng

dụng công nghệ sản xuất thuốc tuyển

quặng apatit loại III Lào Cai trên cơ sở

oxy hoá parafin” của Viện Hoá học

Công nghiệp Việt Nam; công trình

“Sản xuất zeolite 4A chuyên dùng cho

chất tẩy rửa” của Công ty CP Phân

bón và Hóa chất Cần Thơ đoạt giải

Nhất VIFOTEC năm 2012 có tính sáng

tạo và khoa học cao, hiện đang được

áp dụng vào sản xuất, mang lại hiệuquả kinh tế cao

Từ kết quả của các công trìnhgiành giải VIFOTEC và những đòi hỏitrong thực tế sản xuất tại các đơn

vị, phong trào sáng kiến cải tiến,hợp lý hoá sản xuất ngày càng pháttriển mạnh mẽ Mỗi năm, Tập đoàn

có khoảng 1.000 sáng kiến cải tiến,hợp lý hóa sản xuất được côngnhận; giá trị làm lợi lên đến hàngtrăm tỷ đồng Từ năm 2009 đến nay,

có 335 lượt người lao động tại cácdoanh nghiệp trong Tập đoàn đượcvinh dự nhận Bằng “Lao động sángtạo” Nổi bật trong phong trào này

là các đơn vị: Công ty TNHH MTVPhân đạm và Hóa chất Hà Bắc, Công

ty CP Phân lân nung chảy Văn Điển,Công ty TNHH MTV Apatit Việt Nam,Công ty CP Supe phốt phát và Hóachất Lâm Thao…

SẢN PHẨM THÂN THIỆN MÔI TRƯỜNG

Các công trình KHCN môi trườngcủa các doanh nghiệp đã và đang góp

phần quan trọng vào hoạt động sảnxuất kinh doanh của đơn vị, đồng thờitạo ra nhiều sản phẩm mới chất lượng,

có tính cạnh tranh cao Điển hình là tạiCông ty CP Supe phốt phát và Hoáchất Lâm Thao: Công trình chuyển đổicông nghệ sản xuất axit sunphuric làmtăng hiệu quả sản xuất, giảm định mứctiêu hao nguyên liệu, đặc biệt là giảmthiểu ô nhiễm khí thải công nghiệpxuống dưới mức cho phép; hay quytrình công nghệ sử dụng quặng apatittuyển ẩm không qua sấy đã đoạt giải

Ba VIFOTEC năm 2007 và Giải Vàng tạiTriển lãm sáng tạo Quốc tế Seoul - HànQuốc năm 2008

Công ty CP Phân lân nung chảyVăn Điển đã chuyển đổi từ côngnghệ chạy bằng than cok nhập ngoạisang chạy thành công bằng thanVàng Danh nội địa; từ chỗ sử dụngnguyên liệu quặng apatit loại 1 cóhàm lượng P2O5≥ 32% để sản xuất

ra phân bón có hàm lượng 13,5-15%sang chạy bằng quặng loại 2 có hàmlượng P2O522-23%, nhưng sản xuất

ra các loại sản phẩm đạt tiêu chuẩnxuất khẩu

NGÀNH HÓA CHẤT:

Phát tri n khoa hc và công ngh (KHCN) là m t

gii pháp mang tính chin lc giúp doanh nghip

nay ca Tp đoàn Hóa cht Vit Nam chính là nh

viên đã kiên trì theo đu3i chin lc đu t cho KHCN,

đ3i mi máy móc, công ngh, giúp doanh nghip

nâng cao cht lng sn ph+m, tng tính cnh tranh

trên th# trng và góp phn bo v môi trng, ci

thin đi u kin làm vic ca ngi lao đ ng

Trang 15

Công ty Phân đạm và Hoá chất Hà

Bắc liên tục nghiên cứu chiều sâu đưa

ra các giải pháp nâng cao chất lượng

sản phẩm, sản xuất sạch hơn, tiết

kiệm năng lượng, như: đề tài nâng

cao hiệu quả công đoạn khí hoá than

cục; hiệu chỉnh lò hơi xưởng Nhiệt;

đầu tư hệ thống chưng nước

NH3/669; thu gom toàn bộ nước thải

có NH3; cải tạo nâng cấp toàn bộ hệ

thống hồ môi trường

Công ty CP Phân bón Bình Điền

tập trung nghiên cứu các sản phẩm

phân bón phục vụ từng vùng chuyên

biệt Lĩnh vực sản xuất phân lân nung

chảy có những nghiên cứu giảm định

mức tiêu hao than, điện tại cửa lò; cải

tạo hệ thống xử lý khí thải, nước thải…

Công ty TNHH MTV Apatit Việt

Nam nghiên cứu nâng cao hiệu quả

tuyển nổi quặng Apatit loại III và

thăm dò tuyển quặng apatit loại II

Các đơn vị ngành Cao su cũng có

nhiều công trình KHCN môi trường

mang lại hiệu quả cao Công ty CP

Cao su miền Nam cải tiến khả năng

kháng lão hóa nhiệt của lốp ô tô,

nâng cao kết quả lý trình từ 75 giờ

lên 120 giờ; thay thế dầu aromatic

trong các đơn pha chế cho sản phẩm

xuất sang châu Âu; chuyển đổi sản

xuất săm ô tô bằng cao su butyl sang

cao su chlorobutyl; cải tiến chất

lượng lốp ô tô mành chéo thích hợp

cho sử dụng đường dài Công ty CP

Cao su Đà Nẵng sản xuất thử nghiệm

thành công nhiều loại lốp xe tải đặcchủng cỡ lớn cho ngành khai thácmỏ; lắp đặt và đưa vào vận hành ổnđịnh hệ thống xử lý khói lò hơi đảmbảo đạt tiêu chuẩn về môi trường

Công ty CP Cao su Sao Vàng hoànthiện công nghệ sản xuất đồng bộsăm lốp máy bay SU 22; nghiên cứuchế tạo lốp máy bay bơm hơi khôngsăm; sử dụng oxit kẽm trong nước

để sản xuất lốp ô tô… Trong lĩnh vựcthuốc bảo vệ thực vật, Công ty CPThuốc sát trùng Việt Nam thành lậpTrung tâm nghiên cứu triển khai vềthuốc BVTV, và đã nghiên cứu thànhcông các công thức gia công thuốcBVTV, áp dụng vào sản xuất các sảnphẩm dạng huyền phù đậm đặc, nhũtương trong nước EW và dạng sảnphẩm hạt phân tán trong nước dùngchất mang là khoáng tự nhiên

ĐẦU TƯ CHIỀU SÂU, ĐỔI MỚI CÔNG NGHỆ

Trong giai đoạn tới, công tácKHCN của Tập đoàn sẽ có bước thayđổi về mục tiêu hoạt động, tập trungvào các nhóm sản phẩm chính; đầu

tư theo chiều sâu, đổi mới công nghệthiết bị để nâng cao năng lực sảnxuất, chất lượng sản phẩm, giảm tiêuhao nguyên nhiên vật liệu Các đơn vịtiếp tục nghiên cứu đa dạng hoá sảnphẩm, nâng cao chất lượng; triển khaiđưa vào sản xuất thêm nhiều loại chấttẩy rửa an toàn với người sử dụng và

môi trường; thu hồi và xử lý triệt đểthành phần florua trong nước thải vàkhí thải các nhà máy phân lân; nângcao năng lực quản lý chất thải nguyhại và chất thải công nghiệp; kiểmsoát và hạn chế phát thải khí nhàkính Các dự án đầu tư mới sẽ lựachọn công nghệ tiên tiến, có hiệu quả,

dễ làm chủ công nghệ và thiết bị đểchủ động trong sản xuất và phát triển

mở rộng

Nhìn lại những năm qua, ngànhHóa chất khi mới sơ khai, người laođộng vẫn chủ yếu làm thủ công, năngsuất lao động thấp và đặc biệt gầnnhư không biết đến ngày nghỉ Nhưngcùng với nỗ lực đầu tư cho khoa học,đổi mới công nghệ, phát huy sángkiến cải tiến, ngày nay, người lao động

đã được làm việc trong môi trường antoàn hơn, năng suất chất lượng đềunâng cao, các doanh nghiệp đều đảmbảo thời gian làm việc, thời gian nghỉngơi của người lao động Cuộc sốngcủa người lao động được nâng cao cả

Tin tc - S kin

Ngày 28/8/2015, Bộ Tài chính ban hành Thông tư

132/2015/TT-BTC hướng dẫn cơ chế quản lý tài

chính đối với Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam (Quỹ

BVMTVN)

Theo đó, việc bảo đảm an toàn vốn được thực hiện

như sau:

- Quỹ BVMTVN có trách nhiệm thực hiện các quy

định về bảo đảm an toàn vốn hoạt động, gồm:

+ Quản lý, sử dụng vốn đúng mục đích, có hiệu

quả;

+ Mua bảo hiểm tài sản và các bảo hiểm khác theo

quy định của pháp luật;

+ Trích lập quỹ dự phòng rủi ro đối với hoạt

động cho vay theo quy định về hướng dẫn hoạtđộng nghiệp vụ của Quỹ;

+ Thực hiện các biện pháp khác về đảm bảo antoàn vốn theo quy định của pháp luật

- Nghiêm cấm Quỹ BVMTVN:

+ Huy động vốn dưới hình thức nhận tiền gửi, pháthành kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu, vay thương mạicủa các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước;

+ Sử dụng nguồn vốn hoạt động để thực hiện cácmục đích kinh doanh tiền tệ, đầu tư chứng khoán, kinhdoanh bất động sản và các hoạt động kinh doanhkhông được phép khác

Thông tư 132/2015/TT-BTC có hiệu lực thi hành từngày 01/01/2016 

Bảo đảm an toàn vốn Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam

Trang 16

VINAMILK LUÔN TIÊN

PHONG

Một trong những doanh nghiệp đi

đầu trong ứng dụng khoa học công

nghệ là Công ty Vinamilk Công ty hiện

có 13 nhà máy sản xuất và 07 trang

trại chăn nuôi nằm trên địa bàn khắp

cả nước Để góp phần thực hiện định

hướng phát triển, ngành chế biến thực

phẩm giai đoạn 2010-2015, tầm nhìn

đến 2020 của Bộ Công Thương, từng

bước nâng cao năng lực cạnh tranh để

chủ động hội nhập với khu vực và thế

giới, Vinamilk quyết tâm đẩy mạnh

nghiên cứu khoa học, áp dụng các tiến

bộ khoa học kỹ thuật mới vào sản

xuất, cải tiến mẫu mã, bao bì, nhằm

tăng chủng loại, chất lượng và khả

năng cạnh tranh của sản phẩm Bên

cạnh đó, Công ty tiếp tục thực hiện hệ

thống quản lý chất lượng theo tiêu

chuẩn ISO và HACCP để đưa Công ty

thành một doanh nghiệp hoạt động

theo chuẩn quản trị hiện đại

Hơn bao giờ hết, trên lĩnh vực chế

biến thực phẩm, tiêu chuẩn vệ sinh an

toàn phải được đặt lên hàng đầu, vì

vậy đầu tư trang thiết bị, công nghệ

hiện đại là một yếu tố mà Vinamilk rất

coi trọng để khẳng định chất lượng và

thương hiệu Trong giai đoạn gần đây,

Công ty đã đầu tư hơn 6.500 tỉ đồng

từ nguồn vốn tự có để hiện đại hóa

máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất

Nhiều dây chuyền tinh chế hiện đại

xuất xứ từ các nước công nghiệp tiên

tiến như Mỹ, Đan Mạch, Ý, Đức, Hà

Lan được lắp đặt, do các chuyên gia

hàng đầu thế giới hướng dẫn vận

hành và chuyển giao công nghệ như,

hệ thống sấy phun của Đan Mạch (làdoanh nghiệp duy nhất của Việt Nam

sở hữu hệ thống máy móc này), cácdây chuyền sản xuất đạt chuẩn quốc

tế do Tetra Pak cung cấp để cho ranhiều chủng loại sản phẩm sữa chấtlượng cao, được các tổ chức kiểm địnhquốc tế xác nhận như: sữa đặc cóđường, sữa đậu nành, sữa chua, sữabột Dielac… Các sản phẩm đã đượcxuất khẩu sang Mỹ, Úc, Nam Phi,Trung Đông và nhiều nước châu Á

Việc đầu tư phát triển xây dựng

mở mang cơ sở vật chấtcòn được Công tyVinamilk hiện thực hóabằng việc đã hoàn thànhđưa nhà máy tại ĐàNẵng với vốn đầu tư 30triệu USD vào hoạt độngvới hai mặt hàng là sữachua và sữa nước Năm

2013, Công ty đã khánhthành, đưa vào hoạtđộng 2 nhà máy lớn là:

Nhà máy Sữa nước tạiBình Dương với vốn đầu

tư là 2.300 tỷ đồng (côngsuất ban đầu là 400 triệulít mỗi năm, giai đoạn 2

là 800 triệu lít), và Nhàmáy sữa bột cho trẻ emvới công suất 55.000tấn/năm với vốn đầu tưtrên 1.750 tỷ đồng

ĐI TẮT ĐÓN ĐẦU

Không chỉ Vinamilk,các nhà máy trong ngànhsữa những năm qua

không ngừng được đầu tư, nâng cấpvới hệ thống dây chuyền thiết bị đồng

bộ, khép kín, tự động hóa từ khâunguyên liệu cho tới khâu thành phẩm,

áp dụng công nghệ tiên tiến của cáchãng có uy tín lớn về công nghiệp chếbiến sữa trên thế giới như: Tetra Pak,Delaval (Thụy Điển); APV (Đan Mạch);DEA, Benco Pak (Italia); Combibloc(Đức), sản phẩm sản xuất ra có chấtlượng ổn định và đạt chỉ tiêu về antoàn thực phẩm

Các doanh nghiệp trong ngành đã

Tin tc - S kin

Cuộc cách mạng khoa học

công nghệ của ngành Sữa

ngh vi qui mô hoàn ch*nh, hin đi đ “đi t4t đón đu”.

HỒNG HẢI

Trang 17

xây dựng hệ thống quản lý chất lượng theo

tiêu chuẩn ISO 9001- 2008 Hiện đa số các

doanh nghiệp đã và đang triển khai hệ

thống quản lý chất lượng an toàn thực phẩm

theo ISO 22000

Cùng với các dự án đầu tư trong nước,

các doanh nghiệp trong ngành cũng mở

rộng đầu tư ra nước ngoài, điển hình là

Vinamilk với các dự án: đầu tư tại Công ty

Miraka Limited tại New Zealand với 19,3%

vốn cổ phần (năm 2010); đầu tư vào Hoa

Kỳ bằng cách góp vốn 7 triệu USD và nắm

giữ 70% vốn chủ sở hữu của Công ty

Driftwood Dairy Holding Corporation (tháng

12/2013); hợp tác với đối tác Campuchia

Angkor Dairy xây dựng Nhà máy Chế biến

các sản phẩm sữa (đầu năm 2014); thành

lập công ty con có vốn điều lệ 3 triệu USD tại

Ba Lan (tháng 5/2014) để buôn bán động

vật sống, nguyên liệu sản xuất sữa, sữa, các

chế phẩm từ sữa, thực phẩm và đồ uống

Một mục tiêu quan trọng nữa mà ngành

Sữa Việt Nam đang tích cực hướng tới là tiêu

chuẩn hóa chất lượng sữa Theo Ủy ban

Tiêu chuẩn thực phẩm Việt Nam (Codex Việt

Nam), hiện nay, các sản phẩm sữa trước khi

đưa ra thị trường đều phải được Cục An

toàn thực phẩm (Bộ Y tế) xem xét và cấp

phép Chất lượng của các sản phẩm được

Cục An toàn thực phẩm xem xét và quản lý

thông qua hệ thống Quy chuẩn Việt Nam

(QCVN) Các quy chuẩn này được xây dựng

tương đối phù hợp dựa trên các tiêu chuẩn

tương ứng của Ủy ban Codex, đưa Việt Nam

hội nhập với quốc tế Những quy chuẩn này

hiện đang được các doanh nghiệp trên thị

trường áp dụng và phù hợp với tình hình sản

xuất, kinh doanh hiện tại

Chất lượng của các sản phẩm sữa ở Việt

Nam được cơ quan quản lý kiểm soát quản

lý thông qua hệ thống Tiêu chuẩn và Quy

chuẩn Việt Nam, ban hành năm 2010 Trước

khi ban hành hệ thống Tiêu chuẩn và Quy

chuẩn này, cơ quan soạn thảo đã lấy ý kiến

rộng rãi các bộ, ngành, các tổ chức quốc tế,

hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức hội thảo tại

VCCI Thời điểm đó, cơ quan soạn thảo

cũng phối hợp chặt chẽ với Ủy ban Codex

Việt Nam để phù hợp với Việt Nam và quốc

tế Thêm vào đó, trước khi ban hành còn

gửi sang Bộ KHCN để thẩm định xem có

phù hợp với điều kiện Việt Nam hay không

Mục đích hướng tới là Tiêu chuẩn và Quy

chuẩn sữa Việt Nam phải phù hợp với tiêu

chuẩn thế giới, nhằm hài hòa lợi ích của

người dân chăn nuôi, của người tiêu dùng

và nhà sản xuất 

Tin tc - S kin

Theo hướng dẫn của cơ quan Năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA),

tiến trình chuẩn bị đến khi đưa tổ máy đầu tiên vào vận hành trảiqua 3 giai đoạn Giai đoạn 1 đánh dấu bằng cột mốc tháng11/2009, khi Quốc hội thông qua chủ trương đầu tư dự án ĐHN NinhThuận Hiện nay đang ở giai đoạn thứ 2, tiếp tục chuẩn bị những điềukiện cần thiết để có thể kí hợp đồng xây dựng nhà máy ĐHN đầu tiên.Giai đoạn 3 là thực hiện hợp đồng triển khai công tác xây dựng lắp đặt

và đưa vào vận hành

Dự án Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 1, công suất khoảng 2.000MW baogồm 02 tổ máy, đặt tại xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, tỉnh NinhThuận Dự án đầu tư Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2, công suất khoảng2.000MW bao gồm 02 tổ máy, đặt tại xã Vĩnh Hải, huyện Ninh Hải, tỉnhNinh Thuận Công nghệ chính trong hai nhà máy này là lò nước nhẹ cảitiến Đây là thế hệ lò từ thứ ba trở lên, đã được kiểm chứng, đảm bảotuyệt đối an toàn và hiệu quả kinh tế tại thời điểm lập dự án đầu tư

Về công tác di dân tái định cư, trước mắt dự án Nhà máy ĐHN NinhThuận 1 là 477 hộ/2.084 nhân khẩu, bố trí một điểm tái định cư tại thôn

Từ Thiện, xã Phước Dinh, huyện Thuận Nam, với diện tích 43,67 ha Còntại khu tái định cư Nhà máy ĐHN Ninh Thuận 2, xây dựng cơ sở hạ tầngkhu tái định cư tập trung, xây dựng hạ tầng chỉnh trang khu dân cư hiệnhữu, xây dựng khu nghĩa trang, hệ thống cấp nước phục vụ khu tái định

cư, xây dựng khu tái định canh Tổng mức đầu tư Dự án là 3.235,526 tỷđồng, nguồn vốn do EVN cấp theo kế hoạch sử dụng sau khi thống nhấtvới UBND tỉnh Ninh Thuận

Theo ông Hoàng Anh Tuấn – Cục trưởng Cục Năng lượng nguyên tử,

Phát triển theo hướng

THÁI LINH

ĐIỆN HẠT NHÂN NINH THUẬN:

Trang 18

Bộ KH&CN, đối với Việt Nam, đây là

dự án ĐHN đầu tiên, nên chúng ta

chưa thể có ngay đội ngũ chuyên gia

và cán bộ, cũng chưa thể có ngay

được hệ thống pháp lý và các hạ tầng

kĩ thuật khác một cách đồng bộ và

hoàn chỉnh Và chúng ta cần thời gian

để làm được những việc đó, chuẩn bị

cho tương lai vận hành nhà máy được

thuận lợi, đảm bảo hiệu quả kinh tế

và an toàn tuyệt đối

Về mảng nhân lực, EVN có dự án

riêng và phát triển nhân lực qua hai

nhà máy Ninh Thuận đã được phê

duyệt Đã có 353 sinh viên của Việt

Nam đang theo học tại cơ sở đào tạo

của Nga Tốp sinh viên đầu tiên đã

tốt nghiệp vào cuối năm 2006 “Hiện

tại đã có thêm 14 sinh viên tốt

nghiệp trường Năng lượng Mátxcơva

Liên bang Nga, và một sinh viên tốt

nghiệp chuyên ngành ĐHN tại Pháp

về làm việc tại dự án, nhóm 15 cán

bộ nòng cốt đợt 1 cho Nhà máy ĐHNNinh Thuận 2 đã hoàn thành khóahọc 2 năm tại Nhật Bản”, ông PhanMinh Tuấn - Phó Trưởng Ban quản lý

Dự án ĐHN Ninh Thuận cho biết

Ngoài ra, công tác đào tạo cán bộcủa chúng ta đã tận dụng được rất tốt

sự giúp đỡ của IAEA và các tổ chứcquốc tế trong việc đào tạo các cán bộtham gia quản lý, tham gia công tácnghiên cứu và hỗ trợ kĩ thuật

Trong khuôn khổ Dự án hợp tác

kỹ thuật của IAEA về Phát triển cơ sở

hạ tầng ĐHN do Bộ KH&CN chủ trì,thời gian qua IAEA đã hợp tác, giúp

đỡ EVN trong việc góp ý Điều khoảntham chiếu dịch vụ tư vấn lập Hồ sơphê duyệt địa điểm và Báo cáonghiên cứu khả thi Dự án Nhà máyĐHN Ninh Thuận; Phối hợp với CụcNăng lượng nguyên tử, EVN tổ chứccác hội thảo, tập huấn về ĐHN chocác cán bộ EVN

Bên cạnh đó, EVN cũng đã phốihợp với IAEA tổ chức Hội thảo quốc tế

về Quản lý các dự án Nhà máy ĐHNvới các đại biểu quốc tế đến từ 16quốc gia khác nhau Tổ chức và tài trợmột số chuyến tham quan học tập tạinước ngoài cho cán bộ, chuyên viêncủa EVN về một số lĩnh vực liên quanĐHN Cung cấp học bổng nâng caotrình độ cho cán bộ, kỹ sư của EVN tạinước ngoài

Đánh giá về tương lai của ĐHN ởViệt Nam, ông Hoàng Anh Tuấn chorằng, bất kì một đất nước nào làmĐHN đều cần phải có những nguyêntắc lấy an toàn là số 1, lấy hiệu quả

là hướng phấn đấu Cốt lõi của làmĐHN là đảm bảo an ninh năng lượngquốc gia Tương lai của ĐHN ở ViệtNam đồng bộ với tương lai chungtrong phát triển ĐHN trên thế giới,phát triển theo hướng dài hạn vàchắc chắn 

Tin tc - S kin

Ảnh minh họa: Phối cảnh nhà máy Điện hạt nhân

Trang 19

Tin tc - S kin

Trong nhiều năm qua, khoa học và

công nghệ đã mang đến cho

ngành công nghiệp Thuốc lá Việt

Nam một bộ mặt mới khác hẳn so với

vài thập niên trước đây Những vùng

trồng cây thuốc lá gắn với công nghiệp

chế biến phát triển, ngành Thuốc lá tự

chủ được nguồn nguyên liệu và làm nên

các thương hiệu thuốc lá Việt được

người tiêu dùng trong nước ưa chuộng

và tin cậy

NHIỀU SẢN PHẨM MỚI

Ông Nguyễn Đình Trường – Viện

trưởng Viện Kinh tế Kỹ thuật Thuốc lá

cho biết, việc đẩy mạnh đầu tư cho

khoa học công nghệ (KHCN) đã tạo ra

nhiều sản phẩm mới nâng cao năng

suất, chất lượng sản phẩm, làm tăng

thu nhập của người dân vùng trồng

thuốc lá, góp phần phát triển kinh tế

-xã hội địa phương

Thấy rõ nhu cầu thiết yếu phải đầu

tư, tạo ra nhiều sản phẩm KHCN có tính

ứng dụng cao, những năm qua Viện đã

không ngừng nghiên cứu chọn tạo ra

nhiều giống thuốc lá mới có năng suất

cao, chất lượng tốt, có tính thích nghi

cao Thông qua các mô hình khảo

nghiệm, Viện đã khuyến cáo cho người

nông dân chọn giống thích hợp cho

vùng Việc gieo trồng các giống thuốc

lá mới đã nâng cao năng suất so với

giống cũ tối thiểu 10% Nhờ vậy trong

5 năm qua trên 6.600 tấn nguyên liệu

được tăng thêm, thu nhập của người

nông dân trồng thuốc lá cũng tăng ít

nhất 280 tỷ đồng Đây là con số rất ý

nghĩa khi cây thuốc lá chủ yếu được

trồng tại các tỉnh miền núi, nơi điều

kiện sống còn rất nhiều khó khăn

Để hạn chế xuống màu thuốc lá

nguyên liệu sau sấy và cũng nhằm tăng

cao năng suất, chất lượng sản phẩm,

Viện đã nghiên cứu chế độ dinh dưỡng

cho các vùng đất bạc màu, sau đó sản

xuất và cung ứng hàng nghìn tấn phân

bón hỗn hợp chuyên dùng cho thuốc lá

Hàng năm, Viện theo dõi diễn biến sâu

bệnh hại tại các vùng trồng thuốc lá trên

cả nước và định kỳ 2 lần/tháng để đưa

ra dự báo về sâu bệnh hại và khuyến cáo

các biện pháp phòng trừ, hạn chế đáng

kể mức độ thiệt hại do dịch hại gây ra

Bằng việc xây dựng các mô hìnhsản xuất phù hợp cho mỗi giống tại mỗivùng, các cán bộ kỹ thuật của Viện còn

tổ chức các buổi tập huấn cho ngườitrồng thuốc lá về các khâu kỹ thuậtchính từ sản xuất cây con đến kỹ thuậttrồng trọt và hái sấy Mỗi năm cókhoảng 1.000 lượt nông dân được tậphuấn kỹ thuật, qua đó nâng cao kỹnăng thực hiện các khâu trong quytrình kỹ thuật sản xuất nguyên liệuthuốc lá Ngoài ra, Viện còn phối hợpvới Tổng cục Dạy nghề tổ chức đào tạonghề trồng cây thuốc lá với những kỹthuật tiên tiến cho khoảng 300-400người/năm Qua đó, bà con nông dânvùng trồng ngày càng nắm vững kỹthuật sản xuất thuốc lá mới và áp dụngnhững tiến bộ kỹ thuật vào thực tiễnsản xuất, không ngừng nâng cao năngsuất chất lượng thuốc lá nguyên liệu,tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất

CÔNG NGHỆ MỚI

Sự phát triển KHCN ngành Thuốc lákhông thể không kể đến sự quan tâmcủa Bộ Công Thương, Tổng công tyThuốc lá Việt Nam, đã không ngừngđầu tư cho nghiên cứu khoa học và ứngdụng những kết quả công nghệ mớitrong các lĩnh vực sản xuất thuốc lá

Nhiều kết quả nghiên cứu về cải tiến quitrình kỹ thuật trồng cây thuốc lá, quitrình sấy kết hợp áp dụng cải tạo hệthống lò sấy mới theo hướng tiết kiệmnăng lượng, tăng công suất sấy, bảo vệmôi trường và cải thiện chất lượngnguyên liệu Nhờ áp dụng đồng bộ cácgiải pháp kỹ thuật, năng suất cây thuốc

có độ thấu khí cao và sử dụng các loạiđầu lọc có khả năng hấp phụ cao đã tạo

ra những sản phẩm thuốc lá điếu có tính

ưu việt vượt trội so với các loại sản phẩmthuốc lá điếu sản xuất theo phươngpháp truyền thống trước đây Có thể nói,đây chính là nhân tố cơ bản tạo bướcphát triển đột phá trong ngành côngnghiệp thuốc lá để sản xuất ra sản phẩmthuốc lá điếu có hàm lượng nicotin vàhàm lượng nhựa (Tar) thấp, giảm thiểuđộc hại cho người tiêu dùng

Theo ông Nguyễn Đình Trường, đểhoạt động sản xuất kinh doanh ngànhthuốc lá đạt kết quả cao hơn thì cần phảitiếp tục đầu tư các nguồn lực cho nghiêncứu khoa học trong việc tạo ra các sảnphẩm có hàm lượng chất xám cao, giảmthiểu độc hại cho người tiêu dùng, đặcbiệt là tạo ra các sản phẩm khoa học cótính khác biệt như hạt giống thuốc lá lai

có năng suất, chất lượng cao và khảnăng kháng hại chính, một số đối tượngsâu bệnh Trong thời gian tới, Viện tiếptục hoạt động theo mô hình doanhnghiệp KHCN, phấn đấu thực hiện ítnhất 16 nhiệm vụ KHCN/năm

“Chúng tôi xác định cần tập trungthực hiện ít nhất 16 đề tài các cấp hàngnăm, trong đó có ít nhất 80% số lượng

đề tài ứng dụng, có địa chỉ ứng dụng

cụ thể và khả năng ứng dụng cao, sảnxuất thuốc lá nguyên liệu có tính khácbiệt về chất lượng và năng suất so vớicác sản phẩm của các đơn vị cùng kinhdoanh” Ông Trường khẳng định 

KHOA HỌC CÔNG NGHỆ

Đồng hành cùng người trồng thuốc lá

THANH NGA

Ch* tính riêng trong 5 nm 2011-2015, Vin Kinh

tri n khai thc hin 134 nhim v KHCN các cp, nhi u kt qu nghiên cu

đã đa vào sn xut góp phn nâng cao nng

và hiu qu kinh t cho ngi sn xut.

Trang 20

TRIỂN KHAI CÓ HIỆU

QUẢ CÁC CHƯƠNG

TRÌNH, DỰ ÁN KH&CN

TRỌNG ĐIỂM

Thực hiện chương trình hỗ trợ

doanh nghiệp đầu tư vào hoạt

động KH&CN trong 3 năm

(2011-2013), tỉnh Bình Dương đã hỗ trợ

14 doanh nghiệp tiếp nhận

chuyển giao, cải tiến quy trình kỹ

thuật công nghệ, chế tạo trang

thiết bị mới để sản xuất sản phẩm

mới, xử lý ô nhiễm môi trường

trong các ngành chế biến gỗ,

thực phẩm, dược phẩm, sơn,

chăn nuôi

Trong lĩnh vực nông nghiệp,

ngoài các dự án tham gia chương

trình hỗ trợ ứng dụng và chuyển

giao tiến bộ KH&CN phục vụ phát

triển kinh tế - xã hội nông thôn do

Bộ KH&CN chủ trì, Sở KH&CN đã tổ

chức nhiều lớp tập huấn và điểm

trình diễn chuyển giao tiến bộ

KH&CN cho nông dân, góp phần

nâng cao năng suất cây trồng, vật

nuôi, chuyển đổi cơ cấu kinh tế

trong ngành nông nghiệp Chương

trình phát triển nông thôn mới của

tỉnh đã và đang phát huy tác dụng;

nhiều chính sách đã khuyến khích

phát triển theo hướng công nghệ

sinh học kỹ thuật cao xuất hiện

nhiều nơi trong tỉnh

HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI GẮN VỚI KH&CN

Đến năm 2020, Bình Dương sẽtrở thành một trong những trungtâm công nghiệp lớn trong vùng;

giá trị sản xuất công nghiệp tăng16,1%/năm thời kỳ 2016-2020 tốc

độ bình quân 20,0%/năm Hoànthiện hệ thống kết cấu hạ tầngtrong và ngoài khu công nghiệp

Dự kiến đến năm 2020, toàn tỉnh

có 35 khu công nghiệp với tổngdiện tích gần 13.764,8 ha Đến

năm 2025 sẽ hình thành và đi vàohoạt động 18 cụm công nghiệp,tổng diện tích các cụm côngnghiệp khoảng 1.190,2 ha

Để đạt được mục tiêu đó, cầnthúc đẩy và làm cho KH&CN thực

sự là động lực quan trọng nhất đểchuyển dịch cơ cấu kinh tế, pháttriển lực lượng sản xuất, nâng caonăng suất, chất lượng, hiệu quả

và sức cạnh tranh của nền kinhtế; bảo vệ môi trường, bảo đảm

an ninh, quốc phòng, góp phầnđưa Bình Dương cơ bản hoànthành sự nghiệp công nghiệp hoá

khoa hc

Phát triển kinh tế - xã hội

gắn với khoa học và công nghệ

tng đc xây dng đ7ng b , hin đi, có ngu7n lao đ ng d7i dào, nng đ ng sáng to Thc hin Chin lc phát tri n khoa hc và công ngh (KH&CN) giai đon t$

chng trình, đ án, d án KH&CN trng đi m, vi đ#nh hng, phát tri n kinh t xã

h i g4n vi KH&CN.

HOÀNG MINH

Một góc Khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao xã An Thái

BÌNH DƯƠNG:

Trang 21

và tạo ra sự phát triển cân đối, bền

vững vào năm 2020

Tập trung nghiên cứu ứng dụng

và đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ

KH&CN, nhằm tạo bước đột phá về

năng suất, chất lượng cho sản

phẩm, hàng hóa và dịch vụ Đến

năm 2020, thông qua yếu tố năng

suất tô”ng hơ=p (TFP), hoạt động

KH&CN đóng góp khoảng 35% tăng

trưởng kinh tế Tốc độ đổi mới công

nghệ, thiết bị đạt 10-15%/năm giai

đoạn đến năm 2015 và

20-25%/năm giai đoạn 2016-2020 Giá

trị giao dịch của thị trường KH&CN

tăng trung bình 15-17%/năm

Tỉnh sẽ đẩy mạnh đầu tư đổi

mới công nghệ; loại thải dần những

công nghệ cũ, lạc hậu; từng bước

trang bị mới những công nghệ tiên

tiến; đặc biệt trong những ngành

sản phẩm công nghệ cao, công

nghệ sạch; công nghệ thân thiện với

môi trường đang ở thời kỳ đầu phát

triển; ưu tiên công nghệ mới cho

những sản phẩm mũi nhọn, sản

phẩm xuất khẩu chủ lực để nâng

cao năng lực cạnh tranh trong chuỗi

giá trị toàn cầu

Triển khai có hiệu quả các đề

án, chương trình, dự án KH&CN

trọng điểm đã được phê duyệt;

Hình thành và phát triển thị trường

công nghệ; tổ chức tốt hoạt động

tư vấn; dịch vụ chuyển giao công

nghệ; tạo điều kiện hỗ trợ doanh

nghiệp lựa chọn công nghệ mới tiên

tiến, phù hợp với sự phát triển của

doanh nghiệp và của tỉnh Đến năm

2020, thiết lập mạng lưới sàn giao

dịch công nghệ của tỉnh liên thông

có hiệu quả với các sàn giao dịch

công nghệ quốc gia tại Hà Nội,

Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng

thực hiện kết nối cung - cầu về sản

phẩm KH&CN mới

Bên cạnh đó cũng đầu tư phát

triển các ngành nông nghiệp công

nghệ cao, du lịch, dịch vụ phù hợp

với điều kiện kinh tế của địa

phương

HUY ĐỘNG CÁC NGUỒN LỰC THỰC HIỆN ĐỔI MỚI KH&CN

Việc thu hút nguồn vốn cho pháttriển KH&CN sẽ được đẩy mạnhthông qua các hình thức thu hútđầu tư trực tiếp, hợp tác, liên kết,liên doanh của các tập đoàn, cáccông ty lớn, các ngành và các thànhphố lớn trong cả nước Xây dựngquy hoạch, kế hoạch đào tạo, đàotạo lại nhân lực khoa học và côngnghệ theo hướng bảo đảm chấtlượng, đồng bộ, đủ về số lượng và

cơ cấu ngành nghề chuyên môn,đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh

tế - xã hội của tỉnh và hội nhậpquốc tế

Xây dựng cơ chế, chính sách hỗtrợ nhập khẩu công nghệ nguồn,công nghệ cao, mua thiết kế, thuêchuyên gia trong và ngoài nướcthuộc các lĩnh vực ưu tiên phát triểncủa tỉnh Triển khai cơ chế Nhà nướcmua kết quả nghiên cứu và hỗ trợdoanh nghiệp mua công nghệ từ các

tổ chức hoạt động KH&CN Triểnkhai cơ chế giao quyền sở hữu cáckết quả nghiên cứu khoa học và pháttriển công nghệ có sử dụng vốnngân sách nhà nước; cơ chế phânchia lợi ích giữa Nhà nước, cơ quanchủ trì và tác giả Bên cạnh đó cần

có các cơ chế, chính sách khuyếnkhích, ưu đãi, hỗ trợ để thực hiện đổimới công nghệ

Xây dựng đề án củng cố hoạtđộng của Quỹ phát triển KH&CN củatỉnh để làm tốt vai trò cầu nối giữaQuỹ phát triển KH&CN quốc gia, Quỹđổi mới công nghệ quốc gia vàdoanh nghiệp có nhu cầu vốn nhiều

để thực hiện các dự án chuyển giaocông nghệ lớn; tăng lượng vốnvay/dự án Hướng dẫn, khuyến khíchthành lập và vận hành Quỹ pháttriển của doanh nghiệp Cụ thể hoákịp thời các quy định của các bộ,ngành Trung ương về quản lý và sửdụng quỹ

Bên cạnh đó, tỉnh chú trọng mởrộng hợp tác quốc tế về KH&CN, đađạng hóa các loại hình hợp tác đểtranh thủ tối đa sự chuyển giao côngnghệ hiện đại từ đối tác nước ngoài

cho phát triển công nghiệp Mở rộngthị trường tiêu thụ sản phẩm,khuyến khích và hỗ trợ doanh nghiệpđăng ký bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ,

áp dụng hệ thống quản lý chất lượngtiên tiến, sản xuất sạch hơn, xâydựng phong trào năng suất, chấtlượng, hiệu quả

Để thực hiện được các mục tiêu

đề ra, Bình Dương chú trọng việcliên kết đào tạo nghề với các cơ sởđào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh

và các địa phương có thế mạnhnhằm gắn công tác đào tạo vớinghiên cứu khoa học, chuyển giaocông nghệ và phục vụ nhu cầu củasản xuất và đời sống Mặt khác, chútrọng hợp tác liên kết để phát triểnthị trường KH&CN; Hợp tác liên kếtnghiên cứu khoa học và phát triểncông nghệ; Hợp tác liên kết về đổimới công nghệ; Tích cực tham giacác hội chợ, triển lãm quốc tế vềKH&CN; Xây dựng chính sáchkhuyến khích và hợp tác đầu tư vàocông nghệ cao cho nông nghiệp,nhằm gia tăng hiệu suất và giá trịkinh tế cho các sản phẩm nôngnghiệp Nghiên cứu áp dụng môhình đối tác công tư; khuyến khíchđầu tư của doanh nghiệp tư nhântheo hướng tăng trưởng bền vững

Ngoài ra, tỉnh sẽ ưu tiên các dự

án đầu tư sử dụng công nghệ cao,công nghệ sạch thân thiện môitrường Xây dựng cơ chế đặc biệtthu hút các nhà đầu tư, tranh thủcác kênh chuyển giao, hợp tác khoahọc công nghệ, đặc biệt là đầu tưtrực tiếp nước ngoài (FDI) để nghiêncứu, ứng dụng khoa học công nghệ

Xây dựng thương hiệu và phát triểnsản phẩm công nghệ cao Hìnhthành một số ngành, sản phẩm,doanh nghiệp công nghệ cao Hỗ trợdoanh nghiệp thực hiện các nhiệm

vụ nghiên cứu, ứng dụng khoa học

và phát triển công nghệ, nhằm tạo

ra sản phẩm mới; công nghệ mới,vật liệu mới; đổi mới, cải tiến máymóc thiết bị, nâng cao hiệu quả sảnxuất kinh doanh, đưa Bình Dươngtrở thành tỉnh hấp dẫn các nhà đầu

tư trong và ngoài nước, phát triểnkinh tế xã hội gắn với KH&CN 

khoa hc

Trang 22

Sáng 17/9/2015, Thủ tướng

Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng

cùng Đoàn công tác của Chính

phủ đã tới dự lễ khánh thành Nhà

máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 tại xã Kỳ

Lợi, huyện Kỳ Anh, tỉnh Hà Tĩnh Đây

là dự án có tổng mức đầu tư gần 1,25

tỷ USD, là nhà máy nhiệt điện lớn

nhất từ trước tới nay được xây dựng

ở Việt Nam Công trình thuộc Khu

Kinh tế Vũng Áng, do Tập đoàn Dầu

khí Quốc gia Việt Nam (PVN) làm chủ

đầu tư, Tổng công ty lắp máy Việt

Nam LILAMA làm tổng thầu EPC

Nhà máy Nhiệt điện Vũng Áng 1 có

công suất 1.200 MW (2x600MW),

được khởi công xây dựng từ tháng

7/2009 Nhà máy gồm 2 tổ máy lò

hơi-tuabin-máy phát Lò hơi sử dụng côngnghệ than phun PC Nhiên liệu chính

là than cám 5a được cung cấp từ HònGai, Uông Bí (Quảng Ninh) với lượngthan tiêu thụ hàng năm trên 3,2 triệutấn; nhiên liệu phụ là dầu FO

Đây cũng là một trong số ít các

dự án nhiệt điện than đạt mức nộiđịa hóa có tỷ lệ đáng khích lệ(khoảng 30%) đối với thiết kế, chếtạo, vật tư thiết bị trong nước; trong

đó, có gói thầu tỷ lệ nội địa hóa lênđến 55% do các đơn vị trong nướcsản xuất được

Phát biểu tại Lễ khánh thành, Thủtướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũngnhấn mạnh, 2 tổ máy Nhà máy nhiệtđiện Vũng Áng 1 phát điện đạt công

suất thiết kế là sự kiện mang tínhbước ngoặt, bởi đây là nhà máy nhiệtđiện chạy bằng than có công suất lớnnhất của Việt Nam từ trước đến nay.Loại than nhiên liệu của Nhà máythuộc nhóm than khó sử dụng, cungcấp ngay trong nước và đây cũng làlần đầu tiên, tổng thầu của dự án quy

mô lớn này là một doanh nghiệp củaViệt Nam; được thi công, lắp đặt, vậnhành bởi đội ngũ cán bộ, kỹ sư, côngnhân, người lao động Việt Nam Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũngghi nhận và nhiệt liệt biểu dươngnhững cố gắng, nỗ lực của tập thể cán

bộ, kỹ sư của Lilama, PVN cùng cácnhà thầu đã nỗ lực ngày đêm thi côngđảm bảo an toàn và tiến độ Thủ

khoa hc

Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng và các đại biểu cắt băng khánh thành nhà máy (Ảnh: Đức Tám/TTXVN)

NHÀ MÁY NHIỆT ĐIỆN VŨNG ÁNG 1:

Công trình của người Việt

QUANG VŨ

Trang 23

tướng cho rằng thành công này là

minh chứng cho khả năng quản

lý, trình độ tay nghề của đội ngũ

cán bộ, kỹ sư, công nhân Lilama

nói riêng và các nhà thầu trong

nước nói chung trong việc đảm

nhận vai trò EPC (lắp đặt, chạy

thử và vận hành) các nhà máy

nhiệt điện có công suất lớn

Việc Nhà máy Nhiệt điện

Vũng Áng 1 chạy hết công suất,

khuyến khích đầu tư nước

ngoài nhưng phát huy mạnh

mẽ nội lực trên con đường đilên CNH, HĐH đất nước Thủtướng đề nghị cán bộ, kỹ sư,người lao động PVN, Lilamakhông chủ quan, tự mãn với kếtquả đạt được, tiếp tục phấnđấu, hoàn thành tốt nhữngcông trình tiếp theo với yêu cầu

về chất lượng, trình độ caohơn, đảm bảo tốt hơn các yếu

tố về môi trường, nâng cao hơnnữa tỷ lệ nội địa hóa đi đôi vớiđảm bảo chất lượng, kỹ thuậtcông trình

Ngay sau đó, Thủ tướngChính phủ Nguyễn Tấn Dũng và

Đoàn công tác của Chính phủ đã

dự lễ khánh thành Tổ máy đốtthan số 1, Nhà máy điện củaTập đoàn Formosa tại Khu Kinh

tế Vũng Áng Và nhân dịp thămKhu Kinh tế Vũng Áng, Thủtướng Nguyễn Tấn Dũng vàĐoàn đã thị sát tiến độ thi côngCảng Sơn Dương - Cụm cảngnước sâu với 11 cầu cảng, diệntích hơn 1.018ha, trong đó phầnđất liền hơn 93ha, phần mặtnước gần 925ha, là lợi thế tựnhiên đặc biệt thuận lợi cho KhuKinh tế Vũng Áng, góp phầnquan trọng vào các hoạt độngthông thương của Hà Tĩnh vàkhu vực Bắc miền Trung 

khoa hc

đt công sut 631 MW, vt công sut thit k 5%

Ngày 27/5/2015, Nhà máy Nhit đin Vng Áng 1 chính thc đc T3ng

thu EPC Lilama bàn giao cho ch đu t - PVN vn hành thng mi

D kin, Nhà máy Nhit đin Vng Áng 1 đi vào hot đ ng, hòa li đin

đ7ng/nm, s% góp phn gii quyt tình trng thiu ht đin nng ca h

HĐH đt nc

Ngày 01/9/2015, Bộ Khoa học và Công nghệ,

Bộ Tài chính đã ban hành Thông tư liên tịch

số 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC hướng dẫn quản lý,

xử lý tài sản được hình thành thông qua thực hiện

nhiệm vụ KH&CN sử dụng ngân sách nhà nước thì

hình thức xử lý tài sản như sau:

- Ưu tiên giao cho tổ chức chủ trì thực hiện

nhiệm vụ KH&CN trong trường hợp tổ chức chủ trì

là tổ chức KH&CN công lập

- Ưu tiên bán trực tiếp hoặc giao cho tổ chức

chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN theo cơ chế

giao vốn nhà nước cho doanh nghiệp trong trường

hợp tổ chức chủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN làdoanh nghiệp có vốn nhà nước

- Ưu tiên bán trực tiếp cho tổ chức chủ trì thựchiện nhiệm vụ KH&CN trong trường hợp tổ chứcchủ trì thực hiện nhiệm vụ KH&CN là tổ chức kinh

tế không có vốn nhà nước

- Trong trường hợp không xử lý được theo cáchình thức nêu trên thì tài sản được điều chuyểncho cơ quan, tổ chức, đơn vị công lập hoặc bánđấu giá cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu

Thông tư liên tịch 16/2015/TTLT-BKHCN-BTC

có hiệu lực từ ngày 01/11/2015

Xử lý tài sản hình thành thông qua thực hiện nhiệm vụ KH&CN

Trang 24

I MỞ ĐẦU

Mannitol có công thức hoá học là

C6H14O6 thuộc nhóm polyol, cấu trúc

hóa học một phần tương tự như

đường và một phần tương tự như

rượu nên còn được gọi là "đường

rượu", chúng được sử dụng như một

chất làm ngọt thay thế trong chế biến

thực phẩm, dược phẩm Trong nhóm

polyol thì mannitol có độ hòa tan thấp

nhất, do vậy được lựa chọn làm

nguyên liệu thích hợp trong công

nghệ sản xuất kẹo làm hạn chế khả

năng kết tinh đường xảy ra trong quá

trình bảo quản Một tính chất quan

trọng của mannitol là có khả năng hút

ẩm kém ngay cả khi trong điều kiện

độ ẩm không khí cao, do vậy kéo dài

thời gian sử dụng sản phẩm thực

phẩm, chịu được các điều kiện bảo

quản khắc nghiệt như khí hậu nóng và

ẩm ở miền Bắc nước ta hoặc có thể

không được bao gói kĩ càng Ngoài ra

mannitol cũng mang các đặc tính của

prebiotic nên cũng mang một số tính

chất chức năng sinh học như các

đường chức năng khác [1,5]

Trong các phương pháp sản xuất

mannitol: hóa học, enzym và lên men

thì cho thấy công nghệ lên men có ưu

việt hơn, tạo ra sản phẩm có độ tinh

khiết cao, dễ triển khai sản xuất ở qui

mô công nghiệp [4,5] Thu hồi sảnphẩm mannitol từ dịch sau lên menđược thực hiện bằng phương pháp kếttinh trong điều kiện nhiệt độ thấp Cácđiều kiện thu hồi sản phẩm là nhữngyếu tố quan trọng ảnh hưởng đến chấtlượng, giá thành sản phẩm và hiệusuất của cả quá trình sản xuất.[3,6]

II NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Nguyên liệu và hoá chất

- Dịch lên men sinh tổng hợp mannitol bởi chủng vi khuẩn lactic

- Hoá chất: Natri periodate, ammonium axetat, axetyl acetone,natri thiosulfate, D-mannitol, than hoạttính và các hóa chất thông dụng khác

2.2 Phương pháp phân tích

- Xác định độ trong của dịchđường (OD) tại bước sóng 420nmbằng máy so màu UV-Vis 1601 PC(Nhật Bản)

- Xác định pH bằng máy đo pHOrion (Mỹ)

- Xác định hàm lượng mannitolbằng phương pháp so màu Sanchez(1998) [2]

- Hiệu suất thu hồi sản phẩm đượctính theo công thức:

M

H = x 100N/1000 x VTrong đó: H: Hiệu suất thu hồi sảnphẩm bằng kết tinh (%)

M: Khối lượng mannitol thu được(đã trừ độ ẩm) (g)

N: Nồng độ mannitol trong dungdịch (g/l)

V: Thể tích dung dịch đem kết tinh(ml)

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 Nghiên cứu điều kiện làm sạch dịch sau lên men bằng than hoạt tính

Sau khi dịch lên men sinh tổnghợp mannitol được tách xác tế bào vàcặn thô bằng ly tâm, nhưng trong dịchlên men vẫn còn các chất màu, chấtkeo, mùi của môi trường lên men…được loại bỏ bằng cách xử lý với thanhoạt tính với các nồng độ khác nhautại 800C trong 20 phút Kết quả đánhgiá độ trong dịch đường sau xử lýđược trình bày trong Bảng 3.1.Qua Bảng 3.1 cho thấy, với nồng

độ than hoạt tính từ 1,5 - 2,0% (w/v)

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cứu công nghệ thu hồi

Mannitol từ dịch lên men

ĐỖ TRỌNG HƯNG, LÊ ĐỨC MẠNH, VŨ THỊ THUẬN, NGUYỄN LA ANH

NGUYỄN THUỲ LINH, LƯƠNG THỊ NHƯ HOA, NGUYỄN HOÀNG PHI

Viện Công nghiệp Thực phẩm

TÓM TẮT

Thu hồi sản phẩm (downstream processing) là một bước quan trọng trong quá trình sản xuất mannitol bằng phươngpháp lên men, nó ảnh hưởng đến chất lượng và giá thành sản phẩm Trong nghiên cứu này, công nghệ thu hồi sản phẩmmannitol từ dịch lên men bởi chủng vi khuẩn lactic trên môi trường SP qui mô phòng thí nghiệm được tiến hành nhưsau: nâng nhiệt diệt tế bào ở 800C trong 20 phút, ly tâm 8000 rpm trong 15 phút để tách xác tế bào, xử lý làm sạchdịch bằng than hoạt tính với nồng độ 1,5% (w/v) Điều kiện kết tinh thu hồi mannitol: nồng độ mannitol 160-170 g/l,nhiệt độ 5-100C, thời gian kết tinh 30 giờ, pH 5,0-5,5 Hiệu suất thu hồi mannitol từ dịch lên men đạt 71,3-71,7% Sảnphẩm được kết tinh lại 2 lần có độ tinh khiết đạt 99,5%

Từ khóa: Mannitol, thu hồi mannitol, lên men.

Trang 25

cho kết quả giá trị OD420nmgần tương

đương nhau và thấp nhất, dịch màu

vàng sáng, rất trong Do vậy chọn

nồng độ than hoạt tính để làm sạch

dịch sau lên men là 1,5% (w/v)

3.2 Nghiên cứu ảnh hưởng

của nồng độ mannitol trong

quá trình kết tinh

Bản chất của quá trình kết tinh là

quá trình tách chất rắn hoà tan trong

dung dịch dựa vào độ hoà tan hạn

chế của chất rắn Đây là một trong

những phương pháp chủ yếu để thu

được chất rắn ở dạng nguyên chất

Khi nồng độ hoà tan của chất rắn đạt

cực đại (ở một nhiệt độ nhất định),

dung dịch dần đạt đến trạng thái bão

hoà và quá bão hoà Dung dịch quá

bão hoà không bền, chất tan thừa sẽ

chuyển pha từ lỏng sang rắn tinh thể

và được tách ra khỏi dung dịch

Điều kiện thí nghiệm: Dịch sau lên

men được tách xác tế bào bằng ly tâm

và xử lý với than hoạt tính Tiến hành

cô đặc dịch lên men tạo ra các nồng

độ mannitol khác nhau, nhiệt độ kết

tinh 5-70C, thời gian kết tinh 48h, thể

tích mẫu 100 ml Ly tâm thu kết tinh

và sấy ở 600C/3h Kết quả được thể

hiện ở Bảng 3.2

Qua bảng 3.2 cho thấy ở nồng độ

mannitol ban đầu 160-170 g/l quá

trình kết tinh tách mannitol rất tốt,

hiệu suất thu hồi đạt cao nhất và gần

tương đương nhau Do vậy chọn nồng

độ mannitol ban đầu để kết tinh thu

hồi mannitol là 160-170 g/l

3.3 Nghiên cứu ảnh hưởng

của thời gian trong quá trình

kết tinh.

Thời gian kết tinh cũng ảnh hưởng

đến hiệu suất thu hồi mannitol và hiệu

quả kinh tế Dịch sau lên men được

tách xác tế bào và xử lý làm sạch bằng

than hoạt tính Điều kiện kết tinh như

thí nghiệm trên, trong đó thời gian kết

tinh được thử nghiệm từ 6-36 giờ Kết

quả thí nghiệm được trình bày trong

Bảng 3.3

Qua Bảng 3.3 cho thấy hiệu suất

thu hồi mannitol tăng theo thời gian

kết tinh, nhưng khi thời gian kết tinh

đạt từ 30-36 giờ thì hàm lượng

mannitol thu không tăng lên Do vậy

chọn thời gian kết tinh để thu hồi

mannitol từ dịch lên men là 30 giờ làphù hợp nhất

3.4 Nghiên cứu ảnh hưởng của pH trong quá trình kết tinh mannitol

pH của dịch lên men mannitol thểhiện nồng độ axit sinh ra trong quátrình lên men, sự ảnh hưởng của cácmuối axit hữu cơ đã được chứng minh

là ảnh hưởng đến quá trình kết tinhmannitol trong dịch lên men

Điều kiện kết tinh như thí nghiệmtrên, trong đó mẫu thử được điềuchỉnh pH ở các giá trị pH khác nhau.Kết quả thí nghiệm được trình bàytrong Bảng 3.4

Qua Bảng 3.4 cho thấy ở giá trị

pH 5,0-5,5 cho hiệu suất kết tinh đạtcao nhất Ở pH cao hơn, do bổ sungkiềm vào dịch đã tạo ra các muốiaxit hữu cơ trộn lẫn với mannitol làmcản trở sự truyền nhiệt từ dung dịchtới mannitol đang ở trạng thái vô

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

Bảng 3.2 Ảnh hưởng của nồng độ mannitol trong quá trình kết tinh

TT Thời gian kết tinh

(giờ)

Nồng độ mannitol (g/l) Mannitol (g)

Hiệu suất thu hồi (%)

Bảng 3.3 Ảnh hưởng của thời gian kết tinh tới hiệu suất

thu hồi mannitol

Bảng 3.4 Ảnh hưởng của pH trong quá trình kết tinh mannitol

Trang 26

định hình, làm hạn chế kết tinh.

Ngoài ra theo Ken-ichi Izutsu và

cộng sự (2007) cho biết sự điều

chỉnh pH còn làm ảnh hưởng đến độ

linh hoạt của phân tử mannitol ở

trang thái vô định hình, do đó làm

cản trở kết tinh ở nhiệt độ thấp Dịch

lên men có giá trị pH nằm trong

khoảng 5,0-5,2, như vậy không cần

điều chỉnh pH của dịch lên men

trong quá trình kết tinh

3.5 Nghiên cứu ảnh hưởng

của nhiệt độ kết tinh

mannitol.

Trong quá trình kết tinh, nhiệt độ

ảnh hưởng rất nhiều tới độ hòa tan

của mannitol Khi nhiệt độ giảm thì

độ hòa tan giảm, dung dịch mannitol

dần dần đạt tới trạng thái bão hòa và

quá bão hòa sau đó là hình thành các

tinh thể rắn mannitol

Điều kiện kết tinh như thí nghiệm

trên, trong đó thử nhiệt độ kết tinh

khác nhau Kết quả được thể hiện

qua Bảng 3.5

Qua Bảng 3.5 cho thấy việc sử

dụng phương pháp hạ nhiệt độ để

tạo nên trạng thái quá bão hòa của

dung dịch là thích hợp cho quá trình

kết tinh mannitol, ở nhiệt độ 5-100C

cho kết quả thu hồi mannitol gần

tương đương nhau và cao nhất, vì

vậy nhiệt độ được chọn cho quá trình

kết tinh thu hồi mannitol là 5-100C

3.6 Nghiên cứu ảnh hưởng

của số lần kết tinh đến hiệu

suất và chất lượng sản phẩm.

Để sản phẩm mannitol có độ tinh

sạch cao, đáp ứng được yêu cầu đặt

ra của đề tài thì quá trình tinh sạch

sản phẩm phải được tinh chế lại

Trong thí nghiệm này chúng tôi tiến

hành thử ảnh hưởng của số lần tinhchế lại đến hiệu suất và chất lượngsản phẩm

Điều kiện thí nghiệm: nồng độmannitol 160 g/l, thể tích mẫu 500

ml, sau đó cho kết tinh lại 3 lần, saumỗi lần thu hồi kết tinh đều được sấykhô để tính hiệu suất và phân tích độtinh khiết sản phẩm Kết quả đượctrình bày trong Bảng 3.6

Qua Bảng 3.6 cho thấy sau khithu hồi kết tinh lần một cho hiệusuất thu hồi cao nhất nhưng độ tinhsạch thấp nhất, tiếp tục cho kết tinhlại lần 2 và lần 3 cho thấy độ tinhsạch gần tương đương nhau nhưnghiệu suất thu hồi của lần 3 thấp nhất

do bị thất thoát trong quá trình lytâm, rửa và thu hồi sản phẩm Vì vậychúng tôi chọn trong quá trình thu

hồi sản phẩm cần tinh chế lại sảnphẩm 2 lần

KẾT LUẬN

Đã xác định được điều kiện côngnghệ thu hồi mannitol từ dịch lên menqui mô phòng thí nghiệm: Dịch sau lênmen được nâng nhiệt diệt tế bào ở

800C trong 20 phút, tiến hành ly tâm

8000 rpm trong 15 phút để tách xác tếbào, tiến hành xử lý làm sạch dịch lênmen bằng than hoạt tính với nồng độ1,5% (w/v) Kết tinh thu hồi mannitol với điều kiện: nồng độmannitol 160-170 g/l, nhiệt độ 5-100C,thời gian kết tinh 30 giờ, pH 5,0-5,5.Hiệu suất thu hồi mannitol từ dịch lênmen đạt 71,3-71,7% Sản phẩm đượckết tinh lại 2 lần có độ tinh khiết đạt99,5% (tính theo chất khô) 

Nghiên cu & Trin khai

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nguyễn Đình Đức (2010) Công nghệ sản xuất đường và các sản phẩm từ đường Nhà xuất bản Khoa học và Kỹ thuật

2 Juan Sanchez (1998) Colorimetric Assay of Alditols in Complex Biological Samples J Agric Food Chem., Vol.46, p.157-160

3 Ken-ichi Izutsu, Chikako Yomota and Nobuo Aoyagi (2007) Inhibition of Mannitol Crystallization in Frozen Solution by Sodium photphateand citrate Chem., Pharm., Bull., 55(4), 565-570

4 Saha BC (2003) Production of mannitol by fermentation In: Saha BC (ed) Fermentation biotechnology American Chemical Society,Washington, DC, 67–85

5 Saha BC, Racine FM (2011) Biotechnological production of mannitol and its applications Appl Microbiol Biotechnol., 89:879–891

6 Winkler, M.A (1990) Problems in downstream processing In “Chemical Engineering problem in Biotechnology”, Elsevier SciencePublishers, London

Nghiên cu & Trin khai

TT Nhiệt độ kết tinh ( 0 C)

Nồng độ mannitol (g/l) Mannitol(g)

Hiệu suất thu hồi (%)

Độ tinh khiết (tính theo chất khô, %)

Bảng 3.5 Ảnh hưởng của nhiệt độ trong quá trình kết tinh mannitol

Bảng 3.6 Ảnh hưởng của số lần tinh chế đến hiệu suất

và chất lượng sản phẩm

Ngày nhận bài: 7/8/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 17/8/2015

Trang 27

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

1 MỞ ĐẦU

Polymaltose là sản phẩm thủy

phân từ tinh bột, dễ tan trong nước,

có cấu trúc polyme mạch thẳng bao

gồm các phân tử D-glucose liên kết

với nhau, có công thức cấu tạo

(C6H10O5)n với khối lượng phân tử

dao động khoảng 25000-32000

Dalton, gồm từ 3-20 gốc glucose liên

kết với nhau chủ yếu bằng liên kết

α-1,4 glucoside Polymaltose được sản

xuất và ứng dụng rộng rãi trong

nhiều lĩnh vực chế biến thực phẩm và

dược phẩm Đặc biệt, polymaltose

được dùng để tổng hợp phức sắt

-polymaltose (IPC) và canxi

Hydroxyapatite - polymaltose (HAP)

dùng cho các bệnh nhân bị thiếu máu

và thiếu canxi Để đáp ứng yêu cầu

ứng dụng trong quá trình tạo phức thì

polymaltose phải đảm bảo chất

lượng: DE 25, glucoza (G1) ≤ 3,

maltose (G2) ≤ 15, maltoseoligomers (G>3)>80%.[5]

Quá trình đường hóa là một phầnrất quan trọng trong sản xuấtpolymaltose, ảnh hưởng đến chấtlượng sản phẩm và quá trình tạo phức

Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trìnhđường hóa bao gồm: nồng độ enzym,nồng độ dịch bột, nhiệt độ, thời gian

và pH [1,2,3,4]

2 NGUYÊN VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP

2.1 Nguyên vật liệu:

Tinh bột sắn có hàm lượng tinhbột ≥ 85%, độ ẩm 12-13%, enzymeAmylex®HT (Mỹ), Promozyme D2(Novozyme - Danmark) và các hóachất thông dụng: CuSO4.5H2O,KNaC4H4O6, NaOH, HCl, KOH,

K3Fe(CN)6, glucose, maltose chuẩn,Acetonitril (ACN),…

2.2 Phương pháp phân tích

Xác định nồng độ chất khô bằngchiết quang kế

Xác định DE (đường khử) theophương pháp phân tích Lane- EynonXác định pH bằng máy đo pHThermor Orion, Model 410 (Mỹ)Xác định hàm lượng glucose, maltose bằng phương pháp HPLC Xác định độ nhớt bằng máy đo

độ nhớt Viscosimètre capillaire (Germany)

3 KẾT QUẢ

3.1 Xác định nồng độ enzyme promozyme D2 thích hợp trong quá trình đường hóa tạo polymaltose DE 25

Mục đích của thí nghiệm là xácđịnh lượng enzyme tối thiểu đủ để xúctác phản ứng chuyển hóa đạt hiệu

Nghiên cứu ảnh hưởng

của các điều kiện đường hóa

đến quá trình tạo

polymaltose de 25

VŨ THỊ THUẬN, ĐỖ TRỌNG HƯNG, NGUYỄN HOÀNG PHI,

LƯƠNG THỊ NHƯ HOA, NGUYỄN THÙY LINH

Viện Công nghiệp Thực phẩm

TÓM TẮT

Quá trình sản xuất polymaltose từ tinh bột sắn bằng phương pháp enzym bao gồm: quá trình dịch hóa, quá

trình đường hóa, làm sạch dịch và thu hồi sản phẩm bằng phương pháp sấy phun Trong bài này chỉ tập trung

nghiên cứu ảnh hưởng của các điều kiện đường hóa đến quá trình tạo polymaltose DE 25 ở qui mô phòng thí

nghiệm Kết quả nghiên cứu: Nồng độ enzyme promozyme D2 là 0,3%, nồng độ dịch bột 200Bx, pH 6-6,5, nhiệt

độ 550C và thời gian đường hóa 25 giờ

Từ khóa: Polymaltose, đường hóa.

Trang 28

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

suất cao nhất, tạo sản phẩm mong

muốn Các thí nghiệm được tiến hành

với điều kiện: DE dịch hóa 6, nồng độ

cơ chất 200Bx, nhiệt độ 550C, pH 6,0,

thời gian đường hóa 30 giờ Nồng độ

enzyme promozyme D2 được thử

0,1-0,5% (so với nồng độ cơ chất) Kết

quả được trình bày trong Bảng 1

Kết quả Bảng 1 cho thấy: nồng độ

enzyme đường hóa được chọn thích

hợp nhất là 0,3% (so với cơ chất), đáp

ứng được yêu cầu đặt ra của đề tài và

đảm bảo được hiệu quả kinh tế hơn

3.2 Xác định nồng độ cơ

chất thích hợp cho quá trình

đường hoá

Khi nồng độ cơ chất cao sẽ tiết

kiệm được nhiều chi phí trong sản

xuất như tiết kiệm được lượng nước

sử dụng, tiết kiệm năng lượng cô đặc

Tuy nhiên enzyme bị ức chế khi thừa

cơ chất dẫn tới hiệu suất thu hồi sản

phẩm thấp Vì vậy cần nghiên cứu lựa

quả được trình bày trong Bảng 2

Qua kết quả Bảng 2 cho thấy:

nồng độ dịch bột thích hợp nhất để

tạo polymaltose DE 25 ở qui mô

phòng thí nghiệm là 200Bx

3.3 Nghiên cứu điều kiện pH

thích hợp cho quá trình đường

hoá

Mỗi loại enzyme của mỗi chủng vi

sinh vật có những khoảng pH hoạt

động tối thích khác nhau Nếu nằm

ngoài khoảng pH tối ưu thì enzyme

hoạt động kém hiệu quả Để xác định

khoảng pH thích hợp cho enzyme

promozyme D2 hoạt động tốt nhất,

chúng tôi tiến hành thực hiện các thí

nghiệm ở các giá trị pH khác nhau, các

điều kiện thí nghiệm khác tương tự

như thí nghiệm trên Kết quả được

trình bày ở Bảng 3

Từ kết quả Bảng 3 cho thấy pH

thích hợp nhất được chọn cho quá

trình đường hóa tạo polymaltose có

chất lượng đáp ứng yêu cầu đề tài là

pH= 6-6,5

TT

Nồng độ

cơ chất ( 0 Bx)

DE đường hóa

Tỷ lệ các thành phần đường

so với đường tổng Tên đường (%)

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,826,892,38

Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)

0,51 5,40 94,09

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,65,294,2

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0.454,794,85

TT pH

DE đường hóa

Tỷ lệ các thành phần đường

so với đường tổng Tên đường (%)

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,324,495,28

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,395,094,61

Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)

0,47 5,5 94,03

Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)

0,5 5,3 94,2

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,405,194,5

Bảng 2 Ảnh hưởng của nồng độ cơ chất trong quá trình đường hóa

Bảng 3 Xác định pH thích hợp cho quá trình đường hóa

TT Enzyme (%) DE đường hóa (%) Độ nhớt (cP)

Bảng 1 Ảnh hưởng của nồng độ promozyme D2

đến quá trình đường hoá

Trang 29

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

3.4 Xác định nhiệt độ thích

hợp cho quá trình đường hoá

Mỗi loại enzyme từ các chủng vi

sinh vật khác nhau có khoảng nhiệt

độ hoạt động tối thích khác nhau

Do vậy cần phải xác định nhiệt độ

thích hợp nhất để enzyme hoạt

động thuỷ phân ở mức độ cao nhất

Quá trình đường hoá với điều kiện

tương tự như thí nghiệm trên, nhiệt

độ được thử từ 50-650C Kết quả

được trình bày ở Bảng 4

Kết quả Bảng 4 cho thấy nhiệt độ

thích hợp nhất được chọn cho quá

trình đường hóa là 550C

3.5 Xác định thời gian thích

hợp cho quá trình đường hoá

Nghiên cứu xác định thời gian

đường hóa tối thiểu mà enzyme có

thể cắt hết mạch nhánh tạo

polymaltose DE 25 là việc cần được

xác định Quá trình đường hóa với

điều kiện thí nghiệm tương tự thí

nghiệm trên và sau những khoảng

thời gian đường hóa khác nhau tiến

hành lấy mẫu và phân tích đánh giá

chất lượng sản phẩm Kết quả được

Các điều kiện thích hợp cho quá

trình đường hóa tạo polymaltose DE

25 qui mô phòng thí nghiệm là:

nồng độ enzyme promozyme D2

0,3%, nồng độ dịch bột 200Bx, pH=

6,0-6,5 nhiệt độ 550C và thời gian

thủy phân 25 giờ 

TT Nhiệt độ

( 0 C)

DE đường hóa

Tỷ lệ các thành phần đường

so với đường tổng Tên đường (%)

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,415,094,59

Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)

0,47 5,4 94,13

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,405,194,5

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,314,395,39

TT

Thời gian đường hóa (giờ)

DE đường hóa

Tỷ lệ các thành phần đường

so với đường tổng Tên đường (%)

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,354,894,85

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,435,294,37

Glucose Maltose Maltose oligomers (G>3)

0,45 5,6 93,95

GlucoseMaltoseMaltose oligomers (G>3)

0,505,594,0

Bảng 4 Ảnh hưởng của nhiệt độ đến quá trình đường hóa.

Bảng 5 Ảnh hưởng của thời gian đến quá trình đường hóa

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bender H et al (1985) Studies on production of maltooligosaccharides by pullulanase from K Pneumoniae, Carbonhydrate research, 135,291-302

2 Fiona Dufner, Costanzo Bertoldo, Jens T Andersen, Karen Wagner and Garabed Antranikian (2000), “A new thermoactive pullulanasefrom Desulfurococcus mucosus: cloning, sequencing, purification, and characterization of the recombinant enzyme after expression in Bacillussubtilis’’

3 Promozyme D2(2001), product sheet

4 Yamamoto Takehiko et al (1988), Pullulanase in several microorganisms and plan Handbook of amylase and related enzymes: Theirsources, isolation method, properties and applications, Pergamon Press, 131-159

5 http://acac1.ethz.ch/koppenol/IRON_Metabolism_2012_E.pdf

Ngày nhận bài: 7/8/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 17/8/2015

Trang 30

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

MỞ ĐẦU

Theo Henick-Kling và nhiều tác

giả, quá trình lên men malolactic

không chỉ đơn thuần là một quá trình

chuyển axít malic thành axít lactic mà

nó còn có ảnh hưởng lớn đến chất

lượng cảm quan của rượu vang [4]

Chất lượng cảm quan của rượu cao

hay thấp không chỉ phụ thuộc vào

quá trình lên men rượu mà phụ thuộc

rất nhiều vào quá trình lên men

malolactic, trong đó phải kể đến các

yếu tố chủng vi khuẩn lựa chọn, điều

kiện của quá trình lên men[4,7] Để

quá trình lên men malolactic thành

công, thời điểm bổ sung vi khuẩn

lactic là rất quan trọng Xung quanh

vấn đề này có nhiều quan điểm còn

tranh cãi Các ý kiến tán thành cho

việc bổ sung vi khuẩn lactic ngay đầu

quá trình lên men rượu cho rằng vi

khuẩn có thể phát triển tốt với nguồn

dinh dưỡng dồi dào và điều này có

thể cho phép quá trình lên men

malolactic có thể kết thúc trước quá

trình lên men rượu (Beelman,

1985)[2] Tuy nhiên, Lafourcade

(1984) lại báo cáo rằng vi khuẩn phát

triển chậm hơn và sự khử axít malic

trở nên kém hơn do sự tương tác giữa

nấm men và vi khuẩn[5] Mặt khác,

chính nguồn dinh dưỡng cacbon dồi

dào này đã khiến cho vi khuẩn không

thực hiện lên men axít malic và xitricnhư mong muốn Lên men malolacticsau khi kết thúc lên men rượu có thểkhắc phục được tình trạng trên,nhưng vi khuẩn malolactic lại phải đốimặt với các điều kiện khắc nghiệt củamôi trường rượu vang non như hàmlượng ethanol cao, hàm lượng cácchất dinh dưỡng còn rất ít [9]

(Morezoni, 2005) Một quan điểmkhác tán thành việc bổ sung vi khuẩnlactic vào thời điểm khi lên men rượu

đã được một phần với lý do là vikhuẩn vừa tận dụng được nguồn dinhdưỡng trong môi trường mà khôngảnh hưởng đến tiến trình lên menrượu (Fornairon, 2001)[3] Như vậy,mỗi phương pháp lên men malolacticđều có những ưu điểm và hạn chếriêng nhưng nhiều nghiên cứu đã chỉ

ra rằng sự tương tác giữa nấm men

và vi khuẩn malolactic chính là nhân

tố quyết định đến sự thành công củaquá trình lên men malolactic Ngoài

ra, tùy thuộc vào đặc điểm của quytrình sản xuất rượu vang được sửdụng, người ta quyết định nên cấygiống vi khuẩn malolactic theophương pháp nào

Ở Việt Nam, quá trình lên menmalolatic còn ít được thực hiện trongcông nghệ sản xuất rượu vang Hiệnnay trong nước có rất ít nghiên cứu

về quá trình lên men malolatic, tậptrung vào việc tuyển chọn giống vikhuẩn hoặc nâng cao tính thích nghicủa vi khuẩn với môi trường có độcồn cao (P.T.Thủy và cộng sự, 2002;L.Q Phong và cộng sự, 2009)[6,10].Mục tiêu của nghiên cứu này là xácđịnh thời điểm cấy giống vi khuẩn lênmen malolactic thích hợp trong sảnxuất rượu vang đỏ từ dịch ép nhoCabernet Sauvignon

Nghiên cứu xác định

thời điểm cấy giống vi khuẩn lên men malolactic thích hợp trong sản xuất rượu vang đỏ

LẠI QUỐC PHONG, TRƯƠNG HƯƠNG LAN

Viện Công nghiệp Thực phẩm

Trang 31

NGUYÊN LIỆU VÀ

PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu

- Rượu vang non thu được sau

quá trình lên men rượu dịch nho bởi

- Chế phẩm Essential Oenos (EO)

của Công ty Gusmer Enterprises: Là

chế phẩm chứa chất dinh dưỡng cần

cho sự sống sót của vi khuẩn

malolactic, bao gồm các vitamin, các

axít amin và muối khoáng

Phương pháp nghiên cứu

- Xác định thời điểm bổ sung vi

khuẩn lactic: Pha loãng 0,25g vi khuẩn

đông khô Viniflora® Oenos với 0,25 lít

nước cất, giữ ở nhiệt độ 250C trong 30

phút Sau đó, bổ sung vào hỗn hợp

này 0,25 lít rượu vang non đã bổ sung

chất dinh dưỡng Essential Oenos (EO)

25g/hl, giữ ở nhiệt độ 250C trong thời

gian 24h Lấy 0,5 lít giống thu được

cấy vào 25L rượu vang non (tỷ lệ

2%v/v) ở các thời điểm lên men rượu

khác nhau như sau:

M (Giữa AF): Cấy giống vi khuẩn

malolactic ở giữa quá trình lên men

rượu (ngày thứ 3 kể từ khi cấy giống

nấm men, khi hàm lượng đường sót

khoảng 50% so với dịch nho ban đầu)

F (Cuối AF): Cấy giống vi khuẩn

malolactic trước khi quá trình lên

men rượu sắp kết thúc (ngày thứ 5

kể từ khi cấy giống nấm men, hàm

lượng đường sót khoảng 20% so với

dịch nho ban đầu)

E (Kết thúc AF): Cấy giống vi

khuẩn malolactic sau khi quá trình lên

men rượu kết thúc (ngày thứ 7 kể từ

khi cấy giống nấm men, hàm lượng

đường sót khoảng 0-2% so với dịch

nho ban đầu)

Quá trình lên men malolactic của

tất cả các mẫu đều thực hiện ở nhiệt

độ 240C

- Phương pháp xác định nồng độoxy hòa tan: bằng máy oxygenMetler Toledo

- Phương pháp phântích ethanol: Ethanol

được xácđịnh bằngphương phápcất trên thiết

bị Distiller tem (Đức), sau

Sys-đó xác định độ cồnbằng alcohol metter

- Phương pháp xácđịnh hàm lượng axít lactic

và axít L-malic: Hàm lượngaxit L-malic được đo bằngphương pháp kit chuẩn enzyme(BOEHRINGER MANNHEIN,Cat.No.10139068035)

- Phương pháp xác định axít bayhơi và diacetyl theo Lonvaud(1999)[7]

- Phương pháp xác định số lượng

vi khuẩn malolactic: đếm khuẩn lạctrên đĩa thạch MRS

Kết quả và thảo luận

Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống tới sự phát triển của vi khuẩn malolactic trong quá trình lên men malolactic

Khi cấy giống vi khuẩn malolacticvào 3 thời điểm khác nhau là giữa(M), cuối (F) và kết thúc (E) quátrình lên men rượu, sự phát triểncủa vi khuẩn trong môi trường có sựkhác nhau đáng kể Kết quả được

so với mẫu E và 2 ngày so với mẫu F.Sau giai đoạn thích nghi, cả ba mẫuthí nghiệm đều có số lượng tế bào vikhuẩn malolactic tăng dần và đạt giátrị lớn hơn 9,5 x 106CFU/mL khi kếtthúc MLF (18 ngày ở mẫu E, 25 ngày

ở mẫu F và 32 ngày ở mẫu M)

Hình 1 còn cho thấy, tại tất cả cácthời điểm của quá trình lên men, sốlượng vi khuẩn ở mẫu E luôn luôn cao

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

Trang 32

Nghiên cu & Trin khai

nhất và số lượng vi khuẩn ở mẫu M

luôn luôn thấp nhất Vi khuẩn

malolactic trong mẫu F có đường

cong sinh trưởng nằm giữa hai đường

cong sinh trưởng của 2 mẫu rượu

vang E và M

Các kết quả mà chúng tôi thu

được phù hợp với một số công bố của

Morenzoni (2005) Các tác giả này

cho thấy vi khuẩn malolactic phát

triển yếu hơn khi chúng được cấy

giống ở thời điểm giữa và cuối quá

trình lên men rượu so với khi chúng

được cấy giống vào rượu vang sau

khi lên men rượu kết thúc[9] Massera

và cộng sự (2009) cũng đã cho thấy

sự phát triển của vi khuẩn malolactic

trong rượu vang đỏ khi nuôi cấy đồng

thời nấm men và vi khuẩn phụ thuộc

vào mối quan hệ giữa từng chủng

nấm men và vi khuẩn malolactic được

sử dụng Các tác giả này đã cho rằng

vi khuẩn malolactic phát triển yếu

hơn và lên men malolactic chậm hơn

khi được cấy vào rượu vang đồng

thời với nấm men có thể do sự đối

kháng của nấm men và vi khuẩn,

cũng như thành phần dinh dưỡng của

dịch nước nho không thích hợp cho

sự phát triển của vi khuẩn Theo các

tác giả này, cặp đôi nấm men rượu

vang ICV và vi khuẩn malolactic D80

phải mất 26 ngày để hoàn thành quá

trình lên men malolactic dịch nho đỏ

B04Malbec Argentina của vụ nho

2004 khi chúng được nuôi cấy đồng

thời, nhưng quá trình này chỉ mất 21

ngày khi vi khuẩn malolactic được

cấy giống vào rượu vang sau khi lên

men rượu đã kết thúc[8]

Trong nghiên cứu này của chúng

tôi, vi khuẩn malolactic ở mẫu E có

sự phát triển tốt nhất so với mẫu M

và F có thể là do nấm men

Saccharomyces cerevisiae SH09 có

sự ức chế vi khuẩn O.oeni (chế

phẩm Viniflora Oenos) nhưng ở thời

điểm kết thúc lên men rượu, nấm

men đã bước vào giai đoạn suy thoái

nên hoạt tính ức chế của nấm men

giảm mạnh Ngoài ra, ở cuối quá

trình lên men rượu, mặc dù vi khuẩn

malolactic phải đối mặt với tình

trạng dinh dưỡng kém, hàm lượngethanol cao nhưng một số chất gây

ức chế trong rượu vang non cũng cóthể đã bị khử tối đa như SO2, cácaxít béo no Mặt khác, trong nghiêncứu này, vi khuẩn malolactic cũng đãđược hoạt hóa và nhân giống trướckhi cấy vào lên men malolactic nênkhả năng thích nghi với môi trườngcũng tốt hơn

Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống malolactic tới khả năng phân giải axít malic và tạo thành một số chất bay hơi

Kết quả thí nghiệm về ảnh hưởngcủa thời điểm cấy giống malolactic tớikhả năng phân giải axit malic và tạothành một số chất bay hơi được trìnhbày trong Hình 2 và Bảng 2

Hình 2 cho thấy khả năng phângiải axít malic mạnh nhất khi cấygiống vi khuẩn ở thời điểm kết thúclên men rượu (mẫu E) và phân giảiyếu nhất khi cấy giống vi khuẩn ởgiữa quá trình lên men rượu (mẫuM) Ở mẫu E, vi khuẩn malolactic bắtđầu phân giải axít malic trong rượuvang sau 3 ngày lên men, nhưng ở

Hình 2 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống tới khả năng

phân giải axít L-malic

Nghiên cu & Trin khai

Hình 1 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống vi khuẩn đến sự

phát triển của vi khuẩn malolactic

Trang 33

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

mẫu F và mẫu M, sự phân giải axít

malic chỉ được quan sát thấy sau 5 và

7 ngày tương ứng Chính vì vậy, quá

trình MLF ở mẫu E được kết thúc

nhanh hơn (chỉ trong 18 ngày), trong

khi đó các mẫu F và M phải mất 25 và

32 ngày tương ứng

Bảng 2 cho thấy mẫu rượu vang

được lên men bằng cấy giống vi

khuẩn malolactic ở giữa quá trình lên

men rượu có hàm lượng axít

axetic là cao nhất và diacetyl là thấp

nhất, tương ứng là 0,91g/L và

1,6mg/L Ngược lại, ở mẫu rượu

vang được cấy giống vi khuẩn

malolactic sau khi lên men rượu kết

thúc lại có hàm lượng axít acetic thấp

nhất (0,35g/L) và hàm lượng diacetyl

cao nhất (2,9mg/L) Axít acetic là

axít bay hơi quan trọng nhất được

sản xuất trong quá trình lên men

rượu vang Ở nồng độ vượt quá

0,7g/L, axít acetic tạo cho rượu vang

vị chua và mùi dấm Diacetyl là một

chất thơm quan trọng, trong khoảng

nồng độ từ 1-4mg/L nó tạo ra hương

thơm của bơ cho rượu vang

(Bar-towsky et al.,, 2004)[1] Các kết quả

mà chúng tôi thu được ở đây cũng

phù hợp với những phát hiện đã

được Morenzoni công bố năm 2005

khi đã chỉ ra rằng, trong lên men

đồng thời giữa nấm men và vi khuẩnmalolactic, rượu vang có hàm lượngaxít bay hơi nhiều hơn và hàm lượngdiaxetyl ít hơn so với rượu vang đượclên men rượu và malolactic tuần

tự[9] Một số nghiên cứu khác cũngcho thấy, nếu quá trình lên men mal-olactic bắt đầu trước khi lên menrượu hoàn thành thì vi khuẩn malo-lactic cũng có thể lên men các loạiđường hexose chưa được lên menhoàn toàn bởi nấm men rượu (Lon-vaud-Funel, 1999)[7], chính vì vậy

mà hàm lượng axit acetic tăng cao

Mặt khác, quá trình lên men lactic sinh ra diaxetyl nhưng chất bayhơi này lại bị khử khi có mặt của nấmmen trong môi trường, làm cho nồng

malo-độ của nó bị giảm đi (Bartowsky

et al., 2004)[1]

KẾT LUẬN

Trong sản xuất rượu vang đỏ từdịch ép nho Cabernet Sauvignon, cấygiống vi khuẩn malolactic (chế phẩmViniflora oenos) sau khi quá trình lênmen rượu bởi chủng nấm menSacharomyces cerevisiae SH09 kết thúc

sẽ góp phần làm cho vi khuẩnmalolactic phát triển tốt, quá trình lênmen malolactic thành công với thời gianngắn nhất (18 ngày), trong khi cácphương pháp lên men hỗn hợp (cấy vikhuẩn malolactic vào giữa hoặc cuốiquá trình lên men rượu) đều có thờigian kéo dài hơn (25-32 ngày) Ngoài

ra, phương pháp lên men malolacticsau khi lên men rượu cũng tạo ra hàmlượng axít bay hơi thấp và hàm lượngdiacetyl cao hơn so với phương pháplên men hỗn hợp nấm men và vi khuẩnmalolatic 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Bartowsky, E.J., Costello, P.J., Villa, A & Henschke, P.A., 2004 The chemical and sensorial effects of lysozyme addition to red and white winesover six months cellar storage Aust J Grape Wine Res 10, 143-150

2 Beelman, R B., and R E Kunkee 1985 Inducing simultaneous malolactic-alcoholic fermentation in red table wines Proc Aust Soc Vitic.Oenol Sem on Malolactic Fermentation 97-112

3 Fornairon-Bonnefond C., Camarasa C., Moutounet M., and Salmon J.M., 2001 État des connaissances scientifiques actuelles sur lephénomène d’autolyse des levures et l’élevage des vins sur lies J Int Sci Vigne Vin, 35, 57-78

4 Henick-Kling, T., T E Acree, S A Krieger, M H Laurent, and W D Edinger 1994 Modification of wine flavor by malolactic fermentation WineEast 8-15

5 Lafon-Lafourcade, S., C Geneix, and P Ribéreau-Gayon 1984 Inhibition of alcoholic fermentation of grape must by fatty acids produced bythe yeast and their elimination from yeast ghosts Appl Environ Microbiol 47:1246-1249

6 Lại Quốc Phong, Trương Hương Lan, 2009 Nghiên cứu quá trình lên men malolactic của 2 chủng vi khuẩn lactic O.oeni VF và O.oeni LAB10trong sản xuất nho đỏ tại Việt Nam Báo cáo Khoa học Hội nghị Công nghệ Sinh học toàn quốc, 676-678

7 Lonvaud-Funel, A., 1999 Lactic acid bacteria in the quality improvement and depreciation of wine Antonie van Leeuwenhoek 76, 317-331

8 Massera A, Soria A, Catania C, Krieger S, Combina M., 2009 Simultaneous inoculation of Malbec (Vitis vinifera) musts with yeast andbacteria: effects on fermentation performance, sensory and sanitary attributes of wines Food Technol Biotechnol Vol.47, p.192–201

9 Morenzoni Rich, 2005 Malolactic fermentation in wine, Lallemand Inc Montréal, Canada H1W2N8

10 Phạm Thu Thủy, Nguyễn Thanh Hằng, 2002 Tuyển chọn chủng vi khuẩn thích hợp cho lên men malolactic rượu vang táo Việt Nam, Tạpchí Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 10, 876 – 877

Mẫu Thời gian MLF

(ngày)

Hàm lượng axít acetic (g/L)

Hàm lượng diacetyl (mg/L)

Bảng 2 Ảnh hưởng của thời điểm cấy giống vi khuẩn malolactic vào

rượu vang non tới quá trình lên men malolactic

Ngày nhận bài: 10/6/2015 Ngày chấp nhận đăng bài: 19/6/2015

Trang 34

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

ĐẶT VẤN ĐỀ

Oxy có vai trò không thể thiếu đối

với sự phát triển của nấm men trong

giai đoạn đầu của quá trình lên men

rượu Do vậy, sục khí cho môi trường

dịch lên men ảnh hưởng trực tiếp tới

sự phát triển của nấm men và thông

qua đó tác động tới các sản phẩm trao

đổi chất của quá trình lên men như

ethanol, axit axetic, glyxerol, các

sterol và các axit béo không no

Trong suốt quá trình lên men rượu

vang đỏ, sục khí hay sục oxy là một

kỹ thuật cơ bản và được thực hiện

thông qua các hoạt động khuấy trộn

dịch nho và bã nho, bơm đảo dịch

rượu đang lên men (Ribéreaux

Gayon et al., 2000)[1] Ngoài ra, trong

các quá trình lên men có nguy cơ bị ỳ

thì oxy thường được bổ sung để cải

thiện sự tổng hợp sinh khối, từ đó làm

tăng tốc độ lên men (Salmon et al.,

2005)[2] Dưới điều kiện kỵ khí, quá

trình sinh trưởng của nấm men

thường đòi hỏi bổ sung oxy để tổng

hợp sterol và các axit béo không no,

các thành phần này kết hợp với thành

tế bào giúp tăng cường khả năng bền

vững với ethanol của nấm men

Rosenfeld và cộng sự (2003) đã chỉ ra

rằng sự tổng hợp lipid và sự sinh

trưởng tối ưu của nấm men

Saccharomyces cerevisiae trong quá

trình lên men rượu đòi hỏi nồng độ O2

khoảng 5-7,5 mg/L Quá trình sục khí

dịch hèm cũng đã kích thích sự sảnxuất ethanol, 1-propanol, isoamyl al-cohol và isobutyl alcohol Blateyron vàcộng sự (2003) cho rằng việc bổ sung

5 mg/L O2[3] vào dịch hèm đang lênmen không ảnh hưởng tới các đặc tínhcảm quan của rượu vang so với mẫuđối chứng Tuy nhiên, khi bổ sung quámức (50 mg/L) đã làm giảm chấtlượng sản phẩm do sự tăng lên củamàu nâu trong rượu vang[4]

Ở Việt Nam, một số nghiên cứu vềnấm men và quá trình lên men rượuvang đã được thực hiện với nhiều loạitrái cây như nho Cardinal, vải, táo,

mơ, dứa nhưng những nghiên cứusâu về vai trò của oxy trong quá trìnhlên men, đặc biệt là trong lên menrượu vang từ dịch ép nho CabernetSauvignon vẫn chưa được đề cập

Mục đích của nghiên cứu này là xácđịnh chế độ sục khí vô trùng thích hợp

để quá trình lên men rượu vang từdịch ép nho Cabernet Sauvignon đạthiệu quả cao nhất, tạo ra sản phẩmrượu vang có chất lượng cao

NGUYÊN LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nguyên liệu và vi sinh vật

- Nước nho cô đặc CabernetSauvignon của Rudolf Keller (Ý) cónồng độ chất khô 680Bx

- Chế phẩm enzyme Pectinex Ultra

Clear của hãng Novozym (Đan Mạch)

- Chủng nấm men Saccharomycescerevisiae SH09 trong Bộ sưu tập giốngcủa Viện Công nghiệp Thực phẩm

Phương pháp nghiên cứu

- Xác định thời gian tiêu thụ oxytrong môi trường dịch nho của nấmmen qui mô pilot 1.000L và ảnhhưởng của sục khí vô trùng đến quátrình lên men: Dịch nho cô đặc đượcpha loãng với nước RO theo tỷ lệ1:3w/w, sau đó bổ sung đường saccharose đạt nồng độ chất khô là

250Bx Bổ sung enzyme Pectinex UltraClear (0,01%) và sulphit hóa bằng

Na2S2O5(40mg/L) trong thời gian 4h

Bổ sung (NH4)2HPO4400mg/L và lênmen dịch nho bằng chủng nấm men

S cerevisiae SH09 với tỷ lệ tiếp giống4x106CFU/mL ở điều kiện nhiệt độ

250C Tiến hành sục khí vô trùng theocác chế độ như sau:

Mẫu ĐC (Mẫu đối chứng): khôngsục khí

Mẫu TN1: sục khí 1 lần vào thờiđiểm 0h, tốc độ 0,1 v.v.m, trong 15phút

Mẫu TN2: sục khí 2 lần vào thờiđiểm 0h và 12h của quá trình lênmen, tốc độ sục khí 0,1 v.v.m, 15phút/lần

Mẫu TN3: sục khí 3 lần vào thờiđiểm 0h, 12h và 24h của quá trình lênmen, tốc độ sục khí 0,1 v.v.m,

15 phút/lần

NGHIÊN CỨU CHẾ ĐỘ

sục khí thích hợp cho lên men

rượu vang đỏ từ dịch ép nho

Cabernet Sauvignon quy mô pilot

HÀ TUẤN ANH

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội

TRƯƠNG HƯƠNG LAN, LẠI QUỐC PHONG, NGUYỄN THỊ VIỆT HÀ, VŨ PHƯƠNG NAM

Viện Công nghiệp Thực phẩm

Trang 35

Nghiên cu & Trin khai

Nghiên cu & Trin khai

Xác định thời gian tiêu thụ oxy

trong dịch lên men ở các chế độ sục

khí khác nhau Trong quá trình lên

men rượu, xác định số lượng tế bào

nấm men, hàm lượng đường sót và

hàm lượng ethanol tạo thành

- Xác định số lượng tế bào nấm

men bằng phương pháp đếm tế bào

trên buồng đếm hồng cầu Neubauer

-Improved

- Xác định hàm lượng oxy hòa tan

bằng máy đo oxygen Metler Toledo

- Xác định axít tổng số và axít bay

hơi theo phương pháp của Zoecklein

(1989)[6]

KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

Xác định thời gian tiêu thụ oxy

trong môi trường dịch nho của

nấm men rượu

Oxy đóng vai trò quan trọng trong

quá trình làm tăng sinh khối nấm

men Để nấm men nhanh chóng vượt

qua được pha lag và lên men tạo cồn

tốt thì lượng oxy cần phải cung cấp

đầy đủ cho môi trường Tiến hành sục

khí tại các thời điểm khác nhau trong

quá trình lên men rượu vang quy mô

pilot (1.000 L) và sau đó xác định sự

tiêu thụ oxy trong môi trường dịch

nho, kết quả được trình bày ở Bảng 1

Kết quả ở Bảng 1 cho thấy trong

môi trường không sục khí, nấm men

đã tiêu thụ hết oxy hòa tan ngay trong

60 phút đầu của quá trình lên men Ở

các mẫu có sục khí vào các thời điểm

0h, 12h và 24h của quá trình lên men,

lượng oxy cũng bị nấm men tiêu thụ

lần lượt trong các thời gian là 133

phút, 105 phút và 96 phút Có thể dễ

dàng nhận thấy, mặc dù cùng sục khí

với một lượng bằng nhau trong tất cả

các lần nhưng càng ở những lần sục

khí về sau thì thời gian tiêu thụ oxy

càng nhanh hơn Điều này có thể

được giải thích là do sinh khối nấm

men tăng tỷ lệ thuận với thời gian lên

men nên ở thời điểm 24h thì lượng

sinh khối nhiều hơn ở thời điểm 12h

và 0h, do vậy lượng oxy bị tiêu thụ

đã sục khí và so sánh với đối chứng,kết quả được minh họa ở các Hình 1,

2, 3 và Bảng 2

Hình 1 cho thấy chủng

S cerevisiae SH09 có đường cong sinhtrưởng giống nhau ở tất cả các mẫulên men có sục khí và không sục khí

Hai pha sinh trưởng khác nhau rõ ràngxuất hiện: ban đầu là một pha pháttriển trong 2-3 ngày đầu để đạt tớimột quần thể cực đại ở đầu ngày thứ

tư (đối với mẫu thí nghiệm TN1, TN2

và TN3) và ngày thứ năm (đối với mẫuđối chứng), sau đó là một pha tĩnh mà

ở đó số lượng tế bào được duy trì ổnđịnh Tuy nhiên, hàm lượng oxy cómặt càng nhiều trong môi trường lênmen thì nấm men sinh sản càngmạnh Trong điều kiện sục khí 3 lần,

số lượng tế bào đạt cực đại là 160 x

106CFU/mL so với 130 x 106CFU/mL(sục khí 2 lần), 106 x 106CFU/mL (sụckhí 1 lần) và 85 x 106CFU/mL (khôngsục khí) Cuối quá trình lên men, sốlượng tế bào trong môi trường giảmdần do lắng một phần xuống dưới đáytank lên men

Hình 2 cho thấy việc cung cấp oxylàm tăng tốc độ tiêu thụ đường.Chẳng hạn, trong điều kiện sục khí 3lần (mẫu TN3), chủng nấm men

Mẫu Không

sục khí

Sục khí Lần 1 Lần 2 Lần 3

Đối chứng 60

Bảng 1 Thời gian tiêu thụ oxy trong quá trình lên men rượu (phút)

Hình 1 Sự phát triển của nấm men trong quá trình lên men rượu

Trang 36

Nghiên cu & Trin khai

S cerevisiae SH09 tiêu thụ đường

nhanh nhất, hết 95,5% lượng đường

ban đầu sau 120h, trong khi đó ở mẫu

đối chứng ở thời điểm này mới tiêu

thụ được 75,9% lượng đường ban

đầu Kết thúc quá trình lên men, ở các

Hình 3 cho thấy, ethanol được hình

thành trong suốt quá trình lên men,

song song với sự tiêu thụ đường Tuy

nhiên, ở mẫu đối chứng, hàm lượng

ethanol được tạo ra nhanh hơn so vớicác mẫu có sục khí Ngay sau 24h củaquá trình lên men, hàm lượng ethanol

ở mẫu đối chứng đã đạt là 0,5%v/v,trong khi đó ở các mẫu sục khí mới chỉđạt 0,2%v/v Đó là do trong điều kiệnyếm khí, quá trình lên men tạo cồnđược thực hiện sớm hơn Còn trongcác mẫu có sục khí, sự tiêu thụ cơchất ban đầu dành cho phát triển sinhkhối nên hàm lượng ethanol tạo thànhchậm hơn Mặc dù vậy, quá trình lênmen ở các mẫu có sục khí lại kết thúcnhanh hơn so với mẫu đối chứngkhông sục khí Hàm lượng ethanol ởmẫu đối chứng đạt peak ở 192h

nhưng ở các mẫu sục khí 2 và 3 lần,hàm lượng ethanol lại đạt peak ở168h Hàm lượng ethanol được tạothành gần như nhau đối với các mẫusục khí (13,2-13,6%v/v) và cao hơntrong điều kiện lên men không sục khí(12,6%v/v)

Nồng độ axit axetic của các mẫukhông sục khí, sục khí 1 lần và 2 lầndao động từ 0,19g/L-0,25g/L (Bảng2) Nói chung, với sự hiện diện củaoxy thì axít axetic được sản xuất tănglên bởi nấm men S cerevisiae Ciani

et al (2000)[7] cho thấy một chủng

S cerevisiae sản xuất đến 3,63g/L axítaxetic trong điều kiện hiếu khí so với0,8g/L trong điều kiện yếm khí [7].Trên thực tế, trong quá trình lên menrượu, axít axetic là sản phẩm của quátrình thủy phân acetyl CoA có nguồngốc từ các phản ứng khử carboxyl hóaoxy hóa axít pyruvic, phản ứng nàydiễn ra ở ty thể, do vậy nên trong quátrình lên men yếm khí, nó bị hạn chế.Như vậy, có thể thấy rằng: ở mẫuđối chứng không sục khí, dịch nho khipha chế đã có sẵn một lượng oxy hòatan nhất định Nấm men ngay lập tứctiêu thụ nguồn oxy này trong 60 phútđầu tiên của quá trình lên men Hàmlượng oxy hòa tan thấp không đủcung cấp oxy cho quá trình sinhtrưởng và phát triển của tế bào nấmmen, giảm khả năng nảy chồi, hấpphụ nitơ, quá trình lên men khôngđược thực hiện hoàn toàn, hàm lượngđường sót còn lại cao (25,2g/L).Không sục khí vào dịch hèm dẫn đếnnguy cơ bị ỳ trong quá trình lên menkhá thường gặp khi sản xuất rượuvang ở qui mô công nghiệp (Ingledew, 1985)[8]

Ở mẫu sục khí vô trùng ngay tạithời điểm 0h, lượng oxy cũng bị tiêuthụ nhanh chóng chỉ sau 132 phút củaquá trình lên men Nấm men mauchóng trải qua pha lag và đạt số lượng

tế bào nấm men cực đại là 106 x106CFU/mL, cao hơn ở mẫu đối chứng(85 x 106CFU/mL) Tuy nhiên, việc chỉ

bổ sung oxy một lần ở giai đoạn đầunày chưa đủ để nấm men tăng trưởng

và lên men triệt để nên hàm lượngđường sót vẫn còn đến 16,4g/L

Do vậy, bổ sung thêm oxy vào giaiđoạn đầu của quá trình lên men, mụcđích làm tăng sinh khối tế bào mộtcách nhanh chóng Lúc này, lượng

Hình 2 Sự tiêu thụ đường trong quá trình lên men rượu

Hình 3 Sự tạo thành ethanol trong quá trình lên men rượu ở

các điều kiện sục khí khác nhau

... mạnh đầu tư đổi

mới công nghệ; loại thải dần

công nghệ cũ, lạc hậu; bước

trang bị công nghệ tiên

tiến; đặc biệt ngành

sản phẩm công nghệ cao, công

nghệ. ..

án đầu tư sử dụng công nghệ cao ,công nghệ thân thiện môitrường Xây dựng chế đặc biệtthu hút nhà đầu tư, tranh thủcác kênh chuyển giao, hợp tác khoahọc công nghệ, đặc biệt đầu tưtrực tiếp nước...

CÔNG NGHỆ MỚI

Sự phát triển KHCN ngành Thuốc lákhông thể không kể đến quan tâmcủa Bộ Công Thương, Tổng công tyThuốc Việt Nam, không ngừngđầu tư cho nghiên cứu khoa học ứngdụng

Ngày đăng: 19/03/2022, 09:52

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w