Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD, trong đó riêng mặt hàng tôm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%.Như vậy, mặc dù có những thời điểm
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI KHOA TÀI CHÍNH - NGÂN HÀNG
HỌC PHẦN: KINH DOANH CHỨNG KHOÁN
hướng dẫn Lớp học phần Sinh viên thực hiện
BÁO CÁO THẢO LUẬN
: Lê Đức Tố : 2120BKSC2211 : Nhóm 3
Trang 2Hà Nội, tháng 04 năm 2021
Trang 3MỤC LỤC
1 Tổng quan ngành thủy sản 1
2 Diễn biến ngành thủy sản 1
2.1 Nhu cầu tiêu thụ và tình hình sản xuất
trong ngành 1
2.2 Điểm chính trong ngành năm 2020 4
2.3
3 Ảnh hưởng của EVFTA
3.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU 6 3.2 Các doanh nghiệp hoạt động chính trong ngành 8 4 Triển vọng tăng trưởng ngành thủy sản năm 2021 10 II Công ty cổ phần Vĩnh Hoàn 12 1 Tổng quan về công ty cổ phần Vĩnh Hoàn 12 2 Cơ hội và rủi ro của công ty 13 2.1 Cơ hội 13 2.2 Rủi ro 15 3 Phân tích hoạt động sản xuất - kinh doanh của công ty 15 3.1 Hoạt động chế biến và xuất khẩu thủy sản 15 3.2
3.3
4 Đánh giá hiệu quả sản xuất và kinh doanh của Vĩnh Hoàn 21 4.1 Doanh thu - lợi nhuận 21 4.2 Tài sản - nợ 23 5 Triển vọng kinh doanh của VHC năm 2021 23 6 Cổ phiếu VHC 24 TÀI LIỆU THAM KHẢO
BẢNG ĐÁNH GIÁ NHÓM
Trang 4I Ngành thủy sản
1 Tổng quan ngành thủy sản
Sở hữu đường bờ biển dài 3,260 km và khu đặc quyền kinh tế với diện tích 1triệu km2, Việt Nam là một đất nước đầy tiềm năng để phát triển ngành nuôi trồng vàđánh bắt thủy hải sản Nước ta sở hữu nhiều chủng loại thủy sản đa dạng được phân
bố dựa trên sự khác biệt về đặc điểm địa lý và về khí hậu:
Khu vực miền Bắc với thế mạnh về các loại cá nước ngọt, chăn nuôi cá lúa và nuôi cá lồng trên biển
Khu vực miền Trung tập trung vào nuôi thâm canh tôm sú và nuôi cá lồngtrên biển và tôm hùm
- Khu vực miền Nam sở hữu nhiều loại hình chăn nuôi đa dạng như nuôi ao,hàng rào, nuôi lồng cho cá da trơn và nhiều chủng loại khác như cá lóc, cá
rô đồng, tôm càng xanh được nuôi thâm canh tích hợp với các chủng loạikhác như mô hình chăn nuôi kết hợp cá - lúa, tôm lúa và mô hình nuôitrồng thủy sản kết hợp với rừng ngập mặn
Các loại thủy sản thế mạnh tại Việt Nam gồm: cá da trơn, tôm, cá rô phi cùngvới một số chủng loại đang trên đà tăng trưởng như các loài nhuyễn thể có vỏ và cábiển như cá bớp, cá tuyết và cá mú Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh nhất tại cáctỉnh Đồng Bằng Sông Mekong, chiếm đến 75% - 80% sản lượng cá da trơn và tômtoàn quốc
Phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của quốc gia, sản xuất hànghóa lớn gắn với công nghiệp hóa - hiện đại hóa, phát triển bền vững và chủ động thíchứng với biến đổi khí hậu; cơ cấu và hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, năng suất, chấtlượng, hiệu quả cao; thương hiệu uy tín, khả năng cạnh tranh và hội nhập quốc tế; đờisống vật chất tinh thần của người dân không ngừng nâng cao, bảo đảm an sinh xã hội;góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền biển đảo của Tổquốc
2 Diễn biến ngành thủy sản
2.1 Nhu cầu tiêu thụ và tình hình sản xuất trong ngành
2.1.1 Nhu cầu tiêu thụ thủy sản
Theo báo cáo “Thực trạng khai thác và Nuôi trồng thủy sản thế giới năm 2020
- SOFIA 2020” của FAO (Tổ chức Nông lương Liên hợp quốc), tiêu thụ thủy sảnbình quân đầu người tăng từ 9kg trong năm 1961 lên 20,5kg trong năm 2018, tăngtrưởng khoảng 1,5%/năm Đồng thời, từ năm 1861, tiêu thụ thủy sản hàng năm trêntoàn cầu tăng trung bình 3,1% vượt mức tăng dân số 1,6% và vượt mức tăng tiêu thụcủa tất cả các loại thực phẩm giàu protein khác (thịt bò, gia cầm, sữa) với 2,1%/năm
Trang 5Theo dự báo của FAO đến năm 2030, tiêu thụ thủy sản thế giới sẽ tăng 18%(28 triệu tấn) so với năm 2018, đạt mức 21,5kg/ người Mặc dù tốc độ tăng trườnghàng năm sẽ chậm hơn trong 10 năm tới ở mức 1,4% so với 2,6% trong giai đoạn2017-2018 Tốc độ tăng trường chậm hơn chủ yếu do tăng trưởng sản xuất giảm, giácao hơn và dân số giảm
Nhờ những đặc tính như chất lượng nguyên liệu tốt, sản phẩm chế biến phongphú, hàng thủy sản nước ta có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới Với kỳvọng mức độ ảnh hưởng của dịch Covid - 19 sẽ giảm dần và sự hỗ trợ của các Hiệpđịnh thương mại tự do, giới phân tích cho rằng, các kênh tiêu thụ chính của các sảnphẩm thủy sản sẽ dần hoạt động trở lại, hỗ trợ đà tăng trưởng cho lĩnh vực này trongnăm 2021
Thị trường nội địa chưa phải là trọng tâm của ngành thủy sản do người Việtthói quen ưa chuộng, sử dụng thủy sản tươi sống hơn là các sản phẩm đông lạnh, đónghộp, dầu cá, nhu cầu các sản phảm chất lượng cao tương đối thấp Thị trường hảisản tươi ở Việt Nam rất phong phú về chủng loại và tiện lợi cho người mua khi ở bất
cứ khu chợ nào cũng có
Thủy sản Việt Nam hiện nay được tiêu thụ ở hơn 160 thị trường Thị trườngtiêu thụ ngày càng được mở rộng và ngày càng có chỗ đứng quan trọng ở những thịtrường lớn Mỹ, Nhật Bản, EU là 3 thị trường lớn nhất, chiếm 50-60% giá trị xuấtkhẩu của Việt Nam
Cả năm 2020, xuất khẩu của ngành thủy sản đạt kim ngạch 8,6 tỷ USD, trong
đó riêng mặt hàng tôm xuất khẩu đạt 3,78 tỷ USD, tốc độ tăng trưởng hơn 12,4%.Như vậy, mặc dù có những thời điểm trồi sụt thất thường trong năm vì dịch bệnh, thịtrường xuất khẩu tôm đã trở thành điểm sáng của ngành xuất khẩu thủy sản năm 2020.Việt Nam là quốc gia có thị phần xuất khẩu cá tra gần như tuyệt đối trên thế giới,chiếm 95%, năm 2019 (theo thống kê của Tổ chức Thương mại thế giới -ITC)
là nơi phát sinh và phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ản Độ - TháiBình Dương với chừng 11,000 loài sinh vật đã được phát hiện Bên cạnh đó, ViệtNam có hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường biển dài rất thuận lợi phát triển hoạtđộng khai thác và nuôi trồng thủy sản
Trang 6Từ 1995 - 2020: Sản lượng thủy sản VN tăng mạnh, tăng gấp hơn 6 lần, từ 1,3triệu tấn năm 1995 lên 8,4 triệu tấn năm 2020, tăng trưởng trung bình hàng năm 8%.Trong đó, sản lượng NTTS chiếm 54%, khai thác chiếm 46%.
Sản lượng nuôi trồng thủy sản của Việt Nam tăng gấp 11 lần, tăng trưởng trungbình hàng năm 10% từ 415 nghìn tấn lên gần 4,6 triệu tấn Nuôi trồng thủy sản phục
vụ cho xuất khẩu tập trung chủ yếu ở Đồng bằng sông Cửu Long (chiếm 95% tổngsản lượng cá tra và 80% sản lượng tôm)
Sản lượng thủy sản Việt Nam, 1995 - 2020
Trang 74Sản lượng khai thác thủy sản của Việt Nam tăng gấp hơn 4 lần, tăng trườngtrung bình năm 6% từ 929 nghìn tấn lên 3,85 triệu tấn.
Trang 82.2 Điểm chính trong ngành năm 2020
2.2.1 Sự thay đổi cơ cấu ngành sau Covid - 19
Đại dịch Covid - 19 khiến chuỗi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn trong cả năm.Nhu cầu trên thế giới giảm đáng kể đối với các sản phẩm thủy sản, khiến giá rơixuống các mức thấp mới Giá tôm nguyên liệu trong nước chạm mức đáy 82.500đồng/kg trong tháng 10 (-12% so với cùng kỳ và -14% so với đầu năm) trong khi giá
cá nguyên liệu trong nước giảm xuống còn 17.750 đồng/kg (14% so với cùng kỳ và 10% so với đầu năm) Đáng lưu ý là sự sụt giảm này xảy ra ngay cả trên mức nền thấpcủa năm trước
-Bất chấp nhu cầu giảm, các công ty xuất khẩu tôm vẫn tìm thấy cơ hội từ sựsuy yếu nguồn cung toàn cầu và đẩy mạnh xuất khẩu về sản lượng Theo Rabobank,sản lượng tôm của Ản Độ ước tính giảm từ 10% -15% so với cùng kỳ trong năm 2020,tạo cơ hội cho các quốc gia khác tận dụng gia tăng xuất khẩu Mặt khác, nhu cầu cá traxuất khẩu sụt giảm mạnh do các đợt giãn cách xã hội trong khu vực được thực hiện ởtất cả các thị trường xuất khẩu cá tra chính Điều này không chỉ ảnh hưởng đến giá trịxuất khẩu sang Trung Quốc, thị trường nhập khẩu cá tra hàng đầu mà còn ảnh hưởng
ở cả thị trường Mỹ và EU (thị trường lớn thứ 2 và thứ 3 của Việt Nam)
2.2.2 Kết quả lợi nhuận năm 2020 của ngành
Tổng giá trị xuất khẩu của các công ty thủy sản Việt Nam trong 11T2020 đạt7,7 tỷ USD (-2% so với cùng kỳ) Theo loại sản phẩm, giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,4 tỷUSD (+11% so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,4 tỷ USD (- 25% so vớicùng kỳ) Mặc dù giá trị xuất khẩu tôm tăng trưởng mạnh, nhưng giá bán bình quânthấp khiến tỷ suất lợi nhuận gộp của các công ty xuất khẩu tôm giảm Các công tyxuất khẩu cá tra cũng ghi nhận tỷ suất lợi nhuận gộp giảm đến Q3 Tuy nhiên, do giá
Trang 9tôm và cá tra bắt đầu tăng từ đầu quý 4, kỳ vọng tỷ suất lợi nhuận
các công ty xuất khẩu, bắt đầu từ Q4/2020
VASEP ước tính giá trị xuất khẩu thủy sản đến cuối năm đi ngang so với cùng
kỳ năm trước (đạt 8,6 tỷ USD), trong đó giá trị xuất khẩu tôm đạt 3,8 tỷ USD (+12,4%
so với cùng kỳ) và giá trị xuất khẩu cá tra đạt 1,5 tỷ USD (-24% so với cùng kỳ)
2.2.3 Các sự kiện đáng chú ý khác
Hiệp định EVFTA có hiệu lực từ tháng 8, trong đó thuế nhập khẩu của EUđược giảm ngay lập tức đối với tôm nguyên liệu (từ 4,2% xuống 0,0%) và cá tra (từ5,5% xuống 4,1%) Đối với cá tra, mức giảm thuế không đáng kể không đủ bù đắpcho sự sụt giảm của nhu cầu từ EU, và xuất khẩu cá tra sang EU phục hồi rất chậm tớicuối năm Ngược lại, hiệp định tác động tích cực tới xuất khẩu tôm kể từ tháng 8,khiến giá trị xuất khẩu hàng tháng liên tục tăng trưởng so với cùng kỳ tính đến tháng
Tỳ suất lợi nhuận gộp của các công ty xuất khẩu thủy sàn theo quý
Trang 10Việc Trung Quốc thắt chặt kiểm soát hải sản nhập khẩu bắt đầu từ đầu tháng
11, gây ra sự ách tắc tại các cảng biển của Trung Quốc Theo VASEP, thời gian thôngquan theo chính sách mới sẽ mất thêm 20-30 ngày, gây áp lực cho các công ty xuấtkhẩu do việc giao hàng bị chậm và chi phí cho container lạnh tăng
Việt Nam bị gắn nhãn là nước thao túng tiền tệ trong báo cáo gần đây của BộTài chính Hoa Kỳ “Chính sách kinh tế vĩ mô và ngoại hối của các đối tác thương mạilớn của Hoa Kỳ” Kể từ đó, dấy lên mối quan ngại Mỹ có thế áp thuế đối với hàng hóanhập khẩu từ Việt Nam (như đã thực hiện với hàng hóa của Trung Quốc vào tháng3/2018) và thủy sản có thể là một trong những sản phẩm bị đánh thuế đầu tiên Mặc
dù vậy các công ty xuất khẩu cho rằng khả năng bị áp thuế là khá thấp và chính phủViệt Nam cũng đang cố gắng giải quyết vấn đề này với chính phủ Hoa Kỳ
2.3 Kết luận
Diễn biến ngành: KHẢ QUAN
Trang 11Các công ty ngành thủy sản trong phạm vi nghiên cứu của chúng tôi tăng 18%
so với đầu năm và 86% từ mức đáy vào tháng 3, tăng cao hơn so với chỉ số VNIndexlần lượt tăng 15% và 67% Các cổ phiếu nổi bật: Các công ty xuất khẩu tôm (MPC:+55% so với đầu năm, CMX: +70% so với đầu năm và FMC: +41% so với đầu năm)tăng trưởng ấn tượng, trong khi các công ty xuất khẩu cá tra (VHC: +9% so với đầunăm, IDI: +43% so với đầu năm, ANV: +21% so với đầu năm, ABT: -9% so với đầunăm và HVG: -56% so với đầu năm) có một năm khó khăn hơn và ghi nhận kết quảkinh doanh trái ngược Trong khi các công ty xuất khẩu tôm tận dụng được cơ hội donguồn cung từ Ản Độ suy yếu, các công ty xuất khẩu cá tra vẫn đang gặp khó khănkhi các thị trường xuất khẩu chủ lực phục hồi không ổn định, đặc biệt là thị trườngTrung Quốc
3 Ảnh hưởng của EVFTA
Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên Minh Châu Âu
(EVFTA) đã được nghị viện Châu Âu thông qua chính thức vào tháng 2/2020 và quốchội Việt Nam thông qua vào tháng 6/2020, có hiệu lực chính thức từ ngày 1/8/2020.Hiệp định này được coi là cú hích quan trọng cho tăng trưởng kinh tế của Việt Namtrong 5-10 năm tới, ngoài ra nó còn có ý nghĩa góp phần đa dạng hóa thị trường xuất,nhập khẩu của Việt Nam Theo nghiên cứu của Bộ Kế hoạch và đầu tư, hiệp địnhEVFTA sẽ góp phần làm GDP của Việt Nam tăng thêm khoảng 2,18% đến 3,25% vàonăm 2025 (giai đoạn 5 năm đầu thực hiện), 4,57%-5,3% vào năm 2030 (5 năm tiếptheo) và 7,07%-7,72% vào năm 2035 so với kịch bản cơ sở (năm 2020)
Tôm nguyên liệu, cá tra được hưởng lợi ngay lập tức từ EVFTA
3.1 Tình hình xuất khẩu thủy sản sang EU
- Kim ngạch xuất khẩu thủy sản năm 2019 đạt 8,6 tỷ USD, chiếm 3,3% tổng kimngạch xuất khẩu của Việt Nam Trong đó, tổng kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,4 tỷUSD, kim ngạch xuất khẩu cá tra đạt 2,0 tỷ USD
- Tôm: Năm 2019, EU tiếp tục là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của ViệtNam, với kim ngạch 690 triệu USD, chiếm 21% tổng xuất khẩu tôm của Việt Nam
Trang 12- Xuất khẩu tôm của Việt Nam sang EU những năm gần đây sụt giảm
trường EU Tôm nhập khẩu từ Ecuador và Morocco đều được EU miễn thuế
Cá tra: Kim ngạch xuất khẩu cá tra sang EU từng đạt 550 triệu USD năm2015,
song sụt giảm mạnh từ năm 2016 và chỉ duy trì ở mức 200 triệu USD mỗi năm.Nguyên nhân do cuối năm 2015, đầu năm 2016 truyền hình Tây Ban Nha thực hiệnmột phóng sự về việc nuôi cá tra bằng lồng, bè ở Việt Nam không đảm bảo vệ sinh, sửdụng thức ăn thủy sản không đảm bảo chất lượng và gây ảnh hưởng đến môi trườngsông Mekong Năm 2019, thị trường EU chỉ chiếm 12% xuất khẩu cá tra của ViệtNam (so với 35% năm 2015)
Trang 131 0
yêu
cầu thủy sản phải được nuôi trồng (hoặc đánh bắt) và chế biến trong nước Đối vớingành hàng cá tra, các doanh nghiệp chế biến cá tra đều đạt tiêu chuẩn này Đối vớingành hàng tôm, một số doanh nghiệp có nhập khẩu tôm từ Ản Độ để chế biến (nhưMinh Phú), song sản lượng nhập khẩu không đáng kể (tôm nhập khẩu chỉ chiếmkhoảng 16% tôm nguyên liệu sử dụng tại Việt Nam), do đó không ảnh hưởng đến khảnăng hưởng lợi về ưu đãi thuế của doanh nghiệp
Trang 14- Tuy vậy, để tăng trưởng xuất khẩu được bền vững, các doanh nghiệp nêncó
chứng nhận ASC, tuy đây không phải là yêu cầu bắt buộc nhưng là chứng nhận sinhthái đang ngày càng phổ biến đối với các mặt hàng thủy sản nuôi trồng nhập khẩu vào
EU Chứng nhận này gồm có các tiêu chuẩn về tác động môi trường, bảo tồn tàinguyên nước và quần thể hoang dã, bảo đảm quyền lợi của người lao động, v.v được cấp bởi Hội đồng quản lý Nuôi trồng thủy sản
3.2 Các doanh nghiệp hoạt động chính trong ngành
- Sau khi EVFTA có hiệu lực từ 1/8/2020, xuất khẩu tôm sang EU28 tăng 15,9%YoY trong tháng 8 và tăng 41,1% YoY trong tháng 9 (tháng 7: +2,0% YoY, tháng 6: -7,9% YoY) Mức tăng này một phần đến từ sự suy giảm nguồn cung của Ản Độ vàEcuador - 2 quốc gia xuất khẩu tôm lớn nhất thế giới
- Xuất khẩu cá tra vẫn tiếp tục suy giảm YoY và chưa có tín hiệu hồi phục rõràng, với kim ngạch xuất khẩu sang EU28 tiếp tục suy giảm -3,7% YoY trong tháng 8
và -11.7% YoY trong tháng 9 (tháng 7: -1,9% YoY, tháng 6: -32,4% YoY)
xuất khẩu
X -51 9 -9% 5 - Doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu vàoEU/tổng Doanh thu lớn nhất trong các doanh
nghiệp thuộc nghiên cứu của chúng tôi, do đó cótiềm năng hưởng lợi lớn từ EVFTA
- Tuy nhiên doanh nghiệp không công bố thôngtin chi tiết về cơ cấu sản phẩm (tôm nguyên liệu
vs tôm chế biến)
- Riêng trong tháng 8 và tháng 9, Camimex xuấtkhẩu được tương ứng 6,4 triệu USD (+109%YoY) và 6,1 triệu USD (+88% YoY) Tính đếnhết tháng 9, xuất khẩu của Camimex tăng 33%YoY
Trang 151 2
61 -6% 4 - Doanh nghiệp có tỷ trọng xuất khẩu vào EUlớn, có tiềm năng hưởng lợi từ EVFTA.
- Tuy nhiên trong năm 2020, ngành cá tra nóichung vẫn đang gặp khó khăn do nhu cầu tiêu thụtại các thị trường lớn như US, EU, Trung Quốcsuy giảm mạnh và hồi phục yếu do dịch bệnhCovid-19, do đó tác động của EVFTA là chưanhìn thấy ngay lập tức
Trang 16
- - Doanh nghiệp tự chủ 100% về vùng nuôi
chứng nhận ASC đối với vùng nuôi Chiến lượccủa ABT là tập trung đẩy mạnh sản phẩm giá trịgia tăng, đặc biệt là vào thị trường Nhật Bản
C -.710 3 -9% 2 - FMC có cơ cấu sản phẩm với mặt hàng tôm chếbiến chiếm tới 77% Trong ngắn hạn doanh
nghiệp chỉ được hưởng lợi về thuế suất với mặthàng tôm nguyên liệu, trong khi tôm chế biếnphải sau 5 năm mới được hưởng mức thuế giảm
- Doanh nghiệp có kế hoạch phát hành tăng vốnnhằm tăng công suất trong thời gian tới
- Riêng trong tháng 8, FMC xuất khẩu 22,5 triệuUSD, tăng 33% YoY Tính đến hết tháng 8, xuấtkhẩu của FMC tăng 11% YoY
Trang 171 4
C -.867 7 -4% 1 - Mặt hàng cá tra sẽ được giảm thuế dần trong 3năm, do đó VHC sẽ được hưởng lợi ngay lập tức
sau khi EVFTA có hiệu lực
- Tuy vậy, xuất khẩu sang EU của VHC chỉchiếm tỷ trọng khá nhỏ (14%), trong khi các vấn
đề tại thị trường EU như nhu cầu suy giảm dodịch bệnh và hình ảnh cá tra bị tuyên truyền là ônhiễm môi trường vẫn là những lực cản cho khảnăng tăng trưởng xuất khẩu của VHC sang thịtrường này
- Xuất khẩu tháng 9 của VHC đạt 18,2 triệu USD,giảm 9,7% YoY Xuất khẩu 9 tháng giảm 18%YoY
- Cho năm 2020, SSI dự báo doanh thu và lợinhuận của VHC sẽ đạt 7.096 tỷ đồng (-10,1%YoY) và 868 tỷ đồng (-26,4% YoY) Cho năm
2021, chúng tôi dự báo doanh thu và lợi nhuận sẽđạt 8.771 tỷ đồng (+23,5% YoY) và 1.067 tỷđồng (+23% YoY) nhờ sự hồi phục từ cá tra fillet
và sự tăng trưởng từ mặt hàng collagen-gelatin
- SSI dự báo giá mục tiêu cho cổ phiếu VHC là
48.300 VND/cổ phiếu, khuyến nghị Khả quan,
dựa trên định giá từng phần với P/E mục tiêu 7,5xvới ngành hàng truyền thống (cá tra fillet, phụphẩm) và P/E mục tiêu 10x với ngành hàngcollagen-gelatin và EPS 2021
Trang 18
-4 Triển vọng tăng trưởng ngành thủy sản năm 2021
- Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê, trong 2 tháng đầu năm 2021, sảnlượng
thủy sản cả nước đạt 1.141,4 ngàn tấn, tăng 1,5% so với cùng kỳ năm trước, gồm sảnlượng nuôi trồng đạt 200,5 ngàn tấn, tăng 2,5% sản lượng khai thác đạt 540,9 ngàntấn, tăng 0,5% (sản lượng thủy sản khai thác biển đạt 512,7 ngàn tấn, tăng 0,5%)
- VASEP dự báo xuất khẩu thủy sản có thể tăng trưởng 10% so với cùng
- Có 137 doanh nghiệp có trị giá xuất khẩu trong tháng 1/2021 đạt từ 1 đến9,9
triệu USSD Còn lại la các doanh nghiệp xuất khẩu đạt trị giá dưới 1 triệu USD, chiếm25,5 % tổng giá trị giá xuất khẩu thủy sản cả nước
- 2 tháng đầu năm 2021, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam ước đtạ 259,1ngàn
tấn với trị giá 1,011 tỷ USD, tăng 5,5% về lượng và giảm 0,7% về trị giá so với cùng
kỳ năm 202, chiếm 2% tổng giá trị xuất khẩu hàng hóa của cả nước như vậy xuấtkhẩu thủy sản của Việt Nam những táng đầu năm 2021 chwua có nhiều biến đổi lớn
do với năm 202 Dự báo, xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sẽ tăng tốc manhk từ tháng3/2021 do các doanh nghiệp đã có sự quyết tâm và chauanr bị kỹ lưỡng từ nguồn cungtới sản xuất đẩy mạnh xuất khẩu thủy sản trong năm 2021
- Sau khi tăng 23,4% trong tháng 1/2021 đặt 606 triệu USD, với những tínhiệu
tích cực từ mặt hàng các tra, các loại cá biển (trừ cá ngừ), tôm chân trắng và xuấtkhẩu sang một số thị trường chủ lực tăng mạnh như Mỹ, Nhật Bản, Australia, Mexico,Đài Loan, Brazil, xuất khẩu thủy sản của cả nước trong tháng 2 giảm khoảng 19% sovới cùng kỳ năm 2020 ước đạt trên 405 triệu USD Mức tăng trưởng âm này là dotháng 2 năm nay trùng với kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, thời gian sản xuất, khai thác, chếbiến ít hơn so với tháng 2/2020 Như vậy, lũy kế đến hết tháng 2/2021, xuất khẩu thủy
Trang 191 6
sản đạt trên 1 tỷ USD, tăng 2,2%
- Trong 2 tháng đầu năm, xuất khẩu các sản phẩm thủy sản của Việt Namtiếp
tục bị chi phối bởi xu hướng tiêu thụ của thị trường trong bối cảnh dịch Covid vẫnnghiêm trọng theo đó, nhu cầu vẫn nghiêng về các sản phẩm thủy sản có giá vừa phải,
dễ chế biến, có thời hạn bảo quản lâu, phù hợp với chế biến và tiêu thụ tại nhà như:
Trang 20- tôm chân tráng cỡ nhỏ đông lạnh, tôm chân trắng chế biến,
304 triệu tăng khoảng 14% so với cùng kỳ năm ngoái, tôm sú chỉ chiếm 10% đtạkhoảng 38 triệu USD giảm 48%
- 1 Tổng quan về công ty cổ phần Vĩnh Hoàn
- Công Ty Cổ Phần Vĩnh Hoàn là một trong những công ty chế biến vàxuất
khẩu cá tra, basa hàng đầu của Việt Nam Được thành lập vào ngày 27 tháng 12 năm
1997 tại thành phố Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp, thuộc đồng bằng sông Cửu Long Từmột công ty nhỏ chuyên về chế biến và xuất khẩu cá tra và basa đông lạnh, với chiếnlược phát triển đúng đắn và tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, Công ty đã đạtđược những kết quả hết sức ấn tượng và tạo dựng được thương hiệu uy tín
• Kinh doanh dịch vụ du lịch sinh thái
Trang 211 8
• Sản xuất bao bì giấy, in các loại
• Xây dựng nhà các loại, kinh doanh bất động sản
- Năm 2019, Vĩnh Hoàn tiếp tục là đơn vị dẫn dầu trong việc xuất khẩu cátra
trên toàn cầu và là nhà sản xuất thủy hải sản lớn thứ hai của Việt Nam ( sau CTCPTập Đoàn thủy sản Minh Phú) Thương hiệu Vĩnh Hoàn được xây dựng dựa trên chất
Trang 22- lượng và dịch vụ với những lợi thế vượt trội, hệ thống sản xuất
- Cơ cấu cổ đông và ban lãnh đạo
- Ban lãnh đạo của Vĩnh Hoàn là những người có trình độ chuyên môn và
lâu dài với Công ty từ những ngày đầu thành lập Trừ bà Trương Thị Lệ Khanh, cácthành viên còn lại trong Ban Giám Đốc và Hội Đồng quản trị chỉ nắm giữ một tỷ lệ cổphần rất nhỏ tại Công ty
- Xét về cơ cấu cổ đông, bà Khanh là người sáng lập ra Vĩnh Hoàn, hiện
vị trí Chủ tịch HĐQT Điều này có khả năng dẫn đến rủi ro cổ đông thiểu số ít cóquyền tham gia vào quyết định trong các vấn đề hoạt động của Công ty Tuy nhiên, sovới mặt tích cực của việc thể hiện sự gắn bó lợi ích lâu dài của thành viên sáng lập vớiCông ty, rủi ro này không đáng quan ngại
2 Cơ hội và rủi ro của công ty
Trang 232 0
2.1 Cơ hội
- Ngành thủy sản có tiềm năng phát triển cao
- Thị trường còn nhiều tiềm năng phát triển, đặc biệt là ở mảng bán lẻ vàsản
phẩm giá trị gia tăng
- Ngành nuôi trồng thủy sản trên thế giới ngày càng phát triển và thay thếcho
các sản phẩm đánh bắt để cung cấp thực phẩm dinh dưỡng cho một lực lượng dân sốđang gia tăng, tạo cơ hội cho sản phẩm chính và cả những sản phẩm phục vụ cho nuôitrồng
khác, chưa có sản phẩm thay thế một cách trực tiếp loại cá này
- Nguồn lực kinh doanh và sản xuất mạnh
- VHC là doanh nghiệp dẫn đầu ngành xuất khẩu cá tra và duy trì thị phầnquanh
mức trung bình là 15% trong giai đoạn 2016-2020 Điều này đã mang đến cho VHCnhiều thuận lợi
- Theo kết quả kinh doanh mới nhất mà VHC công bố, 11 tháng năm 2020do
ảnh hưởng của dịch COVID-19, doanh thu của VHC đạt khoảng 6,547 tỷ đồng(-7,4% ) Tuy nhiên, theo các chuyên gia đến từ Công ty Chứng khoán Phúc Hưng(PHS), VHC có sức chống chịu khó khăn từ COVID-19 cao hơn các doanh nghiệptrong ngành Trong 9 tháng năm 2020, trong khi doanh thu toàn ngành trung bìnhgiảm 25% so với cùng kỳ, doanh thu của VHC chỉ giảm 11% so với cùng kỳ, mứcgiảm ít nhất so với các doanh nghiệp khác
- VHC là một trong những doanh nghiệp dẫn đầu trong việc định hướng
Trang 24phát triển bền vững ngành cá tra.