1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

MÔ THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP

28 358 2
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Mô thức tổ chức hoạt động quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp
Tác giả Đào Minh Đức
Trường học Sở Khoa học và Công nghệ Tỉnh Vĩnh Long
Chuyên ngành Quản trị tài sản trí tuệ
Thể loại Chuyên đề
Năm xuất bản 2011
Thành phố Vĩnh Long
Định dạng
Số trang 28
Dung lượng 1,58 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHUYÊN ĐỀ MÔ THỨC QUẢN TRỊ TSTT TRONG DOANH NGHIỆP

Trang 1

SỞ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ TỈNH VĨNH LONG CHƯƠNG TRÌNH HỖ TRỢ PHÁT TRIỂN TÀI SẢN TRÍ TUỆ CỦA DOANH NGHIỆP

Chuyên đề

MÔ THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP

TS Đào Minh Đức

3 Đối tượng sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ 03

4 Các đơn vị tài sản trí tuệ trong các mặt hoạt động khác nhau của doanh nghiệp 06

5 Các rủi ro thường gặp liên quan đến các tài sản trí tuệ 09

6 Một số đặc điểm của hoạt động quản trị tài sản trí tuệ 13

7 Một mô thức tổ chức hoạt động quản trị tài sản trí tuệ trong doanh nghiệp 15

8 Một số kết quả ban đầu trong việc tổ chức hoạt động nghiên cứu và thực hành về

quản trị tài sản trí tuệ tại Thành phố Hồ Chí Minh

21

9 Kết luận 22

1 Tóm tắt

Quản trị tài sản trí tuệ là một trong các lĩnh vực quản trị chuyên ngành tương đối mới, xuất

hiện tại các nước phát triển từ thập niên 1990s, nhưng chưa được nghiên cứu và áp dụng một cách

có hệ thống tại Việt Nam

Theo yêu cầu chia sẻ kinh nghiệm với một số doanh nghiệp tỉnh Vĩnh Long, bài viết giới thiệu

một số đúc kết ban đầu qua các hoạt động nghiên cứu và thực hành của tập thể thành viên tham

gia Chương trình Đào tạo Quản trị viên Tài sản trí tuệ do Sở Khoa học và Công nghệ TP.HCM

phối hợp cùng Viện Khoa học Sở hữu Trí tuệ Việt Nam thuộc Bộ KH&CN tổ chức, bắt đầu từ

tháng 5.2008, với sự hỗ trợ chuyên môn của nhiều chuyên gia, công chức thuộc nhiều tổ chức

khác nhau như: Văn phòng Đại diện Cục Sở hữu Trí tuệ, Văn phòng Đại diện Cục Bản quyền Tác

giả, Văn phòng Đại diện Cục Trồng trọt, Văn phòng Đại diện Cục Quản lý Cạnh tranh… tại

TP.HCM, Trung Tâm Internet Việt Nam, Hội Sở hữu Trí tuệ TP.HCM , nhằm góp phần triển

khai Chương trình Hỗ trợ Phát triển Tài sản trí tuệ đã được Thủ Tướng Chính phủ phê duyệt theo

đề nghị của Bộ Khoa học và Công nghệ

Trang 2

2 Sáng kiến đổi mới (innovation) và tài sản trí tuệ (intellectual asset - IA)

Trước hết, trong hoạt động hàng ngày của một doanh nghiệp, bên cạnh các công việc đều đặn tuân thủ theo các quy trình đã được hoạch định, luôn luôn có thể xuất hiện các khó khăn cần phải khắc phục hoặc các tình huống ngoài dự liệu phải được xử lý, đòi hỏi người lao động ở các vị trí liên quan phải suy nghĩ và tìm ra các cách thức, biện pháp giải quyết Các giải pháp hữu dụng mới nảy sinh đó được gọi chung là các sáng kiến đổi mới (innovation) 1 Cụ thể, Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể phát hiện một cơ hội đầu tư mới trên sân gôn, Trưởng Phòng Kỹ thuật trong một lần lướt web có thể tìm thấy một sáng chế ở nước ngoài có giá trị khai thác thương mại tại thị trường nhiều nước khác mà chủ sở hữu sáng chế đã không quan tâm đến và cũng không còn cơ hội đăng ký bảo hộ tại các thị trường đó, một nhà thiết kế (designer) trong một phút ngẫu hứng có thể phác họa một mẫu thiết kế sẽ trở thành một trong các chỉ dẫn thương mại quan trọng nhất trong phong cách kinh doanh (corporate identity) của công ty, một nhân viên marketing đang mải miết quan sát cách trình bày và thái độ chọn mua của khách trước quầy hàng trong siêu thị có thể bật ra trong đầu một tên nhãn hiệu (brand name) mới có tính phân biệt cao và độ gợi nhớ tốt giúp tiết giảm chi phí truyền thông trong giai đoạn đầu xâm nhập thị trường cho một sản phẩm mới, một công nhân cơ khí thành thạo có thể chợt chú ý và phát hiện sự thay đổi đôi chút trong độ cong của một chi tiết máy đã làm tăng độ ổn định ở đầu ra của một dây chuyền ngoại nhập sử dụng nguyên, vật liệu nội địa…

Dòng sáng kiến đa dạng đó, một khi được bộc lộ ra và cụ thể hóa theo một quy trình quản trị thích hợp, sẽ là các tri thức mới hòa thêm vào dòng dữ liệu (data), dòng thông tin (information)

và dòng tri thức (knowledge) hiện có trong tổ chức, giúp bổ sung và phát triển không ngừng dòng tài sản trí tuệ (intellectual asset - IA) của doanh nghiệp

Có thể giải thích chi tiết hơn hai thuật ngữ “tài sản” và “trí tuệ” trong khái niệm “tài sản trí

tuệ” như sau:

“Tài sản” theo nghĩa pháp lý được phân thành bốn dạng: tiền, vật, giấy tờ có giá và “quyền

tài sản”2 “Quyền tài sản” là các quyền trị giá được bằng tiền và có thể trao đổi trong giao dịch

có thể gọi vắn tắt là sáng kiến

2 Theo Điều 163 Bộ Luật Dân sự

Trang 3

dân sự (như quyền sử dụng đất, hợp đồng thuê mướn cầu thủ, thỏa thuận gia công ), kể cả quyền

sở hữu trí tuệ 3 Quyền sở hữu đối với một tài sản cụ thể 4 bao gồm ba khía cạnh: quyền chiếm

hữu tài sản 5, quyền sử dụng tài sản 6 và quyền định đoạt tài sản 7

“Trí tuệ” trong “tài sản trí tuệ” dùng để chỉ các sản phẩm trí tuệ, thường được trình bày một cách đầy đủ, rõ ràng hoặc bộc lộ một phần trên rất nhiều tài liệu quen thuộc trong doanh nghiệp như: bản vẽ kỹ/mỹ thuật), đồ án thiết kế/bố trí mặt bằng/công trình kiến trúc…, bản mô tả quy trình kỹ thuật/sản xuất/tác nghiệp…, bản báo cáo thông tin/sưu tập dữ liệu/ cơ sở dữ liệu, phương

án kỹ thuật/tác nghiệp/tổ chức sản xuất/tiếp thị/bán hàng/tài chính…

Theo đó, có thể tạm định nghĩa: “tài sản trí tuệ của một doanh nghiệp là bất kỳ các dữ liệu, thông tin hoặc bí quyết, tri thức nào mà một doanh nghiệp có thể sở hữu hoặc chiếm hữu một cách hợp pháp, thông qua hoạt động sáng kiến đổi mới bên trong doanh nghiệp hoặc tiếp nhận chuyển giao từ bên ngoài

Một tài sản trí tuệ có thể được nhận biết tách biệt với các đơn vị tài sản khác (thí dụ, một quy trình công nghệ là tách biệt với dây chuyền thiết bị áp dụng quy trình công nghệ đó), có vòng đời công nghệ, vòng đời pháp lý hoặc vòng đời kinh doanh độc lập, sau đây sẽ được gọi là một đơn

vị tài sản trí tuệ

3 Đối tượng sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ (intellectual property right – IPR)

Trong dòng sáng kiến đổi mới từ bên trong doanh nghiệp, có những sáng kiến chỉ có tác dụng cục bộ hoặc nhất thời mang tính kinh nghiệm chuyên môn cho một chức danh/vị trí lao động cụ thể; có những sáng kiến có thể áp dụng rộng rãi hơn trong cả doanh nghiệp hoặc có giá trị khai thác trong ngắn hạn hay trung hạn; có những sáng kiến lại có thể áp dụng lâu dài hoặc đại trà trong ngành, nghề và cần được bảo vệ thích đáng nhằm hạn chế khả năng sao chép để nhảy vào thị trường của các đối thủ cạnh tranh Mỗi sáng kiến khả dụng đều có thể là một đơn vị tài

sản trí tuệ theo định nghĩa bên trên

Một đơn vị tài sản trí tuệ nếu có tính mới ở mức độ nhất định với vòng đời và giá trị thương mại lâu dài có thể trở thành một đối tượng sở hữu trí tuệ phù hợp với các định nghĩa tương ứng của pháp luật sở hữu trí tuệ về: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, nhãn hiệu, chỉ dẫn địa lý, quyền tác giả (copyright), giống cây trồng 8

3 Theo Điều 181 Bộ Luật Dân sự

4 Theo Điều 164 Bộ Luật Dân sự

5 Được định nghĩa tại Điều 182 Bộ Luật Dân sự

6 Được định nghĩa tại Điều 192 Bộ Luật Dân sự

7 Được định nghĩa tại Điều 195 Bộ Luật Dân sự

8 Các định nghĩa này này được đưa ra tại Điều 4 Luật Sở hữu trí tuệ

Trang 4

Tập hợp các đối tượng sở hữu trí tuệ mà một doanh nghiệp nắm giữ được gọi là tập đối

tượng sở hữu trí tuệ (IP Portfolio)của doanh nghiệp đó Pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam hiện hành quy định có ba nhóm đối tượng sở hữu trí tuệ sau 9:

¾ Đối tượng của quyền tác giả là các loại tác phẩm văn học, nghệ thuật và khoa học; đối

tượng của quyền liên quan đến quyền tác giả bao gồm: cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi

hình, chương trình phát sóng, tín hiệu vệ tinh mang chương trình được mã hoá;

¾ Đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp bao gồm: sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý;

¾ Đối tượng của quyền đối với giống cây trồng: là vật liệu nhân giống và vật liệu thu hoạch

Một đối tượng sở hữu trí tuệ nếu thỏa mãn các điều kiện bảo hộ độc quyền tương ứng của pháp luật sở hữu trí tuệ và được doanh nghiệp xúc tiến đầy đủ các biện pháp hoặc thủ tục bảo hộ thích ứng, sẽ giúp xác lập một quyền sở hữu trí tuệ (IPR) cho doanh nghiệp như: bằng độc

quyền sáng chế, bằng độc quyền kiểu dáng công nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu… Theo đó, các đối tượng sở hữu trí tuệ và các quyền sở hữu trí tuệ là hai nhóm tài sản trí tuệ

đặc biệt Một doanh nghiệp có thể tạo ra nhiều đối tượng sở hữu trí tuệ, nhưng nếu chưa quan tâm đến việc vận dụng pháp luật sở hữu trí tuệ để biến các đối tượng sở hữu trí tuệ đó thành các độc quyền thương mại và do vậy, không xúc tiến các thao tác hoặc thủ tục tương ứng theo quy định của pháp luật sở hữu trí tuệ, sẽ không có được quyền sở hữu trí tuệ đối với chính các đối tượng sở hữu trí tuệ đó Nói một cách khác, có thể coi như doanh nghiệp đã tự từ bỏ một tài sản (dưới dạng quyền tài sản) đối với thành quả của quá trình sáng tạo hoặc đầu tư cho sáng tạo của chính mình

Khác biệt quan trọng nhất của các quyền sở hữu trí tuệ so với các tài sản trí tuệ khác, nói theo ngôn ngữ quản trị, là độc quyền sử dụng trong thương mại 10: chưa được sự cho phép của (các) chủ sở hữu, không một chủ thể nào khác được phép sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ tương ứng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các lãnh thổ đã được bảo hộ

Hai ví dụ sau đây minh họa phần nào tác dụng của các quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động marketing

9 Theo Điều 3 Luật Sở hữu trí tuệ

10 Ngôn ngữ pháp lý sử dụng cách phát biểu chặt chẽ hơn, theo đó, quyền sở hữu trí tuệ là “quyền phủ định” hành

vi sử dụng của các chủ thể khác đối với đối tượng sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ

Trang 5

Giả định doanh nghiệp X muốn tung ra thị trường một sản phẩm mới Nếu không vận dụng đến các độc quyền sở hữu trí tuệ, ngay trong giai đoạn đầu xâm nhập thị trường, hàng loạt vấn đề tiếp thị quen thuộc sẽ được đặt ra như: nên tung sản phẩm ra ở quy mô nào? Nếu chỉ tung loạt nhỏ để kiểm nghiệm thực tế về nhu cầu (need) và ý thích (wants) của khách hàng và may mắn là sản phẩm mới được thị trường hưởng ứng, các đối thủ cạnh tranh sẽ nhận biết ngay được thời cơ kinh doanh mới và nếu họ lại mạnh hơn về lợi thế thương mại, lợi thế công nghệ, lợi thế tài chính hoặc lợi thế hình ảnh, doanh nghiệp X có thể sẽ không kịp xác lập được thị phần kỳ vọng Ngược lại, nếu doanh nghiệp X đã tổ chức nghiên cứu thị trường (vốn khá tốn kém), ghi nhận được các đánh giá lạc quan và quyết định sẽ tung sản phẩm trên quy mô lớn nhằm tạo rào cản ban đầu đối với các đối thủ cạnh tranh; sau đó, mức độ hưởng ứng thực tế của khách hàng mục tiêu lại không đạt kỳ vọng, kế hoạch doanh thu trong ngắn và trung hạn sẽ gặp vấn đề lớn

Đây là một trong các thách thức thường gặp đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhưng gánh nặng marketing này có thể được giảm nhẹ nếu doanh nghiệp X quan tâm xác lập quyền sở hữu trí tuệ đối với sáng chế hoặc/và kiểu dáng công nghiệp hoặc/và giống cây trồng hoặc/và quyền tác giả hoặc/và nhãn hiệu có thể có… đối với sản phẩm mới đó Thí dụ, với ngày ưu tiên được ghi

nhận trên các đơn đăng ký hợp lệ đối với sáng chế, nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp… liên quan, doanh nghiệp X đã tạo dựng được một lợi thế pháp lý 11 ban đầu để có thể yên tâm xúc tiến chiến dịch tung sản phẩm mới ở bất kỳ quy mô nào, với bất kỳ mức giá nào 12 mà doanh nghiệp cho là phù hợp nhất, mà chưa cần phải bận tâm đến các phản ứng ngắn hạn của các đối thủ cạnh tranh

Trong kinh doanh quốc tế, quyền sở hữu trí tuệ càng thể hiện rõ hơn vai trò của một lợi thế

pháp lý trong việc bảo vệ các cơ hội đầu tư Giả định, cũng doanh nghiệp X khi chào thử một

mẫu hàng thủ công mỹ nghệ mới qua thị trường một số nước phát triển và may mắn nhận được tín hiệu đáp ứng lạc quan từ thị trường quốc tế, thể hiện qua các đơn đặt hàng ngày càng nhiều Ứng xử truyền thống của doanh nghiệp X thường là tiếp tục khai thác hoặc nếu cần thì mở rộng năng lực sản xuất hiện hữu để đáp ứng nhu cầu Tuy nhiên, nếu chú ý đến việc mẫu hàng mới đó

có thể được bảo hộ quyền tác giả theo Công ước Berne tại trên 160 nước khác trên thế giới, doanh nghiệp X có thể vận dụng thêm một phương thức kinh doanh khác: chọn lựa một hoặc một

số đối tác cùng ngành nghề tại từng nước sở tại, đàm phán cấp quyền sử dụng (hợp đồng li-xăng độc quyền/không độc quyền) đối với tác phẩm của mình cho đối tác đó để họ đảm nhiệm khâu tổ chức sản xuất và tiếp thị và chia lại lợi nhuận bằng cách trả phí bản quyền (royalty) cho doanh

Trang 6

nghiệp X theo mức thỏa thuận trong hợp đồng li-xăng Khi này, hàng loạt vấn đề truyền thống trong việc tổ chức sản xuất trong nước để xuất khẩu ra nước ngoài có thể được giảm nhẹ: sự biến động của giá cả nguyên/vật liệu, các quy định về bảo vệ môi trường, tỷ giá hối đoái, vận tải và giao nhận hàng hóa, hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT), kiện tụng chống phá giá, kênh phân phối trên thị trường hải ngoại…

Theo đó, bài toán mới đối với doanh nghiệp X sẽ trở thành: phân tích hiệu quả và rủi ro tài chính của phương án sản xuất – tiếp thị truyền thống với phương án kinh doanh tài sản trí tuệ mà trong trường hợp này là khai thác thương mại quyền tác giả đối với tác phẩm

Người quan tâm cũng nên chú ý thêm rằng, bên cạnh việc điều chỉnh các quá trình xác lập, bảo vệ và chuyển giao quyền tài sản đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ, pháp luật sở hữu trí tuệ cũng có các quy định bảo vệ quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả và đồng tác giả

đã tạo ra các đối tượng sở hữu trí tuệ đó trong mối quan hệ giữa họ với chủ sở hữu quyền sở hữu trí tuệ (cụ thể như: quyền đứng tên trên văn bằng độc quyền, quyền đặt tên cho tác phẩm, quyền nhận thù lao hoặc giải thưởng liên quan…)

4 Các đơn vị tài sản trí tuệ trong các mặt hoạt động khác nhau của doanh nghiệp

Trong nền kinh tế tri thức, các tài sản trí tuệ có xu thế chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng nguồn lực và tổng giá trị của một doanh nghiệp Tài sản trí tuệ được vận dụng đến hàng ngày và cũng không ngừng phát sinh mới tại nhiều vị trí lao động chuyên môn khác nhau, trong nhiều khâu tác nghiệp khác nhau, trong mối quan hệ với nhiều đối tác kinh doanh khác nhau Có thể hình dung chi tiết hơn quá trình này dọc theo các khâu trong một chuỗi giá trị (value chain) sản xuất hàng hóa/cung ứng dịch vụ của một doanh nghiệp như sau:

Trong khâu chuẩn bị sản xuất, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến

hoặc có thể phát sinh mới như: các bí mật kinh doanh về danh sách của một số nhà cung ứng đặc biệt hoặc phương thức giao nhận – thanh toán một số vật tư đầu vào đặc biệt, các bí mật kinh doanh hoặc sáng chế về quy trình nhập/lưu/xuất kho, các sáng kiến cải tiến hoặc các sáng chế mới đối với các phương tiện/công cụ hoặc quy trình xếp dỡ/bảo quản/vận chuyển/kiểm tra/ lưu kho, các sáng chế về thiết kế cấu trúc hệ thống hoặc giải thuật đối với phần mềm quản lý vật tư hoặc/và chương trình máy tính tương ứng…

Trong khâu tổ chức sản xuất, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến

hoặc có thể phát sinh mới như:

+ Các sáng kiến hoặc sáng chế về xử lý nguyên/vật liệu, về cải tiến/thiết kế mới đồ gá/công cụ/mạch điện-điện tử/thiết bị, về cải tiến/thiết kế mới các quy trình sản xuất/tác vụ, về cải tiến tính năng sản phẩm hoặc thiết kế sản phẩm mới theo yêu cầu từ khâu tiếp thị và bán hàng…;

Trang 7

+ Các bí mật kinh doanh trong phương án bố trí mặt bằng/phân công lao động/kết nối thao tác/dây chuyền/thiết bị,…;

+ Các sáng chế phần mềm hoặc/và chương trình máy tính tương ứng để xử lý các chuỗi thông tin kỹ thuật/tác vụ trên các công đoạn sản xuất…;

+ Trong các ngành kinh doanh dịch vụ (lưu trú, vận chuyển, giải trí, truyền thông, ngân hàng, bảo hiểm…): các sáng chế phần mềm hoặc/và chương trình máy tính tương ứng để thu thập, phân nhóm và xử lý thông tin về khách hàng cùng đặc điểm sử dụng dịch vụ của họ (customer records), các giải pháp kỹ thuật/tổ chức để cải tiến các công đoạn khác nhau trong các quy trình dịch vụ… , các tác phẩm hoặc kiểu dáng công nghiệp đối với các mẫu thiết kế để nâng cao tính năng/phong cách của các phương tiện cung ứng dịch vụ (thiết kế không gian, trang bị nội/ngoại thất, dụng cụ phục vụ, dụng cụ trang trí, hệ thống thông tin…);

+ …

Trong khâu tiếp thị - bán hàng, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến

hoặc có thể phát sinh mới như:

+ Thương hiệu (tên giao dịch của doanh nghiệp – trade name/house mark/corporate brand)

và lô-gô (biểu tượng kinh doanh của doanh nghiệp), cùng các chỉ dẫn thương mại tạo nên các ấn tượng liên kết giúp phong phú hóa và khắc họa sâu phong cách kinh doanh của doanh nghiệp (corporate identity) như: màu sắc chủ đạo, các mẫu thiết kế kiến trúc, các mẫu thiết kế các phương tiện và giấy tờ giao dịch, các hoa văn/họa tiết/giai điệu đi kèm;

+ Các nhãn hiệu (brands) phục vụ các dòng hàng hóa/dịch vụ hoặc các phân mảng thị trường của từng dòng hàng hóa/dịch vụ khác nhau;

+ Các chỉ dẫn thương mại có liên quan để tạo nên các ấn tượng liên kết (brand associations) giúp phong phú hóa và khắc họa sâu phong cách của mỗi nhãn hiệu (brand identity) như: các mẫu thiết kế nhãn hàng hóa (label) và các mẫu thiết kế bao bì dùng cho nhãn hiệu, các hoa văn/họa tiết/màu sắc chủ đạo/giai điệu/nhân vật hoạt họa/hình ảnh được sử dụng tương đối ổn định qua các vòng đời nhãn hàng hóa/bao bì để duy trì nét nhất quán trong phong cách của nhãn hiệu (core identity); các hoa văn/họa tiết/màu sắc chủ đạo/giai điệu/nhân vật hoạt họa/hình ảnh đi kèm với nhãn hiệu trong ngắn hạn để đáp ứng với bối cảnh kinh doanh (như theo ý thích của khách hàng)

và môi trường cạnh tranh (như theo ứng xử của các đối thủ cạnh tranh)…;

+ Phim ảnh, tờ rơi, bích chương, khẩu ngữ (slogan) hoặc các tài liệu khác sử dụng trong các chiến dịch truyền thông cho thương hiệu, cho các nhân vật hoặc sự kiện giúp khắc họa hình ảnh

về doanh nghiệp (corporate image), hoặc để xây dựng hình ảnh của (các) nhãn hiệu (brand image);

Trang 8

+ Các kiểu dáng công nghiệp hoặc tác phẩm đối với các mẫu thiết kế mang tính cải tiến sản phẩm hiện hữu hoặc đưa ra sản phẩm mới (product concept/service concept)…;

+ Các sáng kiến cải tiến nhằm nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị hoặc khác biệt hóa phong cách của các dịch vụ hậu mãi; các tác phẩm viết hoặc đồ họa hỗ trợ hành vi tiêu dùng như sổ tay hướng dẫn sử dụng, sổ tay hướng dẫn bảo trì…;

+ Các bí mật kinh doanh về danh sách khách hàng, đặc điểm tiêu dùng của khách hàng, đặc biệt là khách hàng thân thiết (mức độ/kết cấu/sở thích/cách thức… tiêu dùng);

+ Các tác phẩm sử dụng trên trang web của doanh nghiệp hoặc trang web của các nhãn hiệu trong thương mại điện tử như: các giao diện với người sử dụng (user interface), chương trình máy tính có liên quan, các hình ảnh, mẫu thiết kế, đồ biểu, bài viết… chuyển tải thông tin, các sáng chế liên quan đến tính năng hoạt động của trang web (sofware patent) hoặc phương thức kinh doanh (business model patent) được thực hiện thông qua trang web…;

+ Các bí mật kinh doanh đối với các thông tin phân tích đối thủ cạnh tranh như: mũi nhọn R&D, tập đối tượng sở hữu trí tuệ, kết cấu phổ sản phẩm hoặc/và dịch vụ, chính sách giá cả, chiến lược và chiến thuật tổ chức kênh cung ứng /kênh phân phối, cách thức đáp ứng cạnh tranh…

+ …

Trong các khâu tham mưu, hoạch định và hỗ trợ kinh doanh như: kế hoạch, tài chính,

nhân sự, quản trị chất lượng, công nghệ thông tin, hành chính tổng hợp…, các đơn vị tài sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến hoặc có thể phát sinh mới như:

+ Các tác phẩm dưới dạng các quy chế, quy định, điều lệ khác nhau trong sản xuất/cung ứng dịch vụ, quản trị chất lượng, an toàn lao động, xây dựng văn hóa kinh doanh…;

+ Các tác phẩm bộc lộ qua hoặc các bí mật kinh doanh hàm chứa trong các loại sổ tay hướng dẫn thao tác/sản xuất/tác nghiệp…;

+ Các sưu tập dữ liệu hoặc cơ sở dữ liệu về các thông tin kỹ thuật, mỹ thuật, tài chính, thị trường tự xây dựng hoặc được chuyển giao (chuyển nhượng hoặc cấp li-xăng);

+ Các tác phẩm hoặc bí mật kinh doanh hàm chứa trong hoặc bộc lộ qua báo cáo, phúc trình,

đề cương, đề án, kế hoạch, phương án…;

+ Các sáng chế về cấu trúc hệ thống hoặc giải thuật đối với các phần mềm phục vụ việc quản trị các mặt hoạt động khác nhau (kế toán, nhân sự, cơ sở tri thức, nguồn lực sản xuất…) và quyền tác giả đối với các chương trình máy tính liên quan;

+ …

Trang 9

Trong quan hệ với đối tác kinh doanh (kể cả với các cơ quan công quyền), các đơn vị tài

sản trí tuệ thường xuyên được vận dụng đến hoặc có thể phát sinh mới như:

+ Các tác phẩm hoặc bí mật kinh doanh dưới dạng dữ liệu, thông tin, đồ thị, bảng biểu, ý kiến nhận định/đánh giá/dự báo… do các nhà tư vấn về kinh doanh, pháp lý, tài chính, khoa học… bên ngoài thực hiện theo hợp đồng thuê khoán chuyên môn;

+ Các phần mềm, sáng chế, giống cây trồng, thiết kế bố trí mạch tích hợp bán dẫn hoặc các công nghệ không độc quyền khác do tổ chức hoặc cá nhân là đối tác công nghệ thực hiện, thông qua hợp đồng thuê khoán kỹ thuật, hợp đồng hợp tác R&D, hợp đồng tài trợ nghiên cứu, hợp đồng tiếp nhận thực tập sinh…, do doanh nghiệp đầu tư/trang trải toàn bộ hoặc một phần chi phí nghiên cứu/triển khai;

+ Các bí mật kinh doanh hoặc thông tin không tiết lộ được trao đổi qua lại với các đối tác, thông qua các giao kết bảo mật hoặc không tiết lộ thông tin, từ bước đánh giá khả năng hợp tác, đến bước triển khai thực hiện các giao kết và cuối cùng là bảo vệ các dữ liệu/thông tin/bí quyết/tri thức mới hình thành…;

+ Các dữ liệu và thông tin cung cấp đến các cơ quan công quyền trong và ngoài nước để xúc tiến các thủ tục hành chính/pháp lý cần thiết theo yêu cầu của pháp luật tại nước sở tại như: dữ liệu khảo nghiệm, tiêu chuẩn kỹ thật cơ sở, một số dữ liệu/thông tin tài chính…;

+ …

5 Các rủi ro thường gặp liên quan đến các tài sản trí tuệ

5.1 Các rủi ro ở cấp độ lãnh đạo doanh nghiệp:

+ Đa số nhà đầu tư (investor) hiện vẫn quen nghĩ về các cơ hội đầu tư hay danh mục đầu tư thông qua các dòng tiền tệ hoặc các tài sản cố định/tài sản hữu hình (tangible assets) Do vậy, tuy

đã ít nhiều lưu tâm đến vai trò của các đơn vị tài sản trí tuệ trong kinh doanh, hầu hết chủ sở hữu doanh nghiệp vẫn chưa nhận biết và phân biệt rõ ràng về chủng loại, bản chất và đặc điểm của các tài sản trí tuệ khác nhau; từ đó, chưa hình dung được cách thức quản trị thích hợp để đưa ra các yêu cầu cụ thể liên quan đến tài sản trí tuệ với các nhà điều hành trực tiếp (Ban Giám đốc, CEO, CFO, CIO…(C-suite)), bên cạnh các chỉ tiêu quen thuộc về thị phần, doanh thu, lợi nhuận, quản trị chất lượng, đổi mới công nghệ, tái cấu trúc…

+ Hầu hết các nhà điều hành trực tiếp hiện cũng chưa thể nhận biết và phân biệt rõ ràng các loại tài sản trí tuệ khác nhau, ngay cả khi họ đang điều hành doanh nghiệp một cách thành công trong ngắn hạn hoặc trung hạn, Từ đó, cũng chưa nhận diện được đầy đủ các rủi ro gắn liền với các tài sản trí tuệ trong từng khâu tác nghiệp cũng như trong toàn bộ chiến lược kinh doanh

Trang 10

+ Đôi khi, xung đột lợi ích liên quan đến các tài sản trí tuệ còn có thể xảy ra giữa bản thân các chủ sở hữu doanh nghiệp/nhà đầu tư với nhau, như khi một nhà đầu tư vừa sử dụng thông tin/bí quyết/kỹ năng riêng có để hợp tác kinh doanh với các đồng sở hữu chủ khác tại doanh nghiệp X, lại vừa ngầm sử dụng thông tin/bí quyết/kỹ năng đó cho doanh nghiệp Y của riêng mình hoặc có phần vốn góp của mình để ít nhiều cạnh tranh trực tiếp với doanh nghiệp X;

+ Xung đột lợi ích liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ xảy ra hơn giữa chủ sở hữu doanh nghiệp/nhà đầu tư với các nhà điều hành, như khi một CEO cố ý chiếm hữu riêng các thông tin quan trọng mà mình có dịp nắm bắt và xử lý, để trong tương lai có thể cạnh tranh ngược với doanh nghiệp mà mình đang được thuê mướn điều hành

+ …

5.2 Các rủi ro trong hoạt động tác nghiệp: trong bối cảnh tập thể lãnh đạo còn chưa có điều

kiện nhận biết đầy đủ về bản chất của vấn đề, các rủi ro liên quan đến các tài sản trí tuệ càng dễ nảy sinh tại các khâu tác nghiệp khác nhau trong doanh nghiệp, cụ thể như:

+ Đại đa số nhà kỹ thuật trong nước chưa có kỹ năng và thói quen tra cứu thông tin sáng chế trước khi tiến hành thiết kế, nên vừa chưa tiếp cận và hấp phụ được trình độ của đồng nghiệp quốc tế, vừa dễ nghiên cứu trùng lặp và lãng phí khiến trình độ kỹ thuật chung của Việt Nam chậm được đổi mới, vừa không đánh giá được cơ hội khai thác các sáng chế quốc tế khả dụng nhưng không bảo hộ tại các thị trường mục tiêu của doanh nghiệp hoặc đã hết thời hạn bảo hộ Mặt khác, khi tiếp nhận chuyển giao công nghệ từ nước ngoài, cũng thiếu thông tin để đánh giá, định giá trong tiến trình đàm phán

+ Người lao động chuyên môn không được hướng dẫn để nhận biết và không có nghĩa vụ phải khai báo kịp thời và đầy đủ với cấp quản lý liên quan về các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh, đặc biệt là các đối tượng sở hữu trí tuệ;

+ Từ đó, nhiều dữ liệu, thông tin hoặc tri thức về công nghệ/marketing/tài chính/thị trường… mới đã không được chú ý bảo vệ như một bí mật kinh doanh hoặc để bảo đảm về tính mới (novelty - với các đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp hay giống cây trồng) hoặc tính nguyên gốc/nguyên tác (originality – với các loại hình tác phẩm), nhằm phục vụ các thủ tục/thao tác xác lập quyền sở hữu trí tuệ liên quan;

+ Nhiều doanh nghiệp hiện cũng đã đưa ra một số quy định về bảo mật trong các loại nội quy khác nhau như Nội quy lao động, Quy tắc sử dụng máy tính/mạng…, hoặc đã ban hành hẳn một Quy chế bảo mật độc lập Tuy nhiên, khi chưa nắm vững cách thức nhận diện tách bạch và rõ ràng từng đơn vị tài sản trí tuệ cụ thể, chưa hiểu rõ phạm vi bảo hộ cùng thủ tục xác lập quyền đối

Trang 11

với từng đối tượng sở hữu trí tuệ, các quy định về bảo mật cũng không thể phát huy đầy đủ hiệu quả pháp lý Thí dụ: thông tin mật có thể không được đánh dấu và lưu giữ đúng cách nên mất khả năng ràng buộc và chế tài đối với các hành vi vô tình hoặc cố ý tiết lộ, đối thủ cạnh tranh có thể nắm bắt thông tin rò rỉ và thực hiện các hành vi khai thác thương mại/đăng ký bảo hộ/công bố…, làm mất tính mới của đối tượng sở hữu trí tuệ liên quan…;

+ Trong bối cảnh đó, một bộ phận người lao động chuyên môn sẽ có xu hướng giữ riêng và chiếm hữu nhiều dữ liệu/thông tin/bí quyết/tri thức/đơn vị tài sản trí tuệ mới do mình tạo ra hoặc tham gia tạo ra trong các hoạt động thực hiện theo hợp đồng/nhiệm vụ được giao (work for hire), nhằm có thể sử dụng vì lợi ích riêng tư hoặc lợi ích của một bên thứ ba Thí dụ, kỹ sư có thể không báo cáo hết các phương án thiết kế, nhà tạo mẫu có thể không trình bày hết ý tưởng sáng tạo, giám đốc marketing hoặc giám đốc nhãn hiệu có thể không đưa vào hồ sơ lưu trữ của doanh nghiệp một số kết quả nghiên cứu thị trường, giám đốc tài chính giữ riêng một số thông tin liên quan đến các nguồn/cơ chế tín dụng ưu đãi…, làm tăng động cơ và theo đó là tỷ lệ người lao động chuyên môn rời bỏ doanh nghiệp (staff/labor turnover);

+ Một số doanh nghiệp hiện cũng đã tổ chức hoặc đang duy trì hoạt động quản trị sáng kiến đổi mới (innovation management), bao gồm cả các cơ chế khen thưởng để khuyến khích việc đưa

ra các ý kiến sáng tạo ở nhiều cấp độ khác nhau Tuy nhiên, hầu như chưa doanh nghiệp nào chú

ý đầy đủ đến các quy định pháp lý liên quan đến việc phân định quyền sở hữu/đồng sở hữu đối với các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh, đến quyền nhân thân và quyền tài sản của các tác giả

và đồng tác giả, đặc biệt là các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ Điều đó ít nhiều làm nảy sinh lòng nghi ngại và cân nhắc khi người sáng tạo mong muốn được hưởng mức thù lao xứng đáng

để có thể tận tâm cống hiến Từ đó, hoạt động sáng kiến cũng chưa thể phát huy hết tác dụng kỳ vọng, nhiều khi chỉ mang tính phong trào hoặc chỉ nhằm giúp khai tăng các chi phí hợp lệ, tiết giảm lợi nhuận/thuế thu nhập doanh nghiệp;

+ Trong mối quan hệ với các đối tác, trong nhiều trường hợp doanh nghiệp không đưa ra hoặc đưa ra một cách không phù hợp các quy định liên quan đến bảo mật (thí dụ, nghĩa vụ bảo mật của nhà tư vấn pháp lý/công nghệ/tài chính/nghiên cứu thị trường…) Ngày nay, tuy hầu hết các cá nhân/tổ chức cung ứng dịch vụ tư vấn đều có quy tắc đạo đức nghề nghiệp của mình trong việc bảo mật thông tin của khách hàng, nhưng sự dễ dãi/thiếu cẩn trọng trong giao kết bảo mật vẫn tiềm ẩn rất nhiều rủi ro trong tương lai, trong bối cảnh các dữ liệu, thông tin, bí quyết và tri thức ngày càng trở thành một nguồn lực trực tiếp trong hoạt động sản xuất/cung ứng dịch vụ và thường gắn liền với các cơ hội kinh doanh;

+ Cũng trong mối quan hệ với các đối tác, hầu hết các doanh nghiệp đều chưa chú ý giao kết hoặc giao kết chưa đúng cách về các vấn đề liên quan đến các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh

Trang 12

trong quá trình thực hiện/triển khai các loại hợp đồng như: hợp đồng thuê khoán chuyên môn, hợp đồng R&D, hợp đồng hợp tác kinh doanh, hợp đồng nghiên cứu thị trường… Cụ thể như các giao kết về cách phân định quyền sở hữu/tỷ lệ sở hữu, nghĩa vụ/thủ tục ghi nhận, thông báo và chuyển giao đầy đủ và kịp thời các đơn vị tài sản trí tuệ mới phát sinh… Hệ quả là, nhiều đơn vị tài sản trí tuệ đã bị bỏ sót hoặc rơi về tay đối tác, thay vì có thể trở thành quyền tài sản của doanh nghiệp và trở thành một công cụ hoặc một nguồn lực kinh doanh;

+ Đa số doanh nghiệp nếu có chú ý đến thì vẫn quen sử dụng các đơn vị tài sản trí tuệ như một công cụ sản xuất/cung ứng dịch vụ, rất ít doanh nghiệp chú ý đến khía cạnh tài chính của tài sản trí tuệ như: ghi nhận các đơn vị tài sản trí tuệ như một đơn vị Tài sản Cố định vô hình (theo Chuẩn mực kế toán số 4 13) để tiến hành quản lý và khấu hao theo quy định 14, chuyển giao công nghệ hoặc cấp li-xăng cho đối tác trong/ngoài nước (trong đó, nhượng quyền thương mại (franchising) là một mô thức li-xăng đặc biệt)… Từ đó, doanh nghiệp đã vô tình bỏ qua hoặc không biết cách vận dụng một số chiến thuật/sách lược tài chính có liên quan như: chuyển giá nội bộ/quốc tế (transfer pricing) một cách thích đáng, góp vốn bằng tài sản trí tuệ, chuyển giao các tài sản trí tuệ không sử dụng được/sử dụng không hiệu quả trong chuỗi giá trị doanh nghiệp để tạo thêm dòng tiền hoặc giúp hình thành các liên minh chiến lược (strategic alliances)…;

+ …

5.3 Các rủi ro liên quan đến các quyền sở hữu trí tuệ: trong trường hợp các đơn vị tài sản trí

tuệ mới phát sinh là một đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và đã được xác lập quyền sở hữu trí tuệ liên quan, doanh nghiệp vẫn có thể gặp phải các rủi ro như:

+ Không chú ý theo dõi hoạt động sở hữu trí tuệ của đối thủ cạnh tranh nên không phản ứng kịp thời với một số hành vi của họ có thể gây xung đột về quyền sở hữu trí tuệ như: sử dụng/đăng

ký nhãn hiệu tương tự và có thể gây nhầm lẫn với nhãn hiệu đã được bảo hộ của doanh nghiệp, sao chép một phần các tác phẩm (hoa văn, họa tiết, bao bì, mẫu thiết kế, thông điệp/giai điệu quảng cáo…) để lợi dụng thành quả đầu tư hoặc hòa loãng phong cách của nhãn hiệu (brand identity dilution) và theo đó là hình ảnh của nhãn hiệu (brand image dilution) của doanh nghiệp, sao chép hoặc sử dụng trái phép các sáng chế/giải pháp hữu ích/phần mềm/giống cây trồng… của doanh nghiệp;

+ Chưa chú ý quản lý toàn diện các thông số của tập quyền sở hữu trí tuệ (IPR portfolio) Thí dụ: một Công ty sản xuất hàng tiêu dùng (fast moving consumer goods) sử dụng 50 nhãn hiệu (brand portfolio) để tiếp thị, nếu mỗi nhãn hiệu được đăng ký vào 5 nước khác nhau thì về lý

13 Ban hành kèm theo Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC ngày 31.12.2001 của Bộ trưởng Bộ Tài Chính

14 Theo văn bản hiện hành là Thông tư 203/2009/TT-BTC ngày 20.10.2009 của Bộ Tài Chính

Trang 13

thuyết, Công ty đang quản lý đến 250 Giấy Chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu (trademark portfolio), mỗi Giấy Chứng nhận có một số thông số thời gian khác nhau như ngày cấp văn bằng bảo hộ, ngày gia hạn hiệu lực… cần được theo dõi Trong thực tế, nhiều doanh nghiệp hàng tiêu dùng Việt Nam đã bảo hộ trên 100 nhãn hiệu, trong đó, có nhiều nhãn hiệu đăng ký vào vài mươi nước khác nhau Khi này, nếu không chú ý theo dõi để gia hạn kịp thời, một số Giấy Chứng nhận Đăng ký Nhãn hiệu có thể vô tình bị mất hiệu lực tại lãnh thổ bảo hộ liên quan;

+ Hoạt động bảo vệ các quyền sở hữu trí tuệ đã được xác lập tại Việt Nam còn nhiều mặt hạn chế, đặc biệt là vai trò của hệ thống Tòa án trong việc xử lý xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ còn mờ nhạt, lý luận về tố tụng sở hữu trí tuệ còn nghèo nàn Việc giao thẩm quyền và trách nhiệm cho một số cơ quan hành chính (Quản lý Thị trường, Công an Kinh tế, Hải quan, …) phải

xử lý cả các hành vi xâm phạm quyền (không phải là hành vi sản xuất hàng hóa giả mạo về sở hữu trí tuệ), đã đặt các công chức hành chính liên quan vào tình huống phải “suy diễn” quy phạm pháp luật (thí dụ, đánh giá khả năng xâm phạm quyền của hai nhãn hiệu tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhau), thay vì “chỉ thực hành theo những gì pháp luật quy định” Một hệ quả là, trong một số tình huống nhất định, hai cơ quan có thẩm quyền xử lý như nhau thuộc hai hệ thống hành chính khác nhau hoặc hai địa phương khác nhau có thể có các suy diễn khác nhau về một vụ việc xung đột quyền giống nhau, khiến các quy phạm pháp luật (vốn về bản chất có tính rõ ràng

và đơn nghĩa) có thể trở thành mù mờ và bất nhất Vì vậy, một số doanh nghiệp lớn (nhất là các tập đoàn hàng tiêu dùng nước ngoài) thường bị xâm phạm quyền đã phải bố trí chức danh/bộ phận “bảo vệ nhãn hiệu/bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ” mà một trong những công việc chủ yếu của chức danh/bộ phận này là thiết lập, duy trì và củng cố “mối quan hệ” với các cơ quan có thẩm quyền xử phạt hành chính về sở hữu trí tuệ trên phạm vi cả nước Đó lại không phải là việc đơn giản đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ…;

+ Hệ thống tổ chức dịch vụ đại diện sở hữu trí tuệ của Việt Nam hiện vẫn đang hoạt động chủ yếu theo cơ chế cạnh tranh lẫn nhau, chưa quan tâm đến việc phối hợp và phân công để cùng hình thành mũi nghiên cứu học thuật về pháp luật sở hữu trí tuệ của các khu vực và các quốc gia khác, góp phần hỗ trợ một cách có hệ thống cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam trong hoạt động xâm nhập thị trường hàng hóa/dịch vụ, kinh doanh tài sản trí tuệ và đầu tư quốc tế

+ …

6 Một số đặc điểm của hoạt động quản trị tài sản trí tuệ

+ Các vị tài sản trí tuệ vừa rất đa dạng, vừa là các tài sản vô hình thường không thể nhận biết bằng các thông số vật lý, mà phải nhận diện trước hết là qua các thông số pháp lý và sau đó là qua các tác động công nghệ/thương mại/tài chính/hình ảnh của từng đơn vị tài sản;

Trang 14

+ Một khi đã bộc lộ/công bố, sẽ dễ dàng bị nhiều chủ thể khác nhau đồng thời chiếm hữu và

sử dụng/khai thác Do vậy, nếu không vận dụng đúng cách các thông số pháp lý liên quan, doanh nghiệp có thể đánh mất quyền tài sản đối với đơn vị tài sản trí tuệ tương ứng (không thể ngăn cản hành vi sử dụng/khai thác của các chủ thể khác);

+ Trong trường hợp tài sản trí tuệ là đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ và có tiềm năng thương mại lớn: có thể vận dụng pháp luật sở hữu trí tuệ quốc tế và của các nước có thị trường kỳ vọng để xác lập trước quyền ưu tiên (priority) tại hàng trăm quốc gia khác nhau Trong nhiều trường hợp, có thể tính toán để kéo dài thời gian lấy bằng độc quyền (sách lược “ủ” đơn đăng ký) tại các quốc gia khác nhau; sau đó, vận dụng các chiến lược, chiến thuật, thủ pháp… về chuyển giao công nghệ, li-xăng, nhượng quyền thương mại… để tìm kiếm dòng tiền bản quyền (royalty)

từ các đối tác tại từng nước sở tại, thay vì trực tiếp tổ chức sản xuất/cung ứng dịch vụ, chuyển hoạt động kinh doanh hàng hóa/dịch vụ thành hoạt động kinh doanh các tài sản trí tuệ tạo giá trị gia tăng cho chính các hàng hóa dịch vụ đó;

+ Có khả năng giúp tạo ra dòng tiền không phải chỉ từ một dòng/chủng loại hàng hóa/dịch

vụ, mà từ nhiều ngành công nghiệp/dịch vụ khác nhau Thí dụ: một sáng chế về một hợp chất hóa học có thể vừa sử dụng được trong nông nghiệp, vừa sử dụng được trong công nghiệp dược; một nhân vật hoạt họa khi được sử dụng thành công trong một chuỗi tác phẩm văn học, có thể giúp tạo thêm dòng tiền từ các ngành công nghiệp điện ảnh/giải trí,…;

+ Để thực hiện/phát huy giá trị, các đơn vị tài sản trí tuệ thường được sử dụng/khai thác đồng thời với hoặc thông qua các tài sản hữu hình hoặc vô hình khác Thí dụ, một sáng chế về quy trình công nghệ chỉ có thể thực hiện giá trị thông qua một dây chuyền thiết bị tương ứng, một kiểu dáng công nghiệp mới sẽ được tiêu thụ mạnh hơn khi đi cùng một nhãn hiệu được nhận biết rộng rãi (well-known brand) hoặc một nhãn hiệu nổi tiếng (famous brand), một tác phẩm âm nhạc (music work) có thể đem lại dòng tiền bản quyền (royalty fee) cao hơn qua các bản ghi (records) định hình cuộc trình diễn (performance) của một ca sĩ nổi tiếng…

+ Giá trị sử dụng của mỗi đơn vị tài sản trí tuệ nói chung không bị hao mòn/cạn kiệt theo quá trình sử dụng mà ngược lại, càng gia tăng khi càng được chấp nhận (adoption) rộng rãi Thí

dụ, giá trị sử dụng của một phần mềm nói chung sẽ càng cao khi càng được nhiều người sử dụng cài đặt trên càng nhiều mạng/máy (network effect), một tác phẩm càng được nhiều người thưởng thức càng có cơ hội được vận dụng vào các ngành công nghiệp/dịch vụ khác, một công nghệ mới được áp dụng càng rộng rãi càng có cơ hội được biến thành chuẩn công nghệ/công nghiệp… Thực tế đó góp phần định hình một ứng xử chiến lược mới trong kinh doanh hiện đại: chia sẻ và hợp tác để cùng khai thác và cực đại hóa lợi ích từ các tài sản trí tuệ, thay vì chiếm hữu riêng để

sử dụng một mình như khi còn kinh doanh các hàng hóa thông thường (commodities)

Ngày đăng: 26/01/2014, 23:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO QUẢN TRỊ VIÊN TÀI SẢN TRÍ TUỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH  - MÔ THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP
MỘT SỐ HÌNH ẢNH VỀ CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO QUẢN TRỊ VIÊN TÀI SẢN TRÍ TUỆ TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH (Trang 23)
Trên đường hình thành cộng đồng IA/IC researchers → managers → lecturers đa ngành & đa thế hệ - MÔ THỨC TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG
QUẢN TRỊ TÀI SẢN TRÍ TUỆ TRONG DOANH NGHIỆP
r ên đường hình thành cộng đồng IA/IC researchers → managers → lecturers đa ngành & đa thế hệ (Trang 28)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w