Tình thái của câu phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả nă
Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
NGÔ HẢI THU
NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN TRONG TÁC PHẨM
“DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ” CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
HẢI PHÒNG - 2021
Trang 2
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
NGÔ HẢI THU
NGHĨA TÌNH THÁI CHỦ QUAN TRONG TÁC PHẨM
“DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ” CỦA NHÀ VĂN TÔ HOÀI
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ HỌC
MÃ SỐ: 8.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Tống Thị Hường
HẢI PHÒNG - 2021
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tác giả xin chân thành cảm ơn Phòng Quản lý sau Đại học trường Đại học Hải Phòng, tập thể các thầy giáo, cô giáo khoa Ngữ văn trường Đại học Hải Phòng đã giúp đỡ tận tình giảng dạy, cung cấp những kiến thức cơ bản, giúp đỡ tôi hoàn thành chương trình học tập và có được những kiến thức, kĩ năng cần thiết để nghiên cứu, thực hiện luận văn này
Với tình cảm chân thành, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS TỐNG THỊ HƯỜNG – Người trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt quá trình
nghiên cứu và hoàn thành luận văn
Tác giả xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp, đồng môn và gia đình đã cổ vũ, động viên, giúp đỡ tác giả trong thời gian học tập, nghiên cứu Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài, mặc dù có nhiều cố gắng trong luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế Kính mong được
sự chỉ dẫn, góp ý của quý thầy cô, các nhà khoa học trong Hội đồng khoa học cùng các bạn đồng nghiệp để luận văn hoàn thiện hơn
Em xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 7 tháng 12 năm 2021
Tác giả
Ngô Hải Thu
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn đã được chỉ rõ nguồn gốc rõ ràng và được phép công bố
Xin chân thành cảm ơn!
Hải Phòng, ngày 7 tháng 12 năm 2021
Tác giả Ngô Hải Thu
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG v
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 12
1.1 Một số vấn đề về câu 12
1.1.1 Khái niệm câu 12
1.1.2 Ba bình diện nghiên cứu câu 12
1.2 Nghĩa tình thái của câu 19
1.2.1 Khái niệm nghĩa tình thái 19
1.2 2 Phân loại nghĩa tình thái 22
1.2.3 Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong tiếng Việt 30
Tiểu kết chương 1 33
CHƯƠNG 2: TÌNH THÁI BIỂU THỊ QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI NÓI VÀ NỘI DUNG ĐƯỢC NÓI TỚI TRONG TÁC PHẨM DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ 34
2.1 Nghĩa tình thái nhận thức 34
2.1.1 Nghĩa tình thái chỉ sắc thái khả năng hiện thực 34
2.1.2 Nghĩa tình thái chỉ sắc thái khả năng phi hiện thực 38
2.2 Nghĩa tình thái đánh giá 40
2.2.1 Nghĩa tình thái đánh giá về lượng 41
2.2.2 Nghĩa tình thái đánh giá về chất 44
2.3 Nghĩa tình thái cảm xúc 48
2.3.1 Nghĩa tình thái cảm xúc tích cực 50
2.3.2 Nghĩa tình thái cảm xúc tiêu cực 52
Tiểu kêt chương 2 56
CHƯƠNG 3: TÌNH THÁI BIỂU THỊ QUAN HỆ GIỮA NGƯỜI NÓI VỚI NGƯỜI NGHE TRONG DẾ MÈN PHIÊU LƯU KÝ 57
Trang 63.1 Nghĩa tình thái đạo lí 57
3.1.1 Nghĩa tình thái đạo lí biểu thị sắc thái khả năng hiện thực 58
3.1.2 Nghĩa tình thái đạo lí biểu thị sắc thái khả năng phi hiện thực 64
3.2 Nghĩa tình thái thái độ 66
3.2.1 Nghĩa tình thái biểu thị thái độ tích cực 66
3.2.2 Nghĩa tình thái biểu thị thái độ tiêu cực 71
Tiểu kết chương 3 77
KẾT LUẬN 79
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 81
NGỮ LIỆU KHẢO SÁT 84
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Số hiệu
2.1 Kiểu câu có nghĩa tình thái chỉ sắc thái khả năng hiện thực 35 2.2 Phương tiện chính biểu thị sắc thái khả năng hiện thực 37 2.3 Kiểu câu có nghía tình thái chỉ sắc thái khả năng phi hiện thực 38 2.4 Phương tiện chính biểu thị sắc thái khả năng phi hiện thực 39 2.5 Kiểu câu có nghĩa tình thái đánh giá về lượng 41 2.6 Phương tiện chính biểu thị sắc thái đánh giá về lượng 44 2.7 Kiểu câu có nghĩa tình thái đánh giá về lượng 45 2.8 Phương tiện chính biểu thị sắc thái đánh giá về chất 46
2.10 Phương tiện chính biểu thị sắc thái cảm xúc tích cực 52 2.11 Phương tiện chính biểu thị sắc thái cảm xúc tiêu cực 55 3.1
Phương tiện chính biểu thị sắc thái hiện thực của nghĩa
3.2
Phương tiện biểu thị sắc thái phi hiện thực của nghĩa tình
3.3 Phương tiện biểu thị sắc thái thái độ tích cực 70 3.4 Phương tiện biểu thị sắc thái thái độ tiêu cực 76
Bảng 2.1 Kiểu câu có nghĩa tình thái chỉ sắc thái khả năng hiện thực 35
Bảng 2.2 Phương tiện chính biểu thị sắc thái khả năng hiện thực 37
Bảng 2.3 Kiểu câu có nghía tình thái chỉ sắc thái khả năng phi hiện thực 38
Bảng 2.4 Phương tiện chính biểu thị sắc thái khả năng phi hiện thực 39
Bảng 2.5 Kiểu câu có nghĩa tình thái đánh giá về lượng 41
Bảng 2.6 Phương tiện chính biểu thị sắc thái đánh giá về lượng 44
Bảng 2.7 Kiểu câu có nghĩa tình thái đánh giá về lượng 45
Bảng 2.8 Phương tiện chính biểu thị sắc thái đánh giá về chất 46
Bảng 2.9 Kiểu câu có nghĩa tình thái cảm xúc 49
Bảng 2.10 Phương tiện chính biểu thị sắc thái cảm xúc tích cực 52
Bảng 2.11 Phương tiện chính biểu thị sắc thái cảm xúc tiêu cực 55
Bảng 3.1 Phương tiện chính biểu thị sắc thái hiện thực của nghĩa tình thái đạo lí 63
Bảng 3.2 Phương tiện biểu thị sắc thái phi hiện thực của nghĩa tình thái đạo lí 65
Bảng 3.3 Phương tiện biểu thị sắc thái thái độ tích cực 70
Bảng 3.4 Phương tiện biểu thị sắc thái thái độ tiêu cực 76
Trang 8sẽ hiểu được bản chất của ngôn ngữ với tư cách là công cụ mà con người dùng
để phản ánh thế giới trong hoạt động nhận thức và tương tác xã hội
1.2 Giáo dục phổ thông nước ta đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học Theo đó, môn Ngữ văn được coi là môn học công cụ, mà năng lực giao tiếp bằng tiếng Việt và năng lực thưởng thức văn học/cảm thụ thẩm mĩ là những năng lực đặc thù của môn học Các văn bản văn học Việt Nam trong sách Ngữ văn trung học cơ sở tương đối đa dạng, trong đó, văn bản nghệ thuật chiếm số lượng rất lớn ở cả bốn khối lớp Nghĩa tình thái của câu trong những văn bản đó có nhiều biểu hiện đa dạng, phong phú Việc tìm hiểu nghĩa tình thái của câu trong các tác phẩm văn học là cơ sở quan trọng để học sinh nắm được tâm trạng, tính cách nhân vật, từ đó, hiểu được chủ đề tác phẩm, tư tưởng thẩm mĩ mà tác giả muốn gửi gắm Đồng thời, việc tìm hiểu nghĩa tình thái trong các tác phẩm văn học cũng sẽ phần nào cho người đọc thấy được tài năng, phong cách của tác giả
Ở chương trình Ngữ văn 6 trung học cơ sở, học sinh bắt đầu được làm quen với các tác giả văn học Việt Nam hiện đại, trong đó phải kể kể đến nhà văn Tô Hoài – một cây bút tài hoa và có tinh thần lao động cần mẫn, sáng tạo Tô Hoài đến với văn chương với tuổi trẻ khao khát hành động, và tìm một lẽ sống tốt đẹp
Dế Mèn phiêu ký là một tác phẩm hấp dẫn và đầy phong vị nghệ thuật Việc tìm
hiểu nghĩa tình thái trong tác phẩm sẽ giúp người đọc hiểu rõ hơn về tính cách nhân vật trong tác phẩm, và phong cách nghệ thuật của nhà văn Từ những lí do
Trang 9trên, chúng tôi chọn Nghĩa tình thái chủ quan trong tác phẩm “Dế Mèn phiêu
lưu ký” của nhà văn Tô Hoài làm đề tài nghiên cứu cho luận văn này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Tình hình nghiên cứu về nghĩa tình thái
Trong ngôn ngữ học, vấn đề nghĩa tình thái đã được các nhà nghiên cứu quan tâm đến từ lâu Có thể nói, nghĩa tình thái của câu là một phạm trù vô cùng vô cùng rộng, phong phú, phức tạp về các phương tiện biểu hiện, cách phân loại đúng như V.Z Panfilov đã nhận xét rằng “không có phạm trù nào
mà bản chất ngôn ngữ học và thành phần các ý nghĩa bộ phận lại gây ra nhiều
ý kiến khác biệt và đối lập như phạm trù tình thái” [Dẫn theo 17, tr.75] Ở đây, chúng tôi xin điểm lại tình hình nghiên cứu nghĩa tình thái của một số tác giả Việt Nam và thế giới
Ở nước ngoài, có thể kể kể đến việc nghiên cứu nghĩa tính thái của các nhà nghiên cứu tiêu biểu như Vinogradov, V.Z Panfilov, Gak, Von Wright, Rescher, Searle,…
Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Tác giả cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ với hiện thực” (dẫn theo V.Z.Panfilov 1977) Nội dung thông báo, có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó…
Gak (1986) quan niệm tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân tố chủ quan của phát ngôn: đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực
tế qua nhận thức của người nói [Gak 1986, 133]
Tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau
Trang 10đối với điều được thông báo [Liapol 1990, 303]
Lyons (1977) cho rằng tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả [Lyons 1977, 425]
Như vậy, trên thế giới có quan niệm rộng, hẹp khác nhau về nghĩa tình thái Theo quan niệm hẹp, nghĩa tình thái thường được cho là phần nghĩa phản ánh mối quan hệ, thái độ, ý định của người nói đối với nội dung phát ngôn và/ hoặc quan hệ giữa nội dung phát ngôn đối với thực tế Theo quan niệm rộng, tình thái - nói theo Bybee - là “tất cả những gì mà người nói thực hiện cùng với toàn bộ nội dung mệnh đề” [dẫn theo 12, tr 92]
Ở Việt Nam, các tác giả đã quan tâm đến nghĩa tình thái phải kể đến là Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Cao Xuân Hạo, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Lương,
Cao Xuân Hạo trong [14] cho rằng nội dung của một mệnh đề được chia thành hai phần Phần thứ nhất gọi là ngôn liệu, tức cái tập hợp gồm sở thuyết (vị ngữ logic) và các tham tố của nó được xét như một mối liên hệ tiềm năng, và
phần thứ hai gọi là tình thái, là cách thực hiện mối liên hệ ấy, cho biết mối
liên hệ ấy là có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là tất yếu hay không tất yếu, là có thể có được hay không thể có được [14, tr.101] Cao Xuân Hạo cũng chỉ rõ: khi nghiên cứu về nghĩa tình thái
cần phải phân biệt hai thứ tình thái khác nhau là tình thái của hành động phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn Tình thái của hành động phát ngôn thuộc bình diện dụng pháp, nó phân biệt các lời về phương diện mục tiêu và tác dụng của giao tế, bao gồm sự phân biệt giữa các câu theo mục đích nói như câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến; những câu có giá trị ngôn trung được đánh dấu là câu xác nhận, câu phản bác, câu ngôn hành Tình thái của lời phát ngôn thuộc bình diện nghĩa học gắn với nội dung được truyền đạt hay được yêu cầu truyền đạt (trong câu trần thuật hay câu nghi vấn), có liên quan đến thái độ của người nói đối với điều được nói ra hoặc liên quan đến quan hệ giữa sở đề và sở thuyết của mệnh đề Tình thái của lời phát ngôn được Cao Xuân Hạo chia thành
Trang 11hai loại: tình thái của câu và tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân Tình thái của câu phản ánh thái độ của người nói đối với điều mình nói ra, cách người nói
đánh giá tính hiện thực hay không hiện thực, mức độ của tính xác thực, tính tất yếu, tính khả năng,… và có thể được biểu thị bằng những khởi ngữ có các từ
như có lẽ, tất nhiên, những cấu trúc chủ - vị hay đề - thuyết có tôi làm chủ thể, hoặc bằng trợ từ tình thái đặt trong hay ngoài ngữ đoạn vị từ Tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân phản ánh những dạng thức của hành động, quá trình, trạng thái hay tính chất do phần thuyết biểu thị,… được gọi là những đặc trưng về thể,
nếu vị ngữ của câu có chủ thể thì tình thái phản ánh mối quan hệ của chủ thể đối với tính hiện thực, tính tất yếu, tính khả năng của hành động, quá trình, trạng thái, tính chất do vị ngữ hạt nhân của phần thuyết biểu đạt [14, tr 50-51] Trong công trình này, Cao Xuân Hạo cũng đồng thời nghiên cứu các yếu tố biểu thị tình thái của câu trong cấu trúc cú pháp cơ bản [14, tr 330-360]
Diệp Quang Ban khi đề cập đến nghĩa tình thái trong các công trình nghiên cứu [2], [3], [4] cho rằng tình thái là thành phần nghĩa rất phức tạp và được hiểu rất khác nhau Trong các tài liệu nghiên cứu về ngữ pháp tiếng Việt, nghĩa tình thái được đề cập đến trong bình diện ngữ nghĩa - ngữ dụng của câu và chỉ xem xét phần nghĩa tình thái được gọi là nghĩa tình thái liên nhân trong phạm vi câu Nghĩa liên nhân, hiểu khái quát là phần nghĩa phản ánh thái độ của người nói vào trong câu Và theo đó nghĩa tình thái được chia thành hai kiểu: Tình thái của hành động nói (trong quan hệ với người nghe) và tình thái đối với
sự việc được phản ánh trong câu (cách đánh giá của người nói/tình thái của phát ngôn) [4, tr.108] Theo Diệp Quang Ban “Tình thái của hành động nói là ý định (ý chí, ý muốn, còn gọi là cái đích, mục đích) thực hiện một hành động nào đó của người nói khi nói ra một lời Tình thái của phát ngôn là cách đánh giá, thái
độ của người nói đối với sự thể (vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong phát ngôn” [1, tr 181] Tình thái của hành động nói được thể hiện qua câu ngôn hành
và câu phân loại theo mục đích nói theo lối trực tiếp và câu phân loại theo mục đích nói theo lối gián tiếp Tình thái của phát ngôn gồm tình thái khách quan và
Trang 12tình thái chủ quan Tình thái khách quan (có thể kiểm tra được tính đúng sai) gồm tình thái khẳng định và tình thái phủ định Còn tình thái chủ quan (thứ tình thái không kiểm tra được tính đúng sai, chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nói đến Ngoài ra, tình thái chỉ ý kiến và tình thái chỉ quan hệ của người nói đối với người nghe theo Diệp Quang Ban cũng
có thể xếp vào phạm trù tình thái trong câu [1, tr.201, 204]
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (1996, Nguyễn Như Ý chủ
biên) phân biệt tình thái khách quan với tình thái chủ quan Tình thái khách quan “biểu hiện mối quan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan (có thật hay không có thật, có thể hay không có thể, tất yếu hay ngẫu nhiên) bằng các phạm trù thức, phạm trù thời, các loại ngữ điệu khác nhau v.v…” [35, tr.297] Tình thái chủ quan “biểu hiện thái độ (quan hệ) của người nói đối với điều được thông báo (tin hay không tin, đồng ý hay không đồng
ý, đánh giá, biểu cảm) bằng trật tự từ, ngữ điệu, phép kí từ, từ tình thái, tiểu từ,
từ cảm, từ xen, v.v…” [35, tr.297]
Phạm Hùng Việt (2003) trong Trợ từ trong tiếng Việt hiện đại đã bàn đến
chức năng đánh giá, xem xét ý nghĩa đánh giá của trợ từ xét theo quan hệ của người nói với nội dung phát ngôn, ý nghĩa đánh giá của trợ từ xét theo quan hệ của người nói với người nghe
Lê Quang Thiêm (2006) cho rằng “nghĩa tình thái tham gia vào quá trình thực tại hoá, biến nội dung sự tình ở dạng tiềm năng thành lời hiện thực với nội dung ý nghĩa xác định” [30, tr 182]
Nguyễn Văn Hiệp đã có hàng loạt bài viết, công trình nghiên cứu về
nghĩa tính thái, tiêu biểu là [16], [17], [18] Trong [17] - Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp (2007) - tác giả đã dành hẳn một chương (chương 3) để nghiên cứu
về nghĩa tình thái Nguyễn Văn Hiệp cho rằng những nhà nghiên cứu tiên phong
về nghĩa tình thái là Jespersen, Von Wright, Rescher, Searle Tác giả cũng đưa
ra cách hiểu về nghĩa tình thái trong ngôn ngữ theo những kiểu ý nghĩa rất khác nhau Khi đề cập đến một số đối lập chủ yếu của tình thái trong ngôn ngữ, tác
Trang 13giả cũng chỉ ra những đối lập mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói Tác giả cho rằng: nói đến tình thái trong ngôn ngữ còn nói đến những đánh giá chủ quan, có tính cá nhân khác, của người nói đối với điều được nói ra trong câu, có thể xét theo sự tình (tích cực/tiêu cực), đánh giá về lượng
(nhiều/ít), về chủng loại (phong phú/nghèo nàn), về thời điểm (sớm/muộn),…
những nội dung này có thể gọi chung là “lập trường” của người nói, là những nội dung vốn không được tính đến trong khung nội dung tình thái khách quan [17, tr 127]
Nguyễn Thị Lương (2009) đã đề cập đến tình thái thể hiện sự đánh giá Theo tác giả: “Đánh giá là nêu ý kiến nhận xét - thường là chủ quan - của người nói về sự việc được nêu trong câu, do đó nội dung đánh giá ít nhiều cũng hàm chứa thái độ của người đánh giá như: hài lòng không hài lòng, thán phục hoặc chê bai, vui mừng hay tức giận….” [23, tr.187] Đồng thời tác giả cũng đưa ra một số cách đánh giá thường gặp như: đánh giá về tính hiện thực/ phi hiện thực của sự việc trong câu; đánh giá về tính tích cực/ tiêu cực của điều được nói tới trong câu; đánh giá về lượng, mức độ
Nguyễn Thị Nhung (2017) trong Nghĩa tình thái của câu tiếng Việt và việc vận dụng trong dạy học Ngữ văn đã đề ra mục đích tìm hiểu nhân vật, chủ
đề tác phẩm, bản sắc văn hoá dân tộc qua toàn bộ các loại nghĩa tính thái chủ quan để từ đó nghiên cứu cách nâng cao chất lượng dạy học nghĩa tình thái của câu, cách giáo dục văn hóa, đạo đức cho người học thông qua nghĩa tình thái Tác giả đã hệ thống quan điểm và cách phân loại nghĩa tình thái của các nhà nghiên cứu trước đó Đồng thời, tác giả đưa ra quan điểm về nghĩa tình thái, tiêu chí phân loại và kết quả phân chia các nhóm nghĩa tình thái Theo Nguyễn Thị Nhung, nghĩa tình thái được chia thành hai loại: nghĩa tình thái khách quan và
nghĩa tình thái chủ quan, tuy nhiên thuật ngữ chủ quan ở đây không phải là
thuật ngữ mang nghĩa xấu chỉ kiểu ý chí luận phi khoa học không thể kiểm chứng được Tính chủ quan ở đây được hiểu là sự tập trung vào người nói, liên quan đến việc nhận diện người nói, thể hiện ở vai trò của người nói, còn
Trang 14tính khách quan thì thể hiện ở sự loại trừ vai trò của người nói Tiêu chí chính
để xác định tính chủ quan trong nghĩa tình thái của câu là phải nhận diện được người nói ra câu đó Việc nhận diện có thể tiến hành qua các dấu ấn thể hiện cái
tôi, cái bản ngã của chủ thể như các phương tiện trực chỉ (tôi, tao, mày, hôm nay, hôm qua, đây, kia, )
Ngoài ra, còn có nhiều công trình, bài báo, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ quan tâm đến phương tiện biểu thị hoặc liên quan đến nghĩa tình thái của câu trong tiếng Việt Trước hết phải kể đến những công trình đề cập đến một hệ
thống phương tiện có thể biểu thị nghĩa tình thái nói chung như tiểu luận: Hư từ trong tiếng Việt hiện đại của Nguyễn Anh Quế [52]; các luận án: Khảo sát các động từ tình thái trong tiếng Việt của Bùi Trọng Ngoãn [34]; đề tài khoa học Ngữ nghĩa – ngữ dụng các tiểu từ tình thái trong tiếng Việt của Lê Đông và
Nguyễn Văn Hiệp [9];… Bên cạnh đó còn có những công trình nghiên cứu các phương tiện biểu thị một bộ phận nghĩa tình thái nào đó trong tiếng Việt hay
trong quan hệ đối chiếu với các ngôn ngữ khác Chẳng hạn, luận án: Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ trong tiếng Việt
của Nguyễn Thị Lương [31] Cũng có một số bài báo triển khai theo hướng này
như: Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá ít và Nhóm hư từ mang ý nghĩa đánh giá nhiều của Bùi Thanh Hoa [18], Một số biểu thức đánh giá trong tiếng Việt
của Hoàng Anh Thi,
Có thể nói nghĩa tình thái là một loại nghĩa được rất nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước quan tâm Đây là loại nghĩa được thể hiện phong phú, đa sắc nên sự thống nhất là không dễ dàng Và nhiều khi không dễ gì nắm bắt và phân tích Trong hai loại nghĩa tình thái, nhóm nghĩa tình thái chủ quan có dung lượng ngữ nghĩa rộng hơn nhóm nghĩa tình thái khách quan và hết sức phong phú, phức tạp nên sẽ là mối quan tâm của chúng tôi trong luận văn này
Trang 152.2 Tình hình nghiên cứu về nghĩa tình thái chủ quan trong “Dế Mèn phiêu lưu ký” của Tô Hoài
Theo hiểu biết của chúng tôi thì Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài đã
được nghiên cứu ở phương diện ngôn ngữ trong một số luận văn sau:
- Nguyễn Phương Lan (2014), Từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong
“Dế Mèn phiêu lưu ký” của nhà văn Tô Hoài, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học
Việt Nam, Đại học Hải Phòng
- Nguyễn Thị Hà Thanh (2017), Tín hiệu thẩm mĩ nhân vật Dế Mèn trong
tác phẩm “Dế Mèn phiêu lưu ký” - Tô Hoài, Luận văn thạc sĩ Ngôn ngữ học
Việt Nam, Đại học Hải Phòng
Như vậy, cho đến nay, theo hiểu biết cảu chúng tôi thì chưa có một công trình nào nghiên cứu về nghĩa tình thái nói chung và nghĩa tình thái chủ quan nói
riêng trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài Chúng tôi nhận thấy nghĩa tình thái trong Dế Mèn phiêu lưu ký là một hướng nghiên cứu giúp cho
bạn đọc thấy rõ được tâm trạng, tính cách nhân vật trong tác phẩm, đồng thời góp phần khẳng định thêm phong cách của nhà văn
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu đề tài này, luận văn hướng tới các mục đích sau:
- Thấy rõ vai trò, tác dụng của nghĩa tình thái chủ quan trong việc thể hiện tâm trạng, đặc điểm tính cách nhân vật và đặc điểm phong cách nhà văn
Từ đó, có thể hiểu sâu hơn về nghĩa tình thái chủ quan nói riêng và nghĩa tình thái nói chung trong câu tiếng Việt
- Góp phần nâng cao hiệu quả giao tiếp, góp phần phục vụ tốt hơn cho việc dạy học Ngữ văn và giáo dục văn hóa cho học sinh
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích đề ra, luận văn tập trung thực hiện những nhiệm vụ sau:
Trang 16Một là khái quát và hệ thống hóa cơ sở lí thuyết liên quan đến đề tài nghiên cứu (một số lí thuyết công cụ liên quan như câu, thành phần câu, cụm từ,…; lí thuyết về nghĩa tình thái của câu)
Hai là khảo sát, thống kê, phân loại nghĩa tình thái chủ quan xuất hiện
trong Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài
Ba là phân tích, miêu tả các tiểu loại nghĩa tình thái xuất hiện trong Dế Mèn phiêu lưu ký để làm rõ vai trò của chúng trong phát ngôn và trong việc
thể hiện thái độ, tình cảm của nhân vật đối với đối tượng giao tiếp hoặc đối với nội dung được nói đến; đồng thời có thể thấy được tâm trạng, tính cách nhân vật và phong cách tác giả
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là nghĩa tình thái chủ quan trong tác
phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là nghĩa tình thái chủ quan trong tác
phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của Tô Hoài (tái bản lần thứ 15), Nhà xuất bản
Kim Đồng, xét về các phương diện hình thức biểu hiện, các sắc thái ngữ nghĩa
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng một số phương pháp nghiên cứu như sau:
- Phương pháp miêu tả được sử dụng để thấy được về cơ bản diện mạo của nghĩa tình thái, của từng bộ phận nghĩa tình thái trong câu văn của tác phẩm
Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài Trong phương pháp này, chúng tôi
sử dụng những thủ pháp giải thích bên trong và giải thích bên ngoài
- Phương pháp phân tích ngữ nghĩa: được vận dụng để phân tích ý nghĩa
của các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái chủ quan trong Dế Mèn phiêu lưu
ký, từ đó có cơ sở đánh giá nghĩa tình thái trong câu
Bên cạnh đó, luận văn còn sử dụng một số thủ pháp sau:
Trang 17Thủ pháp thống kê, phân loại: được vận dụng để thống kê các kiểu nghĩa
tình thái chủ quan xuất hiện trong Dế Mèn phiêu lưu ký
Thủ pháp so sánh, đối chiếu: được dùng để đối chiếu, so sánh việc sử
dụng các tiểu loại của nghĩa tình thái chủ quan trong Dế Mèn phiêu lưu ký để từ
đó đánh giá sự xuất hiện và vai trò của chúng trong tác phẩm
Thủ pháp phân tích, tổng hợp: được vận dụng để phân tích số liệu, ngữ liệu từ đó có sơ sở nhận xét, khái quát về sự xuất hiện của nghĩa tình thái chủ
quan trong Dế Mèn phiêu lưu ký
6 Đóng góp của luận văn:
Việc phân tích nghĩa tình thái trong câu có thể mang lại những đóng góp nhất định cho việc dạy học văn học, tiếng Việt và giáo dục văn hóa cho học sinh phổ thông
7 Kết cấu của luận văn: Luận văn gồm ba phần: Mở đầu, Nội dung và Kết luận Phần Nội dung được chia thành ba chương như sau:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương này chúng tôi giới thiệu những lí thuyết liên quan đến đề tài Đó
là lí thuyết về câu như khái niệm câu, các bình diện nghiên cứu câu: kết học, nghĩa học, dụng học Phần lí thuyết trọng tâm là nghĩa tình thái được giới thiệu
từ quan niệm đến cách phân loại và phương tiện thể hiện Đây chính là những cơ
sở lí thuyết quan trọng để chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài
Chương 2: T ình thái biểu thị quan hệ giữa người nói và nội dung
được nói tới trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài
Chương này chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát nghĩa tình thái nhận thức, nghĩa tình thái đánh giá và nghĩa tình thái cảm xúc Trong chương 2, chúng tôi
sẽ khảo sát, thống kê tần số xuất hiện của mỗi loại nghĩa tình thái; các kiểu câu
và tỉ lệ các kiểu câu chứa tình thái nhận thức, tình thái đánh giá, tình thái cảm xúc cùng biểu hiện cụ thể về nội dung các sắc thái; đặc trưng về cấu tạo của các phương tiện biểu thị nghĩa tình thái Những khảo sát này sẽ là cơ sở để chúng tôi phân tích giá trị của nghĩa tình thái đánh giá, nghĩa tình thái nhận thức và nghĩa
Trang 18tình thái cảm xúc trong việc thể hiện tính cách các nhân vật trong tác phẩm Qua
đó, chúng tôi thấy được ngòi bút khắc họa tâm lí nhân vật tài tình của nhà văn
Tô Hoài trong tác phẩm
Chương 3: T ình thái biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe
trong tác phẩm Dế Mèn phiêu lưu ký của nhà văn Tô Hoài
Chương này, chúng tôi sẽ tiến hành khảo sát tần số xuất hiện; các kiểu câu
tỉ lệ các kiểu câu chứa tình thái đạo lí và tình thái thái độ; biểu hiện cụ thể của nội dung các sắc thái cũng như đặc trưng về cấu tạo của các phương tiện thể hiện nghĩa tình thái đạo lí và nghĩa tình thái thái độ Những khảo sát này là cơ sở
để chúng tôi phân tích giá trị của nghĩa tình thái đạo lí, nghĩa tình thái thái độ trong việc thể hiện tính cách của nhân vật Đồng thời, những giá trị của nghĩa tình thái được khảo sát trong chương này sẽ giúp chúng tôi hiểu rõ thêm về ngòi bút khắc họa tâm lí nhân vật của nhà văn Tô Hoài
Trang 19CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 1.1 Một số vấn đề về câu
1.1.1 Khái niệm câu
Câu là đơn vị ngôn ngữ có nhiều phương diện Khi có những mục đích khác nhau, người ta có thể đưa ra những định nghĩa khác nhau về câu theo các khuynh hướng thiên về hình thức, thiên về nội dung, thiên về chức năng, hay dựa vào cả một tổ hợp nhiều phương diện của câu Có rất nhiều định nghĩa về câu của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Có định nghĩa chỉ nhấn mạnh
đến một đặc trưng nào đó của câu: Câu là đơn vị nhỏ nhất có thể dùng vào việc giao tế [14, tr 31]; có định nghĩa lại nhằm chỉ ra tất cả những đặc trưng cơ bản của câu: “Câu là đơn vị ngôn ngữ được tạo ra trong quá trình tư duy và giao tiếp, do các từ, ngữ trực tiếp tạo thành theo một quy tắc ngữ pháp, sử dụng một ngữ điệu kết thúc nhất định, thường biểu đạt một sự tình kèm theo thái độ, sự đánh giá của người nói hoặc chỉ biểu thị thái độ, sự đánh giá của người nói Câu đồng thời là đơn vị lời nói nhỏ nhất có chức năng thông báo” [30, tr 148]
Các nhà dụng học phân biệt câu và phát ngôn Câu là đơn vị của một hệ thống ngôn ngữ trừu tượng, còn phát ngôn là những ví dụ của hệ thống Vì là một đơn vị ở bậc ngữ ngôn nên câu là một đơn vị trừu tượng chỉ có thể nhận thức được thông qua các biến thể trong lời nói, đó là các phát ngôn Phát ngôn là đơn vị hiện thực của câu trong giao tiếp Quan hệ giữa câu và phát ngôn cũng tương tự như quan hệ giữa từ với các dạng thức cụ thể của từ, giữa hình vị và thành tố Các phát ngôn được tạo ra vào thời gian và địa điểm nào đó bởi một người nào đó Trong công trình này, đối tượng được khảo sát là những đơn vị hiện thực nói trên, nhưng đơn vị này nhiều khi cũng được nhìn nhận ở mặt tĩnh tại, khái quát của nó Vì vậy, chúng tôi chọn thuật ngữ thông dụng là câu để gọi tên đơn vị đó Tuy nhiên, ở những trích dẫn ý kiến của các nhà nghiên cứu đi trước, đôi khi, đối tượng này vẫn được gọi là phát ngôn
1.1.2 Ba bình diện nghiên cứu câu
Câu là đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ mà trong đó cả ba bình diện kết học,
Trang 20nghĩa học, dụng học đều được thể hiện
Theo quan điểm của các nhà ngôn ngữ học chức năng, ba bình diện nghiên cứu câu được xác định cụ thể như sau:
1.1.2.1 Bình diện kết học (bình diện ngữ pháp)
Kết học là bình diện của những khái niệm được xác định bằng những tiêu chuẩn hình thức thuần túy Bình diện này nghiên cứu mối quan hệ giữa các tín hiệu ngôn ngữ Bình diện kết học quan tâm đến cấu trúc cú pháp của câu và các thành phần câu Đó là các thành phần cú pháp như chủ ngữ, vị ngữ, bổ ngữ trực tiếp, bổ ngữ gián tiếp, định ngữ được xác định không phải căn cứ vào việc các ngữ đoạn biểu thị cái gì mà vào mối quan hệ ngữ pháp với các ngữ đoạn khác được biểu thị bằng những phương tiện hình thức gọi là tác tử cú pháp như hình thái cách hoặc các chuyển tố, các “giới từ”, bằng sự phản ứng về số, về ngôi với một danh ngữ nhất định (đặc trưng của vị ngữ…)
Bình diện kết học không chỉ quan tâm đến các thành phần câu mà còn quan tâm đến các kiểu câu theo cấu trúc
a.Các thành phần câu
Tìm hiểu cấu trúc câu giúp ta vừa xác định được phương tiện biểu thị nghĩa tình thái vừa giúp hiểu rõ hơn nghĩa của câu Bởi mỗi kiểu cấu trúc câu thường tương ứng với một chức năng tải nghĩa nhất định Thành phần câu là những bộ phận trực tiếp tạo nên cấu trúc ngữ pháp của câu Tâm điểm của cấu trúc ngữ pháp câu là nòng cốt câu Đó là thành phần đảm bảo cho câu được trọn nghĩa và độc lập về ngữ pháp (dù xét câu tách biệt với tình huống sử dụng) Dựa vào quan hệ với nòng cốt câu, có thể chia thành phần câu thành ba loại sau:
* Các thành phần chính
Các thành phần chính là những thành phần trực tiếp tạo nên nòng cốt câu, việc lược bỏ chúng sẽ ảnh hưởng tới tính độc lập của câu Trong trường hợp bình thường, nòng cốt câu bao gồm chủ ngữ (CN), vị ngữ (VN)
Chủ ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp, chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với vị ngữ, chỉ đối tượng có đặc trưng
Trang 21hoặc quan hệ được nói đến ở vị ngữ
Vị ngữ là một trong hai thành phần chính của câu, có quan hệ trực tiếp,
chặt chẽ, qua lại và quy định lẫn nhau với chủ ngữ, chỉ đặc trưng hoặc quan hệ
của đối tượng được nói đến ở chủ ngữ.” [33, tr 155- 163]
Ví dụ:
(1) Chẳng bao lâu, tôi// đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng
CN VN
* Thành phần phụ
Thành phần phụ là những thành phần không đóng vai trò quyết định đối
với tính trọn vẹn về nghĩa, độc lập về ngữ pháp của câu, có quan hệ với cả nòng
cốt câu (CN - VN) để bổ sung cho nòng cốt câu một ý nghĩa nào đó, việc lược
bỏ không ảnh hưởng tới tính độc lập của câu Thành phần phụ của câu bao gồm
trạng ngữ, khởi ngữ Ví dụ:
(2) Cái chàng Dế Choắt, người gày gò và dài lêu nghêu như một gã
nghiện thuốc phiện [48]
Trong ví dụ (2) Cái chàng Dế Choắt là thành phần khởi ngữ
(3) Chẳng bao lâu, tôi// đã trở thành một chàng dế thanh niên cường tráng
Trong ví dụ (3) Chẳng bao lâu là thành phần trạng ngữ
* Các phần biệt lập: gồm tình thái ngữ, liên ngữ, phụ chú ngữ
- Tình thái ngữ: được hiểu là các biểu thức tình thái chuyên biệt, không
nằm trong nòng cốt câu, được dùng để biểu thị một số ý nghĩa tình thái của câu
- phát ngôn như ý kiến, sự đánh giá, thái độ, quan hệ của người nói với người
nghe và với sự tình được phản ánh trong câu [23, tr 67] Và theo đó, tình thái
ngữ được chia thành tình thái chỉ ý kiến, tình thái chỉ quan hệ thái độ - tình cảm,
tình thái hô đáp Trong câu, tình thái ngữ có vị trí không cố định, bởi vì có nhóm
thường đứng trước nòng cốt câu, có nhóm thường đứng cuối câu, có nhóm có
thể đứng trước nòng cốt câu hoặc giữa chủ ngữ với vị ngữ
(4) Quả thật đến giờ tôi mới biết việc đó
Trong (4), Quả thật là phần tình thái đứng đầu câu
Trang 22- Phụ chú ngữ (giải ngữ, chú thích): là bộ phận chêm xen, nằm ngoài cấu trúc cú pháp của câu, dùng để chú giải thêm một khía cạnh nào đó có liên quan đến sự tình nêu trong câu, giúp người nghe, người đọc hiểu rõ hơn về nội dung của câu hay dụng ý của người chú giải [23, tr 72]
(5) Cô bé nhà bên (có ai ngờ) cũng vào du kích (Giang Nam)
Có ai ngờ trong (5) là phần phụ chú
- Liên ngữ (nối kết, chuyển tiếp): là thành phần biệt lập, không nằm trong cấu trúc cú pháp cơ bản của câu, thường đứng trước nòng cốt câu, dùng để liên kết ý của câu chứa nó với ý của các phần văn bản có liên quan, đứng ở trước hoặc sau nó [23, tr 75] Ví dụ:
(6) Nhưng lão cũng biết vợ tôi không ưng giúp lão (Nam Cao)
Nhưng trong ví dụ (6) là liên ngữ
Các thành phần câu có thể được tạo thành bởi các đoản ngữ (cụm từ chính phụ); trong đó có thành tố chính và thành tố phụ Các thành tố phụ trong động ngữ, tính ngữ được gọi là bổ tố Các thành tố phụ trong danh ngữ được gọi là định tố
b Phân loại câu theo cấu trúc ngữ pháp
Dựa vào số lượng cụm C - V và số lượng C - V nòng cốt trong câu, có thể chia câu thành các loại sau:
- Câu đơn: là câu chỉ có một kết cấu C - V và kết cấu C - V này đồng thời là nòng cốt câu Ví dụ:
(7) Thất bại //là mẹ của thành công
CN VN
- Câu phức: là câu có từ 2 kết cấu C - V trở lên trong đó chỉ có một kết cấu
C - V làm nòng cốt câu, các kết cấu C - V còn lại bị bao chứa bởi thành phần nào đó của câu hay của từ
(8)Đại dịch covid 19/bùng phát//khiến cho học sinh/phải học online
CN VN
Trang 23- Câu ghép: là câu có từ hai kết cấu chủ - vị nòng cốt trở lên, nhưng không có kết cấu chủ - vị nào bị bao bởi một kết cấu chủ - vị khác, mỗi kết cấu
là một vế câu nêu lên một sự việc; các sự việc trong câu ghép có quan hệ nghĩa với nhau và được thể hiện ra bằng một quan hệ ngữ pháp nào đó
(9) Người ta/ sẽ khinh y vợ y/ sẽ khinh y, chính y/ sẽ khinh y (Nam Cao) C1 V1 C2 V2 C3 V3
- Câu đặc biệt: là kiến trúc có một trung tâm cú pháp chính (có thể có thêm trung tâm cú pháp phụ), không chứa hay không hàm ẩn một trung tâm cú pháp thứ hai có quan hệ với nó như là quan hệ giữa chủ ngữ với vị ngữ
(10) Đêm Thành phố lên đèn như sao xa (Hà Ánh Minh)
Câu đặc biệt
Ở mỗi kiểu nói trên, lại có thể tiếp tục chia thành những kiểu nhỏ hơn nữa Ngoài ra, dựa vào sự có mặt hay tạm thời vắng mặt của bộ phận nòng cốt, có thể chia câu đơn, câu phức thành 2 kiểu đối lập nhau là câu tỉnh lược và câu không tỉnh lược [xem 39, tr 182 - 192]
1.1.2.2 Bình diện nghĩa học
Bình diện nghĩa học là bình diện của “sự tình” được biểu thị và những “vai
trò” tham gia cái sự tình ấy Ở đây, ta sẽ có những tham tố của sự tình, gồm có những diễn tố và những chu tố Các diễn tố là những vai trò tất yếu được giả định sẵn trong nghĩa từ vựng của vị từ Chẳng hạn, một vị từ như cho tất nhiên giả định một chủ thể của hành động cho, một đối thể là vật được đem cho và một tiếp thể tức người nhận tặng phẩm Các chu tố làm thành cái cảnh trí ở xung quanh các tham tố, nó không được giả định một cách tất nhiên trong khung vị ngữ Đó là những điều kiện thời gian, không gian, là cách thức, là phương tiện, hoặc là những nhân vật có liên quan…
Bình diện ngữ nghĩa của câu gồm hai thành phần nghĩa là nghĩa miêu tả và nghĩa tình thái
a Nghĩa miêu tả
Nghĩa miêu tả của câu là nghĩa biểu thị sự vật, việc, hiện tượng (gọi chung
Trang 24là sự tình) trong thực tế khách quan được phản ánh vào trong câu qua lăng kính chủ quan của người nói (viết)
Trong nghĩa miêu tả của câu, có hai thành tố quan trọng:
- Thành tố thứ nhất là thành tố cốt lõi, nêu đặc trưng quan hệ trong sự việc gọi là vị tố
- Thành tố thứ hai là các nhân tố tham gia vào chính sự việc mà câu phản ánh gọi là các tham thể
Trong nghĩa miêu tả, cấu trúc đặc trưng/ quan hệ - vai nghĩa chính là cấu
trúc nghĩa miêu tả của câu Ví dụ:
(11) Đôi càng tôi mẫm bóng
Tham thể vị tố
b Nghĩa tình thái (sẽ được trình bày cụ thể ở mục 1.2)
1.1.2.3 Bình diện dụng học của câu
Bình diện dụng học là bình diện của việc sử dụng ngôn từ trong những tình huống cụ thể, trong những cuộc đối thoại cụ thể, trong những văn cảnh cụ thể, vào những mục đích cụ thể Theo quan niệm của đa số các tác giả hiện nay, thuộc bình diện này có cấu trúc đề - thuyết của câu, cấu trúc thông báo tức sự phân bố “cũ - mới” trong câu, các hiện tượng tiêu điểm hóa và cường điệu nhấn mạnh ngữ đoạn này hay ngữ đoạn khác để nêu rõ tầm quan trọng hay sự tương phản, các giá trị ngôn trung và lực xuyên ngôn, các quy tắc sử dụng ngôn từ do phong tục của dân tộc quy định
Có thể nói, câu xét trên bình diện ngữ pháp và ngữ nghĩa chủ yếu được xem xét ở dạng biệt lập, hoặc chưa được đặt vào ngữ cảnh, tình huống giao tiếp,
hoàn cảnh sử dụng cụ thể Cũng như nhiều đơn vị khác của ngôn ngữ, câu có đời
sống thực sự, đa dạng và sinh động trong chính hoạt động giao tiếp Cũng chính trong hoạt động giao tiếp (khi cấu trúc ngữ pháp của câu được hiện thực hóa), câu có những biến đổi và chuyển hóa phù hợp với các nhân tố giao tiếp Ở bình diện dụng học, câu được xem xét cụ thể ở các phương diện sau:
- Sự hiện thực hóa cấu trúc ngữ pháp của câu trong phát ngôn
Trang 25- Mục đích nói của câu trong giao tiếp
- Phân loại câu theo mục đích nói
- Cấu trúc đề - thuyết
- Nghĩa tường minh và nghĩa hàm ẩn
Dựa vào mục đích nói, có thể chia câu tiếng Việt thành 4 kiểu: câu trần thuật, câu nghi vấn, câu cầu khiến, câu cảm thán
* Câu nghi vấn
Câu nghi vấn là câu có từ nghi vấn như đại từ ai, gì, nào, đâu, đấy, mấy, sao, bao giờ, bao lâu, bao nhiêu; các cặp phó từ nghi vấn (có)…không, (đã)…chưa hoặc quan hệ từ nghi vấn hay nối các vế có mối quan hệ lựa chọn Câu nghi vấn là kiểu câu có các tiểu từ tình thái như à, ư, hả/hở, hẳn, chăng, chứ/ chớ ở cuối câu Có thể có đồng thời nhiều dấu hiệu như vậy trong câu Ví
dụ:
(12) Không làm gì thì anh lấy gì mà mày sống hả? (Nam Cao)
(13) Bây giờ vẫn chưa nộp sưu, còn chực sinh sự với ông à? (Ngô Tất Tố)
(14) Mà bà làm bếp có một mình thôi ư? (Thạch Lam)
(15) Này, ông Dụ, hay có điều gì tôi làm ông giận chăng? (Nguyễn Công Hoan) (16) Anh ở lại chơi đã chớ? (Bùi Hiển)
(17) Người ta nói phải đấy chứ? (Vũ Trọng Phụng)
(18) Tại sao thì nó mới đánh mày chứ? (Vũ Trọng Phụng)
(19) Đến bao giờ nữa hở? (Nguyên Hồng)
* Câu cầu khiến
Câu cầu khiến là câu có những dấu hiệu sau:
- Có từ cầu khiến như hãy/đừng/chớ và chủ thể của hãy/đừng/chớ bao giờ
cũng ở ngôi thứ hai hoặc ngôi thứ nhất số nhiều
- Có khả năng thêm từ hãy/đừng/chớ ở những ngôi đã nêu trên
Câu cầu khiến là kiểu câu có các tiểu từ tình thái như đã, đi, xem ở cuối
câu Có thể có đồng thời nhiều dấu hiệu như vậy trong một câu cầu khiến Ví dụ:
(20) Thầy thử thò tay vào mà quờ xem (Nam Cao)
Trang 26(21) Anh ơi, hãy ra đây mà xem đã (Vũ Trọng Phụng)
(22) Ăn đi đã (Nguyễn Thị Ngọc Tú)
* Câu cảm thán
Câu cảm thán là câu có những từ như thay, biết bao, xiết bao…cuối câu
hoặc đứng sau những từ ngữ mà chúng bổ nghĩa Câu cảm thán là câu có những
tiểu từ tình thái như mất, thật hoặc các tổ hợp đặc ngữ như thì chết, lại còn ở
cuối câu Ví dụ:
(23) Mẹ mà chết thì các con đi ăn mày mất! (Nam Cao)
(24) Ồ, thế này thì tức thật! (Nam Cao)
(25) Chóng thật! Mới ngày nào mà bây giờ đã…(Vũ Trọng Phụng)
(26) Có im không? Người ta tắm cho sạch sẽ lại còn! (Nam Cao)
(27) Đẹp biết bao!
* Câu trần thuật
Câu trần thuật là câu không có những dấu hiệu của các kiểu câu trên Đồng
thời, câu trần thuật là câu có những tiểu từ tình thái như vậy, mà, rồi hay các tổ hợp đặc ngữ như là cùng, còn gì, mới phải, mới được đứng ở cuối câu
(28) Nhưng kể ra dân An Nam mà dám bỏ ra ngót bốn trăm bạc để mua
chó thì đã là ngông lắm rồi (Nguyễn Công Hoan)
(29) Cũng như thầy u con Tý đẻ ra con Tý ấy mà (Nguyễn Công Hoan)
(30) Trong nhà thì bao giờ cũng nhất mẹ nhì con rồi
(31) Ông thì giỏi rồi
1.2 Nghĩa tình thái của câu
1.2.1 Khái niệm nghĩa tình thái
Đối với việc xác định khái niệm nghĩa tình thái, đã có rất nhiều nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước quan tâm Ở nước ngoài, có thể kể kể đến quan niệm về nghĩa tình thái của của một số nhà nghiên cứu như Vinogradov, Lyons, Gak, Liapol, Bybee
Vinogradov xem tình thái như một phạm trù ngữ pháp độc lập, tồn tại song song với phạm trù vị tính, biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo
Trang 27với thực tế Tác giả cho rằng: “Mỗi câu đều mang một ý nghĩa tình thái như dấu hiệu cấu trúc cơ bản, tức chỉ ra quan hệ với hiện thực” (dẫn theo V.Z.Panfilov 1977) Nội dung thông báo có thể được người nói hiểu như là hiện thực hay phi hiện thực, là đã tồn tại trong quá khứ, trong hiện tại, hay là điều sẽ được thực hiện trong tương lai, là điều mà người nói mong muốn hay đòi hỏi đối với ai đó…
Gak cho rằng tình thái phản ánh mối quan hệ của người nói đối với nội dung phát ngôn và nội dung phát ngôn đối với thực tế Tình thái biểu hiện nhân
tố chủ quan của phát ngôn; đó là sự khúc xạ của một phân đoạn thực tế qua nhận thức của người nói [Gak 1986, 133]
Liapol (1990) quan niệm tình thái là phạm trù ngữ nghĩa chức năng thể hiện các dạng quan hệ khác nhau của phát ngôn với thực tế cũng như các dạng đánh giá chủ quan khác nhau đối với điều được thông báo [Liapol 1990, 303]
Theo Lyons (1977) thì tình thái là thái độ của người nói đối với nội dung mệnh đề mà câu biểu thị hay cái sự tình mà mệnh đề đó miêu tả [Lyons 1977, 425]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu ngôn ngữ như Diệp Quang Ban, Nguyễn Thiện Giáp, Lê Quang Thiêm, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Lương, cũng đã đưa
ra cách hiểu về nghĩa tình thái trong các bài viết, công trình nghiên cứu của mình
Theo Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên)
nghĩa tình thái được phân biệt rõ hai loại: tình thái khách quan với tình thái chủ quan Tình thái khách quan “biểu hiện mối quan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan (có thật hay không có thật, có thể hay không
có thể, tất yếu hay ngẫu nhiên) bằng các phạm trù thức, phạm trù thời, các loại
ngữ điệu khác nhau v.v…” [35, tr 297] Tình thái chủ quan “biểu hiện thái độ (quan hệ) của người nói đối với điều được thông báo (tin hay không tin, đồng
ý hay không đồng ý, đánh giá, biểu cảm) bằng trật tự từ, ngữ điệu, phép kí từ,
từ tình thái, tiểu từ, từ cảm, từ xen, v.v…” [35, tr.297]
Cao Xuân Hạo trong Tiếng Việt sơ thảo ngữ pháp chức năng Quyển 1 quan
niệm tình thái, là cách thực hiện mối liên hệ ấy (mối liên hệ tiềm năng giữa sở
Trang 28thuyết và các tham tố của nó - theo tác giả luận văn), cho biết mối liên hệ ấy là
có thật (hiện thực) hay là không có (phủ định nó, coi nó là phi hiện thực), là tất yếu hay không tất yếu, là có thể có được hay không thể có được [14, tr.101]
Theo Diệp Quang Ban, nghĩa tình thái là bộ phận chỉ ý định (ý chí, ý muốn), thái độ, tình cảm của người nói đối với điều được nói ra, quan hệ của người nói đối với người nghe [2, tr 181]
Nguyễn Văn Hiệp cho rằng nghĩa tình thái, hiểu theo nghĩa hẹp, chỉ xoay quanh các tham số về tính tất yếu, tính khả năng và tính hiện thực, trên cơ sở nhận thức hay đạo nghĩa, và tất cả được hiểu theo góc độ khách quan (tình thái trong logic) hay chủ quan (tình thái trong ngôn ngữ) [16, tr 91] Còn hiểu theo nghĩa rộng nhất, khái niệm tình thái trong ngôn ngữ học sẽ bao hàm những kiểu
ý nghĩa rất khác nhau, với những kiểu cơ bản nhất là: các ý nghĩa khác nhau thể hiện sự đánh giá, thái độ, lập trường của người nói đối với nội dung thông báo; các ý nghĩa đối lập giữa khẳng định và phủ định đối với sự tồn tại của sự tình; những đặc trưng liên quan đến sự diễn tiến của sự tình, liên quan đến khung cảnh ngữ nghĩa ngữ pháp của vị từ cũng như mối quan hệ giữa chủ thể được nói đến trong câu và vị từ; các ý nghĩa phản ánh đặc trưng khác của phát ngôn
và hành động phát ngôn có liên quan đến ngữ cảnh, xét theo quan điểm, đánh giá của người nói; các ý nghĩa thể hiện mục đích phát ngôn của người nói [16,
Nguyễn Thiện Giáp quan niệm: nghĩa tình thái là nghĩa thể hiện sự bắt buộc, sự cho phép, sự cấm đoán, sự cần thiết, tính khả hữu, khả năng [11
Tr.301]
Trang 29Nguyễn Thị Nhung [30] trên cơ sở tìm hiểu ý kiến về của nghĩa tình thái các nhà nghiên cứu đi trước và dựa vào kết quả khảo sát nghiên cứu cho rằng:
Nghĩa tình thái là một bộ phận nghĩa của câu, giúp biến nội dung mệnh đề ở thế tiềm năng trở thành các phát ngôn khi giao tiếp Nó bao gồm tất cả những gì mà người nói thể hiện kèm theo nội dung mệnh đề khi thực hiện một câu nói, nhằm biểu thị quan hệ của điều được nói đến trong câu với hiện thực khách quan; biểu thị nhận thức, sự đánh giá, cảm xúc của người nói với điều được nói đến trong câu, và mong muốn, thái độ của người nói với người nghe [30, tr 28]
Có thể nói, trên thế giới và ở Việt Nam quan niệm về nghĩa tình thái được hiểu theo cách rộng hẹp và ở nhiều phương diện khác nhau
1.2 2 Phân loại nghĩa tình thái
Nghĩa tình thái là một loại nghĩa đa diện, phong phú và phức tạp Chính vì thế, việc phân loại nghĩa tình thái cũng thể hiện những quan điểm khác nhau của các nhà nghiên cứu về thành phần nghĩa này Dưới đây, luận văn xin điểm lại việc phân chia nghĩa tình thái của các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.2.1 Phân loại nghĩa tình thái của các nhà ngôn ngữ học nước ngoài
Trong [30], Nguyễn Thị Nhung đã hệ thống được các quan điểm phân loại nghĩa tình thái Theo đó, có bốn nhóm quan điểm phân loại sau:
- Quan điểm phân loại nghĩa tình thái dựa trên tiêu chí hành động ngôn từ
và nghĩa tình thái của hành động nói
- Quan điểm phân loại nghĩa tình thái dựa trên tiêu chí hành động ngôn từ
và nghĩa tình thái của hành động nói
- Quan điểm phân loại nghĩa tình thái dựa vào nội dung
- Quan điểm lấy chính các đặc trưng của nghĩa tình thái làm tiêu chí phân loại nghĩa tình thái
a Phân loại nghĩa tình thái dựa trên tiêu chí hành động ngôn từ và nghĩa tình thái của hành động nói
Vì nghĩa tình thái - một vấn đề của ngữ nghĩa học (theo nghĩa rộng) - được
đề xuất và quan tâm nối tiếp sau ngữ dụng học nên xu hướng đầu tiên cần nói tới
Trang 30là xu hướng nhìn nhận các thành phần nghĩa tình thái dựa vào một nội dung của ngữ dụng học, cụ thể là lí thuyết hành động ngôn từ Trên thế giới, Hare, Palmer
là những người đã đồng nhất hành động ngôn từ với một bộ phận của nghĩa tình thái (dẫn theo [16, tr 88-89]) Searle thì cho rằng: hành động ngôn từ xác quyết, tuyên bố liên quan đến tình thái nhận thức; hành động ngôn từ khuyến lệnh, kết ước liên quan đến tình thái đạo nghĩa; (dẫn theo [16, tr.82-83]), như vậy, Searle đã không đồng nhất hành động nói với nghĩa tình thái mà chỉ ra rằng chúng có liên quan đến nhau Thực tế thì đúng như Searle đã chỉ ra, mỗi nghĩa tình thái của lời nói đều được tạo nên bởi một (hoặc một số) hành động ngôn từ nhất định Searle đã dùng lí thuyết hành động ngôn từ, một lí thuyết khởi nguồn
từ Austin (1962) để thảo luận những vấn đề về thức và tình thái Searle nêu ra năm phạm trù cơ bản của hành động tại lời như sau:
- Xác quyết: người nói cho người nghe biết (có thể đúng hoặc sai) là sự vật như thế nào
- Khuyến lệnh: người nói tác động để người nghe thực hiện hành động
- Kết ước: người nói cam kết thực hiện hành động
- Tuyên bố: người nói thực hiện những thay đổi trong thế giới bằng phát ngôn của mình
- Biểu lộ: người nói thể hiện tình cảm, thái độ của mình
Như vậy, việc cho rằng có tình thái hành động ngôn từ bên cạnh tình thái của phát ngôn sẽ dẫn tới sự chồng chéo giữa hai nhóm
b Phân loại nghĩa tình thái dựa trên tiêu chí các mối quan hệ khách quan và chủ quan
Theo quna điểm này có các nhà nghiên cứu như Vinogradov, Lyons, Palmer, Ch Bally, M Liapon, Bondarenko, Vinogradov cho rằng tình thái biểu thị những mối quan hệ khác nhau của thông báo với thực tế Lyons và Palmer khẳng định tình thái là thông tin ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc
ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu Gak cho rằng tình thái bao hàm cả hai loại quan hệ trên Ch Bally thì đồng ý với Lyons, và bổ sung
Trang 31thêm một quan hệ nữa trong nghĩa tình thái là quan hệ giữa người nói với người đối thoại và hoàn cảnh giao tiếp
c Phân loại nghĩa tình thái dựa vào nội dung
Theo quan điểm này, nghĩa tình thái sẽ gồm nghĩa tình thái nhận thức, nghĩa tình thái đạo lí/đạo nghĩa và các loại nghĩa tình thái khác Hầu hết các nhà nghiên cứu trên thế giới đều thống nhất rằng trong nghĩa tình thái có hai loại là nghĩa tình thái nhận thức và nghĩa tình thái đạo lí Theo quan điểm này có Jespersen (khi ông phân phạm trù tình thái thành hai nhóm có và không chứa thành tố ý chí), Lyons, Frawley và F Pamer, Von Wright, Joan Bybee và Suzanne Fleischman v.v Ngoài ra, Keith Mitchell còn cho rằng có thêm tình thái tồn tại; Rescher đề xuất thêm tình thái thời đoạn, mong ước, những tình thái đánh giá và tình thái nhân quả Ch Bally thì không tách ra và nhấn mạnh vào nghĩa tình thái nhận thức, nghĩa tình thái đạo lí mà chỉ cho rằng Modus (bộ phận tình thái) thể hiện những nhân tố thuộc phạm vi cảm xúc, ý chí, thái độ, sự đánh giá của người nói Dưới đây có thể nói đến sự phân loại nghĩa tình thái của Von Wright và Rescher
Von Wright trong một công trình nghiên cứu về lô gic tình thái, đã phân biệt bốn thức sau:
- Thức tất suy (hay thức của chân lí)
- Thức nhận thức (hay thức của hiểu biết)
- Thức đạo nghĩa (hay thức của sự bắt buộc)
- Thức tồn tại (hay thức của sự hiện hữu)
Có thể thấy sự phân biệt quan trọng nhất ở đây là sự phân biệt giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa, tương tự như với hai nhóm không có thành
Trang 32giới thiệu cách hiểu về tình thái: “Khi bản thân một mệnh đề như thế nhận được một thông tin định tính tiếp theo thì ta nói thông tin định tính này chính là tình thái, áp dụng cho mệnh đề ban đầu”
Rõ ràng Rescher đã định nghĩa tình thái theo một nghĩa quá rộng Hệ quả là danh sách của Rescher về các loại tình thái rất đa dạng Ngoài tình thái tất suy, nhận thức và đạo nghĩa, ông còn đề cập đến tình thái thời đoạn, mong ước, những tình thái đánh giá và những tình thái nhân quả
d Phân loại nghĩa tình theo các đặc trưng
Các nhà nghiên cứu theo quan điểm này đã quan tâm tới các đặc trưng của nghĩa tình thái Chẳng hạn, Chomsky coi tính khả năng hay cần thiết là tiêu chí
để phân loại nghĩa tình thái, nên đã chia nghĩa tình thái thành các loại tình thái bắt buộc, tình thái tùy nghi và tình thái kết hợp
1.2.2.2 Phân loại nghĩa tình thái của các nhà ngôn ngữ học trong nước
Các nhà ngôn ngữ học trong nước như Cao Xuân Hạo [14], Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Văn Hiệp [26], Diệp Quang Ban [2], Nguyễn Thị Lương [23], khi nghiên cứu về nghĩa tình thái cũng đề cập đến việc phân loại, tuy nhiên sự phân loại nghĩa tình thái giữa các nhà nghiên cứu cũng không có sự thống nhất
Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học (Nguyễn Như Ý chủ biên) theo
quan điểm của Gak, phân biệt tình thái khách quan với tình thái chủ quan Tình thái khách quan “biểu hiện mối quan hệ của điều được thông báo đối với hiện thực khách quan (có thật hay không có thật, có thể hay không có thể, tất yếu hay ngẫu nhiên) bằng các phạm trù thức, phạm trù thời, các loại ngữ điệu khác nhau v.v…” [26, tr.297] Tình thái chủ quan “biểu hiện thái độ (quan hệ) của người nói đối với điều được thông báo (tin hay không tin, đồng ý hay không đồng ý, đánh giá, biểu cảm) bằng trật tự từ, ngữ điệu, phép kí từ, từ tình thái, tiểu từ, từ cảm, từ xen, v.v…”
Nguyễn Thiện Giáp thống nhất với quan điểm của Lyons và Palmer, cho rằng tình thái là thông ngữ nghĩa của câu thể hiện thái độ hoặc ý kiến của người nói đối với điều được nói đến trong câu
Trang 33Cao Xuân Hạo coi tính tất yếu, tính khả năng, tính hiện thực và một số tính chất khác là tiêu chí để phân chia tình thái của cấu trúc vị ngữ hạt nhân và tình thái của câu nói [11, tr 41]
Diệp Quang Ban cũng phân biệt tình thái của hành động nói và tình thái của phát ngôn: “Tình thái của hành động nói là ý định (ý chí, ý muốn, còn gọi
là cái đích, mục đích) thực hiện một hành động nào đó của người nói khi nói ra một lời
Tình thái của phát ngôn là cách đánh giá, thái độ của người nói đối với
sự thể (vật, việc, hiện tượng) được nói đến trong phát ngôn” [1, 181]
Tình thái của phát ngôn gồm tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tình thái khách quan có thể kiểm tra được tính đúng sai, gồm tình thái khẳng định và tình thái phủ định Tình thái chủ quan là thứ tình thái không kiểm tra được tính đúng sai, chỉ thái độ, cách đánh giá của người nói đối với vật, việc, hiện tượng được nói đến Ngoài ra, tình thái chỉ ý kiến và tình thái chỉ quan hệ của người nói đối với người nghe cũng có thể xếp vào phạm trù tình thái trong câu [1, tr.201, 204]
Nguyễn Văn Hiệp cho rằng, phải qua những đối lập thì bức tranh về tình thái mới hiện ra một cách rõ ràng nhất, đúng bản chất nhất Tác giả đã đưa
ra các thể đối lập: tình thái trong logic và tình thái trong ngôn ngữ; trong ngôn ngữ lại có đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái đạo nghĩa, đối lập giữa tình thái nhận thức và tình thái căn bản, đối lập giữa tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói, đối lập giữa tình thái của mục đích phát ngôn và tình thái của lời phát ngôn và cuối cùng là những đối lập tình thái mang tính “lập trường” thuộc chủ quan của người nói [12, tr.96 - 127]
Nguyễn Thị Lương [23, tr 186-188] chia nghĩa tình thái thành bốn loại: Tình thái của hành động nói, tình thái liên cá nhân, tình thái khách quan và tình thái chủ quan Tác giả còn đưa ra những tiêu chí khác tương đối phong phú và phù hợp để phân chia các sắc thái trong tình thái đánh giá (Nguyễn Văn Hiệp
Trang 34gọi là những tình thái mang tính lập trường chủ quan của người nói) và tình thái thể hiện thái độ, trạng thái tâm lí tình cảm
Như vậy, điểm qua sự phân loại nghĩa tình thái nói trên, có thể phân biệt
nghĩa tình thái khách quan và nghĩa tình thái chủ quan Nghĩa tình thái biểu thị quan hệ của điều được thông báo với thực tế là nghĩa tình thái khách quan - một đặc trưng bắt buộc của mọi phát ngôn Còn nghĩa tình thái chủ quan - dấu hiệu không bắt buộc của một phát ngôn - biểu thị quan hệ của người nói với điều được thông báo, bao gồm những đánh giá (lí tính) hay cảm xúc (phi lí tính) Hầu
hết các nhà Việt ngữ học đều quan tâm tới việc phân biệt hai nhóm nghĩa tình thái này dù đã dùng các tên gọi khác (như tình thái trong lô gích và tình thái trong ngôn ngữ,hay tình thái hướng tác thể và tình thái hướng người nói ) Song, quan niệm về nghĩa tình thái chủ quan giữa các nhà nghiên cứu vẫn có
phần không thống nhất Nhóm tác giả của Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học quan niệm về hai nhóm nghĩa tình thái này thống nhất với M Liapon và
Bondarenko Lê Đông, Nguyễn Văn Hiệp thì cho những gì gắn phát ngôn với cái tôi chủ thể, chủ quan của người nói, với ngữ cảnh giao tiếp và sự tương tác liên chủ thể đều thuộc tình thái chủ quan Nhưng Diệp Quang Ban và Nguyễn Thị Lương lại chỉ xếp vào nghĩa tình thái chủ quan những loại nghĩa tình thái biểu thị thái độ, trạng thái tâm lí, tình cảm, và cách đánh giá đối với điều được nói tới trong câu
Trong [30] Nguyễn Thị Nhung bằng cách điểm lại một số quan điểm tiêu biểu về cách phân loại nghĩa tình thái, đã tổng hợp được những tiêu chí phân loại đã được các nhà nghiên cứu đi trước đề cập tới tương đối toàn diện Tác giả cũng cho rằng trên thế giới mới chỉ có một số nhà nghiên cứu chỉ ra quan hệ hệ thống ở hai cấp độ, tức mới quan tâm đến sự phân loại trong từng nhóm của hệ thống nghĩa tình thái Chẳng hạn: Paul Larreya cho rằng ở cấp độ thứ nhất có tình thái chính tố và tình thái nhận thức; ở cấp độ thứ hai, tình thái chính tố lại bao gồm tình thái vật chất và tình thái đạo lí còn tình thái nhận thức bao gồm tình thái khả nghi và tình thái hàm ngôn Các nhà Việt ngữ học lại quan tâm đến
Trang 35mối quan hệ giữa các thành phần nghĩa tình thái, song việc xác định hai nhóm lớn là nghĩa tình thái hành động nói và nghĩa tình thái của lời nói là chưa hợp lí Trong nghĩa tình thái của lời nói, Diệp Quang Ban cho rằng có tình thái khách quan, tình thái chủ quan, tình thái chỉ ý kiến và tình thái chỉ quan hệ của người nói với người nghe Như vậy, ý kiến của người nói và quan hệ của người nói với người nghe là những thành phần nghĩa liên quan trực tiếp tới người nói (có tính chủ quan) lại bị đưa ra ngoài tình thái chủ quan Nguyễn Thị Lương cũng đồng quan điểm với Diệp Quang Ban khi đặt tình thái hành động nói ngang hàng với tình thái liên cá nhân, tình thái chủ quan và tình thái khách quan Nguyễn Văn Hiệp lại quan tâm tới các thế đối lập: đối lập giữa tình thái nhận thức với tình thái đạo nghĩa và tình thái căn bản; đối lập giữa tình thái hướng tác thể với tình thái hướng người nói,
Nguyễn Thị Nhung cho s ự không thống nhất t r o n g v i ệ c p h â n
l o ạ i n g h ĩ a t ì n h t h á i là điều dễ hiểu Bởi có thể giải thích như Joan Bybee và Suzanne Fleischman: “Thứ nhất, vì miền chức năng/ngữ nghĩa của tình thái quá lớn; thứ hai, vì tình thái, như chúng ra đã thấy, nên được xem xét trong ngữ cảnh xã hội và giao tiếp; thứ ba, và có lẽ là quan trọng nhất, vì sự khác biệt giữa các ngôn ngữ trong việc sắp xếp những nội dung ngữ nghĩa vào cùng một hình thức ngôn ngữ” [30, tr.4]
Do vậy, theo tác giả, người nghiên cứu tiếng Việt có thể đưa ra cách phân loại nghĩa tình thái của mình cho phù hợp với quan niệm về nghĩa tình thái mà mình đưa ra trong trường hợp áp dụng vào tiếng Việt, và cần giúp nhìn nhận nghĩa tình thái như một hệ thống, để có thể nhận diện, phân loại toàn bộ bức tranh nghĩa tình thái trong tiếng Việt một cách tương đối chi tiết, có lớp lang
Tác giả đã đưa ra tiêu chí tính chủ quan và kết quả phân chia các nhóm nghĩa tình thái Cần hiểu thuật ngữ chủ quan ở đây không phải là thuật ngữ
mang nghĩa xấu chỉ kiểu ý chí luận phi khoa học không thể kiểm chứng được Tính chủ quan ở đây được hiểu là sự tập trung vào người nói, liên
quan đến việc nhận diện người nói Một câu như: Nhưng để đi vào quỹ đạo một
Trang 36vật thể phải (must) tăng tốc đến tốc độ tâm 17500 dặm một giờ thì người nói
không lộ diện, vậy nó không đạt tính chủ quan dù trong câu có từ tình thái phải
Như vậy, có thể hiểu rằng tính chủ quan thể hiện ở vai trò của người nói, còn tính khách quan thì thể hiện ở sự loại trừ vai trò của người nói Tiêu chí chính để xác định tính chủ quan trong nghĩa tình thái của câu là phải nhận diện được người nói ra câu đó Việc nhận diện có thể tiến hành qua các dấu ấn thể
hiện cái tôi, cái bản ngã của chủ thể như các phương tiện trực chỉ (tôi, tao, mày, hôm nay, hôm qua, đây, kia, ) Tính chủ quan là đặc điểm điển hình của
nghĩa tình thái nên được lựa chọn làm tiêu chí hàng đầu để phân chia nghĩa tình thái Theo tiêu chí này, nghĩa tình thái trước hết được phân thành 2 nhóm lớn: nhóm nghĩa tình thái có tính chủ quan (gọi là nghĩa tình thái chủ quan) và nhóm nghĩa tình thái không có tính chủ quan (gọi là nhóm nghĩa tình thái khách quan) Nhóm nghĩa tình thái chủ quan có dung lượng ngữ nghĩa rộng hơn dung lượng ngữ nghĩa của nghĩa tình thái khách quan và cũng phức tập hơn nghĩa tình thái khách quan
Nguyễn Thị Nhung cũng đề cập tới tiêu chí đối tượng có quan hệ với người nói và kết quả phân loại là các tiểu nhóm nghĩa tình thái chủ quan Do
tính chủ quan là sự tập trung vào người nói nên các tiểu nhóm nằm trong nhóm
nghĩa tình thái chủ quan cần phải được phân xuất dựa vào tiêu chí các đối tượng có quan hệ với người nói Mà qua câu thì người nói thường có quan
hệ với hai đối tượng là điều được nói tới trong câu và người nghe Vì vậy, cần coi đây là tiêu chí thứ hai để tiếp tục chia nhóm nghĩa tình thái chủ quan thành
2 tiểu nhóm là tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với điều được nói tới trong câu và tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe
Kiểu quan hệ có thể xác lập giữa người nói với từng đối tượng là tiêu chí
để tác giả tiếp tục phân loại nghĩa tình thái trong hai tiểu nhóm Với đối tượng được nói tới trong câu, người nói có thể có hiểu biết về đối tượng, sự nhận định
về giá trị của đối tượng hay tình cảm, cảm xúc với đối tượng và biểu lộ những
điều này trong câu Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với đối
Trang 37tượng sẽ bao gồm 3 loại nghĩa tình thái là nghĩa tình thái nhận thức, nghĩa tình thái đánh giá và nghĩa tình thái cảm xúc Còn với người nghe,
người nói có thể xuất hiện những mong muốn hay tình cảm, thái độ và biểu lộ
những điều này trong câu Vì vậy, tiểu nhóm biểu thị quan hệ giữa người nói với người nghe được coi là gồm nghĩa tình thái tập trung vào nghĩa vụ hay sự cho phép - gọi là nghĩa tình thái đạo lí và nghĩa tình thái biểu thị tình cảm, thái
độ với người nghe - gọi là nghĩa tình thái thái độ
Nguyễn Thị Nhung cũng đã đặt ra nhiệm vụ trong nghiên cứu về nghĩa tình thái của câu tiếng Việt là phải sắp xếp tất cả các thành phần nghĩa tình thái đó vào một hệ thống chặt chẽ, hợp lí để có thể thấy được mối quan hệ của mỗi loại nghĩa tình thái với tất cả các loại nghĩa tình thái còn lại Hơn nữa, cần chỉ rõ và sắp xếp khoa học các sắc thái nghĩa trong mỗi loại nghĩa tình thái Tác giả cũng
đã đưa ra quan điểm của mình về sự phân loại nghĩa tình thái [30, tr 12-16] Quan điểm này là bộ phận lí luận cơ sở quan trọng mà chúng tôi vận dụng để
tìm hiểu nghĩa tình thái chủ quan trong Dế mèn phiêu lưu kí
1.2.3 Các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong tiếng Việt
Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái trong tiếng Việt cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm như Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Hiệp, Nguyễn Thị Lương, Nguyễn Thị Nhung,…
Diệp Quang Ban trong [1], [2], [3], [4] với quan niệm nghĩa tình thái được chia thành tình thái của hành động nói và tình thái của phát ngôn Vì thế, khi nghiên cứu các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái, ông quan tâm đến sự thể hiện của chúng gắn với các kiểu câu phân loại theo mục đích nói và có thể nói rõ nhất là kiểu câu cảm thán, câu cầu khiến và câu nghi vấn
Nguyễn Văn Hiệp cho rằng trong tiếng Việt, ngoài ngữ điệu thì các phương tiện từ vựng đóng một vai trò rất quan trọng Theo tác giả, có 12 nhóm chính biểu hiện nghĩa tình thái [17, tr 140 – 141]
Nguyễn Thị Lương khi phân loại nghĩa tình thái cũng đồng thời đề cập đến các phương tiện biểu hiện chúng: Tình thái của hành động nói (các phương
Trang 38tiện biểu hiện mục đích nói), tình thái liên cá nhân (biểu hiện qua các đại từ nhân xưng, các động từ, thán từ hô gọi, các động từ, tiểu từ tình thái), tình thái chủ quan (biểu hiện qua các quán ngữ tình thái, tiểu từ tình thái) và tình thái khách quan (biểu hiện qua các biểu thức tình thái, phó từ,…)
Nguyễn Thị Nhung đề cập đến phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái qua các phương diện: ngữ âm, cấu trúc và từ loại, chức năng cú pháp
Hệ thống và tổng hợp các phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái của các tác giả đi trước, chúng tôi trình bày phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái theo các phương diện sau:
1.2.3.1 Về phương diện ngữ âm
- Ngữ điệu là yếu tố không thể thiếu được của câu, của phát ngôn Ngữ điệu là khúc đoạn của lời nói và bao giờ cũng phải có ý nghĩa thông báo nhất định Trong những câu vắng mặt các phương tiện từ ngữ tình thái thì ngữ điệu chính là phương tiện ngữ âm biểu thị nghĩa tình thái Có thể khẳng định, ngữ điệu không chỉ là nhân tố cấu thành câu mà còn là một phương tiện để biểu hiện nghĩa tình thái của câu
- Trọng âm: Đó là “âm tiết mang trọng âm trong từ nói chung, là âm tiết được phát âm căng hơn, dài hơn so với các âm tiết còn lại [4, tr 20] Trong
một số trường hợp trọng âm kết hợp với ngữ điệu trong câu để thể hiện tình thái đánh giá về nội dung hiện thực của lời nói
(32) Cái áo này một triệu cơ đấy!
1.2.3.2 Về phương diện cấu trúc và từ loại
a Về cấu trúc
* Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái có cấu tạo là một từ
Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái có cấu tạo là một từ: trừ từ loại quan hệ từ (liên từ), các từ loại còn lại đều có thể biểu hiện nghĩa tình thái của câu Cụ thể:
- Danh từ: các danh từ có nguồn gốc khác nhau, phạm vi sử dụng khác nhau có thể góp phần biểu thị nghĩa tình thái của câu Có thể so sánh các cặp từ
Trang 39đồng nghĩa sau để thấy được sự biểu thị nghĩa tình thái khác nhau của chúng:
nhi đồng – trẻ em; phụ nữ - đàn bà; phu nhân – vợ
- Tính từ: các tính từ ghép phân nghĩa góp phần biểu thị nghĩa tình thái
+ Động từ tình thái: toan, định, cố, muốn, đành, được,…
+ Động từ ngôn hành trong kiểu câu ngôn hành: ra lệnh, van xin, đề nghị, yêu cầu,…
- Phó từ: đã, đang, sẽ, vừa, mới, từng, không, chưa, chẳng, chả,… Ví dụ:
(33) Hoa hải đường rạng rỡ nồng nàn, nhưng không có vẻ gì là yểu điệu thục
nữ, cánh hoa khum khum như muốn phong lại cái nụ cười má lúm đồng tiền
(36) Hình như nó cũng biết chuyện này
* Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái có cấu tạo là một tổ hợp từ: đó là
các quán ngữ tình thái: ai bảo, nói gì thì nói, thảo nào, tội gì, kể ra, đằng thẳng
ra, thảo nào, té ra, hóa ra, thì ra, ơ kìa, may quá, may sao, ơn trời, có mỗi, chỉ có…thôi, nào có là bao, là cùng, là mấy, bất quá… là cùng, , tận, những…cơ,… Ví dụ:
(37) May quá, anh đã về, em mong quá!
Trang 40* Phương tiện biểu hiện nghĩa tình thái có cấu tạo là một C-V: tôi e rằng, tôi sợ rằng, tôi nghĩ rằng,…; là câu đặc biệt cảm thán
(38) Tôi cho là anh ấy không biết chuyện này
(39) Lạy trời lạy đất! Nó thấy bố nó nói thế thì nó không nói gì nữa
(Nam Cao)
Lạy trời lạy đất! là câu đặc biệt cảm thán
1.2.3.3 Về phương diện chức năng cú pháp
Về phương diện chức năng cú pháp, phương tiện biểu hiện nghĩa tình
thái có thể giữ các vai trò cú pháp trong câu như: làm thành phần chính (chủ ngữ, vị ngữ), làm thành phần phụ (khởi ngữ, trạng ngữ), làm thành phần biệt lập (tình thái ngữ, phụ chú ngữ, hô ngữ) Ví dụ:
(40) Đúng là tôi nói thế
Tiểu kết chương 1
Trong chương 1 luận văn đã trình bày cơ sở lí thuyết của đề tài Hai nội dung lí thuyết được đề cập tới là: 1) Một số khái niệm ngôn ngữ học công cụ; 2) Quan niệm của tác giả đề tài về nghĩa tình thái của câu Nội dung thứ nhất bao gồm những vấn đề cụ thể là: các khái niệm liên quan đến câu (khái niệm và thuật ngữ câu, cấu trúc ngữ pháp, nghĩa của câu); các khái niệm có liên quan đến
từ (từ, tổ hợp từ, cặp từ, cặp tổ hợp từ, kết cấu, từ loại) Đây là những cơ sở giúp cho xác định đơn vị mang nghĩa tình thái chủ quan và các phương tiện, cách thức biểu thị nghĩa tình thái chủ quan Phần tiếp theo là nội dung trọng yếu của chương, trình bày nghĩa tình thái ở các phương diện: khái niệm, sự phân loại nghĩa tình thái và các phương tiện biểu hiện Những nội dung này được trình bày tương đối chi tiết để tạo cơ sở cho việc khảo sát, miêu tả nghĩa tình thái chủ quan của câu ở chương 2 và chương 3 của luận văn