Sự tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa các vùng – miền ở việt nam từ công cụ định vị địa – văn hóa Sự tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa các vùng – miền ở việt nam từ công cụ định vị địa – văn hóa Sự tương đồng và khác biệt về văn hóa giữa các vùng – miền ở việt nam từ công cụ định vị địa – văn hóa
Trang 1BỘ NGOẠI GIAO
HỌC VIỆN NGOẠI GIAO KHOA: TRUYỀN THÔNG VÀ VĂN HÓA ĐỐI NGOẠI
TIỂU LUẬN CUỐI KỲ
MÔN: ĐẠI CƯƠNG VĂN HÓA VIỆT NAM
ĐỀ TÀI: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VÀ KHÁC BIỆT VỀ VĂN HÓA GIỮA CÁC VÙNG – MIỀN Ở VIỆT NAM TỪ CÔNG CỤ ĐỊNH VỊ ĐỊA – VĂN HÓA
Giảng viên hướng dẫn: TS Trần Hồng Thúy
& TS Đào Ngọc Tuấn
Họ và tên SV : Nguyễn Đăng Huy
Mã số sinh viên : TTQT48A1-1372
Hà Nội, 12 năm 2021
Trang 2MỤC LỤC
A MỞ ĐẦU 1
B NỘI DUNG 1
CHƯƠNG I Cơ sở lý luận của sự ứng dụng công cụ địa – văn hóa 1
vào các vùng miền ở Việt Nam 1
1) Định nghĩa công cụ địa – văn hóa 1
2) Cơ sở khoa học của công cụ địa - văn hóa 2
3) Tiếp cận địa – văn hóa Việt Nam 2
4) Tính ứng dụng vào Việt Nam 2
CHƯƠNG II 4
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA RIÊNG CỦA TỪNG VÙNG – MIỀN 4
I Vùng văn hóa Tây Bắc 4
1) Khái quát chung: 4
2) Những nét đặc trưng của văn hóa Tây Bắc qua công cụ địa văn hóa 4
a) Đặc trưng văn hóa sản xuất Tây Bắc 4
b) Đặc trưng văn hóa vật thể Tây Bắc: 5
3) Đặc trưng văn hóa phi vật thể 5
II Vùng văn hóa Việt Bắc 6
1) Khái quát chung 6
2) Những nét đặc trưng của văn hóa Việt Bắc qua công cụ địa văn hóa 6
a) Đặc trưng văn hóa vật thể Việt Bắc 6
b) Đặc trưng văn hóa phi vật thể Việt Bắc 7
III Vùng văn hóa châu thổ Bắc Bộ 8
1) Khái quát chung 8
a) Đặc trưng văn hóa vật thể Bắc Bộ 8
b)Đặc trưng văn hóa phi vật thể Bắc Bộ 9
IV Vùng văn hóa Trung Bộ 9
Trang 31) Khái quát chung 9
2) Văn hóa biển Trung Bộ 10
V Văn hóa Tây Nguyên 10
1) Khái quát chung 11
2) Văn hóa sản xuất Tây Nguyên 11
3) Văn hóa vật thể-phi vật thể Tây Nguyên 12
VI Vùng văn hóa Nam Bộ 12
1) Khái quát chung về Nam Bộ 12
VII Những nét đặc trưng của văn hóa Nam Bộ qua công cụ địa văn hóa 13
1.Đặc trưng văn hóa sản xuất Nam Bộ từ công cụ địa văn hóa: 13
2 Đặc trưng văn hóa vật thể Tây Bắc từ công cụ địa văn hóa: 14
CHƯƠNG III TIỂU KẾT 15
C KẾT LUẬN 16
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 4A MỞ ĐẦU
Địa lý là lĩnh vực khoa học nghiên cứu về các vùng đất, địa hình, dân
cư và các hiện tượng trên Trái Đất, được gọi là "ngành học về thế giới" và
"cầu nối giữa con người và khoa học vật lý" Địa lý mang tính đa ngành, bao gồm tất cả những hiểu biết trong quá khứ về Trái đất và tất cả những tương tác phức tạp giữa con người và thiên nhiên - không chỉ ở đâu mà còn cả về cách chúng đang tồn tại và cách chúng xảy ra Với việc địa lý nghiên cứu về chính con người trên Trái đất và môi trường sống của chúng ta, thì việc sử dụng địa lý để nghiên cứu văn hóa là một công cụ vô cùng hiệu quả, đặc biệt
là với Việt Nam, một đất nước có địa lý vô cùng độc đáo Việt Nam có bốn ngàn năm văn hiến, trong đó lãnh thổ của đất nước chúng ta ngày một mở rộng, và con người Việt đã cùng chung sống trên mảnh đất dần mở rộng đó suốt khoảng thời gian đó, vì thế nên nó đã gắn kết chúng ta và tạo nên một bản sắc văn hóa chung của người Việt Đồng thời, mỗi một vùng miền trên khắp cả nước ta có những đặc điểm riêng, và nó góp phần tạo nên những văn hóa rất đặc sắc mà là đặc trưng riêng của từng vùng miền đó
Vậy, thông qua những điều trên, nghiên cứu sự tương đồng và khác biệt
về văn hóa giữa các vùng, miền Việt Nam qua công cụ địa – văn hóa có vai trò lý giải những nét giống nhau và khác nhau về tự nhiên giữa các khu vực, vùng miền của Việt Nam, nghiên cứu ảnh hưởng của địa lý lên văn hóa của người Việt sinh sống tại từng vùng miền, đồng thời cho người đọc hiểu được các nét đặc trưng văn hóa riêng của từng vùng miền, và giúp người đọc trân trọng văn hóa các vùng miền Việt Nam hơn
B NỘI DUNG CHƯƠNG I Cơ sở lý luận của sự ứng dụng công cụ địa – văn hóa
vào các vùng miền ở Việt Nam 1) Định nghĩa công cụ địa – văn hóa
Địa – văn hóa là phương pháp dùng để nghiên cứu văn hóa theo vùng địa lý, phân tích các đặc điểm văn hóa dựa trên các điều kiện địa lý và hoàn cảnh tự nhiên Phương pháp này đã góp phần lý giải tính đồng nhất của văn hóa của các dân tộc, cộng đồng người chung sống trên cùng một phạm vi lãnh thổ, nơi có các đặc điểm tự nhiên tương đồng 1
1 TS Ph m Thái Vi t (ch biên) (2004), Đ i c ạ ệ ủ ạ ươ ng vêề văn hóa Vi t Nam, Nxb Văn hóa Thông tn tr 29 ệ
Trang 52) Cơ sở khoa học của công cụ địa - văn hóa
Bản thân con người cũng là một bộ phận của tự nhiên, và để tồn tại và phát triển thì con người cũng phải tiến hành trao đổi và tiếp xúc với môi trường tự nhiên Quá trình này diễn ra theo hai hướng: thích nghi với tự nhiên
và cải tạo với tự nhiên Cả hai hướng này đều tạo ra các yếu tố văn hóa: thích nghi – in dấu trong văn hóa nhân cách, lối sống cộng đồng (văn hóa phi vật thể); và biến đổi – được lưu giữ trong các đồ vật xã hội (văn hóa vật thể) Vậy nên, môi trường tự nhiên chi phối quá trình hình thành và phát triển của văn hóa.2
3) Tiếp cận địa – văn hóa Việt Nam
Địa - văn hóa nghiên cứu văn hóa trong mối liên hệ với hoàn cảnh địa
lý và môi trường tự nhiên từ quan điểm không gian, nhấn mạnh sự tương tác giữa các môi trường sống và các đặc điểm Thông qua dấu ấn văn hóa, địa -văn hóa phản ánh thái độ của con người đối với môi trường tự nhiên Theo đánh giá của nhà nghiên cứu Huỳnh Công Bá, nhận dạng văn hóa không chỉ đòi hỏi phải nhận ra những nét cốt lõi của một nền văn hóa, mà còn xác định
sự tồn tại của nó trong không gian và giữa con người với nhau Văn hóa là sản phẩm do con người phát triển trong những hoàn cảnh tự nhiên và xã hội cụ thể, có sự biến đổi giữa các địa điểm tự nhiên và xã hội Vì vậy, để hoàn toàn hiểu được văn hóa, điều quan trọng là phải phân loại nó theo thời gian và không gian Khi nghiên cứu về đặc điểm và sắc thái văn hóa Việt Nam, nhà nghiên cứu thể hiện quan điểm sau: Quá trình hình thành các đặc điểm, sắc thái văn hóa vùng miền ở Việt Nam chịu ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, xã hội địa phương, cũng như hoàn cảnh lịch sử và bản sắc văn hóa cộng đồng nhiều dân tộc
4) Tính ứng dụng vào Việt Nam
Trong phạm vi hẹp, đất nước Việt Nam nằm trên địa bàn cư trú của người Bách Việt Có thể hình dung khu vực này như một hình tam giác với cạnh đáy là sông Dương Tử (Trung Quốc), và đỉnh là vùng Bắc Trung Bộ Việt Nam ngày nay Ở phạm vi rộng hơn, văn hóa Việt Nam nằm trong khu vực cư trú của người Indonesien lục địa Có thể hình dung đây là một tam giác với cạnh đáy vẫn là sông Dương Tử còn đỉnh của tam giác giờ đây kéo dài tới tận vùng đồng bằng sông Mekong
Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có những đặc điểm địa lý tương đồng với khu vực, như độ ẩm, nhiệt độ cao, lượng mưa hàng năm lớn
và có gió mùa Tọa lạc ngay tại trung tâm Đông Nam Á, tiếp giáp với biển
2 TS Ph m Thái Vi t (ch biên) (2004), Đ i c ạ ệ ủ ạ ươ ng vêề văn hóa Vi t Nam, Nxb Văn hóa Thông tn tr 29-30 ệ
Trang 6Đông là cầu nối giữa thế giới và Đông Á, có thể nói Việt Nam nằm trong một
vị trí địa lý đắc địa và chính vị trí đó đã góp một phần hình thành nên văn hóa của nước ta Ngoài những yếu tố kể trên, Việt Nam còn gắn liền với văn hóa sông nước, kết thành từ những đặc điểm về vị trí địa lý, địa hình cũng như khí hậu của vùng lãnh thổ này
Việt Nam có kinh tế nông nghiệp lúa nước là chủ đạo, lương thực chủ yếu là cơm (sản phẩm từ lúa nước) Con người sinh sống cố kết với nhau, định cư thành làng xóm (cách sống điển hình của cư dân nông nghiệp), và các vùng dân cư ven sông: làng chài, làng ven sông, bến chợ, bến sông, với các loại hình nhà ở: nhà rông, nhà gỗ, nhà sàn, nhà ghe; phương thức giao thông
và cuộc sống hàng ngày cũng liên quan đến nước: thuyền, bè, thuyền, mảng, Các phong tục tập quán, nghệ thuật dân gian cũng phần nhiều liên quan đến nước: hội đua thuyền, rối nước, chèo, tuồng,…
Điều kiện tự nhiên dù thuận lợi cho con người sinh tồn và phát triển nhưng cũng mang lại vô số thiên tai: lụt lội, hạn hán, bão tố… Môi trường tự nhiên ấy cũng góp phần hình thành tâm lý, tình cảm, nhận thức của con người Việt Nam, với tư cách chủ thể văn hóa
• Người Việt Nam có tinh thần yêu quê hương, làng xóm, đất nước (do lối sống định canh, định cư); họ sống tình nghĩa do phải nương tựa, chia sẻ, giúp đỡ nhau trong cuộc sống và công việc
• Khả năng thích ứng với môi trường tự nhiên và linh hoạt trong làm việc với cộng đồng (đặc điểm của cư dân nông nghiệp: ưu tiên dung hợp và hòa hợp, chấp nhận mọi thay đổi, phụ thuộc và thích ứng với môi trường)
• Cần cù trong lao động
• Có khả năng kiên trì đối mặt với nghịch cảnh (vì điều kiện tự nhiên không phải lúc nào cũng thuận lợi; hạn hán, lũ lụt dễ xảy ra, con người dễ gặp khó khăn, “sống chung với lũ”).3
Văn hóa Việt Nam có một bản sắc chung là do có chung nguồn gốc, dù vậy, sự đa dạng của các yếu tố địa lý ở mỗi vùng miền góp phần tạo nên những nét riêng biệt của mỗi vùng văn hóa Nó bao gồm các vùng văn hóa: ây Bắc; Việt Bắc; Châu thổ Bắc Bộ; Trung Bộ; Tây Nguyên; Nam Bộ
CHƯƠNG II
ĐẶC TRƯNG VĂN HÓA RIÊNG CỦA TỪNG VÙNG – MIỀN
3 TS Ph m Thái Vi t (ch biên) (2004), Đ i c ạ ệ ủ ạ ươ ng vêề văn hóa Vi t Nam, Nxb Văn hóa Thông tn tr 37-38 ệ
Trang 7I Vùng văn hóa Tây Bắc
1) Khái quát chung:
Khu vực Tây Bắc, được giới hạn bởi phía Đông là dãy Hoàng Liên Sơn
và phía Tây là dãy Sông Mã, kéo dài từ lưu vực sông Đà đến vùng Thanh – Nghệ, có diện tích là 5,64 triệu héc-ta và bao gồm 6 tỉnh: Lai Châu, Lào Cai, Sơn La, Yên Bái, Điện Biên và Hòa Bình Với thiên nhiên đa dạng, thổ nhưỡng nhiều loại hình, mảnh đất Tây Bắc bao gồm những dãy núi chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam, tiêu biểu là dãy Hoàng Liên Sơn, và các con sông Mã, sông Đà, sông Nậm Tao, tạo nên ba dải nước màu trắng, xanh, đỏ Vùng Tây Bắc nằm trong vành đai nhiệt đới gió mùa, và do có độ cao từ 800-3000m nên khí hậu ngả sang á nhiệt đới Một số nơi cao như sìn hồ có cả khí hậu ôn đới Tây Bắc là nơi có nhiều tiểu vùng khí hậu do có những thung lũng, lòng chảo
Dân số Tây Bắc là 9.8 triệu dân với 30 dân tộc anh em, phân bố theo ba vùng cảnh quan rõ rệt: Vùng thung lũng lòng chảo thấp với các dân tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Việt-Mường, Thái-Kradai, Vùng giữa với các tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer và vùng cao với các dân tộc người thuộc nhóm ngôn ngữ Hmông-Dao, Tạng-Miến
2) Những nét đặc trưng của văn hóa Tây Bắc qua công cụ địa văn hóa
a) Đặc trưng văn hóa sản xuất Tây Bắc
Vùng thung lũng được hình thành do vận động địa chất giữa các dãy núi dốc với nhiều sông suối, nên đây là khu vực thuận lợi nhất cho việc trồng lúa nước ở vùng miền núi Ruộng nước nơi đây có hệ thống phức hợp kỹ thuật khác với các kỹ thuật canh tác lúa nước trên đồng bằng Hệ thống thủy lợi trong thung lũng đặc biệt độc đáo: hệ thống mương phai, rãnh, lin của người Thái hay hệ thống đập, mương và mạng lưới dẫn nước của người Mường Cư dân cũng tham gia vào các nghề như chăn nuôi, chế tạo thủ công, săn bắn, nuôi và đánh cá, thu lượm lâm thổ sản…
Nông nghiệp nương rẫy thấp là hoạt động kinh tế chính ở vùng giữa Mặc dù người dân địa phương ở đây có nhiều kinh nghiệm khai thác nương rẫy như phát, đốt, chọc lỗ, tra hạt, nhưng điều kiện sống của họ nhìn chung còn thấp do sản lượng canh tác thấp Du canh là một việc rất phổ biến Bất chấp những thách thức vốn có của sản xuất nông nghiệp ở vùng cao, người dân vùng rẻo cao (Hmong-Dao, Tạng-Miến) đã phát triển nhiều phương thức
Trang 8canh tác khác nhau, kết hợp giữa canh tác khô và cạn Trong môi trường khắc nghiệt của vùng núi cao, họ đã phát triển một hệ thống ruộng bậc thang kỳ vĩ
b) Đặc trưng văn hóa vật thể Tây Bắc:
Về nhà ở, những ngôi nhà sàn ẩn hiện sau những dãy cây xoài, rặng chuối từ cao nguyên Mộc Châu xuôi xuống thung lũng Yên Châu ở phía Bắc Nhà sàn Thái có cái mái đầu hồi khum khum hình mai rùa và trên đỉnh đầu hồi ấy có hai vật trang trí, người Thái gọi là "Sừng cuộn" (Khau cút) vì đấu phía trên của nó thường được tạo tác thành một vòng tròn xoáy trôn ốc, giống như ngọn rau dớn (Phắc cút), một thứ rau rừng rất được đồng bào ưa chuộng Trang phục của con người Tây Bắc được trang trí với các sắc độ của gam màu nóng; rất nhiều màu đỏ, xen với vàng tươi, vàng đất, vàng rơm, rồi da cam, tím và xanh da trời tươi Vì địa hình rừng và núi đều có màu xanh, việc sử dụng gam màu nóng nổi bật lên như những chấm sáng rực rỡ, khẳng định sự hiện diện của con người Chỉ cần một chiếc khăn Piêu Thái, một bộ nữ phục H’mông, Lô Lô, Dao, một mặt chăn Mường, và một điểm màn Kháng cũng
đủ để làm một chuyên khảo rồi, vì họa tiết và phối màu của trang trí vô cùng
đa dạng và phong phú
Tất cả các món ăn trong ẩm thực vùng Tây Bắc đều được sản xuất bằng các nguyên liệu tự nhiên: gạo nếp, gạo tẻ, các loại thịt trâu, bò, cá, gà và đặc biệt là nguyên liệu mà không nơi nào khác có – hoa ban Hoa ban có có vị hơi chát, ngọt và bùi, và là đặc trưng của truyền thống ẩm thực Tây Bắc Rêu cũng được nhiều dân tộc Thái, Mường và các dân tộc khác sử dụng Nó có thể được tìm thấy trong các con suối ở độ sâu từ 0,4 đến 1 mét Rêu suối được dùng để chế biến các món ăn ngon như nướng, nấu canh, xào, làm bánh
3) Đặc trưng văn hóa phi vật thể
Các dân tộc Tây Bắc tin vào tín ngưỡng “vật linh”, rằng tất cả các vật đều có linh hồn và thời các thần sông núi, suối khe đá, cây, súc vật, các lực lượng thiên nhiên như sấm, chớp, mưa, gió Họ có lối sống giản dị và hòa thuận, sẵn sàng giúp đỡ nhau khi gặp khó khăn, hoạn nạn
Người dân Tây Bắc sử dụng sậy đồng hoặc tre, bạc để biểu diễn các nhạc cụ hơi Nhiều loại nhạc cụ như Pí pặp, khèn bè Thái, sáo và khèn H’mông đã nổi tiếng khắp cả nước Họ cũng có nhiều điệu múa, tiêu biểu là múa xòe, khi mà già trẻ, gái trai hòa vào tiếng chiêng, tiếng trống, quây quần bên đốm lửa, quanh hũ rượu cần.4
4 Vùng Văn hóa Tây Băắc (https://vndoc.com/vung-van-hoa-tay-bac-230810)
Trang 9II Vùng văn hóa Việt Bắc
1) Khái quát chung
Vùng văn hóa Việt Bắc bao gồm 10 tỉnh: Cao Bằng, Bắc Cạn, Thái Nguyên, Lạng Sơn, Tuyên Quang, Hà Giang và phần đồi núi của tỉnh Phú Thọ, Vĩnh Phúc, Bắc Giang và Quảng Ninh, phía bắc giáp Trung Quốc, phía Đông giáp với biển Đông, phía Nam giáp với Bắc Bộ và phía Tây Nam giáp với Bắc Trung Bộ Việt Bắc có những dãy núi chạy theo hình cánh cung thuộc
độ cao trung bình thấp, năm con sông lớn: sông Thao, sông Lô, sông Cấu, sông Thương, Lục Nam với độ dốc lòng sông lớn và chảy mạnh nhất vào mùa
lũ lụt Việt Bắc có khí hậu lạnh giá về mùa đông và oi bức vào mùa hạ, vì tọa lạc tại vị trí địa đầu đất nước ở phía Đông Bắc và phải đón nhận gió mùa đông bắc Ngoài ra, Việt Bắc còn có diện tích rừng lớn với thảm sinh vật đa dạng,
hệ thống động vật hoang dã phong phú
Việt Bắc là nơi chung sống của hơn 20 dân tộc thiểu số anh em, với cư dân chủ yếu là người Tày và Nùng, Ngoài ra còn có một số dân tộc ít người khác như Dao, H’mông, Lô Lô, Sán Chay,… Phía Bắc tiếp giáp với Trung Quốc nên đây cũng là vùng cửa ngõ, hành lang giao lưu văn hóa giữa nước ta với phía Bắc, nên bên cạnh những ảnh hưởng văn hóa của người Kinh thì còn thấy rõ ảnh hưởng của văn hóa Hán
2) Những nét đặc trưng của văn hóa Việt Bắc qua công cụ địa văn hóa
a) Đặc trưng văn hóa vật thể Việt Bắc
Nhà ở của người Tày - Nùng được chia thành hai loại: nhà sàn và nhà đất Nhà sàn là kiểu nhà phổ biến Có hai loại nhà sàn: hai mái và bốn mái Chức năng của nhà sàn Việt Bắc khá giống nhà sàn Tây Bắc Nhà sàn không chỉ là nơi che mưa nắng nóng mà còn là nơi bảo vệ an toàn cho người dân trước các cuộc tấn công của thú dữ Do điều kiện môi trường ở Việt Bắc khắc nghiệt, người dân thường xuyên không sản xuất được vào mùa đông nên phải
dự trữ lương thực nên nhà sàn ở đây gồm có sàn để người ở, gác xép để phơi, trữ một số lương thực và dưới sàn để nhốt gia súc, gia cầm, chất củi, nông cụ, vữa, và đan lát Do điều kiện địa hình tốt để xây dựng nên những ngôi nhà sàn
ở Việt Bắc có sự phong trần và tinh tế hơn những ngôi nhà sàn ở Tây Bắc Cùng với nhà sàn, Việt Bắc còn có những ngôi nhà đất với vật liệu chính là đất sét đỏ mịn, cùng với sỏi trắng lấy từ các sườn đồi Nhà đất có đặc tính ấm
Trang 10áp vào mùa đông và mát mẻ vào mùa hè, điều này rất lý tưởng cho khí hậu ở đây, nơi có mùa đông lạnh giá và mùa hè nóng nực.5
Người dân tộc Tày và Nùng ăn mặc đơn giản, sẫm màu Họ thường mặc quần áo vải bông màu chàm, vì thế nên màu chàm là màu chủ đạo của trang phục họ Màu áo chàm được nhuộm bằng nguyên liệu lấy từ thiên nhiên
là cây chàm, một loại cây phổ biến của đồng bào dân tộc thiểu số và cũng là nguyên liệu thiết yếu nhất để tạo ra quần áo theo phong tục của người Tày, Nùng Người Nùng giải thích màu áo chàm truyền thống rằng, người Nùng sinh sống bằng nghề nông từ xa xưa, đặc trưng là lúa nương và lúa nước nên việc nhuộm áo dệt từ bông trắng thành màu chàm từ nước của cây chàm vừa tiết kiệm được nhiều công giặt giũ và hòa hợp với thiên nhiên Vải sẽ trở nên bền lâu bị hư hỏng hơn khi nước chàm ngấm vào quần áo.6
Do vùng Việt Bắc nằm gần một số vùng văn hóa, bao gồm cả văn hóa Tây Bắc, Bắc Bộ và Hán nên cách chế biến thực phẩm của người dân địa phương vừa một mặt sáng tạo, một mặt tiếp thu kỹ thuật chế biến của tộc lân cận như Hoa, Việt,
b) Đặc trưng văn hóa phi vật thể Việt Bắc
Do vùng Việt Bắc tiếp giáp với Trung Quốc, tạo điều kiện thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán lâu dài với người phương Bắc, nên người Tày đã phát triển
hệ thống chữ viết riêng là Nôm Tày - di sản văn hoá phi vật thể cấp quốc gia, thuộc loại chữ tượng hình, được kế thừa và phát triển từ chữ Hán của tộc người Hán ở phía Bắc Người Tày sử dụng tiếng Tày để giao tiếp trong cuộc sống hàng ngày, nhưng chữ Nôm chỉ được sử dụng trong các nghi lễ tín ngưỡng hoặc trong thơ ca, ca dao, tục ngữ
Văn hóa chợ là nét sinh hoạt văn hóa chung ở khu vực này (chợ phiên, chợ tình…) Do điều kiện địa lý, thổ nhưỡng, khí hậu ở mỗi nơi đều có những đặc thù riêng nên chợ được phát triển để đáp ứng nhu cầu mua bán, trao đổi của mọi người Chợ phiên mang một nét đẹp văn hóa không thể phủ nhận và
là nơi lưu giữ nhiều kho tàng văn hóa đặc sắc của người dân bản địa Phiên chợ không chỉ là nơi mua bán hàng hía mà còn là nơi để bà con trong xóm
5 Phan Huêắ - Ánh Nguy t (04/10/2017), Giá tr văn hóa truyêền thôắng trong kiêắn trúc nhà sàn c a các dân t c ệ ị ủ ộ (http://caobangtv.vn/tn-tuc-n12062/gia-tri-van-hoa-truyen-thong-trong-kien-truc-nha-san-cua-cac-dan-toc.html)
6 Thu Hăềng (15/10/2019), Trang ph c truyêền thôắng c a đôềng bào Nùng (https://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau- ụ ủ cac-dan-toc-viet-nam/trang-phuc-truyen-thong-cua-dong-bao-dan-toc-nung-792663.vov)