1. Trang chủ
  2. » Tất cả

3. Biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư đại tràng hóa trị bổ trợ ghi nhận thông qua hoạt động giám sát tích cực

8 1 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 392 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư đại tràng hóa trị bổ trợ ghi nhận được thông qua hoạt động giám sát tích cực tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình

Trang 1

Biến cố bất lợi của thuốc trên bệnh nhân ung thư đại tràng hóa trị bổ trợ ghi nhận được thông qua hoạt động giám sát tích cực tại Trung

tâm Ung bướu – Bệnh viện đa khoa tỉnh Thái Bình

Ngô Thị Duyên2, Dương Khánh Linh1, Nguyễn Thị Hồng Hạnh1,

Nguyễn Thị Liên Hương1* ,

1 Trường Đại học Dược Hà Nội

2 Trường Đại học Y Dược Thái Bình

*Tác giả liên hệ: huongntl@hup.edu.vn (Ngày gửi đăng: 14/5/2021 – Ngày duyệt đăng: 19/7/2021)

SUMMARY

Identifying adverse events (AEs) by prospectively and actively monitoring patients, which is Cohort event monitoring (CEM), could contribute to risk management, especially for high-risk medication like chemotherapy However, it has not yet been applied in practice widely in Vietnam This study analyzed AEs recorded by CEM among colon cancer patients treated with chemotherapy at the Cancer Center - Thai Binh general hospital to demonstrate its role in detecting AEs Colon cancer patients admitted to the hospital for adjuvant chemotherapy from 01/10/2018 to 31/12/2018 were enrolled in the study AEs were recorded by CEM and were retrospectively retrieved from the medical charts (MCs) from the first cycle till the enrollment Fifty-five patients were included The prevalences

of clinical AEs (such as reaction at the injection site, peripheral neurotoxicity, vomiting, and anorexia) recorded by CEM were significantly higher compared with retrospectively recorded from MCs Whereas, there was no difference among the subclinical AEs proportions recorded by the two methods Among clinical AEs recorded by CEM, 52.6 % were during the hospital stay, 47.4 % happened at home Most of them were of grades 1 or 2, and none was of grade 4

In conclusion, CEM played an important role in detecting clinical AEs

Từ khóa: giám sát tích cực, hóa trị bổ trợ, Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện đa

khoa (BVĐK) tỉnh Thái Bình, ung thư đại tràng

Đặt vấn đề

Ung thư đại trực tràng, trong đó có ung thư đại tràng (UTĐT) là một trong những bệnh ung thư phổ biến trên thế giới Nhiều nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng đã chứng minh được lợi ích của hóa trị bổ trợ sau phẫu thuật đối với UTĐT giai đoạn II nguy cơ cao và giai đoạn III [4] Tuy vậy, hóa chất điều trị bổ trợ có thể liên quan đến các biến cố bất lợi (ADE) đa dạng về biểu hiện và thời gian xuất hiện trên bệnh nhân ung thư Biết được tần suất và mức độ nghiêm trọng của các ADE sẽ giúp nhân viên y tế cũng như bệnh nhân có sự chuẩn bị tốt nhất cho điều trị, có các biện pháp dự phòng và điều trị phù hợp với ADE Một số nghiên cứu trước đây cũng như thực tế lâm sàng tại bệnh viện cho thấy các ADE được ghi nhận vào bệnh án của bệnh nhân thường chưa đầy đủ và thiếu các thông tin giúp đánh giá về tần suất hoặc mức độ nặng của ADE khi sử dụng hóa chất [1] Việc theo dõi các ADE thông qua hoạt động giám sát tích cực bằng phương pháp theo dõi biến cố thuần tập có ưu điểm trong cung cấp các thông tin về biến cố, cho phép ước tính được tần suất xuất hiện cũng như đo lường mức độ nặng của các biến cố [7]; tuy nhiên, thực hành này chưa được áp dụng rộng rãi tại Việt Nam Bên cạnh đó, tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình hiện chưa có nghiên cứu nào về việc theo dõi các ADE trên bệnh nhân UTĐT

Trang 2

thông qua hoạt động giám sát tích cực Do đó, nghiên cứu của chúng tôi được

tiến hành với các mục tiêu (1) xác định tần suất và mức độ nặng của các ADE trên bệnh nhân ung thư đại tràng hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu – Bệnh viện Đa khoa tỉnh Thái Bình thông qua hoạt động giám sát tích cực; đồng thời (2)

so sánh tỷ lệ ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực với ghi nhận hồi cứu trên bệnh án

Phương pháp nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân và bệnh án của bệnh nhân UTĐT nhập viện điều trị hóa chất

bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - BVĐK tỉnh Thái Bình, từ ngày 01/10/2018 đến ngày 31/12/2018, thỏa mãn các tiêu chuẩn dưới đây:

* Tiêu chuẩn lựa chọn: Có chẩn đoán xác định UTĐT giai đoạn III hoặc giai

đoạn II nguy cơ cao, được xác định bởi các bác sĩ tại cơ sở điều trị, dựa trên Hướng dẫn chẩn đoán và điều trị ung thư đại trực tràng của Bộ Y tế Có khả năng giao tiếp, đối thoại trực tiếp Đồng ý tham gia phỏng vấn trực tiếp và ghi nhận

thông tin qua điện thoại

* Tiêu chuẩn loại trừ: Loại trừ bệnh nhân có một trong các tiêu chuẩn gồm có xạ

trị đồng thời; mắc bệnh lý ung thư thứ hai hoặc UTĐT tái phát; mắc kèm bệnh lý tổn thương thần kinh ngoại biên hoặc tử vong trong quá trình điều trị

Nghiên cứu đã được thông qua Hội đồng Khoa học và Đạo đức của bệnh viện Thông tin cá nhân của các bệnh nhân tham gia nghiên cứu được bảo mật

Có 55 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn, được chọn vào mẫu nghiên cứu Bệnh án của từng đợt điều trị được lấy theo danh sách mã bệnh án, truy xuất

từ phần mềm lưu trữ tại phòng Kế hoạch tổng hợp bệnh viện, dựa trên mã bệnh nhân được dùng để quản lý mỗi bệnh nhân điều trị tại viện

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu mô tả, chia thành 2 pha gồm có:

* Pha tiến cứu: giám sát tích cực biến cố bất lợi theo từng đợt truyền hóa

chất trên những bệnh nhân đủ điều kiện được lấy vào nghiên cứu

- Trong thời gian nội trú(các ngày từ khi bệnh nhân nhập viện làm các xét nghiệm và thực hiện hóa trị cho đến khi xuất viện), ghi nhận tất cả:

+ Các ADE cận lâm sàng: thông qua thu thập từ bệnh án các thay đổi bất thường về thông số xét nghiệm cận lâm sàng Các bất thường ghi nhận từ các xét nghiệm này được tính là các ADE của chu kỳ hóa trị ngay trước đó

+ Các ADE lâm sàng: Khi bệnh nhân bắt đầu truyền hóa chất, hàng ngày các thành viên trong nhóm nghiên cứu phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân, ghi lại tất

cả các dấu hiệu bất thường trên lâm sàng của bệnh nhân ở tất cả các chu kỳ hóa trị, các ADE này được tính cho chu kỳ hóa trị hiện tại

- Trong thời gian ngoại trú(từ ngày xuất viện đến ngay trước ngày quay lại viện cho đợt điều trị tiếp theo), bệnh nhân được cung cấp số điện thoại của các nghiên cứu viên để chủ động cung cấp thông tin liên quan đến các vấn đề bất thường về sức khỏe Đồng thời, vào ngày thứ 3 sau khi xuất viện và ngày cuối cùng trước đợt điều trị tiếp theo, nghiên cứu viên gọi điện thoại phỏng vấn để ghi nhận các ADE của bệnh nhân (nếu có)

- Với mỗi đợt truyền, tương ứng với thời gian nội trú và ngoại trú, mỗi loại ADE chỉ được tính một lần ở mức độ độc tính cao nhất của ADE đó

* Pha hồi cứu: ghi nhận ADE thông qua các thông tin hồi cứu từ bệnh án,

Trang 3

từ chu kỳ điều trị hoá chất đầu tiên cho đến trước pha tiến cứu của từng bệnh nhân nghiên cứu ADE cận lâm sàng được ghi nhận tương tự pha tiến cứu ADE lâm sàng được ghi nhận từ các phiếu điều trị hàng ngày trong bệnh án

Nghiên cứu thu thập được thông tin của tổng cộng 55 bệnh nhân, với 176 lượt điều trị có giám sát tích cực và 184 lượt hồi cứu thông tin từ bệnh án

Các biểu hiện lâm sàng và ngưỡng giá trị xét nghiệm bất thường để xác định ADE lâm sàng và ADE cận lâm sàng cũng như căn cứ phân loại mức độ nặng của mỗi ADE được xây dựng theo Hướng dẫn CTCAE của Viện nghiên

cứu Ung thư Quốc gia – Mỹ (NCI), phiên bản 4.0

Phân tích và xử lý số liệu

Số liệu thu thập được nhập liệu, mã hóa và xử lý bằng phần mềm Microsoft Excel 2016 Kết quả được xử lý bằng thống kê mô tả (với giá trị trung

vị và khoảng tứ phân vị cho biến định lượng do các biến trong nghiên cứu phân phối không chuẩn, tần suất và tỷ lệ phần trăm cho biến định tính) và so sánh (với mức ý nghĩa thống kê p<0,05)

Kết quả nghiên cứu

Trung vị tuổi của 55 bệnh nhân nghiên cứu là 60,8 tuổi (khoảng tứ phân vị

là 55,3 tuổi – 70,8 tuổi); tỷ lệ bệnh nhân nam là 52,7 %; nhóm bệnh nhân giai đoạn III chiếm 58,2 %, còn lại là giai đoạn II có nguy cơ cao Hai phác đồ được lựa chọn điều trị bổ trợ cho các bệnh nhân trong nghiên cứu là FOLFOX4 (43 bệnh nhân, chiếm 78,2 %) và XELOX (12 bệnh nhân, chiếm 21,8 %) Trung vị chu kỳ hồi cứu là chu kỳ 3 (với tứ phân vị dao động từ chu kỳ 2 đến 5), ở pha tiến cứu là chu kỳ 5 (với tứ phân vị là chu kỳ 3 và 7)

Tần suất và mức độ của ADE ghi nhận thông qua hoạt động giám sát tích cực

Trong 176 lượt điều trị được giám sát tích cực, ghi nhận 148 lượt điều trị bằng phác đồ FOLFOX4 và 28 lượt điều trị bằng XELOX Các loại biến cố với

tỷ lệ trong từng mức độ nặng của từng phác đồ hóa trị được trình bày trong bảng

1 với ADE lâm sàng và bảng 2 với ADE cận lâm sàng

Bảng 1 Các ADE lâm sàng ghi nhận được, phân loại theo mức độ nặng và theo

phác đồ hóa trị trong từng lượt điều trị

ADE lâm sàng, n (%) FOLFOX4 (N = 148) XELOX (N = 28)

Độ 1 Độ 2 Độ 1 Độ 2

Hội chứng bàn chân, bàn tay 0 0 9 (32,1) 1 (3,6)

Tổn thương thần kinh ngoại vi 58 (39,2) 4 (2,7) 11 (39,3) 0 Phản ứng tại vị trí tiêm truyền 42 (28,4) 0 8 (28,6) 0

Đa số các biến cố được ghi nhận ở độ 1 & 2 với tổng số 395 lượt biến cố ở phác đồ FOLFOX4 và 84 lượt biến cố ở phác đồ XELOX Không ghi nhận biến

Trang 4

cố lâm sàng nào ở mức độ 3 và 4 Hội chứng bàn chân-bàn tay chỉ ghi nhận ở phác đồ XELOX (10/28 lượt) Xét trên một lượt điều trị được giám sát tích cực,

số biến cố lâm sàng trung bình ghi nhận được trên phác đồ FOLFOX4 và XELOX không có nhiều khác biệt (tương ứng 2,7 và 3,0 biến cố/lượt điều trị)

Bảng 2 Các ADE cận lâm sàng ghi nhận được, phân loại theo mức độ nặng và

phác đồ hóa trị trong từng lượt điều trị

ADE cận lâm sàng, n (%) FOLFOX4 (N = 148) XELOX (N = 28)

Độ 1 Độ 2 Độ 3 Độ 1 Độ 2

Thiếu máu 51 (34,5) 1 (0,7) 0 6 (21,4) 2 (7,1) Giảm bạch cầu trung tính 13 (8,8) 6 (4,1) 3 (2,0) 1 (3,6) 0

Tổng số lượt biến cố 119 (80,4) 7 (4,8) 3 (2,0) 9 (32,2) 2 (7,1)

ADE cận lâm sàng xuất hiện nhiều nhất ở cả hai phác đồ là thiếu máu (35,2 % lượt dùng FOLFOX4 và 28,5 % lượt với XELOX) Tăng ASAT và ALAT chỉ gặp ở phác đồ FOLFOX4 (16,9% và 15,5 %) Đa số các biến cố gặp ở mức độ 1 (phác đồ FOLFOX4 là 80,4 % và XELOX là 32,2 %) Ghi nhận 3 lượt (2 %) biến cố giảm bạch cầu trung tính mức độ 3 với phác đồ FOLFOX4 Một lượt điều trị trong giám sát tích cực ghi nhận tỷ lệ biến cố cao hơn ở phác đồ FOLFOX4 so với XELOX (lần lượt là 0,9 và 0,4 biến cố/lượt điều trị)

Tỷ lệ ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực theo từng giai đoạn

Các ADE cận lâm sàng chỉ thu được trong thời gian bệnh nhân điều trị nội trú Các ADE lâm sàng thu được qua phỏng vấn tiến cứu, gồm 252 lượt ADE trong giai đoạn nội trú và gần tương đương trong thời gian ngoại trú (với 227 lượt, chiếm 47,4 %), được trình bày theo từng loại ADE như trong bảng 3

Bảng 3 Các ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực trong các giai đoạn bệnh

nhân ở nội trú và ngoại trú trong từng lượt điều trị (N=176)

ADE, n (%) Nội trú Ngoại trú ADE, n (%) Nội trú Ngoại trú

Viêm miệng 0 4 (2,3) Khô miệng 12 (6,8) 0 Buồn nôn 42 (23,9) 43 (24,4) Nôn 11 (6,3) 1 (0,6)

Hội chứng bàn

chân, bàn tay

5 (2,8) 5 (2,8) Tổn thương thần

kinh ngoại vi

36 (20,5) 37 (21,0)

Phản ứng tại vị

trí tiêm truyền

50 (28,4) 0 Mẩn ngứa 5 (2,8) 1 (0,6) Mệt mỏi 55 (31,3) 65 (36,9) Chán ăn 31 (17,6) 67 (38,1)

Một số ADE xuất hiện trong thời gian nội trú với tỷ lệ cao hơn ở ngoại trú

là biến cố nôn (6,3 % so với 0,6 %) và mẩn ngứa (2,8 % so với 0,6 %) Biến cố táo bón (2,8 %) và phản ứng tại vị trí tiêm (28,4 %) chỉ xuất hiện trong thời gian

ở nội trú Ở ngoại trú, ADE được ghi nhận với tỷ lệ cao hơn ở nội trú là chán ăn (38,1 % so với 17,6 %) và tiêu chảy (2,3 % so với 0 %)

Tỷ lệ ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực so với hồi cứu bệnh án

Tỷ lệ các ADE ghi nhận thông qua giám sát tích cực so sánh với ghi nhận

hồi cứu trên bệnh án của bệnh nhân nghiên cứu được trình bày như Hình 1 và 2

Trang 5

*Bạch cầu trung tính

Hình 1 ADE cận lâm sàng ghi nhận từ giám sát tích cực

(176 lượt) so với hồi cứu bệnh án (184 lượt)

Kết quả cho thấy các ADE cận lâm sàng ghi nhận được giữa pha hồi cứu và pha tiến cứu không

có nhiều chênh lệch

về tỷ lệ ADE được ghi nhận nhiều nhất

là thiếu máu (pha hồi cứu chiếm 37,5

% và pha tiến cứu chiếm 34,1 %)

* p<0,05, không tính được p do tỷ lệ của 1 nhóm là 0%

Hình 2 Tỷ lệ % lượt điều trị ghi nhận các ADE lâm sàng dựa trên giám sát

tích cực (pha Tiến cứu, N=176) so với hồi cứu bệnh án (pha Hồi cứu, N=184)

*p<0,05,  không tính được p do tỷ lệ của 1 nhóm là 0 %

Hình 2 ADE lâm sàng ghi nhận từ giám sát tích cực (176 lượt) so với hồi cứu

bệnh án (184 lượt)

Các ADE lâm sàng ghi nhận thông qua giám sát tích cực đều cao hơn từ hồi cứu trên bệnh án, điển hình là nôn (7 % so với 1 %, p=0,01), phản ứng tại vị trí tiêm (28 % so với 2 %, p<0,001); hoặc tổn thương thần kinh ngoại vi (biểu hiện tê bì tay, chân) (42 % so với 3 %, p<0,001), chán ăn (56 % so với 26 %, p=0,001) Chỉ ghi nhận biến cố mệt mỏi trong giai đoạn tiến cứu bằng giám sát tích cực (68 %)

Bàn luận

Tần suất và mức độ của ADE ghi nhận thông qua hoạt động giám sát tích cực

Các ADE thường gặp ở phác đồ FOLFOX4 là thiếu máu, giảm bạch cầu trung tính, tăng transaminase, viêm/khô miệng, táo bón, nôn/buồn nôn, phản ứng tại vị trí tiêm truyền, tổn thương thần kinh ngoại vi, mệt mỏi và chán ăn Các loại ADE gặp phải ít hơn với kết quả trong nghiên cứu MASCOT trên các bệnh nhân ung thư đại tràng giai đoạn II nguy cơ cao và giai đoạn III [3] Nghiên cứu của chúng tôi cũng chưa ghi nhận được một số ADE có được báo cáo trong nghiên cứu MASCOT như đau dạ dày, chóng mặt, tăng cân, đau đầu, mất ngủ [3] Các

Trang 6

ADE lâm sàng chỉ gặp ở độ 1 và độ 2 ADE cận lâm sàng đa số gặp ở độ 1 và độ

2, mức độ 3 chỉ ghi nhận với biến cố giảm bạch cầu trung tính Trong nghiên cứu MASCOT, các ADE độ 3 và 4 ghi nhận được ở cả biến cố lâm sàng (buồn nôn, nôn, tiêu chảy, mệt mỏi, tổn thương thần kinh ngoại vi ) và cả biến cố cận lâm sàng (giảm bạch cầu trung tính) [3] Điều này có thể giải thích trong nghiên cứu MASCOT, các bệnh nhân được theo dõi trong cả 12 chu kỳ hóa trị với phác đồ FOLFOX4 Trong khi đó, nghiên cứu của chúng tôi là nghiên cứu mô tả cắt ngang với trung vị chu kỳ theo dõi là chu kỳ 5 Ngoài ra, đa số các hóa chất dùng cho bệnh nhân trong nghiên cứu có khoảng liều thấp hơn liều lý thuyết, dao động trong khoảng 85 - ≤95% so với liều tính ra theo phác đồ của bệnh nhân [2] Điều này cũng có thể tác động đến tỷ lệ biến cố được ghi nhận trong nghiên cứu

Các biến cố ghi được với tỷ lệ nhìn chung tương đối đặc trưng với các hóa chất sử dụng Trong số các ADE lâm sàng, biến cố buồn nôn đều xuất hiện nhiều

ở cả phác đồ FOLFOX4 và XELOX Đây là hai phác đồ có nguy cơ gây nôn phân loại ở mức trung bình với khả năng xuất hiện nôn từ 30-90 % [6] Phản ứng tại vị trí tiêm truyền là tác dụng không mong muốn khi truyền oxaliplatin vào tĩnh mạch ngoại vi [5] Biến cố tổn thương thần kinh ngoại vi là tác dụng phụ dai dẳng của oxaliplatin [8] Hội chứng bàn chân-bàn tay, một biến cố rất thường gặp với capecitabin được ghi nhận trên hơn 30% số lượt hóa trị bằng phác đồ

XELOX [8]

Các ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực theo từng giai đoạn

Đặc điểm cơ chế của các ADE liên quan đến hóa chất thường đa dạng và

do đó, thời điểm ghi nhận mỗi ADE có thể sẽ khác nhau Cụ thể trong nghiên cứu, một số biến cố chỉ ghi nhận trong thời gian bệnh nhân dùng hóa chất ở viện

là nôn, táo bón, sốt và phản ứng tại vị trí tiêm Phản ứng tại vị trí tiêm truyền với các biểu hiện như đau rát tại chỗ tiêm hoặc nóng dọc theo cánh tay truyền hoặc một số phản ứng kiểu dị ứng như mẩn ngứa là các loại phản ứng thường xuất hiện gần thời điểm dùng thuốc; do đó, dễ dàng ghi nhận khi được theo dõi tích cực trong giai đoạn nội trú Một số phản ứng xuất hiện sớm và kéo dài có thể ghi nhận được ở cả hai giai đoạn, như là hội chứng bàn chân bàn tay

Các ADE ghi nhận bằng giám sát tích cực so với hồi cứu bệnh án

Trong pha hồi cứu, các ADE lâm sàng và cận lâm sàng chỉ ghi nhận được thông qua việc ghi chép lại thông tin từ bệnh án Trong pha tiến cứu, ngoài các thông tin từ bệnh án, chúng tôi còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân cả trong thời gian điều trị nội trú và thời gian điều trị ngoại trú Do được ghi nhận chủ yếu qua các kết quả xét nghiệm của bệnh nhân lưu trong bệnh án, các biến cố cận lâm sàng phát hiện ở giai đoạn giám sát tích cực không có nhiều khác biệt về

tỷ lệ so với các chu kỳ ghi nhận hồi cứu từ bệnh án Trong khi đó, tỷ lệ gặp ghi nhận biến cố lâm sàng bằng giám sát tích cực nhìn chung cao hơn so với hồi cứu

từ bệnh án Điều này phản ánh phần nào việc ghi chép các biến cố bất lợi vào bệnh án là chưa đầy đủ và kịp thời Một số biến cố khác chỉ thu được trong thời gian giám sát tích cực như viêm miệng, khô miệng, hội chứng bàn chân bàn tay, mẩn ngứa, mệt mỏi, đều có thể gây ra những vấn đề về chất lượng cuộc sống người bệnh và cần được ghi nhận đầy đủ

Những kết quả này cho thấy việc giám sát tích cực sẽ làm tăng số lượng ADE được ghi nhận Điều này có thể giúp cảnh báo cho các bác sĩ điều trị để có các can thiệp kịp thời Đặc biệt, việc ghi nhận một số ADE có thể ảnh hưởng đến

Trang 7

việc điều trị bằng phác đồ hóa chất của bệnh nhân Ví dụ, liều của hóa chất cho chu kỳ tiếp theo có thể hiệu chỉnh tùy thuộc mức độ xuất hiện hội chứng bàn chân-bàn tay hoặc tổn thương thần kinh ngoại vi, biến cố hạ bạch cầu trung tính

có thể gây trì hoãn hoặc thay đổi phác đồ hóa trị của chu kỳ sau đó [8] … Các can thiệp đưa ra kịp thời có thể giúp đảm bảo hiệu quả điều trị cũng như nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân

Nghiên cứu của chúng tôi còn tồn tại một số hạn chế Với phương pháp thu thập bệnh nhân hóa trị trong một khoảng thời gian xác định, nghiên cứu có thể chỉ tiếp cận cũng như phỏng vấn được những bệnh nhân ít gặp hoặc đã dung nạp với các độc tính của hóa chất Do đó, có một nguy cơ nhỏ ước tính thấp hơn

về tần suất và mức độ nặng của các ADE, như là bệnh nhân gặp các ADE nặng hơn có thể đã ngừng phác đồ trước đó hoặc ảnh hưởng đến khả năng chấp thuận tham gia phỏng vấn Việc chỉ có các thông số xét nghiệm trước khi truyền hóa chất cũng hạn chế khả năng phát hiện các ADE trên cận lâm sàng Việc ghi nhận ADE lâm sàng thông qua phỏng vấn có thể mắc các sai số nhớ lại cũng như phụ thuộc vào khả năng nhận diện ADE của bệnh nhân Để khắc phục hạn chế sai số nhớ lại, chúng tôi đề xuất có thể phát sổ nhật ký để bệnh nhân tự ghi nhận và thu lại thông tin khi bệnh nhân quay lại viện Mặt khác, để đảm bảo hiệu quả điều trị

và chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, cần có biện pháp giáo dục, tư vấn phù hợp

để bệnh nhân có thể tự nhận diện các ADE trong suốt quá trình điều trị của mình

Kết luận

Trong 176 lượt điều trị có giám sát tích cực, nghiên cứu đã ghi nhận được các ADE đặc trưng trên lâm sàng và cận lâm sàng của hai phác đồ hóa trị Với phác đồ FOLFOX4, có trung bình 2,7 ADE lâm sàng trên một lượt điều trị giám sát tích cực và không có trường hợp nào gặp ADE độ 3; trung bình 0,9 ADE cận lâm sàng/lượt điều trị, mức độ 3 chỉ ghi nhận 2 % với giảm bạch cầu trung tính Với phác đồ XELOX, trung bình có 3 ADE lâm sàng/lượt điều trị và 0,4 ADE cận lâm sàng/lượt điều trị và đều ở độ 1 và 2 Nghiên cứu còn cho thấy tỷ lệ ADE cận lâm sàng được ghi nhận tương tự nhau, trong khi hầu hết các ADE lâm sàng (trên hệ tiêu hóa, da-niêm mạc, thần kinh và toàn thân) có tỷ lệ ghi nhận cao hơn đáng kể trong giai đoạn tiến cứu Trong bối cảnh nguồn lực hạn chế, cần ưu tiên các biện pháp dự phòng hiệu quả và chú trọng giám sát tích cực, phát hiện sớm một số biến cố bất lợi có nguy cơ diễn tiến nặng hơn, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống

và phác đồ hóa trị của bệnh nhân ung thư

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Trần Nhân Thắng, Cẩn Tuyết Nga và cộng sự (2018), "Các biến cố bất lợi trên bệnh nhân ung thư điều trị ngoại trú ghi nhận thông qua hoạt động giám sát

tích cực của dược sĩ lâm sàng", Y học lâm sàng, 148-156

2 Ngô Thị Duyên, Đào Thị Oanh, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Dương Khánh Linh, Nguyễn Thị Liên Hương (2019), “Phân tích tình hình sử dụng hóa chất trên bệnh nhân ung thư đại tràng hóa trị bổ trợ tại Trung tâm Ung bướu - Bệnh viện

đa khoa tỉnh Thái Bình”, Y Dược lâm sàng 108, số đặc biệt 9/2019(14),

164-168

3 Lee PH., Park YS, Ji JF, Fu YT, Ratanatharathorn V (2009), "Safety and tolerability of FOLFOX4 in the adjuvant treatment of colon cancer in Asian patients: the MASCOT study", Asia‐Pacific Journal of Clinical Oncology, 5(2), 101-110

Trang 8

4 Gill Sharlene, Loprinzi Charles L, et al (2004), "Pooled analysis of fluorouracil-based adjuvant therapy for stage II and III colon cancer: who

benefits and by how much?", Journal of Clinical Oncology, 22(10),

1797-1806

5 Matsuoka T., Yoshida Y., et al (2019), "Evaluation of vascular pain in patients with colorectal cancer receiving peripheral venous chemotherapy with

or without oxaliplatin", Sci Rep, 9(1), 018-37966

6 Network National Comprehensive Cancer (2019), NCCN clinical practice guidelines in oncology: Antiemesis Version 1.2019

7 Pal SN, Duncombe C, Falzon D, Olsson S (2013), "WHO Strategy for collecting safety data in public health programmes: Complementing

Spontaneous Reporting Systems", Drug Saf, 36, 75-81

8 https://www.medicines.org.uk/emc, Home - electronic medicines compendium (emc) (Ngày truy cập: 01/03/2019)

Ngày đăng: 19/03/2022, 00:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w