Xâm lấn sinh học diễn ra khi một loài xâm nhập một môi trường mới, định cư ở đó và bắt đầu làm thay đổi quần thể của loài khác đã định cư ở đó từ trước, cũng như ảnh hưởng đến
Trang 1BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VỀ SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
VÀ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA
SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI ĐẾN
ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KINH TẾ
Trang 2MỤC LỤC
5 Những tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại đối với đa dạng sinh học,
I Xem xét các tác động về mặt kinh tế của loài ngoại lai xâm hại 26
II Xác định các chi phí và lợi ích của loài ngoại lai xâm hại 30
1 Phân loại các chi phí và lợi ích của loài ngoại lai xâm hại theo các giá trị hệ sinh thái 31
VỀ SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI VÀ
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG CỦA SINH VẬT NGOẠI LAI
XÂM HẠI ĐẾN ĐA DẠNG SINH HỌC VÀ KINH TẾ
(Tài liệu tham khảo dành cho sinh viên, học viên một số trường đại học, cao đẳng)
Trang 32 Liệt kê các chi phí và lợi ích của các loài ngoại lai xâm hại 34
X Khả năng áp dụng và hạn chế của các phương pháp định giá kinh tế
61
DANH MỤC BẢNG, HÌNH VÀ HỘP
Hình 1. Các giai đoạn phát triển của loài ngoại lai xâm lấn 11
Bảng 1. Các tuyến đường và giải pháp ngăn ngừa theo tuyến đường 21
Bảng 2. Bảng liệt kê các lợi ích và chi phí/thiệt hại của loài ngoại lai xâm hại 35
Bảng 3. Chi phí quản lý trực tiếp các loài ngoại lai xâm hại 36
Hộp 2. Tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp của loài ngoại lai xâm hại 26
Hộp 3. Thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do cỏ Euphorbia esula ở Montana, Nam Dakota và
Hộp 4 Xác định mối liên quan giữa các tác động lý sinh của các loài thực vật
Hộp 5. Chi phí và lợi ích kinh tế của các loài ngoại lai xâm hại ở châu Phi 38
Hộp 6. Những lý do cần kiểm soát xâm lấn ở Nam Phi - Tầm quan trọng của các
luận điểm về kinh tế, và nhu cầu về các phương pháp và số liệu kinh tế hiệu quả 40
Hộp 7. Áp dụng các kỹ thuật định giá thị trường đối với việc sử dụng các loài sinh vật
Hộp 8 Áp dụng kỹ thuật tác động sản xuất trong định giá nông nghiệp khi các
Hộp 9. Áp dụng kỹ thuật định giá giá trị du lịch để nâng cao chất lượng môi trường
Hộp 10. Áp dụng kỹ thuật giá trị hưởng thụ để đánh giá vùng đất ngập nước nội thành
Trang 4LỜI GIỚI THIỆU
Sinh vật ngoại lai xâm hại đã và đang trở thành một mối đe dọa tới đa dạng sinh học, kinh tế và sức khỏe con người trên quy mô toàn cầu Việc đánh giá và phân tích các tác động của sinh vật ngoại lai đến kinh tế và hệ sinh thái là hết sức cần thiết trong công tác quản lý loài ngoại lai xâm hại
Trên cơ sở cuốn sách “Công cụ phân tích kinh tế các tác động của Sinh vật ngoại lai xâm hại” của tác giả Lucy Emerton và Geoffrey Howard, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học đã biên tập tài liệu “Tổng quan về sinh vật ngoại lai xâm hại và đánh giá tác động của chúng tới đa dạng sinh học và kinh tế” Tài liệu gồm có 03 phần: Chương 1 giới thiệu tổng quan về sinh vật ngoại lai xâm hại; Chương
2 giới thiệu các dạng tác động kinh tế của loài ngoại lai xâm hại; và Chương 3 giới thiệu các công
cụ kinh tế được sử dụng trong lượng giá tác động đến hệ sinh thái
Trong quá trình biên soạn tài liệu này chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, Cục Bảo tồn đa dạng sinh học rất mong nhận được ý kiến đóng góp, phê bình của độc giả để cuốn sách được hoàn thiện hơn trong những lần tái xuất bản sau
Cục Bảo tồn đa dạng sinh học
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Công ước đa dạng sinh học
Hộp 11. Áp dụng kỹ thuật chi phí thay thế trong định giá dịch vụ chất lượng nước của
Hộp 12. Áp dụng kỹ thuật định giá chi phí giảm nhẹ& ngăn ngừa đối với các dịch vụ
Hộp 13. Áp dụng các kỹ thuật định giá chi phí thiệt hại đối với các loài thực vật ngoại lai
Hộp 14 Áp dụng các kỹ thuật đánh giá ngẫu nhiên đối với các dịch vụ giảm thiểu
Trang 5TỔNG QUAN
VỀ SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
I KHÁI NIỆM SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
1 Xâm lấn sinh học là gì?
Xâm lấn sinh học diễn ra khi một loài xâm nhập một môi trường mới, định cư ở đó và bắt đầu làm
thay đổi quần thể của loài khác đã định cư ở đó từ trước, cũng như ảnh hưởng đến sự cân bằng của
các quần xã thực vật và động vật Loài di chuyển từ nơi này đến nơi khác là kết quả của các quá
trình tự nhiên từ khi bắt đầu có sự sống trên trái đất Tuy nhiên, sự di chuyển này (gây ra bởi gió và
các dòng nước, chuyển động trái đất và chuyển dịch lục địa, các điều kiện thuận lợi cho sự phát tán,
v.v.) đã bị hạn chế bởi các rào cản địa lý như đại dương và núi “Các quá trình xâm lấn tự nhiên”
là những biến đổi môi trường đã và đang xảy ra dù có sự hiện diện của con người hay không Tuy
nhiên, quá trình xâm lấn sinh học gia tăng bất thường về tần suất và tác động từ khi con người bắt
đầu di chuyển khắp thế giới
Sự hỗ trợ của con người và sự tăng cường dịch chuyển của loài đã trở nên phổ biến nhất trong vài
thập kỷ qua khi toàn cầu hóa và thương mại, giao thông vận tải, đi lại và du lịch của con người ngày
càng tăng Hiện tượng hỗ trợ của con người đối với sự dịch chuyển của các loài và sự xâm lấn sinh
học đã được ghi nhận trong nhiều thế kỷ và theo các thông tin lịch sử thì điều này đã xảy ra ít nhất
trong mười ngàn năm Tuy nhiên, quá trình này đã trở nên thường xuyên hơn trong hai thế kỷ qua
khi phương tiện đi lại đa dạng và hiệu quả hơn, đồng thời các quốc gia cũng khuyến khích việc
thám hiểm, xâm chiếm các vùng đất mới và thương mại toàn cầu Tới giờ, đã hơn 50 năm trôi qua
kể từ khi Charles Elton đưa ra luận thuyết về chủ đề xâm lấn sinh học (Elton, C.S., 1958), người
ta bắt đầu nhận thấy rằng sự phát tán và xâm lấn của các loài đã gây tác động tiêu cực (cũng như
tích cực) lên sự phát triển của loài người và thế giới tự nhiên của động vật, thực vật và vi sinh vật
Một ví dụ về một cuộc xâm lấn nổi tiếng của một loài sinh vật tới nhiều khu vực ở châu Phi: đó là
cuộc xâm lấn của cây bèo lục bình (Eichhornia crassipes) Bèo lục bình là một loài thực vật sống nổi
trong môi trường nước, có nguồn gốc ở vùng nhiệt đới Trung Mỹ và Nam Mỹ Tại nơi đây, trong sinh
cảnh tự nhiên, lục bình không gây ra vấn đề gì cho người dân hoặc các hệ sinh thái (HST) của khu
vực Bèo lục bình có hoa màu tím, vàng rất hấp dẫn Đó là lý do chính khiến các du khách hái lục
bình và mang đến nhiều nơi khác trên thế giới Ở châu Âu và Bắc Mỹ, nó được trồng trong các khu
vườn thủy sinh và ao hồ Tuy nhiên, loài này gây ra nhiều vấn đề cho hệ thống thủy vực nước ngọt
của châu Phi kể từ khi được du nhập và xâm lấn châu lục này vào những năm 1880
CHƯƠNG I. Bèo lục bình có thể sinh sản từ hạt (từ hoa) và từ các phần thân sinh dưỡng của cây mẹ cũng như phần còn lại của cây được con người, động vật hoang dã, động vật nuôi, nước và gió phát tán Bèo
lục bình cũng có thể phát triển rất nhanh trong điều kiện lý tưởng, tăng gấp đôi diện tích bao phủ ban đầu chỉ trong một vài ngày Đến những năm 1990, loài thực vật này đã xuất hiện trong các ao
hồ, sông và đầm lầy ở nhiều nước châu Phi nhiệt đới và cận nhiệt đới với các tác động tàn phá lên nguồn nước, gây ra mất nước, cản trở đi lại và vận tải đường thủy, sản xuất thủy điện, đánh bắt thủy sản, sức khỏe con người và ĐDSH bản địa
Có nhiều tài liệu ước tính chi phí xâm lấn của loài này ở nhiều vùng của châu Phi cũng như các chi phí của hoạt động kiểm soát và quản lý sự xâm lấn - với tổng chi phí lên đến hàng tỷ đô la trên khắp lục địa này và tạo ra những sự thay đổi vĩnh viễn đối với ĐDSH rừng, cũng như sự tiếp cận và
sử dụng các hệ thống nước tự nhiên và nhân tạo của con người Đây là một ví dụ điển hình về việc loài ngoại lai được du nhập có chủ đích, lan tràn không chủ đích, thiết lập và sau này trở thành loài ngoại lai xâm hại (NLXH) - gây ra nhiều tác động tiêu cực đối với con người, sự phát triển và sức khỏe của con người cũng như ĐDSH
2 Định nghĩa sinh vật ngoại lai xâm hại
Bộ môn khoa học về sự xâm lấn sinh học cũng được hình thành và phát triển chi tiết khi các nhà khoa học nghiên cứu các cơ chế xâm lấn và tìm cách dự đoán loài nào sẽ trở thành loài NLXH, ở khu vực nào và điều gì dẫn đến sự xâm lấn của loài Tuy nhiên, rất khó dự đoán chính xác hiện tượng này Hiện nay, có khá nhiều thuật ngữ định nghĩa khác nhau tùy thuộc vào ý tưởng của người đưa ra định nghĩa và sự phức tạp của vấn đề Tài liệu này sẽ giới thiệu các định nghĩa đơn giản Tuy nhiên, xin lưu ý còn có những định nghĩa khác chi tiết hơn và phức tạp hơn cũng có thể sử dụng được
Một nguyên lý cơ bản của sự xâm lấn là các loài được quan tâm có nguồn gốc “ở nơi khác” - về mặt sinh học, điều đó có nghĩa là loài đó không phải là một thành phần của hệ động thực vật của các HST mới
Hộp 1 Một số định nghĩa về sinh vật ngoại lai xâm hại
Công ước Đa dạng sinh học
Sinh vật ngoại lai là loài, phân loài hay đơn vị phân loại thấp hơn được du nhập khỏi vùng
phân bố tự nhiên của chúng, kể cả các bộ phận bất kỳ của sinh vật như các giao tử (gametes), hạt thực vật, trứng động vật hay chồi mầm của những loài này có thể sống sót và sau đó sinh sản được
Sinh vật NLXH là loài sinh vật ngoại lai đã tạo lập được quần thể và phát tán, đe dọa các
HST, nơi ở hoặc loài sinh vật khác, gây ra những tác hại về kinh tế và môi trường (CBD News, 2001)
Luật Đa dạng sinh học
Loài ngoại lai là loài sinh vật xuất hiện và phát triển ở khu vực vốn không phải là môi trường
sống tự nhiên của chúng
Loài NLXH là loài ngoại lai lấn chiếm nơi sinh sống hoặc gây hại đối với các loài sinh vật bản
địa, làm mất cân bằng sinh thái tại nơi chúng xuất hiện và phát triển
Trang 63 Các giai đoạn phát triển của loài ngoại lai xâm hại
Ngành khoa học về xâm lấn sinh học đã xác định một số giai đoạn mà một sinh vật ngoại lai cần
phải trải qua trước khi nó được xem là loài NLXH Quá trình trở thành loại ngoại lai xâm hại gồm
bốn giai đoạn chính:
1) Du nhập, 2) Thiết lập, 3) Lan rộng /Thích nghi, 4) Phát tán /Xâm lấn
• Du nhập là việc đưa một sinh vật ngoại lai vào một khu vực mới (đó có thể là một sinh cảnh,
một HST, một quần xã sinh vật, một quốc gia hay thậm chí là một vùng rộng lớn trên trái đất
- nơi mà trước đó loài chưa từng xuất hiện) Đây có thể là quá trình du nhập có chủ đích - do
con người mang loài đó tới những nơi này để sử dụng trong sản xuất thực phẩm, nông nghiệp,
làm vườn, lâm nghiệp, nông lâm, thủy sản, câu cá thể thao, trang trí, tạo phong cảnh, buôn bán
vật nuôi và cây trồng, kiểm soát sinh học, xây dựng bộ sưu tập động/thực vật, hay nghiên cứu,
v.v Ngược lại, đây cũng có thể là quá trình du nhập không chủ đích nếu một loài được du nhập
ngẫu nhiên kèm theo các loại hàng hóa khác Nghĩa là loài ngoại lai này “đi nhờ” trên cơ thể
sinh vật thuộc loài khác hoặc lẫn trong tư trang, quần áo, hành lý, v.v của người di chuyển từ
nơi này đến nơi khác
• Thiết lập là giai đoạn khi sinh vật được du nhập tồn tại trong một khoảng thời gian đủ lâu để
phát triển thành quần thể ở môi trường mới, nghĩa là có khả năng sinh sản Ví dụ, sự thiết lập
của các loài cỏ dại ngoại lai tồn tại ở một đất nước mới, tại các sinh cảnh chưa ổn định như
quần xã bụi cỏ ven đường hoặc các quần xã tiên phong, nhưng chúng không lan rộng ra xa hơn
nữa
• Lan rộng - Thích nghi là giai đoạn khi các động vật, thực vật hoặc vi sinh vật sau khi thiết lập
bắt đầu phát tán và sinh sản mà không cần bất kỳ sự trợ giúp nào Chúng sẽ trở thành một phần
của hệ động vật hoặc thực vật tự nhiên và “hòa nhập” với các loài bản địa
• Phát tán - Xâm lấn là giai đoạn khi các loài ngoại lai đã thích nghi bắt đầu lan rộng gây bất lợi
cho các loài khác (loài bản địa hoặc loài mới thích nghi) và phá vỡ HST mới theo một cách
thức nào đó
Theo bốn bước ở trên, khả năng loài được du nhập chuyển sang giai đoạn kế tiếp của quá trình xâm
lấn là rất nhỏ Qua mỗi bước thì sẽ mất đi 90% số loài Nghĩa là, chỉ có 10% số loài được du nhập
sẽ thực sự thiết lập quần thể; 10% số cá thể đã thiết lập quần thể thực sự thích nghi và khoảng (hoặc
ít hơn) 10% các loài đã thích nghi sẽ trở thành các loài NLXH Do đó, khả năng xâm lấn của loài
được du nhập là khoảng 0,1% - có thể nói là rất nhỏ, chỉ vào khoảng một phần triệu
Khoảng thời gian từ lúc du nhập tới khi xâm lấn có thể dao động rất nhiều vì quá trình chuyển từ
giai đoạn này sang giai đoạn khác khá biến động, tùy vào từng loài và các sinh cảnh, HST mới Đối
với một số loài, thời gian từ giai đoạn du nhập đến giai đoạn thích nghi có thể kéo dài hàng tuần
hoặc hàng tháng Còn đối với những loài khác, chẳng hạn như cây gỗ, khoảng thời gian đó có thể
kéo dài trong nhiều năm, nhiều thập kỷ hoặc thậm chí nhiều thế kỷ Đôi khi, khoảng thời gian này
được gọi là giai đoạn “thiết lập”, sau đó là sự mở rộng phạm vi hay tác động cho đến khi loài trở
thành một phần của HST
Hình 1 Các giai đoạn phát triển của loài ngoại lai xâm lấn
Tỷ lệ % sinh cảnh bị xâm lấn
Tỷ lệ % sinh cảnh chưa bị xâm lấn
(Theo Williams, 2003 Các giai đoạn xâm lấn được biểu diễn bằng tỉ lệ HST bị loài NLXH chiếm ngự Bốn giai đoạn đầu tương đương với quá trình lan rộng (thích nghi và xâm lấn) và tiếp sau đó là một giai đoạn dài hơn gọi là “quá trình hợp nhất” của loài NLXH)
Qua hình 1, có thể thấy rõ rằng nếu chúng ta muốn xử lý (hoặc ngăn chặn) tác động của một loài NLXH, thì xử lý (hoặc ngăn chặn) ở giai đoạn đầu của quá trình xâm lấn, thì chi phí sẽ rẻ hơn (và cũng dễ dàng thực hiện hơn) Điều này sẽ được thảo luận thêm trong mục III của Chương này Tuy nhiên, có thể thấy rằng phòng ngừa sự du nhập là cách tốt nhất để ngăn chặn sự xâm lấn, tiếp đó là tác động vào giai đoạn đầu của quá trình thiết lập - có thể bằng cách diệt trừ tận gốc hoặc ngăn chặn, cách ly Càng để lâu, loài NLXH phát tán rộng và “bùng nổ số lượng cá thể” (Hình 1), thì chi phí kinh tế-xã hội càng cao và càng phải nỗ lực hơn nữa, đồng thời giá trị của sinh cảnh trong tự nhiên trước đó bị suy giảm và sẽ phát sinh yêu cầu phục hồi sinh cảnh đó
Con đường phát tán của loài ngoại lai xâm hại
Đôi khi, các loài có tiềm năng xâm lấn có thể di chuyển một khoảng cách rất xa từ châu lục này đến châu lục khác, qua các đại dương và các khu vực Chúng cũng có thể di chuyển từ nước này sang nước khác trong cùng khu vực và giữa các quốc gia láng giềng Ngoài ra, sự xâm lấn có thể diễn ra trong một quốc gia khi cá thể của loài di chuyển từ nơi sống ban đầu (khu vực bản địa) sang một HST hoặc sinh cảnh mới
Các con đường di chuyển của sinh vật có tiềm năng xâm hại được gọi là các “tuyến đường” và phương tiện mà chúng sử dụng để di chuyển được gọi là vectơ Các tuyến đường điển hình là các
Trang 7tuyến đường thương mại - trên đất liền, từ những tuyến đường thông thương và buôn bán thời cổ đại,
đến những đoạn đường sắt hiện đại, đường bộ và kênh đào Những tuyến đường khác liên quan tới
du lịch và việc đi lại nói chung Ngoài ra còn phải kể đến những tuyến đường di chuyển của những
con tàu trên sông, trên biển (giờ đây đi tới mọi châu lục và gần như tất cả các thành phố ven biển
trên thế giới)
Tương tự, còn có các dòng sông, kênh rạch và hồ nước lớn và đôi khi là vùng chuyển tiếp giữa
những môi trường nước ngọt và môi trường biển Những con đường dẫn đến các điểm hoặc các
vùng diễn ra sự du nhập Khi một loài đã được du nhập đến một đất nước hoặc HST mới, có những
tuyến đường thứ cấp được con người hoặc tự nhiên hỗ trợ Phương tiện “hỗ trợ của tự nhiên” giúp
phát tán loài được du nhập đi xa hơn bao gồm các hiện tượng tự nhiên như gió và bão, các dòng
nước, sự di chuyển của động vật bản địa (động vật có vú, chim, bò sát, cá, côn trùng, động vật giáp
xác, động vật thân mềm, v.v.) Sự di chuyển của loài nhờ sự “hỗ trợ của con người” thông qua các
phương tiện, máy móc nông nghiệp và xây dựng, các phương tiện giao thông trên đường và trên
những địa hình phức tạp, sự di chuyển của gia súc, các tuyến đường cao tốc, đường địa phương và
thậm chí là lối đi bộ
Ta có thể coi thương mại (ở mọi cấp độ) là một tuyến đường gồm các con đường vận chuyển hàng
hóa và do đó có khả năng vận chuyển các loài ở những khoảng cách gần và xa trong đó với sự kết
hợp của nhiều giai đoạn Sự di chuyển, vận tải và du lịch cũng được coi là những con đường du
nhập của sinh vật ngoại lai- và cần phải được xem xét khi đề cập đến trong hoạt động phòng ngừa
sự xâm lấn của các loài ngoại lai thông qua quản lý các con đường du nhập
Trên những tuyến đường điển hình là thương mại, vận tải và du lịch, có nhiều loại vectơ - từ các
phương tiện giao thông và tàu thủy (kể cả bên trong và bên ngoài phương tiện), đến chính hàng hoá
và con người
Ví dụ một chiếc tàu lớn chở người và hàng hóa từ châu lục này sang châu lục khác, trên tuyến đường
này, các loài có cơ hội di chuyển trên các vectơ như sau:
- Vỏ tàu, đặc biệt là những phần ở dưới nước, các sinh vật bám vào thân tàu ở phần mặt dưới
tiếp giáp với nước và nhờ đó được vận chuyển qua các vùng biển sâu (hoặc hồ) cũng như vận
chuyển qua các bến cảng;
- Các khoang chứa nước dằn tàu ở bên trong tàu trọng tải lớn - có tác dụng giúp tàu cân bằng
lúc có và không có hàng hóa - lấy nước từ các con sông và các bến cảng, hoặc các vùng biển
ngoài khơi, và được xả ra ở bất cứ nơi nào khi tàu cần phải thay đổi sự cân bằng;
- Những khoang chứa hàng và những khu vực lưu trữ khác (bao gồm boong tàu) là nơi lưu trữ và
dỡ hàng ở cảng - có thể sẽ mang theo các loài sinh vật;
- Các công-ten-nơ được xếp đầy hàng hóa ở những nơi cách rất xa bến cảng, sau đó được vận
chuyển đến các cảng khác và có thể đến những nơi xa hơn bằng đường bộ, đường sắt, đường
kênh rạch hoặc các tuyến đường khác - mang theo các loài có thể đã xâm nhập trong quá trình
chất hàng;
- Con người (gồm thủy thủ và hành khách) cùng với hành lý và quần áo đều có thể mang theo hạt giống hoặc bào tử hoặc động vật nhỏ, v.v và cả đất dính trên quần áo và giầy dép, bụi trên máy móc, phương tiện cơ giới, v.v.;
- Động vật (ví dụ: chim và động vật có vú nhỏ) có thể sống trên các tàu và di chuyển từ cảng này đến cảng khác; và
- Cây làm quà lưu niệm hoặc bộ phận của cây làm thức ăn - nhưng vẫn có thể phát triển thành cây Tất cả các máy bay thương mại, máy bay quân sự và máy bay chở hàng (máy bay vận tải),
xe tải di chuyển giữa các quốc gia, xe buýt, xe lửa và thậm chí cả xe đạp có thể trở thành vectơ vận chuyển thực vật
4 Đặc điểm của sinh vật ngoại lai xâm hại và các nhân tố ảnh hưởng
Các đơn vị phân loại hoặc những nhóm loài sinh vật có tiềm năng xâm lấn là động vật (có xương sống và không xương sống), thực vật và vi sinh vật (bao gồm cả những loài sống tự do cũng như loài gây bệnh ở thực vật, động vật và con người) Bất kỳ sinh vật nào cũng có thể trở thành loài NLXH nếu nó là một loài “mới” đối với một HST hoặc khu vực nào đó Các sinh vật này mang một số đặc điểm cơ bản liên quan đến khả năng xâm lấn (xem bên dưới) Tuy nhiên, sự phát triển khả năng xâm lấn ở một loài động vật, thực vật hoặc vi sinh vật phụ thuộc vào sự phù hợp của các HST hoặc khu vực mới đối với sinh vật đó Do đó, các loài sinh vật nhiệt đới không có khả năng trở thành xâm lấn ở vùng ôn đới - và ngược lại Các loài sống ở rừng không có khả năng xâm lấn ở các vùng đồng
cỏ Bởi vậy, việc dự đoán khả năng xâm lấn của các loài ngoại lai phụ thuộc vào nhiều đặc điểm của chính loài đó và phụ thuộc vào các HST mà nó được du nhập tới
Một số nhóm loài NLXH phổ biến sẽ được đề cập trong tài liệu này, ví dụ:
- Vi sinh vật - vi tảo hình thành hiện tượng “tảo nở hoa” trong khu vực mới; các sinh vật đơn bào sống tự do trở thành loài NLXH trong các HST nông nghiệp mới; tác nhân gây bệnh cho thực vật và động vật (và con người) như virus, vi khuẩn và nấm men; nấm gây bệnh cho cả động vật và thực vật
- Thực vật - Cả nhóm thực vật bậc cao và nhóm thực vật bậc thấp, bao gồm cả rêu và rêu tản, dương xỉ và nhiều họ thực vật bậc cao - sống ở biển, nước ngọt và trên cạn Hai thực vật bậc cao đáng chú ý phát tán khắp châu Phi sẽ được phân tích trong tài liệu này là các loài thuộc chi
Prosopis (cây bụi chủ yếu đến từ vùng nhiệt đới châu Mỹ) và loài Lantana camara - cũng đến từ
vùng nhiệt đới châu Mỹ
- Động vật không xương sống - các loài ngoại lai từ nhiều ngành, trong đó có ngành sứa lược (Ctenophora) và nhiều nhóm động vật không xương sống ở biển được biết đến là những loài NLXH phàm ăn ở những nơi mới; thân mềm trên cạn và dưới nước; nhiều động vật chân khớp, trong đó có giáp xác biển và nước ngọt, nhện, côn trùng gây hại và các vectơ truyền bệnh
- Động vật có xương sống - nhiều loài cá được du nhập (thường là có chủ đích) đến các vùng nước mới và trở thành loài NLXH ở những môi trường nước ngọt và biển; ngoài ra còn có một số lưỡng
cư (ví dụ: cóc mía), các loài bò sát (ví dụ: trăn Miến Điện ở khu vực đất ngập nước Everglades của Mỹ); nhiều loài chim và nhiều loài động vật có vú nhỏ và lớn (ví dụ: thỏ và ngựa hoang ở Úc)
Trang 8Những đặc điểm nào quyết định khả năng xâm lấn của một sinh vật?
Khả năng xâm lấn, hay xu hướng trở thành một loài NLXH trong những điều kiện và HST lý tưởng,
có thể là do các đặc điểm hoặc sự kết hợp đặc điểm của sinh vật Các đặc điểm này bao gồm:
- Khả năng sinh trưởng nhanh (và nhờ đó lan tràn/phát tán nhanh);
- Khả năng phát tán rộng rãi (đối với thực vật là bằng các bộ phận như mầm, chồi, cành chiết
hoặc ghép, v.v và đối với động vật là nhờ khả năng di chuyển);
- Khả năng sinh sản mạnh mẽ - hoặc bằng cách sinh nhiều con (hoặc cây con) hoặc bằng cách
nuôi ít con nhưng hiệu quả cao;
- Khả năng chống chịu tốt trong nhiều môi trường - có khả năng chịu đựng được nhiều dạng áp
lực từ sinh cảnh;
- Cạnh tranh hiệu quả với các loài bản địa - về nhu cầu thức ăn, không gian hoạt động, ánh sáng,
nước, nơi nghỉ ngơi, nơi làm tổ, v.v
Mối liên quan giữa xâm lấn với các áp lực khác từ môi trường
Khi xem xét các đặc điểm của các loài NLXH thành công nhất (ở trên), có thể thấy rằng cần phải
đánh giá sự tương tác giữa các tác động, sự phát tán của các loài ngoại lai và các nguyên nhân khác
gây ra suy thoái HST đã được xác định Đánh giá HST thiên niên kỉ nghiên cứu hàng trăm HST trên
toàn thế giới (Đánh giá HST thiên niên kỉ, 2005) và đưa ra kết luận rằng phần lớn các mối đe dọa
lớn nhất đối với HST và chức năng của HST, cũng như việc cung cấp các hàng hóa và dịch vụ HST
cho con người, chính là:
1 Sự thay đổi sinh cảnh, ví dụ phá hủy sinh cảnh để phục vụ nhu cầu mới của con người
2 Biến đổi khí hậu
3 Loài xâm hại
4 Khai thác quá mức các nguồn tài nguyên trong HST
5 Ô nhiễm
Các loài NLXH có khả năng tăng cường vai trò của chúng trong việc làm suy thoái HST khi kết hợp
các mối đe dọa 1, 2, 4 và có thể cả 5 Sự kết hợp đó làm tăng sự đe dọa của chúng đối với ĐDSH
và sức khỏe của con người
Loài xâm hại thường sử dụng sinh cảnh bị biến đổi để định cư và phát tán vì chúng có thể xâm nhập
và định cư ở sinh cảnh bất ổn hơn so với ở sinh cảnh ổn định và có khả năng chống lại sự định cư
của loài mới Đây là lý do tại sao ta thấy sự ưu thế của các loài NLXH ở những sinh cảnh mới bị biến
đổi (chẳng hạn như đất bị phát quang để làm nông nghiệp hoặc để phát triển đô thị và những khu
đất dọc hai bên đường và công trình xây dựng) Hiện tượng này xảy ra ở những khu vực đang trồng
cây cho nhiên liệu sinh học và cây gỗ - thường ở những nơi các loài thực vật bản địa bị đốn chặt
Biến đổi khí hậu đang ảnh hưởng xấu tới ĐDSH bản địa vốn phụ thuộc vào khí hậu ổn định Khi
nhiệt độ tăng (thậm chí chỉ một ít) và, hoặc lượng mưa thay đổi, hầu hết các loài bản địa đều thích
ứng chậm với điều kiện mới - còn các loài NLXH với bản chất tự nhiên của mình thì có khả năng thích ứng tốt hơn với những thay đổi đó, như vậy chúng sẽ (cũng như đã và đang) lan rộng sang các khu vực mà tính ĐDSH đang bị ảnh hưởng
Khai thác quá mức các sinh cảnh và HST có thể dẫn đến suy thoái môi trường và tăng số lượng những “khu vực bất ổn” - một lần nữa, tạo lợi thế cho các loài NLXH Một số loài NLXH có khả năng chịu ô nhiễm tốt hơn so với các loài động, thực vật bản địa Do vậy, chúng lại tiếp tục có được lợi thế ở những khu vực bị ô nhiễm
II TÁC ĐỘNG CủA SINH VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
1 Sinh vật ngoại lai xâm hại và tác động lên hệ sinh thái tự nhiên
Rất nhiều tác động của các loài NLXH đối với các HST đã được ghi nhận và mô tả từ nhiều nơi trên thế giới khi loài di chuyển đến những nơi khác và xâm lấn ở các quốc gia, khu vực và HST mới Xem xét trên quan điểm bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan, cần lưu ý là có một số lượng tương đối nhỏ (chỉ khoảng hàng trăm trong hàng ngàn) loài NLXH nguy hiểm đang phát tán rộng rãi trong quá trình xâm lấn của chúng Mỗi loài lại có khả năng kìm hãm loài bản địa (hoặc thậm chí làm cho loài bản địa tuyệt chủng) và do đó, làm giảm sự ĐDSH ở những nơi bị tác động nghiêm trọng nhất Kết cục của sự phát tán các loài NLXH nguy hiểm nhất là tạo ra sự đơn điệu và “có thể thấy chúng
ở những tất cả những nơi có khí hậu tương đồng do đó sự ĐDSH bản địa bị giảm và loài NLXH trở nên phổ biến hơn Nghĩa là cùng một loài có thể bắt gặp ở những vĩ độ tương đương và điều kiện môi trường tương tự
Các tác động của xâm lấn trong các HST trên cạn
Con người sống trong các HST trên cạn Những HST đó trước hết được xem là mục tiêu của các loài ngoại lai xâm hại Khi khai phá các vùng đất mới, con người muốn mang theo “một số đặc điểm của quê nhà” của họ - có thể là thực phẩm hoặc vật liệu xây dựng, hoặc về thể thao hoặc thẩm mỹ, và sau đó là tạo ra các điều kiện đặc biệt liên quan đến khí hậu, đất đai, động vật ăn thịt, bệnh, sâu bệnh và thậm chí thể thao Những loài được du nhập có chủ định đến nơi mới này vô tình mang theo những kẻ đồng hành như sinh vật ký sinh, mầm bệnh và những sinh vật khác được vận chuyển cùng (trong đất và môi trường khác) Sau đây là hai ví dụ minh họa:
- Lợn nuôi được đem đến nhiều nước Lúc đầu, chúng là loài vật mới, dần thoát ra và trở thành lợn hoang bên ngoài ranh giới của các khu định cư mới thiết lập - ở nhiều nơi trên thế giới (châu
Úc, châu Mỹ và nhiều quốc đảo) Lợn nuôi (Sus scrota) có khả năng trở thành lợn hoang xâm lấn
chỉ sau một vài thế hệ và phá hại thảm thực vật bản địa, ăn thịt các động vật nhỏ và gây nguy hiểm đối với các động vật ăn cỏ khác cũng như đối với con người Ngày nay, hàng triệu con lợn hoang đã xâm lấn những nơi hoang dã và cả những nông trang ở châu Úc, một số khu vực
ở châu Á và các đảo ngoài khơi, tiếp tục gây thiệt hại cho thực vật, động vật và sinh cảnh bản địa cũng như các HST sản xuất Kiểm soát lợn hoang khó khăn, tốn kém, thường nguy hiểm và lợn hoang vẫn tiếp tục là một vấn nạn ở nhiều nơi bị loài này xâm lấn
Trang 9- Thực vật trên cạn, đặc biệt là những cây bụi, cũng gây hại không kém khi phát tán đến các HST
mới trên khắp thế giới Những cây hàng rào, cây bụi mọc ở vườn, cây hoa leo, thực vật làm tốt
đất và chống xói mòn đất đã được du nhập có chủ đích và nhiều loài khác được du nhập không
chủ đích có những tác động lâu dài và có hại lên thảm thực vật bản địa, thức ăn và sinh cảnh
của động vật và nông nghiệp Nhiều loài trong số những thực vật này không chỉ cạnh tranh với
loài bản địa, chiếm ưu thế và làm biến đổi các hệ thảm thực vật, và gây ra sự suy thoái môi
trường - mà còn giải phóng các chất có tác dụng hạn chế hoặc hoàn toàn làm mất khả năng
nảy mầm và sinh trưởng của các loài thực vật khác Lantana camara là một loài cây bụi từ vùng
nhiệt đới Nam Mỹ được đưa vào nhiều nước ở châu Phi vào cuối những năm 1800 để làm cây
hoa trang trí và một loại cây tạo hàng rào Qua nhiều năm, nó đã thích nghi và sau đó phát tán
chủ yếu là nhờ các loài chim Hiện tại loài này đã trở thành loài NLXH ở nhiều vùng nhiệt đới
và cận nhiệt đới của châu lục này Điều đó đã làm giảm sự ĐDSH bản địa, chiếm chỗ ở các
đồng cỏ và các khu rừng và gây ngộ độc cho gia súc - với các tác hại kinh tế to lớn ở nhiều nước
Tác động của sự xâm lấn sinh học trong các HST nước ngọt
Hệ thống nước nội địa được xem là dễ bị xâm lấn bởi thực vật thủy sinh (gồm thực vật sống chìm
trong nước, thực vật có lá nằm sát mặt nước và thực vật sống trôi nổi trên mặt nước), cá, động vật
chân đốt thủy sinh như động vật giáp xác và côn trùng, động vật thân mềm và một loạt các sinh
vật phù du và vi sinh vật Nhiều loài được tàu thuyền, dụng cụ đánh bắt và phương tiện giao thông
đường thủy đưa tới, còn vô số loài cá lại được du nhập có chủ đích, trao đổi giữa các hồ, giữa các
dòng sông và giữa các quốc gia để phát triển nghề cá, câu cá thể thao và nuôi trồng thủy sản Thực
vật thủy sinh có hoa hoặc lá đẹp đã được đưa tới để trang trí cho các khu vườn thủy sinh và phục
vụ các ngành công nghiệp trồng hoa và về sau đã thoát vào các vùng nước nội địa giống như nhiều
loài được du nhập không chủ đích
Trong nhiều trường hợp, các loài cá ngoại lai lấn át hoàn toàn các loài bản địa và gây ra nhiều vấn
đề vì chúng ăn tạp các loài thực vật nước ngọt, động vật không xương sống và động vật có xương
sống bậc thấp hơn như lưỡng cư, cá nhỏ và cá chưa trưởng thành Điều này làm giảm tính đa dạng
của các HST thủy sinh, lây lan các bệnh do cá ngoại lai gây ra và các sinh vật ký sinh cho các loài
bản địa, làm giảm lượng cá và số lượng loài cá là thức ăn cho con người Tất cả các loài thực vật
thủy sinh đã di chuyển khắp nơi trên thế giới và nhiều loài trong số đó đã trở thành loài NLXH và
gây ra những biến đổi lớn trong thảm thực vật, sự đa dạng của các loài thủy sinh và chất lượng nước
Tác động của loài NLXH trong HST biển
Sinh vật biển đã được mang tới khắp các vùng bờ biển và đại dương trên thế giới với mục đích nuôi
trồng thủy, hải sản như cá, các động vật không xương sống ở biển và các loài thực vật ở biển như
rong biển Chúng vô tình được đem từ bến cảng này tới bến cảng khác và đến những vùng biển
ngoài khơi qua lối xả nước dằn tàu của những con tàu, chúng có thể bám vào các phần chìm của
tàu (hàu và các sinh vật tương tự bám và phá hỏng vỏ tàu), qua rác thải và hàng hóa bị rơi ra từ các
tàu di chuyển trên đại dương và từ việc thải rác ở ven biển
Thông thường, chính những sinh vật nhỏ, chưa trưởng thành đó di chuyển cùng với tàu và sau đó thoát ra để thiết lập và sinh trưởng trong các vùng nước mới, tại đó chúng cạnh tranh hoặc ăn thịt các loài bản địa - các loài đó có thể là các động vật không xương sống bậc thấp hơn, các động vật chân đốt và các động vật thân mềm hoặc cá Tảo biển bị chia cắt bởi các lục địa, các dòng nước và rào cản nhiệt độ trong nước trong hàng triệu năm đã đến các khu vực mới, và trở thành các loài NLXH và lấn áp các động vật và thực vật bản địa ở cả hai khu vực nước nông và sâu Chúng gây ra các tác động tiêu cực đến sự đa dạng loài, sản xuất thủy, hải sản và sức khỏe của HST
Các sinh vật khác cũng được đưa đến các nơi khác nhờ tàu và phương tiện giao thông đường thủy khác, dẫn đến sự phát tán và du nhập các loài vào các khu vực nước ngọt - đặc biệt là trong các hồ và sông lớn chảy qua nhiều quốc gia và vùng khí hậu
2 Những tác động của loài ngoại lai xâm hại trong các hệ thống nhân tạo
Hai ví dụ sau đây sẽ mô tả những tác động gây ra bởi các loài NLXH đối với các sự phát triển của con người và cơ sở hạ tầng
Ví dụ thứ nhất là “loài cỏ dại thủy sinh nguy hại nhất của thế giới”: lục bình đã được đề cập trong phần I Loài thực vật nhiệt đới sống trôi nổi này có nguồn gốc ở Trung Mỹ đã xâm nhập các hệ thống nước ngọt trên khắp khu vực nhiệt đới ở châu Á, châu Phi và một số nơi của vùng nhiệt đới châu Mỹ Ngoài tác động gây hại đối với ĐDSH, với vai trò là một loài NLXH, lục bình còn:
- Tăng mất nước do tạo ra sự bốc hơi nhiều hơn sáu lần so với sự bốc hơi bình thường từ bề mặt nước và do đó, các nguồn nước có lục bình bị mất nước rất nhanh chóng,
- Ngăn dòng nước ở các dòng suối, kênh mương tưới tiêu, gây ra các vấn đề nghiêm trọng về cấp nước và do đó cần được vớt dọn thường xuyên,
- Gây tắc nghẽn các đập và tuabin thủy điện gây tốn kém khi thu dọn và vứt bỏ,
- Cản trở người và tàu thuyền tiếp cận với các vùng nước trong trường hợp loài thực vật này tràn lên bờ thành từng đám lớn, và cản trở tàu bè và các tàu chở hàng tới bến cảng ở những nơi có lục bình,
- Tạo nơi trú ngụ cho các loài rắn, cá sấu và động vật gây hại khác và cản trở đánh bắt cá, thủy sản,
- Tạo điều kiện cho sự sinh trưởng của các vật chủ trung gian truyền bệnh sốt rét và sán máng,
- Hạn chế sự phát triển của thực vật thủy sinh tạo chỗ cư ngụ và nơi sinh sản cho cá
Một loài sinh vật thủy sinh khác đã xâm lấn nhiều hệ thống nước ngọt trên toàn thế giới là loài tôm
càng Louisiana, Procambarus clarkii Loài này là loài bản địa ở phía nam Hoa Kỳ đã được du nhập
tới nhiều nước để nuôi làm thực phẩm Ở châu Á, châu Phi, châu Âu và một số nước Nam Mỹ và vùng Caribê, loài tôm này đã trốn thoát khỏi nơi nuôi trồng thủy sản và xâm lấn các hệ thống nước như hồ, đập, ao, sông chảy chậm Tại đó, nó ăn thịt các thực vật thủy sinh, động vật thân mềm thủy sinh và các động vật giáp xác, cá nhỏ, ếch nhái và côn trùng, dẫn tới biến đổi trong HST thủy sinh và gây suy giảm thủy sản Loài xâm hại này cũng làm tổ ở các bờ sông và rìa các con đập và hồ, gây
Trang 10ra sự xói lở và rò rỉ nguồn nước dự trữ Những lợi ích nhỏ bé của nó với vai trò làm thực phẩm không
thể so sánh được với tác động hủy diệt nhiều HST thủy sinh và hệ thực vật (thường là các loài đặc
hữu của địa phương), các loài cá trong các HST đó và khả năng giữ nước
3 Các tác động đối với các hệ sinh thái sản xuất
Nhiều loài động vật và thực vật đã được biến đổi qua quá trình thuần hóa để trở thành các nguồn
thực phẩm cho con người Một số loài là loài bản địa ở những nơi chúng được thuần hóa, còn những
loài khác đã được du nhập (và vẫn đang được du nhập) nhằm tạo năng suất cao hơn và chất lượng
tốt hơn thông qua nhiều hình thức canh tác và nuôi trồng khác nhau, bao gồm cây lương thực, cây
ăn trái, gia súc và thủy sản nuôi nhốt
Nhận biết ban đầu của chúng ta về sự xâm lấn có thể là từ các loài sâu hại, cỏ dại và các bệnh trên
cây trồng và vật nuôi Tất cả động vật và thực vật đều mang một số tác nhân gây bệnh, sinh vật ký
sinh và một số gây ra những vấn đề nghiêm trọng trong quá trình được thuần hóa, còn những loài
khác là những loài ngoài lai được du nhập theo nhiều cách thức khác nhau, sau đó trở thành sinh
vật xâm hại như sâu hại, cỏ dại và sinh vật gây bệnh trên cây trồng, vật nuôi Sau dây là các ví dụ
điển hình về loài NLXH gây hại cho các HST sản xuất:
- Loài cây bụi xâm lấn từ vùng nhiệt đới châu Mỹ, Mimosa pigra, chiếm ưu thế ở các vùng đồng
bằng ngập lũ, chiếm chỗ của các thảm thực vật và động vật bản địa, cản trở chăn nuôi và đánh
bắt thủy sản trong các khu vực có năng suất cao trước đây,
- Sự du nhập không chủ định loài mọt đục hạt lớn Prostephanus truncates, từ miền nam Hoa Kỳ
tới Đông và Tây Phi trong những năm đầu thập niên 1980 dẫn tới sự phát tán và xâm lấn của
loài ở nhiều khu vực trồng cây cho hạt Ở đó, loài bọ cánh cứng này có thể gây hại một tỉ lệ lớn
lượng hạt dự trữ
- Sự xuất hiện và phát tán của chủng vi rút cúm gia cầm H5N1 đã lan rộng ra khắp thế giới (do
gia cầm lây nhiễm cho các loài chim di cư) và những tác động đối với sức khỏe con người và
các ngành công nghiệp gia cầm ở nhiều quốc gia châu Á, châu Phi và châu Âu
4 Những tác động của loài ngoại lai xâm hại đối với sức khỏe và đời sống của con người
Các bệnh do động vật truyền sang người (Zoonosis) là thuật ngữ chỉ một bệnh vốn ở động vật sau
đó trở thành một bệnh ở con người Sinh vật gây bệnh ở động vật có thể được coi như là một loài
NLXH khi nó xâm nhập quần thể người từ một nơi khác - chẳng hạn như vi rút Ebola, vi rút SARS,
và ở một số mức độ nào đó, là vi rút gây bệnh HIV/AIDS Không cần phải nhắc lại các tác động của
căn bệnh gây tử vong đối với quần thể con người vì các tác động đó đã quá rõ ràng
Tác động của các loài NLXH đến an ninh lương thực của con người, an ninh gia súc và phúc lợi
chung không rõ ràng bằng Một ví dụ điển hình là sự xâm lấn của loài cây bụi châu Mỹ Prosopis
spp ở nhiều vùng khô của thế giới Prosopis juliflora đã được du nhập đến một số nước trong vùng
Sừng châu Phi và Đông Phi để kiểm soát xói mòn đất ở các khu vực khô cằn và tạo bóng mát Sau
khi thiết lập và phát tán, nó trở thành loài NLXH và hiện giờ đã bao phủ hàng ngàn (trong một số
trường hợp là hàng triệu) hecta đất khô hạn và bán khô hạn chiếm chỗ của thực vật khác và đất mà con người sử dụng
Đất ở các khu vực này vốn được sử dụng làm đất chăn thả gia súc Sự xuất hiện của một số loài thực vật họ đậu đồng nghĩa với việc các đồng cỏ sẽ mất đi và khu vực đó sẽ bị chiếm ngự bởi các bụi gai và cây mà gia súc không thể đi qua hoặc không thể ăn được Hơn nữa, những chiếc gai của thực vật họ đậu Prosopis gây các vết thương mưng mủ và trong lúc đói, gia súc ăn lá, nhiều con sẽ bị bệnh,
có vấn đề về sinh sản và cho sữa không sử dụng được Bằng cách này, sự xâm lấn của các loài thực vật họ đậu đã làm cho hàng ngàn người chăn thả gia súc bị mất đi sinh kế và gia súc, khiến họ mất bãi chăn thả và thức ăn
Một loài NLXH trên phạm vi toàn thế giới có những tác động lớn đến sức khỏe và đời sống con người
là chuột nhà, đặc biệt là chuột đen (Rattus rattus) và chuột nâu (R norwegicus) Cả hai đều có nguồn
gốc ở châu Á Các loài dịch hại này có mặt ở hầu hết những nơi có con người sinh sống trên Trái đất và còn tồn tại cả trên nhiều đảo không có người ở Chúng ta biết rằng chuột là loài cạnh tranh thức
ăn với con người và là “động vật gây phiền phức”, quấy phá trong nhà và các cửa hàng thực phẩm Ngoài ra, chuột còn là động vật ăn thịt và ăn bất kì động vật có xương sống nhỏ hơn hoặc động vật khác khi nguồn thức ăn khác trở nên cạn kiệt, vì thế chúng gây hại cho động vật nuôi và động vật mà con người thuần hóa Ở một số nước nhiệt đới và cận nhiệt đới, chuột còn mang và lây truyền
vi khuẩn gây bệnh dịch hạch (Yersinia pestis) và một số bệnh động vật khác như bệnh trùng xoắn móc câu (Leptospirosis) ảnh hưởng đến sức khỏe con người.
Những thông tin ở trên nhấn mạnh rằng các loài NLXH là mối đe dọa nghiêm trọng đối với sự toàn vẹn của mọi HST, với mức độ tác động liên tục hoặc gia tăng Nếu mối đe dọa này kết hợp với biến đổi khí hậu và được tăng cường bởi sự thay đổi sinh cảnh, thì trong tương lai chúng ta sẽ chứng kiến các tác động nghiêm trọng hơn của các loài NLXH qua hiệu ứng hiệp đồng Các quần xã sinh vật chủ yếu bị các loài NLXH gây hại là các đảo, sau đó là các vùng nước nội địa (nước ngọt) và các vùng đất khô cằn Tuy nhiên, tất cả các loại HST đều có thể bị xâm lấn và các tác động của sự xâm lấn tăng ở hầu hết các HST này Nghĩa là, vấn đề của xâm lấn sinh học sẽ tiếp tục là một trở ngại cho cả các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, và sẽ tiếp tục cản trở bảo tồn ĐDSH, phát triển bền vững và thậm chí sức khỏe con người
Do đó, chúng ta cần phải xem xét chi tiết hơn các dạng tác động của các loài NLXH lên HST tự nhiên và HST sản xuất, và sau đó là các giải pháp xử lý các tác động này - các giải pháp này có thể được xem là cơ sở cho các phân tích kinh tế
5 Những tác động của sinh vật ngoại lai xâm hại đối với đa dạng sinh học, bảo tồn và quản lý đa dạng sinh học
Nhiều loài ngoại lai trở thành loài NLXH gây ra các tác động nghiêm trọng về ĐDSH và các hậu quả thường không được nhìn nhận là có tầm quan trọng về mặt kinh tế - cho đến khi người ta tìm hiểu giá trị của ĐDSH và sự hỗ trợ của ĐDSH đối với con người cũng như vai trò là một thành phần quan trọng của bất kỳ môi trường nào Định nghĩa về sự xâm lấn (theo Công ước Đa dạng sinh học) liên quan đến các tác động tiêu cực đối với ĐDSH - có hoặc không gây ra các hậu quả rõ ràng về
Trang 11kinh tế Trong thực tế, các HST ổn định có nhiều vai trò đối với môi trường, cung cấp hàng hóa và
dịch vụ cho con người, nên có thể nói sự xâm lấn ĐDSH ngoài tự nhiên sẽ có những tác động tiêu
cực có thể đo lường được
Có rất nhiều ví dụ về các tác động của các loài NLXH (động vật, thực vật hoặc vi sinh vật) đối với
tất cả các dạng HST và các thành phần ĐDSH của các HST này Một ví dụ điển hình về xâm lấn
và tầm quan trọng của các tác động đối với bảo tồn và quản lý ĐDSH là nước Úc Quốc gia này đã
bị nhiều động vật có vú (và các loài chim) xâm lấn Các loài này được du nhập vì nhiều mục đích
khác nhau và sau đó đã thoát ra, thích nghi và tiếp tục biến đổi các HST tự nhiên của nước này
Hàng triệu con thỏ và động vật ăn cỏ khác, ví dụ: lợn, trâu, bò, ngựa, lừa, dê, lạc đà và hươu, cũng
như các loài ăn thịt như mèo, chó, cáo và chồn Hơn 200 năm qua, những loài NLXH đã làm thay
đổi kiểu thảm thực vật, gây ra sa mạc hóa và xói mòn, thay đổi chế độ nước và gây ra sự tuyệt chủng
cho nhiều loài động vật bản địa, nhiều trong số đó là loài đặc hữu ở Úc
Một trong những cách thành công nhất trong công tác bảo tồn ĐDSH ngoài tự nhiên là thông qua
việc xây dựng và quản lý các khu bảo tồn Các khu bảo tồn này có thể được bảo tồn rất nghiêm
ngặt - ví dụ “khu vực cấm vào” trong khu dự trữ thiên nhiên nghiêm ngặt, vườn quốc gia, di sản thế
giới, vùng đất ngập nước Ramsar có tầm quan trọng quốc tế, khu dự trữ sinh quyển, khu bảo tồn
thực vật, và các khu bảo tồn chim Các cuộc khảo sát gần đây đã chỉ ra rằng hầu hết tất cả các khu
bảo tồn có các loài NLXH dần dần biến đổi tính ĐDSH bản địa, gây hại cho một số loài thực vật,
một số quần cư thực vật và một số loài động vật sử dụng các thực vật này để làm thức và làm tổ, v.v
III QUẢN Lý XÂM LấN SINH HọC
Điều 8 (h) của Công ước Đa dạng sinh học hướng dẫn các bên tham gia “ngăn ngừa việc du nhập,
kiểm soát, hoặc diệt trừ các loài NLXH đe dọa các HST, sinh cảnh hoặc các loài” Để thực hiện các
hướng dẫn đó, Công ước Đa dạng sinh học xếp các cách thức xử lý các loài NLXH như sau:
- Ngăn ngừa việc du nhập loài;
- Diệt trừ loài NLXH mới xuất hiện;
- Cách ly một loài NLXH mới để ngăn sự phát tán, nếu các biện pháp trên thất bại;
- Quản lý các mối đe dọa và tác động của loài NLXH đã thích nghi
Phương án đầu tiên (Ngăn ngừa) là phương án rẻ nhất và hiệu quả nhất trong việc ngăn chặn sự
gia tăng của các cuộc xâm lấn sinh học và hậu quả của chúng Phương án thứ tư cho đến hiện tại
là phương pháp lâu dài và tốn kém nhất, và không phải lúc nào cũng có hiệu quả trong việc ngăn
chặn những tác động của các cuộc xâm lấn này Chúng ta sẽ xem xét từng phương án này để cân
nhắc về mặt kinh tế các chi phí cho công tác ngăn ngừa và quản lý các cuộc xâm lấn sinh học
Điều đầu tiên cần xem xét là sự ngăn ngừa Ngăn ngừa có nghĩa là phải chặn đứng quá trình du
nhập của một loài sinh vật ngoại lai (mà sau đó có thể trở thành loài NLXH) trước khi loài sinh vật
đó xâm nhập vào một HST, vùng, quốc gia hoặc khu vực khác Điều này có thể xảy ra trước khi nó
đến tại nơi nhập cảnh, trong khi nó đang được vận chuyển từ HST bản địa tới một HST mới Nếu
không thể thực hiện được điều đó, thì cách ngăn ngừa thứ hai là dừng việc du nhập loài đó khi tới nơi và ngăn không cho nó xâm nhập vào khu vực mới
1 Ngăn ngừa trên các tuyến đường
Một loài ngoại lai có thể di chuyển đến một nơi mới - trên cạn, trong / trên môi trường nước ngọt, trong / trên biển hoặc trên không - theo nhiều con đường khác nhau Bản thân một tuyến đường cũng
có thể là một quá trình/cách thức vận chuyển Chẳng hạn, sự đi lại, vận tải, du lịch và thương mại cũng là các quá trình vận chuyển sinh vật ngoại lai Trên mỗi tuyến đường có thể có được một số vectơ cũng hỗ trợ vận chuyển các sinh vật ngoại lai đang được xem xét Bảng 1 sau đây là một số ví
dụ về các tuyến đường và cách xử lý sự vận chuyển các loài ngoại lai dọc theo các tuyến đường đó
Bảng 1 Các tuyến đường và giải pháp ngăn ngừa theo tuyến đường
Các tuyến đường trên đất liền: đường bộ, đường ray, lối đi, đường sắt, đường dành cho gia súc, các tuyến đường
di cư
Phương tiện giao thông, phương tiện vận chuyển trên đường ray, hàng hóa, hành khách, xe đẩy, động vật nuôi, động vật hoang dã, gió
Hiệp định thương mại, Tổ chức Thương mại Thế giới, Hiệp định an toàn sinh học trong khu vực, các hoạt động tối ưu trong công nghiệp, các hoạt động xuất khẩu có trách nhiệm
Các tuyến đường nước ngọt:
hồ, hồ chứa, đập, kênh mương, suối, sông, đồng bằng, các vùng đất ngập nước rộng lớn
Tàu, thuyền, các phương tiện vận tải đường thủy, người đi lại giữa các vùng miền, hàng hóa, dòng chảy, gió
Công ước quốc tế về nước dằn tàu, tổ chức hàng hải quốc tế,
tổ chức thương mại thế giới, các hiệp định thương mại, các hoạt động tối ưu trong công nghiệp, các thỏa thuận khu vực về an toàn sinh học, Công ước Ramsar, các văn bản ủy thác liên quan đến lưu vực sông, hồ
Trang 12Các tuyến đường biển: vận
tải đường biển quốc tế, đại
dương, biển, cửa sông, kênh
rạch giữa đại dương dành cho
tàu thuyền
Tất cả các phương tiện vận chuyển đường biển (chở hàng hóa, hành khách, đánh bắt
cá, thăm dò, thể thao, v.v.), các sinh vật biển, di cư đường biển, gió, các dòng chảy
Công ước quốc tế về nước dằn tàu, tổ chức hàng hải quốc tế,
tổ chức thương mại thế giới, các hiệp định thương mại khu vực và quốc tế, các thỏa thuận khu vực về an toàn sinh học, Chương trình Biển khu vực của tổ chức Liên hiệp quốc, các hoạt động tối ưu trong công nghiệp
Những tuyến đường trên
không: tất cả các phương
tiện vận tải hàng không (địa
phương, quốc gia, quốc tế),
sự di cư của chim (và động
vật bay), phóng thích sinh vật
vào bầu khí quyển, gió, bão
Máy bay, hàng hóa, hành khách, hành lý, động vật bay
Hiệp định hàng không dân dụng, Tổ chức Hàng không Dân dụng quốc tế, các hoạt động tối ưu trong ngành công nghiệp hàng không và du lịch, Hiệp định thương mại và an toàn sinh học
2 Ngăn chặn tại các địa điểm du nhập
Để thực sự ngăn chặn được các hoạt động du nhập có chủ ý các loài ngoại lai vào một HST hoặc
quốc gia khác thì cần phụ thuộc vào một số điều kiện: năng lực kiểm tra/ đánh giá từng hoạt động
du nhập; cũng như năng lực và công cụ quyết định có cho du nhập hay không Điều này cũng được
áp dụng đối với các hoạt động du nhập không chủ ý mặc dù trong các trường hợp này không cần
quyết định cho phép đối với một số hoạt động du nhập - có thể chặn đứng mọi hoạt động du nhập
Về lý thuyết, địa điểm du nhập là điểm cuối của một hành trình/tuyến đường Trong các trường hợp
du nhập loài vào một quốc gia có hệ thống an toàn sinh học nghiêm ngặt thì tại sân bay, cửa khẩu
biên giới trên đất liền hoặc cảng biển có thể được bố trí các phương tiện, cơ sở kiểm dịch và có các
thủ tục đánh giá rủi ro đối với sinh vật được đưa đến Trong trường hợp này, mọi hàng hóa, hành
lý, tải sản cá nhân và hành khách (hoặc một phần ngẫu nhiên trong số những đối tượng kể trên) sẽ
được kiểm tra, các sinh vật được kiểm tra để nhập khẩu dựa trên danh sách loài được cho phép và
danh sách loài không được cho phép, và loài nào thuộc danh sách sau sẽ bị loại ra và chỉ định cấm
nhập khẩu
Sau đó, các sinh vật đó sẽ bị xử lý để đảm bảo không xâm nhập vào đất nước mà chúng được đưa
đến Loài không nằm trong cả hai danh sách sẽ bị cách ly chờ đánh giá rủi ro và quyết định có cho
phép nhập khẩu hay không Việc dự báo nguy cơ xâm lấn sau du nhập là một quá trình phức tạp về
mặt kỹ thuật, trong đó cần cân nhắc đến sự xâm lấn trước đây của loài đang được xem xét và các
yếu tố liên quan như điều kiện môi trường của khu vực dự định nhập khẩu Quá trình này đòi hỏi sự
chặt chẽ về mặt khoa học trong các hoạt động sau:
- Xác định đúng loài du nhập (hoặc đơn vị phân loại thấp hơn);
- Áp dụng quy trình đánh giá rủi ro;
- Xác định thông tin sẵn có và đánh giá thông tin thích hợp về loài;
- Xác định thông tin sẵn có và đánh giá các điều kiện liên quan của các HST mà loài đó sẽ được đưa đến;
- Các tác động tiềm năng của loài đối với các HST mà nó sẽ được đưa đến - liệu loài đó có trở thành loài NLXH hay không?
- Lợi ích của việc du nhập;
- Các phương pháp và chi phí có sẵn cho hoạt động diệt trừ/quản lý nếu loài được du nhập trở thành loài NLXH - hoặc các biện pháp giảm nhẹ khác
Sau khi hoàn thành việc đánh giá rủi ro, quyết định cho phép (hoặc không cho phép) du nhập được
cơ quan có thẩm quyền ban hành, và quyết định sẽ được thực thi Rõ ràng các quá trình này sẽ tốn kém cũng như cần đến năng lực khoa học và kỹ thuật
3 Ngăn ngừa sự thiết lập quần thể, thích nghi và phát tán
Khi một sinh vật đã được du nhập đến một khu vực hay HST mới, xác suất sinh vật đó vượt qua các giai đoạn để trở thành loài NLXH là khá thấp - trừ khi nó được biết đến là một “loài có nhiều khả năng trở thành xâm lấn” qua những lần xâm lấn ở những nơi khác Một loài có thể được du nhập có chủ ý hoặc không chủ ý, có khả năng trở thành loài NLXH Khi phát hiện một hoạt động du nhập,
có thể ngăn chặn diễn tiến xâm lấn của loài qua các giai đoạn nếu nhận ra và hành động nhanh chóng Các biện pháp chính được sử dụng là diệt trừ và ngăn chặn
Diệt trừ là sự tiêu diệt toàn bộ quần thể của loài đã thiết lập/sống/sinh trưởng - bao gồm tất cả các sinh vật ở tất cả các giai đoạn phát triển (cá thể trưởng thành, cá thể sắp trưởng thành, cá thể chưa trưởng thành, trứng, hạt giống, các bộ phận sinh dưỡng khác, v.v.) Đôi khi, điều này có thể thực hiện được trong các điều kiện đặc biệt, nhưng thường thì khó có thể đảm bảo đã hoàn toàn diệt trừ được loài đó Đặc biệt, đối với thực vật có hoa đã phát tán hạt giống trong đất, thì rất khó diệt trừ
Ngăn chặn là quá trình được áp dụng để ngăn chặn sự lây lan xa hơn của một loài có khả năng xâm lấn và qua đó giảm các rủi ro suy thoái HST Biện pháp này được áp dụng khá thường xuyên nhằm ngăn chặn dịch bệnh ở người và động vật gây ra bởi các tác nhân gây bệnh và sinh vật ký sinh thông qua hoạt động kiểm dịch và hạn chế sự di chuyển của vật chủ
4 Quản lý sự xâm lấn
Đánh giá và quản lý các loài ngoại lai xâm hại đã thiết lập
Khi một sinh vật ngoại lai đã phát tán và thiết lập sự xâm lấn, các biện pháp duy nhất mà nhà quản
lý HST có thể làm là: không hành động hoặc quản lý sự xâm lấn Dù bằng cách nào, đều cần đánh giá để đưa ra quyết định và sau đó lập kế hoạch hành động Việc đánh giá các loài NLXH đã thiết
Trang 13lập đòi hỏi phải xem xét về mặt chi phí và lợi ích trong mối quan hệ với HST bị tác động và các
giá trị đã được công nhận mà HST mang lại cho con người (sản phẩm/hàng hóa và dịch vụ) và môi
trường nói chung (ví dụ: chu trình dinh dưỡng, ổn định vi khí hậu, bảo vệ trước các sự kiện thời tiết
cực đoan, bảo tồn ĐDSH) Một số loài NLXH với tác động ít nghiêm trọng có thể mang lại lợi ích
nhiều hơn so với thiệt hại gây ra cho các HST và người sử dụng - đặc biệt là nếu các loài NLXH đem
lại các giá trị hàng hóa và dịch vụ cho con người Trong các trường hợp như vậy, các bên liên quan
nên để cho sự xâm lấn tiếp diễn vì điều đó có thể có “lợi” (đồng thời có thể quản lý sự xâm lấn để
giảm các chi phí khác)
Nếu việc đánh giá dẫn đến quyết định giảm mức độ xâm lấn hoặc chặn đứng hoàn toàn sự xâm lấn
đó, thì các nhà quản lý HST cần thực hiện bằng một số giải pháp Tuy nhiên, ngay cả ở giai đoạn
này, các bên liên quan cần cùng nhau thảo luận về các mục tiêu của việc giảm thiểu hoặc chặn
đứng sự xâm lấn để các hoạt động sau này (áp dụng phương pháp tiếp cận HST - xem ở phần trước)
hướng đến xử lý các biến đổi trong HST chứ không phải chỉ diệt trừ các loài NLXH
Sự xâm lấn có thể tạo ra những thay đổi trong HST bị ảnh hưởng Những thay đổi này sẽ “tạo điều
kiện” để chính loài này hoặc một loài khác tái xâm lấn HST một khi loài NLXH ban đầu bị loại bỏ
ra khỏi HST đó Cũng có những trường hợp sự xâm lấn có thể tạo ra các loại hàng hóa và dịch vụ
phục vụ cho những người sử dụng / sở hữu / quản lý HST bị tác động đó, nên lúc này việc loại bỏ
loài NLXH có thể không phải là mục tiêu chính trong những vấn đề cần quan tâm
Các biện pháp quản lý
Có ba biện quản lý hay giám sát sự xâm lấn của loài:
1 Kiểm soát cơ học là loại bỏ loài NLXH bằng các biện pháp vật lý (ví dụ: phát quang) Với biện
pháp này, chỉ cần nhổ tận gốc hoặc đốt cháy và tiêu hủy thực vật (và hạt giống) hoặc săn, bẫy
động vật trưởng thành và chưa trưởng thành, hoặc giết sinh vật mang mầm bệnh và sinh vật ký
sinh Ngoài ra, có thể sử dụng máy móc và thiết bị để tăng cường kiểm soát cơ học Cách kiểm
soát này thường được lựa chọn hơn so với các biện pháp khác vì nó ít gây ảnh hưởng nhất đến
các loài không phải là mục tiêu và không gây ảnh hưởng nhiều đến sự ổn định của HST - nhưng
mất nhiều thời gian hơn để đạt được các mục tiêu đề ra
2 Kiểm soát hóa học là sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ, các chất độc và dược phẩm để tiêu
diệt các loài NLXH hoặc loại bỏ chúng ra khỏi cơ thể động vật và thực vật chủ Nếu hoạt động
sử dụng các loại hóa chất này không được thực hiện đúng và nghiêm ngặt thì các tác động của
hóa chất đối với các loài không phải là mục tiêu và sinh cảnh có thể trở thành một mối lo
3 Kiểm soát sinh học có thể được sử dụng khi một loài ngoại lai xâm hại đã định cư ở nơi mới mà
không bị kiểm soát ngoài tự nhiên bởi các sinh vật ký sinh, ăn thịt và gây bệnh Những nhân tố
này có thể được nhập vào HST đang được xem xét và du nhập vào các quần thể của loài NLXH
để kiểm soát loài NLXH Biện pháp này có tính bền vững cao hơn (trong hầu hết các trường hợp)
so với hai biện pháp trước vì khi áp dụng thành công thì biện pháp này vẫn tiếp tục có hiệu quả
khi loài NLXH và các loài/nhân tố kiểm soát sinh học đạt đến một trạng thái cân bằng trong đó
số lượng cá thể trong quần thể của loài NLXH được duy trì ở mức chấp nhận được (thấp) Điều
này có nghĩa là cần chi phí ban đầu khá lớn để thiết lập các tác nhân sinh học, nhưng về sau chi phí ít đi (không kể chi phí dành cho hoạt động giám sát)
4 Kiểm soát tổng hợp là sử dụng nhiều phương pháp nêu trên để quản lý sự xâm lấn và ngăn chặn
sự phát tán của loài ngoại lai Thường thì, kiểm soát sinh học sẽ được sử dụng để làm giảm số lượng cá thể trong quần thể của loài NLXH đến một mức độ chấp nhận được, còn kiểm soát cơ học và kiểm soát hóa học sẽ tăng cường hỗ trợ cho kiểm soát sinh học bằng cách tiêu diệt các quần thể nhỏ và xử lý các khu vực gần đó hoặc các khu vực hoặc nhóm khó kiểm soát
Mỗi biện pháp này có các chi phí kinh tế, nhân lực và yêu cầu chuyên môn riêng Cần so sánh các biện pháp với nhau và với cái giá phải trả nếu “không hành động”
5 Phục hồi hệ sinh thái sau xâm lấn
Một mục tiêu của việc quản lý HST bị xâm lấn là phục hồi HST về trạng thái và chức năng ban đầu của nó trước khi sự xâm lấn khởi phát Trước hết, cần xem xét mục tiêu này khi xây dựng các biện pháp kiểm soát các loài NLXH - để đảm bảo không gây thiệt hại cho HST, khiến nó không thể phục hồi nguyên trạng Một khía cạnh khác cần được xem xét là điều kiện thực tế và thành phần loài của HST ban đầu - cả điều kiện thực tế và thành phần loài đều cần được xem xét về các phương diện là trạng thái phục hồi thích hợp và các biện pháp phục hồi
Ví dụ, khi một HST có nhiều loài bị xâm lấn và sự đa dạng loài bị giảm đáng kể, cần biết loài nào
có mặt trước khi xảy ra sự xâm lấn thì mới có thể đưa loài đó trở lại HST khi đã kiểm soát hoặc loại
bỏ được sự xâm lấn Trong một số trường hợp, sẽ thích hợp hơn nếu chỉ khôi phục một phần HST về nguyên trạng vì như vậy HST có thể tạo ra nhiều hàng hóa/sản phẩm và dịch vụ có ích hơn cho con người hoặc có thể tạo sinh cảnh phù hợp hơn cho các loài hoặc các loại thực vật, hoặc các nhóm động vật có ích
Phục hồi sinh thái là một biện pháp đang ngày càng được áp dụng rộng rãi trong đó cả các loài bản địa và các loài ngoại lai đều được sử dụng để “nhanh chóng” phục hồi HST bị ảnh hưởng về trạng thái trước đó của nó Rõ ràng, các nhà quản lý HST phải thận trọng khi du nhập các loài trong nỗ lực khôi phục chức năng của HST đã bị loài NLXH hủy hoại
Trang 14CHƯƠNG II.
ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG KINH TẾ
I XeM XéT CÁC TÁC ĐỘNG VỀ MặT KINH TẾ CủA LOÀI NGOẠI LAI
XÂM HẠI
Chương này này dựa trên các mục đã trình bày trước để phân tích các tác động về mặt kinh tế của
các loài NLXH, và thiệt hại các loài này gây ra cho các HST tự nhiên và các HST được con người
cải tạo Vì các hoạt động (kinh tế) của con người là nguyên nhân chính của các cuộc xâm lấn sinh
học, nên chính con người và các nền kinh tế là đối tượng phải chịu các tác động nặng nề nhất Do
đó, cần phải hiểu rõ quy mô kinh tế, mức độ và sự phân bổ các chi phí và lợi ích để đối phó với
các loài NLXH
Các loài NLXH gây ra các tác động trực tiếp và gián tiếp về kinh tế Các tác động kinh tế trực tiếp
chủ yếu là các tác động đối với hoạt động sản xuất tại nơi bị xâm lấn (tại chỗ) Những tác động này
bắt nguồn từ các tác động của loài NLXH lên sinh cảnh của chủ thể hoặc HST Trái lại, các tác động
gián tiếp là các tác động phi chủ thể và có thể gây ra các hậu quả rộng lớn hơn đối với thị trường,
giá cả, sức khỏe, dinh dưỡng, thương mại, môi trường và chi tiêu công và tư (theo Evans 2003, FAO
2001)
Hộp 2 Tác động kinh tế trực tiếp và gián tiếp của loài ngoại lai xâm hại
Tác động trực tiếp đến sản xuất do các tác động của các loài NLXH lên các HST chủ thể
Các tác động cấp 2 và cấp 3 lên thị trường, giá cả, sức khỏe, dinh dưỡng, thương mại, môi
trường và chi tiêu công và tư trên các phương diện địa điểm, lĩnh vực và thời điểm
1 Các tác động trực tiếp đối với sản xuất
Các chi phí cho biện pháp cơ học để kiểm soát các loài NLXH là rất lớn Chẳng hạn, khoản chi của
chính phủ cho việc biện pháp kiểm soát cơ học và biện pháp kiểm soát bằng hóa chất các cây xâm
lấn đã làm giảm nguồn nước sẵn có cho các cộng đồng lân cận, tăng nguy cơ hỏa hoạn và loại trừ
một số loài bản địa ở Cape Floral Cape (Vương quốc các loài thực vật) ở Nam châu Phi lên đến 40
triệu USD/năm, và theo ước tính chi phí phục hồi các HST lên đến 2 tỉ USD (Turpie và Heydenrych
2000)
Tuy nhiên, các tác động kinh tế tại chỗ của các loài NLXH vượt xa chi phí kiểm soát trực tiếp và
không bị giới hạn về không gian và thời gian Các tác động trực tiếp đối với sản xuất của loài NLXH
thường mở rộng đối với nhiều dịch vụ HST Ví dụ, thực vật trở thành cỏ dại xâm lấn có thể trực tiếp
tiêu diệt các loài bản địa, giảm năng suất đất, tắc nghẽn các dòng nước, cản trở tưới tiêu và phát
triển thủy điện, phá hoại những khu vực gây giống và nuôi thủy sản, cạnh tranh nguồn đất và các nguồn tài nguyên khác, phá hủy sinh cảnh tự nhiên, làm suy thoái đồng cỏ, phá hoại các chuỗi thức
ăn, làm mất cân bằng và cản trở các quá trình sinh thái, là loài gây hại cho cây trồng và các thực vật khác, cần phun thuốc trừ sâu nhiều lần hơn, phá hoại vẻ đẹp của phong cảnh, ảnh hưởng xấu đến các khu giải trí, v.v Ví dụ, thiệt hại kinh tế do cỏ dại xâm lấn gây ra cho ngành nông nghiệp tại Úc ước tính vào khoảng 3,5 đến 4,5 tỉ USD/năm, bao gồm các chi phí tài chính để kiểm soát các thiệt hại về sản xuất, các thay đổi về doanh thu thuần bằng tiền mặt, và các thay đổi về phúc lợi xã hội (Cacho và cs 2008)
2 Tác động kinh tế thứ cấp (cấp 2 và cấp 3)
Các hiệu ứng số nhân và các tác động dây chuyền của sự xâm lấn sinh học ở khu vực này có thể tác động lên các hệ thống sản xuất và tiêu dùng khác, những nơi khác và thời điểm khác có thể rất lớn
Ví dụ, ở New Zealand, thiệt hại do các loài NLXH gây ra ước tính chiếm 1% GDP (Bertram 1999)
Sự tăng trưởng thương mại và kinh tế nhanh chóng của Trung Quốc gây ra những nguy cơ môi trường rất lớn do danh sách các loài NLXH ngày càng dài, ước tính gây ra thiệt hại cho nền kinh tế quốc gia này chừng 14,5 tỉ USD (Ding và cs 2008)
Do đó, thách thức thứ hai là cộng gộp thiệt hại kinh tế cấp 2 và cấp 3 do các loài NLXH ví dụ như các hậu quả/thiệt hại do sự thay đổi về nhu cầu tiêu dùng, thay đổi về giá tương đối của nguồn nguyên liệu đầu vào, và các tác động ngoài nơi bị xâm lấn do mất ĐDSH và các dịch vụ HST Những thay đổi không chỉ tác động đến khu vực bị xâm lấn sinh học mà còn phát tán sang những lĩnh vực khác của nền kinh tế Các tác động gián tiếp có thể biểu hiện theo nhiều cách thức khác nhau, chẳng hạn như giảm giá cho thuê đất, giảm lợi nhuận, giảm doanh thu từ thuế, giảm thu nhập ngoại hối, giảm cơ hội việc làm, giảm an ninh lương thực, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người, tăng tính dễ tổn thương đối với các hoạt động sinh kế và khiến cho các mục tiêu phát triển kinh tế và các mục tiêu chính sách của ngành không đạt được
Hộp 3 Thiệt hại trực tiếp và gián tiếp do cỏ Euphorbia esula ở Montana, Nam Dakota và
Wyoming
Cỏ Euphorbia esula L là một loài thực vật lưu niên, rễ ăn sâu, sống dai và nguy hiểm (phát tán
nhanh chóng), là loài bản địa ở vùng ôn đới châu Âu và châu Á, nhưng xâm lấn nhiều vùng
ở Hoa Kỳ Loài cỏ này ban đầu được du nhập tới Bắc Mỹ vào thế kỷ 19 Hiện tại, nó phá một diện tích lớn đất vô chủ ở các vùng bình nguyên và các bang miền núi Sau khi thiết lập trên các khu đất này, loài cỏ dại này phát tán nhanh chóng, thay thế thực vật bản địa Cỏ có các đặc điểm độc đáo khiến nó có lợi thế cạnh tranh tốt hơn so với hầu hết các loài thực vật bản địa và chính các đặc điểm này là vũ khí tự vệ của cỏ để không bị gia súc ăn Loài này có thể gây thiệt hại nghiêm trọng về kinh tế cho chủ các khu đất và chủ trang trại
Các lợi ích từ giải trí liên quan đến động vật hoang dã và các lợi ích của bảo tồn đất và nước mất đi do loài cỏ dại này tại Montana, Nam Dakota và Wyoming ước tính khoảng 800.000 USD/năm Tổng thiệt hại trực tiếp và gián tiếp hàng năm do loài thực vật xâm lấn này gây
ra cho những vùng đất hoang là 1,95 triệu USD Thiệt hại cho các khu đất chăn thả bao gồm
Trang 15giảm sức chứa và dẫn đến thiệt hại trực tiếp là 10,3 triệu USD/năm và thiệt hại gián tiếp gần
24 triệu USD/năm Lợi ích trực tiếp thu được từ kiểm soát loài cỏ dại này là 19,1 triệu USD/
năm (bao gồm 4,98 triệu USD từ việc tăng sức chứa gia súc, 11,74 triệu USD từ chi phí sản
xuất chăn nuôi, 1,8 triệu USD từ chi cho vui chơi giải trí liên quan đến động vật hoang dã và
0,485 triệu USD từ bảo tồn đất và nước Lợi ích gián tiếp thu được từ những thay đổi về khối
lượng kinh doanh, thu nhập cá nhân, doanh số bán lẻ và các hoạt động kinh tế khác là 39,3
triệu USD/năm (theo Bangsund và cs 1991, 1993, 1999, trích dẫn tại Stutzman và cs 2004)
3 Những lợi ích của loài ngoại lai xâm hại
Cần nhận biết và đưa vào phân tích kinh tế một yếu tố là loài NLXH cũng thường mang lại lợi ích
thị trường hay lợi ích phi vật chất - đó là lý do ban đầu các loài này được du nhập và sử dụng Các
chi phí và lợi ích không được đánh giá đầy đủ nếu không tính đến giá trị hữu ích của loài NLXH
Loài xâm hại có thể mang lại lợi ích kinh tế ví dụ, ở Nam Phi cây lục bình được sử dụng làm thức
ăn cho gia súc và đồ gia dụng, cây keo là thực vật ngoại lai đã được du nhập để làm gỗ nhiên liệu
trong các quần xã sinh vật có ít thực vật thân gỗ, các loài trai, vẹm xâm lấn là thủy sản thương mại
cho năng suất cao và mặt khác là nguồn thức ăn cho con người
4 Xác định mối liên quan giữa tác động lý sinh với thay đổi về kinh tế
Việc lý giải các thay đổi lý sinh (về sinh thái học, thủy học, ĐDSH và các yếu tố khác) sang các tác
động về kinh tế là một nhiệm vụ vô cùng khó khăn Ước tính các tác động trực tiếp và gián tiếp rất
mất thời gian và công sức, và phụ thuộc vào khối lượng lớn thông tin sinh học và phi sinh học Thực
vậy, để theo dõi các tác động về kinh tế của loài NLXH cần xác định một loạt các mối liên quan
liều-đáp ứng giữa một mức thay đổi về lý sinh hoặc mức thay đổi của HST cụ thể với một mức độ
thay đổi cụ thể về kinh tế Các mối liên quan này rất khó xác định chính xác và thường phụ thuộc
vào nhiều giả định Khó có thể hiểu rõ, đo lường và dự đoán những sự kiện có mức độ chắc chắn
không cao, có tương tác phức tạp giữa các loài, quần thể và quần xã tự nhiên, các HST tự nhiên và
nhân tạo khác nhau như hiện tượng xâm lấn sinh học
Cần lưu ý rằng khi xác định các tác động về kinh tế của loài NLXH thì vẫn thiếu cơ sở khoa học
đáng tin cậy, còn tồn tại các hạn chế về khía cạnh sinh học và sinh thái học cũng như cách đánh
giá và định lượng còn có nhiều thiếu sót (Perrings và cs 2000) Việc đảm bảo chất lượng của cả số
liệu khoa học và số liệu kinh tế là rất quan trọng Hậu quả do không đảm bảo chất lượng nêu trên
được minh họa trong trường hợp đánh giá thiệt hại do cua xanh châu Âu xâm lấn (Carcinus maenas)
Các con số ước tính về các tác động đối với kinh tế của cua xanh châu Âu, đã và đang được sử dụng
rộng rãi để làm bằng chứng ủng hộ cho một chính sách công gần đây tại Hoa Kỳ, được phát hiện là
dựa trên số liệu sai về vị trí địa lý, những dự đoán về tác động sinh thái không dựa trên cơ sở vững
chắc và các phương pháp kinh tế đã bị áp dụng sai trong việc tính toán (Hoagland và Jin 2006)
Hộp 4 Xác định mối liên quan giữa các tác động lý sinh của các loài thực vật ngoại lai xâm hại ở
Nam Phi và sự thay đổi của các giá trị kinh tế
Qua phân tích các nghiên cứu được thực hiện nhằm xem xét các tác động về kinh tế của thực vật NLXH ở các HST ở Nam Phi, có thể thấy sự đa dạng của tác động lý sinh và các chỉ số kinh tế có thể sử dụng để quy ra lợi ích và chi phí sang giá trị tiền tệ
Chủ đề Các tác động lý sinh và các chỉ
số kinh tế
Giá trị của các tác động
Tác động của của thực vật NLXH đối với sản lượng nước
Sản lượng nước ở những lưu vực nước đầu nguồn giảm, phòng thiệt hại về nước bằng chương trình phát quang thực vật NLXH
Việc phát quang các loài thực vật NLXH có thể ngăn thiệt hại
về nước tới 30% tổng lượng nước cung cấp cho Cape Town với giá là 1,30 cent/m3
Chi phí và lợi ích của các chương trình phát quang thực vật ngoại lai
Sản lượng nước tăng nhờ phát quang thực vật NLXH, so với chi phí vận hành hệ thống cung cấp nước
Việc phát quang loài thực vật ngoại lai giúp tạo ra một lượng nước tương đương có giá trị với 14% chi phí để phát triển một hệ
thống cấp nướcSản lượng nước tăng nhờ phát
quang thực vật ngoại lai ở lưu vực nước đầu nguồn bị xâm lấn và
những khu vực trồng cây ngoại lai không mang lại giá trị kinh tế
Phát quang loài ngoại lai đạt tỉ xuất lợi ích : chi phí từ 6:1 đến 12:1 ở những lưu vực nước đầu nguồn, và 360:1 đến 382:1 ở khu vực trồng thực vật ngoại lai không mang lại giá trị kinh tế
Các chi phí ước tính của các chương trình phát quang thực vật ngoại lai so với chi phí cho phép thực vật NLXH không kiểm soát
Sản lượng nước tăng nhờ phát quang khu vực bị xâm lấn so với lượng nước mất đi nếu sự xâm lấn vẫn tiếp diễn
Các chi phí của việc phát quang các loài thực vật ngoại lai ở các lưu vực nước đầu nguồn khoảng 4-12 triệu USD, và có thể tăng lên đến 11-278 triệu USD nếu không kiểm soát sự xâm lấn
Khảo sát rộng về các tác động của thực vật ngoại lai đối với tài nguyên nước ở cấp quốc gia
Sự tiêu thụ nước của các loài NLXH Các chi phí phát quang các loài
NLXH dao động trong khoảng 412-996 triệu USD ở cấp quốc gia
Mô hình sinh thái-kinh
tế mô phỏng các HST cây bụi trên núi
Các hậu quả của sự xâm lấn đối với việc sản xuất nước, thu hoạch hoa dại, các tuyến du lịch đi bộ,
du lịch sinh thái, các loài đặc hữu và nguồn gen
Hoạt động quản lý các thực vật ngoại lai làm tăng giá trị của khu vực giả định với diện tích 4km2 lên khoảng 3-50 triệu USD
Trang 16Phân tích chi phí-lợi
ích của cây keo đen
(Acacia mearnsii)
Các lợi ích của giá trị cây trồng thương mại và các sản phẩm khác, các tác động do giảm lượng nước, tăng nguy cơ xảy ra hỏa hoạn và
mất ĐDSH
Tiếp tục trồng thực vật ngoại lai mà không có chương trình kiểm soát khiến tỉ lệ lợi ích:chi phí chỉ còn 0,4, còn nếu tiếp tục trồng thực vật ngoại lai đồng thời có biện pháp dọn quang và/hoặc biện pháp kiểm soát sinh học đối với hạt giống của thực vật đó thì
tỉ suất lợi ích:chi phí vào khoảng 2,4-7,5
Phân tích chi
phí-lợi ích kiểm soát cây
dương xỉ đỏ thủy sinh
Đánh giá kinh tế thảm
thực vật bản địa và
các tác động của sinh
vật NLXH đối với bình
nguyên Agulhas
Các lợi ích từ gia súc, thu hoạch hoa dại và du lịch sinh thái Chi phí ước tính để dọn quang các loài NLXH để tránh giảm lợi ích
Tổng lợi ích khoảng 3 triệu USD/
năm và tổng chi phí để dọn sạch loài NLXH lên đến 5,6 triệu USD
Đánh giá tác động kinh
tế của sự xâm lấn đối
với các giá trị sử dụng
của các HST cây bụi
trên núi
Giá trị của việc thu hoạch hoa dại, giá trị giải trí ở khu bảo tồn và dòng chảy ở những nơi còn nguyên sơ và những nơi bị xâm lấn nghiêm trọng
Giá trị thu hoạch giảm từ 2,3-9,7 USD/ha và giá trị giải trí giảm 1-3,8 USD/ha Giá trị lượng nước thất thoát do sự xâm lấn của thực vật ngoại lai là 163 USD/ha
(Theo nhiều tác giả, tóm tắt và trích dẫn trong tài liệu của tác giả Van Wilgen và cộng sự 2001)
II XÁC ĐịNH CÁC CHI PHí VÀ LỢI íCH CủA LOÀI NGOẠI LAI XÂM HẠI
Sau khi xác định các nguyên nhân trực tiếp và gián tiếp dẫn đến các giai đoạn của xâm lấn và xác
lập quy mô và mức độ tác động của loài NLXH, giai đoạn thứ ba của phân tích kinh tế về loài NLXH
là xác định chi phí và lợi ích kinh tế liên quan đến các tác động này
Để xác định chi phí và lợi ích của loài NLXH, cần xem xét các tác động trực tiếp đối với sản xuất
và các tác động cấp 2, cấp 3 Ngoài ra, cũng cần xem xét các tác động tích cực (lợi ích) và cả tác
động tiêu cực (thiệt hại) của loài NLXH Các tác động về kinh tế của loài NLXH gồm tác động trực
tiếp và tác động gián tiếp Các tác động trực tiếp về kinh tế nảy sinh từ các tác động của các loài
NLXH đối với sinh cảnh hoặc HST của chủ thể, và các biện pháp quản lý loài NLXH Trái lại, các
tác động kinh tế gián tiếp chính là các tác động đối với những nơi, khu vực và thời điểm khác trên
các phương diện như thị trường, giá cả, sức khỏe, dinh dưỡng, thương mại, môi trường và chi dịch
vụ công và tư Các chi phí đó bao gồm:
chặn, quản lý và phục hồi, ví dụ: chi cho thiết bị, tiền lương, cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải, bảo trì, nghiên cứu, v.v
• Chi phí cơ hội:
- Thiệt hại sản xuất tại chỗ Các thiệt hại cho sản xuất ở khu vực bị xâm lấn bao gồm giảm sản lượng và năng suất, giảm khả năng chống chịu hạn hán, thiệt hại do sâu bọ gây hại và bệnh tật gia tăng, thiếu nước, lắng đọng phù sa và bùn, giảm các cơ hội sản xuất trong tương lai, v.v
- Thiệt hại cho các các ngành và các hoạt động khác Hiệu ứng và tác động dây chuyền đối với các doanh nghiệp, ngành và địa bàn khác phụ thuộc vào HST bị xâm lấn, ví dụ: giảm cơ hội việc làm, giảm thu nhập, giảm nguồn nguyên liệu và hàng hóa đầu vào, tăng giá nguyên liệu và hàng hóa đầu vào, thiếu nước, lắng đọng phù sa và bùn, thiệt hại do bão lũ, giảm các cơ hội/lựa chọn về sản xuất và tiêu dùng trong tương lai, v.v
- Chi phí do hiệu ứng tắc nghẽn và đông đúc Các chi phí phát sinh do mất đất đai và các nguồn tài nguyên ở một nơi và do đó phải di chuyển đến những nơi khác, dẫn đến tắc nghẽn ở các nơi
đó, gia tăng chi phí của sản xuất, tăng chi phí vận chuyển, giao thông gián đoạn, v.v
• Các lợi ích sản xuất tại nơi bị xâm lấn (tại chỗ) Những lợi ích của các loài NLXH đối với sản xuất tại nơi bị xâm lấn
• Các lợi ích cho các ngành và các hoạt động khác Các hiệu ứng và tác động dây chuyền đối với các cơ sở kinh doanh, ngành và địa bàn phụ thuộc vào loài NLXH trên các phương diện như việc làm, thu nhập, nguồn nguyên liệu đầu vào và hàng hóa, giá cả của các nguyên liệu đầu vào và hàng hóa, dịch vụ về nước, dịch vụ phòng chống xói mòn, phòng chống bão lũ, các lựa chọn/cơ hội về sản xuất và tiêu dùng cho tương lai, v.v
Chi phí và lợi ích phát sinh do loài NLXH tác động đến hoạt động chức năng của các HST tự nhiên hoặc các HST bị con người cải tạo vốn là nguồn cung cấp hàng hóa và dịch vụ có giá trị kinh tế, và thay thế các loài đã sống ở đây trước đó hoặc các loài bản địa có giá trị về mặt kinh tế Mục đích của mục này là xác định các loại chi phí và lợi ích cần phải được đưa vào phân tích kinh tế về loài NLXH
1 Phân loại các chi phí và lợi ích của loài ngoại lai xâm hại theo các giá trị hệ sinh thái
Định giá thấp
Như đã giải thích, một trở ngại chính trong phân tích kinh tế là đánh giá các thay đổi tăng dần xảy
ra khi loài NLXH chiếm không gian và do đó gây cản trở các chức năng của một HST (tự nhiên hoặc bán tự nhiên) vốn là nguồn cung cấp hàng hóa và dịch vụ có giá trị kinh tế, và chiếm chỗ của các loài (nhóm) loài từng sống ở đó trước đây, hoặc loài (nhóm) loài bản địa có giá trị kinh tế Khi chúng
ta phân tích các chi phí hoặc lợi ích cơ hội bị mất đi do sự có mặt của các loài NLXH, về cơ bản
Trang 17chúng ta lượng giá những thay đổi về trạng thái, thành phần loài và sức khỏe của các HST tự nhiên
hoặc bán tự nhiên, trên các phương diện các tác động kinh tế do thay đổi mức độ và chất lượng của
các dịch vụ do HST mang lại
Các giai đoạn của quá trình xâm lấn bị chi phối bởi việc định giá thấp Các hàng hóa và dịch vụ
HST thường bị định giá thấp gồm: thống kê và số liệu được sử dụng để tính lợi ích-chi phí và lãi-lỗ,
giá cả và thị trường, các chính sách và công cụ kinh tế, và sau đó là các yếu tố ảnh hưởng đến hành
vi sản xuất và hành vi tiêu dùng Trong nhiều trường hợp, các dịch vụ HST không có giá thị trường
(ví dụ: dịch vụ làm sạch không khí, điều chỉnh chất lượng nước và dòng chảy, bảo vệ trước các sự
kiện thời tiết cực đoan, tạo vẻ đẹp cảnh quan hay có tầm quan trọng về mặt văn hóa) Trong những
trường hợp khác, các sản phẩm, hàng hoá được gán giá thị trường nhưng giá đó không phản ánh
giá trị thực đối với xã hội trên các khía cạnh như các nguồn tài nguyên tạo nên sản phẩm hay hàng
hóa, hay các chi phí sản xuất liên quan, hoặc hàng hóa hoặc sản phẩm của HST có các đặc điểm
của hàng hóa công cộng, nghĩa là hàng hóa đó được phân bổ hoặc định giá không hợp lý trên thị
trường tự do (không chịu sự tác động của chính phủ và ở đó các tác nhân cung cầu được phép hoạt
động tự do) Điều này tạo ra những thách thức đối với việc định giá
Do xu hướng định giá thấp, nên các loài NLXH có cơ hội làm thay đổi và chiếm lấy các HST bởi
người ta lựa chọn các giải pháp khác về quản lý đất và tài nguyên ‘có hiệu quả’ cao hơn, nghĩa là
những giải pháp có vẻ mang lại lợi nhuận nhiều hơn và nhanh hơn Do tổng chi phí/thiệt hại của
loài NLXH chưa được áp dụng vào hành vi và quyết định của người dân khi họ thực hiện các hoạt
động kinh tế, nên họ có xu hướng phớt lờ các hậu quả kinh tế trên quy mô rộng hơn từ hành động
của chính họ Nghĩa là các loài NLXH sẽ có nhiều khả năng được du nhập và ít bị kiểm soát
Khung giá trị kinh tế tổng thể
Cần khắc phục các vấn đề về định giá thấp (và sau đó là đánh giá thấp các tác động kinh tế) khi
xác định các chi phí và lợi ích trong trường hợp không kiểm soát các loài NLXH Các dịch vụ HST
thường bị định giá thấp (và các tác động về kinh tế của loài NLXH hay bị đánh giá thấp) thường
là do các khái niệm về giá trị kinh tế vẫn còn dựa trên định nghĩa còn hạn chế về lợi ích Các nhà
kinh tế thường chỉ xem xét giá trị của các HST về mặt nguyên liệu thô và các sản phẩm hữu hình
mà HST tạo ra để sử dụng cho sản xuất và tiêu thụ (đặc biệt là tập trung vào các hoạt động thương
mại và lợi nhuận) Tuy nhiên, việc sử dụng trực tiếp này chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng giá trị
do các HST mang lại các lợi ích kinh tế còn lớn hơn cả các sản phẩm hữu hình hoặc hàng hóa được
bán trên thị trường Ví dụ, nghiên cứu ở Nam Phi chỉ ra rằng các loài NLXH có thể làm giảm giá trị
của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp bởi các HST cây bụi trên núi với tổng thiệt hại là hơn 11,75
triệu USD (Van Wilgen và cs 2001) Nếu chỉ xem xét khái niệm về giá trị HST ở khía cạnh lợi ích
trực tiếp thì sẽ dẫn đến việc giá trị của các hàng hóa và dịch vụ HST bị đánh giá ở mức rất thấp, và
chỉ phản ánh được một phần rất nhỏ
Trong hơn một thập kỷ qua, khung khái niệm tổng giá trị kinh tế (Hình 3) được sử dụng rộng rãi nhất
để xác định và phân loại các lợi ích của HST (Pearce 1990, Barbier và cs 1997) Thay vì chỉ đề cập
đến các giá trị thương mại dễ quan sát, thì khung khái niệm này còn bao hàm giá trị sinh kế và các
giá trị phi thị trường, các chức năng sinh thái và lợi ích phi sử dụng Bên cạnh việc phác họa một
Giá trị sử dụng
Loài xâm hại ảnh hưởng đến cấu trúc, thành phần và chức năng của HST, ảnh hưởng đến dịch vụ HST và làm thay đổi tổng giá trị kinh tế của HST Đồng thời, loài NLXH cũng tạo ra các giá trị trực
tiếp, gián tiếp, tùy chọn và tồn tại
Giá trị phi sử dụng
Giá trị tồn tại
Hình 2 Tổng giá trị kinh tế của Hệ sinh thái
Khung khái niệm này là một công cụ hữu ích trong phân tích các khía cạnh kinh tế của loài NLXH, trong việc xác định và phân tích các tác động về mặt kinh tế của các loài này: tất cả các thành phần trong tổng giá trị kinh tế bị tác động khi xâm lấn sinh học diễn ra Các loài NLXH can thiệp vào cấu trúc, thành phần và chức năng của HST, tác động lên các dịch vụ mà HST mang lại và do
đó làm thay đổi tổng giá trị kinh tế của HST Cùng lúc đó, bản thân các loài NLXH cũng có thể tạo
ra các giá trị trực tiếp, giá trị gián tiếp, giá trị lựa chọn và giá trị tồn tại Phân tích kinh tế xem xét các thay đổi cận biên xảy ra do tác động của sự xâm lấn trong tổng giá trị kinh tế của HST
Về cơ bản, việc phân tích tổng giá trị kinh tế tổng thể của HST tự nhiên hoặc HST bán tự nhiên chính là xem xét tất cả các đặc điểm của HST đó với vai trò là một hệ thống tổng hợp các tài nguyên hoặc tài sản của HST, các dòng dịch vụ môi trường, và các thuộc tính của HST đó nói chung (Barbier 1994) Theo nghĩa rộng, tổng giá trị kinh tế bao gồm:
• Các giá trị trực tiếp Các nguyên vật liệu thô và các sản phẩm hữu hình được sử dụng trực tiếp cho sản xuất, tiêu dùng và buôn bán - ở khía cạnh sinh hoạt và thương mại Ví dụ: thực phẩm,
cá, nhiên liệu, vật liệu xây dựng, thuốc, thức ăn cho gia súc và các nguồn tài nguyên dành cho giải trí
• Các giá trị gián tiếp Các chức năng sinh thái giúp duy trì và bảo vệ các hệ thống tự nhiên và nhân tạo, và hỗ trợ thiết yếu cho sự sống Các giá trị này khác nhau ở các dạng HST khác nhau, song cũng đều bao gồm các dịch vụ như bảo vệ vùng đầu nguồn, tái tạo dinh dưỡng, thụ phấn, giảm lũ và điều chỉnh vi khí hậu