Để có được một chiến lược phòng chống một cách hiệu quả đối với sự lây lan xâm lấn của cây mai dương rất cần phải có các thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, các phương phá
Trang 1TÀI LIỆU THAM KHẢO
HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ,
KIỂM SOÁT VÀ PHÒNG TRỪ
THỰC VẬT NGOẠI LAI XÂM HẠI
TRÊN ĐIỂN HÌNH CÂY MAI DƯƠNG
Hà Nội, 2015
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
Trang 2MỤC LỤC
Chương I ĐẶC ĐIỂM RIÊNG VÀ TÁC HẠI CỦA CÂY MAI DƯƠNG 2
Chương II CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG Ở TRÊN THẾ GIỚI 9
Chương III CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG Ở VIỆT NAM 21
3.2 Nghiên cứu sử dụng thuốc trừ cỏ hoá học để phòng trừ cây mai dương 303.3 Nghiên cứu ứng dụng biện pháp sinh học trong phòng trừ cây mai dương 37
Chương IV HƯỚNG DẪN QUẢN LÝ, KIỂM SOÁT, DIỆT TRỪ CÂY MAI DƯƠNG
Trang 31.1 Đặc điểm hình thái học của cây mai dương
Cây mai dương Mimosa pigra L thuộc họ Mimosaceae (Leguminose) lần đầu tiên được Linnaeus phân loại và mô tả vào năm 1759 (Heard, 2004)
Thân cây mai dương
Đây là một loài cây lâu năm, thân bụi phân nhiều cành, với chiều cao tới 6 m (hình 1)
Thân có màu xanh khi cây con non nhưng khi cây trưởng thành thì hoá gỗ Cây còn nhỏ thì trên thân có lớp lông mịn bao phủ làm cho thân cây ráp Cây trưởng thành thì trên thân
có nhiều gai màu hồng, sau đó mọc nhiều gai dài 5 - 10 cm (DEEDI, 2011; Hall và nnk, 2006;
NTG, 2010a, 2010b; Weed management Guide, 2003)
Rễ cây mai dương
Rễ cây mai dương có một rễ cái phân nhánh
và ăn sâu trong đất, có thể ăn sâu 1 - 2 m, ăn rộng và xa tới 3,5 m tính từ gốc cây Có thể hình thành rễ phụ ở điều kiện ngập nước liên tục (hình 2) (DEEDI, 2011; Hall và nnk, 2006; Robert, 1982; Weed management Guide, 2003)
Lá cây mai dương
Lá cây mai dương màu xanh, có hai lần lá kép kiểu lá cây dương xỉ (hình 3) Lá thường gập vào ban đêm hoặc khi bị chạm vào thì lá khép lại Lá dài 20 - 25 cm, màu xanh sáng, mỗi cành lá có 10 - 15 cặp lá kép (lá chét) mọc đối xứng dài 5 cm Lá cây mai dương ở Florida có
Từ lâu các nhà khoa học ở nhiều nước đã ghi nhận hiện tượng xâm lấn và phát triển mạnh mẽ
của các loài sinh vật khi du nhập đến nơi ở mới (IUCN, 2003) Các loài thực vật ngoại lai được
du nhập đến nơi ở mới có thể do ngẫu nhiên và cũng có thể do cố ý Trường hợp du nhập cố
ý là do những quan tâm về kinh tế, môi trường và xã hội thúc đẩy Thí dụ, năm 1947 Thái Lan
nhập cây mai dương từ In-đô-nê-sia về để trồng làm cây phân xanh, chống xói mòn đất và
đến năm 1982 cây mai dương bắt đầu lan rộng và đến nay xâm lấn hầu hết các tỉnh của Thái
Lan (Suasa-ard và nnk, 2004) Bèo tây được đưa về Úc vào thập niên 1890 như là cây thực
vật cảnh (NSW, 2012) Bèo tây lần đầu tiên được nhập vào Việt Nam vào năm 1902 qua Nhật
Bản để làm cây cảnh, sau đó lan tràn khắp cả nước và trở thành loài thực vật ngoại lai xâm
hại (IUCN, 2003) Loài cỏ lào cũng được du nhập đi một số nước như cây cảnh và ngày nay
trở thành loài thực vật ngoại lai xâm hại ở nhiều nước trên thế giới (IUCN/SSG/ISSG, 2004)
Cây mai dương xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng giữa thế kỷ XX hoặc sớm hơn, nhưng chỉ từ
thập niên 1980 loài cây này mới lây lan nhanh ở một số vùng và có mặt ở hầu hết các địa
phương trong cả nước (IUCN, 2003) Trong những năm cuối của thập niên 1990, sự xâm lấn
của cây mai dương ở lưu vực sông La Ngà, lòng hồ Trị An cũng như ở các vùng đất trống
thuộc các Vườn quốc gia Cát Tiên, Tràm Chim là vấn đề báo động Tại những nơi này cây mai
dương đã mọc dày tạo thành những thảm cây rộng lớn, cản trở hoạt động kinh tế, biến các
vùng đất canh tác thành các vùng hoang hoá, làm nghèo khu hệ động thực vật bản địa ở các
khu bảo tồn thiên nhiên, ảnh hưởng tới cảnh quan và môi trường Đây là đối tượng cỏ dại môi
trường nguy hiểm khó phòng trừ Nước ta đang gặp khó khăn trong việc đối phó với loài thực
vật ngoại lai này
Những thông tin về đặc tính sinh vật học, sinh thái học của cây mai dương là cơ sở khoa học
quan trọng để xây dựng và đề xuất các giải pháp phòng chống một cách hiệu quả loài sinh
vật ngoại lai này Trong khi đó, các công trình nghiên cứu về sinh học sinh thái của cây mai
dương ở nước ta còn quá khiêm tốn
Để có được một chiến lược phòng chống một cách hiệu quả đối với sự lây lan xâm lấn của cây
mai dương rất cần phải có các thông tin về đặc điểm sinh vật học, sinh thái học, các phương
pháp phòng chống cây mai dương đã có ở trên thế giới Tài liệu này cung cấp các thông tin
như vậy về cây mai dương
Trang 412 cm, có gai mảnh khảnh, thẳng đứng Ở
gốc của các cặp lá chét đôi khi có gai mọc
lệch hoặc mọc chính giữa hai cặp lá Mỗi lá
chét có rất nhiều cặp lá chét con, hình thuôn
dài với chiều dài 3 - 8 mm, chiều rộng 0,5 -
1,25 mm, mép lá chét con có lông tơ (DEEDI,
2011; Hall và nnk, 2006; NTG, 2010a; Weed
management Guide, 2003)
Hoa cây mai dương
Hoa đơn của mai dương màu hồng hay màu hoa cà, nhỏ, mọc đều Khoảng 100 hoa đơn hợp thành một cụm hoa (hoa tự) hình cầu với đường kính 10 - 20 mm (hình 4) Mỗi nách
lá thường có 2 hoa Đài nhỏ, xẻ không đều
Thường mỗi cụm hoa như vậy sẽ có 1 - 30 quả (DEEDI, 2011; NTG, 2010a, 2010b; Weed management Guide, 2003)
Quả cây mai dương
Quả cây mai dương có chiều dài 30 - 80 mm, trên mặt quả có nhiều lông cứng Quả non có màu xanh và quả chín có màu nâu hay màu xanh ôliu (hình 5) Mỗi quả được chia thành 10
- 20 khoang, thuôn dài 4 - 6 mm và rộng 2,2
- 2,6 mm (DEEDI, 2011; NTG, 2010a, 2010b;
Weed management Guide, 2003)
Hạt cây mai dương
Mỗi khoang quả chứa một hạt Hạt dẹt, hình thuôn dài, màu nâu hay xanh ôliu rất cứng với kích thước 4 - 5 mm x 2 mm Khi quả chín, các khoang này tự tách ra khỏi quả và hạt không tách khỏi các khoang quả Các khoang
quả tự phát tán Khoang quả có lớp vỏ cứng, không thấm nước và có nhiều lông cứng nên
có thể bám dính vào cơ thể động vật, quần
áo của con người hoặc nổi trên mặt nước và trôi theo dòng nước phát tán đi rất xa Hạt cây mai dương cũng có thể phát tán theo đất, bùn bám vào bánh xe các phương tiện giao thông
Khi gặp điều kiện thuận lợi về nhiệt và ẩm độ, hạt tách ra khỏi vỏ quả và nảy mầm (DEEDI, 2011; Lonsdale và nnk, 1985; Miller và nnk, 1981; NTG, 2010a; Weed management Guide, 2003)
Ở Việt Nam, hầu như chưa có những nghiên cứu và mô tả chi tiết về đặc điểm hình thái của cây mai dương Tác giả Koo và nnk (2000)
đã mô tả chung với những đặc điểm rất khái quát để nhận dạng: Đây là một loài cây gỗ lâu năm, rất nhiều gai to nhọn Cây cao 2 - 3
m hoặc hơn, nhiều cành, màu đỏ nâu hoặc tím Lá nhạy cảm, hai lần lá kép lông chim, bốn lá chét xẻ lông chim xếp trên đỉnh của thân cứng, có 10 - 125 cặp lá chét, hình thuôn thẳng, thường gập khép lại khi bị va chạm
Hoa tự hình cầu, màu hồng nhạt, mọc từ nách thân và cành lá Quả có nhiều ngăn, mỗi ngăn chứa một hạt, khi chín hạt tách ra rơi xuống,
để lại trên cây vỏ có nhiều ngăn Những mô tả này có những chi tiết không chính xác
Tại Vườn quốc gia Tràm Chim, cây mai dương được mô tả như sau: cây mai dương có thể cao hơn 3 m, cây cao nhất tới 5,8 m nhờ mọc dựa vào cây tràm Thân, cành của nó có hai gai mọc cùng phía hoặc đối xứng ở khoảng giữa hai lá hoặc cành kế cận với đáy to, cứng, hơi cong, dài 2 mm Lá kép lông chim có 8 -
10 cặp lá chét mọc đối, cũng xếp lại khi sờ vào nhưng chậm hơn Mimosa pudica Mỗi lá chét
có trung bình 40 cặp lá chét con mọc đối Lá chét dài 3,5 - 7 cm Lá chét con thuôn dài 1
cm và rộng 1,5 - 2 mm Thân cây, sống lá có nhiều lông tơ, nhưng bề mặt lá thì không có lông Lá có hai loại gai: gai nhọn, mảnh mềm mọc thẳng đứng trên sống lá ở giữa gốc của từng cặp lá chét, dài 1 cm và 2 gai cong dài 3
mm mọc đối dọc theo sống lá ở giữa của hai
cặp lá chét kế cận Cụm hoa đầu màu hồng, dài 8 - 8,5 cm và rộng 0,9 cm, có lông dày màu vàng hoe Quả có màu xanh hơi vàng khi còn non, khi chín chuyển sang màu vàng rồi màu đen Khi đã chín đen thì rụng từng đốt, chừa hai bìa còn lại Mỗi đốt có một hạt Hạt màu nâu bóng, thuôn, dài 3 mm, rộng 1 - 1,5
mm Mỗi chùm trung bình có 4 quả (1 - 17 quả) Mỗi quả trung bình có 18 hạt (4 - 23 hạt) Chiều tối lá có hiện tượng cụp lại Mỗi nách lá thượng có 1 -3 hoa tự, nhưng thường chỉ có một hoa tự đầu tiên tạo được quả Quả dài tới
8 -8,5 cm Rễ cọc dài, nếu cây cao 1,1 m thì
rễ cọc dài 0,8 m Cây mai dương đổ ngã, lâu ngày thân mọc rễ như thân bò (Vườn quốc gia Tràm Chim, 2001)
1.2 Đặc tính sinh vật học của cây mai dương
Đặc điểm sinh vật học của cây mai dương đã được nghiên cứu nhiều ở Úc, Ma-lay-sia, Thái Lan và In-đô-nê-sia (Lonsdale, 1988, 1992; Lonsdale, Abrecht, 1989) Trong các đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của cây mai dương, đáng lưu ý là các đặc điểm sau:
* Sau khi mọc từ hạt, cây mai dương sinh trưởng rất nhanh, phân thành nhiều nhánh Sau 1 năm, đường kính thân cây có thể đạt tới 2,5 cm và sau hai năm đường kính thân cây đạt 7 cm Trong điều kiện thuận lợi, cây mai dương có khả năng tăng trưởng nhanh với tốc độ 1cm/ngày Tại Sri Lanka, trong vòng 8 - 12 tuần đầu mỗi ngày chiều cao cây tăng 2,4 - 2,6 cm (DEEDI, 2011; Lonsdale,
1988, 1993; Marambe và nnk, 2001, 2004; Wanichanantakul, Chinawong, 1979)
* Cây mai dương sinh trưởng và thành thục nhanh, có thể ra hoa đậu quả ngay trong năm thứ nhất: sau 4 - 12 tháng kể từ khi mọc từ hạt có thể ra hoa đậu quả Nghiên cứu ở Thái Lan cho thấy một cây mai dương ra hoa 12 lần/năm, cho 95.000 hạt/năm (Wanichanantakul, Chinawong, 1979)
Hình 3 Lá cây mai dương (Nguồn: Northern Territory Government, 2010a) (Nguồn: Northern Territory Government, 2010)Hình 5 Chùm quả đã chín của cây mai dương
Hình 4 Cụm hoa (hoa tự) cây mai dương (Nguồn: Northern Territory Government, 2010a)
Trang 5Theo Hall và nnk, (2006), cây mai dương ở
vùng nhiệt đới ra hoa quanh năm và một
cây trưởng thành có thể sản sinh được
42.000 hạt/năm Nhưng theo Lonsdale
(1992), một bụi cây mai dương điển hình có
sức sinh sản cao nhất trong một năm thể
sinh ra được trung bình khoảng 220.000
hạt Lượng hạt cây mai dương có trong đất
ở Sri Lanka khá cao: ở dưới tán thảm cây
mai dương có khoảng 2.336 - 46.410 hạt/
m2 (Marambe và nnk, 2004) Hạt cây mai
dương có sức sống rất cao Tỷ lệ hạt nảy
mầm đạt 98,0 - 100% đối với cả hạt tươi từ
trên cây và hạt qua ngủ nghỉ ở trong đất
Sau 4 năm bảo quản ở nhiệt độ 8oC hạt
vẫn nảy mầm với tỷ lệ là 99% (Marambe và
nnk, 2004; Vitelli và nnk, 2006)
* Cây mai dương có thể sinh sản bằng hạt
và có thể mọc tái sinh từ các gốc sau khi
bị chặt
Hạt cây mai dương có thể nảy mầm ngay khi
rụng từ quả hoặc có thể nảy mầm sau 1 - 2
năm, hoặc nếu hạt bị nằm sâu trong đất có
thể rơi vào tình trạng ngủ nghỉ Nhờ khoang
hạt có lớp vỏ cứng, không thấm nước mà quá
trình ngủ nghỉ của hạt ở bên trong có thể kéo
rất dài Thời gian ngủ nghỉ của hạt ở trong đất
phụ thuộc rất nhiều vào độ sâu trong đất, loại
đất và có thể kéo dài tới 20 - 23 năm nếu
ở trong đất pha cát (DEEDI, 2011; Walden
và nnk, 2004) Hạt ngủ nghỉ dài là do vỏ hạt
cứng (Miller và nnk, 1981; Wanichanantakul,
Chinawong, 1979) Những hạt không nảy
mầm sẽ bổ sung thêm cho ngân hàng hạt ở
trong đất Mật độ hạt cây mai dương trong
đất rất cao, tới mức nếu trừ được cây này
xong vẫn phải mất vài năm sau để tiếp tục trừ
cây con mọc từ hạt (Lonsdale, 1988)
Cây mai dương sau khi bị chặt có thể nhanh
chóng mọc tái sinh từ phần gốc sát mặt đất
(Wanichannatakul, Chinawong, 1979) Khi bị
đốt, toàn bộ lá có thể bị chết hay rụng nhưng
có tới 90% số cây trưởng thành và 50% số
cây non có thể tiếp tục mọc tái sinh lại Cây
mai dương có khả năng tái sinh rất cao: cây tái sinh mọc từ gốc sau chặt 12 tháng có thể cao 2,6 m với diện tích tán lá đạt 8 m2, trong khi đó, cây mọc từ hạt chỉ cao 2,5 m với tán lá đạt 6,3 m2 (DEEDI, 2011)
Với những đặc điểm nêu trên cây mai dương phát triển và lây lan nhanh, tốc độ xâm nhiễm cao, diện tích bị xâm nhiễm có thể gấp đôi cứ sau khoảng thời gian 1 - 1,5 năm (Lonsdale, 1993; Weed management Guide, 2003)
1.3 Đặc tính sinh thái học của cây mai dương
Khu vực phân bố
Cây mai dương có nguồn gốc ở Trung Mỹ
và Nam Mỹ Khu phân bố tự nhiên trải dài từ vùng nhiệt đới Mexico qua Trung Mỹ Antilles, Columbia, Peru và Brazil kéo tới vùng nhiệt đới của Nam Mỹ là phía bắc của Achentina (DEEDI, 2011; Miller và nnk, 1981; NTG, 2010a, 2010b;
Weed management Guide, 2003)
Cây trinh nữ lần đầu tiên được du nhập vào các khu vực khác như một dạng cây cảnh hay cây che phủ đất, dần dần chúng đã phát tán theo dòng nước, xâm nhập vào hều hết các nước trên thế giới và trở thành đối tượng
cỏ dại nguy hiểm ở các nước nhiệt đới Châu Phi, Hoa Kỳ, Ấn Độ, Sri Lanka, Châu Úc, các đảo Thái Bình Dương, Papua New Guinea và khu vực Đông Nam Á như Cam-pu-chia, Thái Lan, Phil-lip-pin, Ma-lay-sia, In-đô-nê-sia và Việt Nam (Hall và nnk, 2006; NTG, 2010b;
Pramual và nnk, 2011; Weed management Guide, 2003)
Ở nước ta, cây mai dương đã xâm nhập từ lâu nhưng chỉ mới thực sự bắt đầu phát tán vào thập niên 1980 Hiện nay, cây mai dương đã
có mặt ở hầu khắp các vùng trong cả nước
Những vùng bị xâm lấn nặng gồm các Vườn quốc gia Tràm Chim, Cát Tiên, các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long như vùng Đồng Tháp Mười (thuộc địa phận các tỉnh Long
An, Tiền Giang, Đồng Tháp), Vĩnh Long, Hậu
Giang, An Giang hay Kiên Giang, Vườn quốc gia U Minh Thượng), lưu vực sông La Ngà, vùng lòng hồ Trị An, lòng hồ Thác Bà, lòng hồ Hoà Bình, hồ Đồng Mô, ven các sông Cầu, sông Đuống, sông Hồng, dọc các đường rải rác khắp miền Trung,v.v (Phạm Văn Lầm và nnk, 2003a, 2003b; Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007; Vườn quốc gia Cát Tiên, 2003;
Vườn quốc gia Tràm Chim, 2003a)
Hệ sinh thái và sinh cảnh ưa thích của cây mai dương
Theo kết quả nghiên cứu ở nước ngoài, cây mai dương có nơi ở rất đa dạng, thích nghi với nhiều điều kiện môi trường Cây mai dương thường xâm lấn các vùng đất thấp, đầm lầy ngập nước theo mùa, quanh lòng hồ chứa nước, bãi bồi cửa sông, đất ven sông, ven kênh rạch nhân tạo, các luồng nước chảy, khu vực đất ẩm, vùng đất hoang hoá, các dòng sông bị khô cạn, đất nông nghiệp, ven đường,
cả nơi đất cao, các thung lũng ở khu rừng nhiệt đới hay các khu Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên Vùng Nhiệt đới ẩm và bán
ẩm là nơi nơi ở lý tưởng của cây mai dương, đặc biệt thuận lợi là nơi có khí hậu mùa khô
và mùa mưa rõ rệt, với lượng mưa cao trên
750 mm/năm và nhiệt độ cao (DEEDI, 2011;
Pramual và nnk, 2011; Weed management Guide, 2003)
Cây mai dương có thể chịu đựng được môi trường yếm khí như những vùng đất thường xuyên ngập nước, chịu đựng thời gian dài ngập lụt Loài này khi bị ngập lụt có thể lấy ôxy trong nước bằng cách mọc thêm rễ phụ
ở phần sát với mặt nước (Miller và nnk, 1981;
NTG, 2010b)
Cây mai dương có nhu cầu dinh dưỡng thấp,
do đó nó có thể sinh trưởng phát triển ở trên nhiều loại đất, từ đất cát nghèo dinh dưỡng đến đất phù sa đỏ và đất vàng, đất phù sa nhiều mùn, đất đen nặng, đôi khi có thể xâm lấn vùng đất cao (Miller, 1983; NTG, 2010b;
Walden và nnk, 2004)
Trong điều kiện nhiệt độ ổn định, phần lớn hạt cây mai dương có thể nảy mầm trong điều kiện ẩm ướt, nhưng đôi khi chúng cũng có thể nảy mầm trong nước Tuy nhiên, việc duy trì ngập nước lâu dài sẽ làm cho hạt mai dương
bị phân huỷ dần, làm giảm sức sống của và mất khả năng nảy mầm của chúng
Các vùng đất công, đất hoang hoá, các dải đất hoang thuộc hành lang đường quốc lộ, dọc theo ven đường sắt là khu vực đáng báo động, rất dễ bị cây mai dương xâm nhiễm Do tại các sinh cảnh này có đủ điều kiện thuận lợi để cho cây tích luỹ nguồn hạt lại không có
sự quản lý và kiểm soát của con người, mức
độ xâm nhiễm ngày càng nặng (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
1.4 Tác hại của cây mai dương
Tác động về mặt sinh thái
Cây mai dương xâm lấn các khu bảo tồn thiên nhiên sẽ làm nghèo khu hệ động thực vật bản địa, biến thảm thực vật với sự đa dạng sinh học về loài bản xứ thành thảm thực vật đơn loài (mono-species stand) Khu hệ chim, bò sát và
sự phong phú của thảm thực vật bị ảnh hưởng rất lớn do sự xâm lấn của cây mai dương Hơn
450 km2 đất ngập nước ở vùng lãnh thổ Bắc
Úc với khu hệ động thực vật phong phú đã bị biến thành một thảm trinh nữ dày đặc không thể len chân vào được Ở những bờ đất gần nước (ven sông, ven hồ, đầm,…) không có cây mai dương, phong phú những thực vật bản địa mọc gần nước là nơi ở lý tưởng cho nhiều loài chim nước Với sự xâm lấn của cây mai dương làm mất những nơi ở như vậy Do
đó, sự đa dạng sinh học ở cấp độ loài cũng như mức độ phong phú của từng loài chim nước tỷ lệ nghịch với mức độ xâm lấn của cây mai dương ở các vùng lòng hồ, bán ngập ven
hồ Nghiên cứu ở Úc cho thấy các loài động vật như chuột hình như thích hợp với nơi ở
bị cây mai dương xâm lấn, đặc biệt sự xâm lấn này mang tính gia báo là điều kiện thuận
Trang 6lợi cho chúng sinh sống Ngược lại, sự xâm
lấn của cây mai dương đã làm nơi ở trở nên
không thích hợp với các loài thằn lằn Cây mai
dương xâm lấn ở vùng lãnh thổ phía Bắc Úc
đã là mối đe dọa đối với một số loài động vật
như Xeromys myoides, Lonchura flaviprymna,
Tyto capensis, Erythrotriorchis radiatus và một
số loài thực vật như Aldrovanda vesiculosa,
Lemna tenera, Monochoria hastata, Goodenia
quadrifida (Forno và nnk, 1990; Samouth,
2004; Walden và nnk, 2004)
Ở Vườn quốc gia Tràm Chim, ngoài diện tích
tràm ngập nước, khoảng trống còn lại là các
quần xã thực vật và cỏ dại khác mà chủ yếu
các loài thuộc họ Poaceae, Cyperaceae như
sậy, cỏ lông, cỏ lác, u du và một số cỏ lá
rộng như bèo cái, bèo tây, dừa nước,v.v Khi
những nơi này bị cây mai dương xâm lấn hoàn
toàn thì hệ thực vật bản địa ở dưới tán cây mai
dương biến mất (trừ cây hắc sửu Merremia
hederacea và rau kìm Aniseia martinicensis)
Bãi cỏ năn là nơi ăn nghỉ của sếu đầu đỏ
Grus antigone sharpii bị thu hẹp do cây mai
dương xâm lấn Đây là nguyên nhân làm
cho số lượng sếu đầu đỏ về Vườn quốc gia
Tràm Chim giảm hẳn trong các năm đầu thế
kỷ XXI (Vườn quốc gia Tràm Chim, 2003b)
Năm 1999, khi cây mai dương xâm lấn hầu
như toàn bộ Bầu Chim (thuộc Vườn quốc gia
Cát Tiên), chỉ quan sát thấy khoảng 74 cá thể
của 5 loài chim nước về kiếm ăn tại đây Trong
các năm 2000 – 2002, tại đây tiến hành chặt
bỏ cây mai dương, số lượng chim nước trở về
Bầu Chim kiếm ăn và cư trú gia tăng lên một
cách đáng kể cả về số loài (25 - 29 loài) và
số cá thể (539 - 655 con) (Vườn quốc gia Cát
Tiên, 2003) Trong cùng một khu vực, nhưng
đất thu từ vị trí bị cây mai dương xâm lấn có
số lượng vi sinh vật tổng số là 1,04 x 106, nấm
men là 1,6 x 103, nấm mốc là 1,03 x 105 và
xạ khuẩn là 4,6 x 104 Tất các các giá trị này
đều thấp hơn những giá trị tương ứng ở trong
đất thu từ nơi không bị cây mai dương xâm
nhiễm (các giá trị tương ứng là 8,8 x 106; 6,5
x 103; 6,0 x 104; 3,8 x 106) (Nguyễn Hồng Sơn
và nnk, 2007)
Tác động về mặt kinh tế-xã hội
* Cản trở giao thông đường thủy sản, nuôi trồng và khai thác thủy sản
Ngoài ảnh hưởng tới khu hệ động thực vật, sự xâm lấn của cây mai dương còn ảnh hưởng đến các hoạt động kinh tế của con người Khi xâm lấn kênh mương, cây mai dương ngăn cản sức chảy của dòng nước, phá hủy các công trình tưới tiêu, làm chết dần các đồng
cỏ (Napompeth, 1983; Walden và nnk, 2004)
Tại Cam-pu-chia, sự xâm lấn của cây mai dương ở vùng bán ngập, lòng hồ đã làm cho một số loài cá biến mất khỏi hồ Boeung Thom, khó đánh bắt cá (Samouth, 2004) Giao thông đường thuỷ đóng một vai trò quan trọng đối với người dân sinh sống dọc ven sông Sự xâm lấn của cây mai dương với mật độ dày đặc đã gây khó khăn cho quá trình đi lại của người dân, cản trở tàu thuyền đi lại và neo đậu, gây khó khăn cho các hoạt động tại các bến bãi Một diện tích đáng kể mặt nước ở các lưu vực sông hồ được sử dụng vào việc nuôi cá bè Sự xâm lấn của cây mai dương đã gây khó khăn cho hoạt động này cũng như làm giảm nghiêm trọng đến sinh trưởng của
cá Theo quan sát của nông dân thì cây mai dương có thể sinh ra độc tố làm ảnh hưởng đến sinh trưởng của cá Đặc biệt trong mùa nước cạn, cây có thể làm nhiễm bẩn nguồn nước và gây chết cá (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
* Lấn chiếm đất canh tác, cản trở sản xuất nông nghiệp
Không chỉ xâm lấn các vùng đất hoang hoá, cây mai dương cũng xâm lấn và gây hại nghiêm trọng vùng đất nông nghiệp Tại Ma-lay-sia, cây mai dương đã xâm lấn vườn cọ dầu, vùng đất nông nghiệp như đất trồng lúa ở
Perlis và Kedah với diện tích khoảng 360.000
ha Ở In-đô-nê-sia, tối thiểu có 3.000 ha đất trồng lúa ở Sumatra, Kalimantan bị nhiễm cây mai dương và là mối đe doạ cho vùng bờ Nam
& bờ Tây vùng hồ Rawa Pening (Phạm Văn Lầm, 2010)
Nguy cơ lấn chiếm đất nông nghiệp ở Việt Nam đang có xu hướng gia tăng tại các vùng đệm, lưu vực sông, các vùng bán ngập nằm trong vùng chứa nước của các hồ thuỷ điện và các vùng bán ngập có điều kiện canh tác khó khăn Tại vùng đệm của Vườn quốc gia Cát Tiên, cây mai dương xâm nhiễm ở nhiều vùng đất nông nghiệp, khu vực tập trung nhiều nhất hiện nay là các cánh đồng lúa từ trung tâm huyện Cát Tiên đến các xã Gia Viễn, Phước Cát 1, Phước Cát 2 (tỉnh Lâm Đồng) và xã Đắc Lua (Tân Phú, Đồng Nai) Diện tích bị nhiễm cây mai dương ở vùng đệm khoảng 100 - 120
ha Ngoài ra, cây mai dương cũng xâm nhiễm rải rác trên diện tích tới hàng nghìn ha ở vùng đệm là đất canh tác thuộc huyện Cát Lộc Tại vùng hạ lưu thuộc lưu vực sông La Ngà, diện tích đất canh tác bị cây mai dương xâm nhiễm vào khoảng 1000 ha, trong đó có khoảng 200
ha đất gò đồi cao trước đây được trồng ngô, đậu và rau, nhưng do bị cây mai dương xâm nhiễm thường xuyên ở mức độ nặng nên nông dân không thể tiếp tục sử dụng Tại khu vực lòng hồ Thác Bà, có trên 200 ha đất canh tác trong tổng số 1039 ha bị cây mai dương xâm nhiễm cũng và không có khả năng canh tác tiếp tục Tại vùng lòng hồ Hoà Bình có xấp
xỉ 200 ha đất canh tác của các huyện Cao Phong, Đà Bắc đã bị cây mai dương xâm lấn hoàn toàn Có những xã có tỷ lệ đất canh tác
bị cây mai dương xâm lấn khá cao: ở bản Mu thuộc xã Thung Nai (huyện Cao Phong) có
80 ha đất canh tác thì tất cả đều bị cây cây mai dương xâm nhiễm, trong đó có 18 ha bị xâm lấn hoàn toàn nông dân không thể canh tác tiếp tục được Tại Quảng Trị có tới 150 ha
trong số 1000 ha bị nhiễm cây mai dương và trở thành đất hoang hoá (Nguyễn Hồng Sơn
và nnk, 2007)
* Làm tăng chi phí sản xuất
Sự xâm lấn của cây mai dương đối với đất nông nghiệp không chỉ làm mất dần đất nông nghiệp mà còn làm tăng chi phí sản xuất Nông dân phải bỏ thêm chi phí khi làm đất trước khi gieo trồng cây nông nghiệp (Samouth, 2004; Walden và nnk, 2004) Tại khu vực sông La Ngà, nông dân phải bỏ xấp xỉ 1.800.000 đ/ha cho chi phí bổ sung để chặt cây mai dương trong mỗi vụ gieo trồng (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Đa số các công trình xây dựng đều sử dụng cát để san lấp nền và mặt bằng, ngay sau khi san lấp cây mai dương đã mọc kín toàn bộ mặt bằng, gây khó khăn cho việc thi công hoặc tăng chi phí phòng trừ trước khi tiến hành xây dựng Hiện tượng này xảy ra khá phổ biến ở các khu công nghiệp và khu đô thị mới ở các tỉnh phía Nam như khu công nghiệp Lê Minh Xuân, khu CN Bonchen (Tp Hồ Chí Minh), khu đô thị mới Mỹ Thọ (Đồng Tháp), khu CN Trà Nóc (Cần Thơ),v.v (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Trang 7Cho đến nay, trên thế giới đã có rất nhiều
công trình nghiên cứu về các biện pháp
phòng trừ cây mai dương Chỉ trong vòng
từ năm 1992 đến năm 2002 đã có 3 cuộc
hội thảo quốc tế chuyên bàn về vấn đề cây
mai dương và các biện pháp phòng trừ loài
cỏ dại môi trường này Nhiều biện pháp
khác nhau đã được khuyến cáo ứng dụng
như biện pháp thủ công, vật lý cơ giới (nhổ,
chặt gốc, đốt,…) hay sử dụng thuốc hóa
có hiệu quả cao, nhưng không triệt để vì sau
đó một thời gian ngắn cây mai dương đã bị chặt gốc có thể mọc mầm tái sinh Thậm chí, sau khi chặt gốc, khả năng sinh trưởng và phát triển của cây mai dương còn tốt hơn cả khi mọc từ hạt ở trong đất (Hall, 2006) Biện pháp chặt gốc tại Chiang Mai (Thái Lan) chỉ cho hiệu quả làm giảm nhẹ tạm thời sự sinh trưởng của cây mai dương vì sau đó từ các gốc đã bị chặt lại nhanh chóng mọc mầm tái sinh (Thamasara, 1983)
Khi bị chặt gốc ở các độ cao khác nhau cây mai dương có những phản ứng không giống nhau Năm 1997, tại Úc đã thí nghiệm về hiệu quả của biện pháp chặt gốc Kết quả chỉ ra rằng nếu chặt gốc ở độ sâu khoảng 10 cm
tính từ cách mặt đất thì hiệu quả diệt cây mai dương đạt 100%; khi chặt gốc ở sát mặt đất hay ở độ cao cách mặt đất không quá 15 cm thì hầu hết cây mai dương bị chặt gốc đều mọc mầm tái sinh Điều này cho thấy các biện pháp vật lý thủ công trừ cây mai dương như chặt gốc ở sát mặt đất hay ở trên mặt đất sẽ không diệt trừ cây mai dương với tỷ lệ cao
Cày lớp đất mặt là một biện pháp vật lý cơ giới để chặt gốc cây mai dương ở độ sâu dưới mặt đất Đây là biện pháp rất hiệu quả để diệt trừ cây mai dương Nhưng phải có một số cải tiến máy cày thì mới cho hiệu quả trừ cây mai dương Đây có thể là một trong các giải pháp của hệ thống biện pháp phòng chống cây mai dương theo hướng tổng hợp (Schatz, 2001)
Biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ
Biện pháp chặt gốc trước ngập lũ có thể là biện pháp tốt để trừ cây mai dương ở các lòng hồ, đầm chứa nước tại Thái Lan (Thamasara 1983)
Cả hai biện pháp chặt gốc và chặt gốc ngâm ngập lũ đều rất tốn kém vì cần nhiều nhân công lao động Do đó, tính khả thi của 2 biện pháp này là rất thấp nhất là khi cây mai dương xâm lấn tràn lan trên một diện tích rộng lớn
Biện pháp đốt
Biện pháp đốt là sử dụng lửa đốt tưới (hình 2)
Cây tươi khó cháy và không thể cháy xuyên được nơi cây mai dương có mật độ dày đặc, trừ khi cung cấp thêm gió mạnh Biện pháp đốt thường chỉ cho hiệu quả cao với các cây mai dương còn nhỏ Biện pháp đốt không ảnh hưởng lớn tới cây trưởng thành, thường chỉ có tác dụng làm rụng bộ lá hay làm chết từng phần cành non Sau đốt, cây mai dương trưởng thành có tỷ lệ sống sót đến 90% và cây con có tỷ lệ sống sót đến 50% Khi áp dụng biện pháp đốt thường phá vỡ đặc tính ngủ nghỉ của hạt mai dương ở trong đất: lửa kích thích và làm tăng sự nảy mầm nhiều hơn của hạt mai dương, nhất là những hạt ở trong đất với độ sâu không quá 5 cm Điều này dẫn đến mức độ xâm nhiễm của cây mai dương
trở nên nghiêm trọng hơn trước khi đốt Sau đốt cần có biện pháp diệt trừ để ngăn cản sự mọc mầm tái sinh nhanh và sự nảy mầm mọc cây con từ hạt (Hall, 2006; Marambe và nnk, 2004; Marko, 1999; Miller, Lonsdale, 1992; NTG, 2010b)
Biện pháp đốt thường chỉ áp dụng sau khi đã
sử dụng thuốc trừ cỏ nhằm làm tăng tỷ lệ chết của cây mai dương Biện pháp đốt có thể có lợi trong việc trừ diệt cây con, vì lửa đốt kích thích hạt cây mai dương ở trong đất nảy mầm mọc cây con nhiều hơn và sau đó tiến hành nhổ bỏ cây con Do đó, biện pháp đốt như
là một giải pháp trong hệ thống biện pháp phòng trừ tổng hợp đối với cây mai dương (Miller, 2004; NTG, 2010b)
Biện pháp nhổ thủ công
Những cây mai dương còn nhỏ hay cây mai dương mọc rải rác, đơn lẻ hoặc trên diện tích xâm nhiễm nhỏ có thể dùng biện pháp nhổ bằng tay Biện pháp này rất hiệu quả Khi nhổ phải bảo đảm cả rễ và cây con đã bị nhổ khỏi đất và phá hủy hoàn toàn Biện pháp nhổ bằng tay chỉ áp dụng được khi cây mai dương còn nhỏ, mật độ chưa cao Ở Thái Lan đã
áp dụng thành công biện pháp này để ngăn chặn sự xâm lấn của cây mai dương khi chúng
Hình 1 Biện pháp chặt cây mai dương (Nguồn: Weed management Guide, 2003)
Chương II
CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ CÂY
MAI DƯƠNG Ở TRÊN THẾ GIỚI
Hình 2 Biện pháp đốt cây mai dương (Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Trang 8còn mọc rải rác tại Vườn quốc gia Kakadu và
trên nhiều loại cây trồng (Miller, 2004; NTG,
2010b; Siriworakul, Schultz, 1992; Weed
management Guide, 2003) Biện pháp nhổ
bằng tay không thể áp dụng ở nơi đã bị cây
mai dương xâm nhiễm với diện tích rộng lớn,
mật độ cao và cây đã cao lớn
Biện pháp cơ giới
Ở một số nước như Úc đã sử dụng các loại
máy phay, máy chặt cây bụi, máy ủi, máy
kéo để đào, ủi, lôi toàn bộ gốc và rễ cây mai
dương (hình 3) Đối với những nơi có cây mai
dương mọc thành thảm dày và trên diện tích
rộng lớn và nhất là sau khi đã phun thuốc hóa
học trừ cỏ thì cần phải sử dụng máy ủi bánh
xích để ủi và nhổ cây lên khỏi đất Cây mai
dương chịu lửa, do đó sau đốt cần phải áp
dụng biện pháp bổ sung như dùng máy ủi để
chà lên thảm cây mai dương (Marko, 1999;
NTG, 2010b)
Có thể dùng các dụng cụ đơn giản để cuốc xới sao cho bật tung hết gốc rễ sẽ rất hiệu quả trừ diệt cây mai dương mọc rải rác, đơn
lẻ hoặc trên diện tích xâm nhiễm nhỏ (NTG, 2012a; Weed management Guide, 2003)
Biện pháp này thường rất tốn kém mà cũng không mang lại hiệu quả diệt trừ lâu dài đối với cây mai dương
Biện pháp thủ công cơ giới có chi phí cao hơn biện pháp hoá học khoảng 20% và không
áp dụng được ở vùng bị cây mai dương xâm nhiễm nặng (Robert, 1982)
2.2 Biện pháp trồng cây che phủ đất
Mọc mầm tái sinh và cây con mọc từ hạt có trong đất luôn là vấn đề theo sau các biện pháp thủ công, vật lý cơ giới Do đó, tiếp theo sau phải sử dụng thuốc trừ cỏ hoặc trồng các loài cỏ dại bản xứ để phủ đất nhằm cạnh tranh với sự mọc cây mai dương con từ hạt ở trong đất (NTG, 2012a, 2010b; Siriworakul &
Schultz, 1992)
Trồng lại cây che phủ đất là giải pháp sau cùng của hệ thống biện pháp phòng chống cây mai dương theo hướng tổng hợp Sau khi áp dụng nhiều biện pháp khác nhau để trừ diệt cây mai dương (chặt gốc, đốt, dùng thuốc trừ cỏ,…), cây mai dương đã bị diệt, nếu để đất trống thì hoặc là từ gốc cũ của cây mai dương sẽ mọc mầm tái sinh hoặc cây mai dương con nhanh chóng mọc từ hạt ở trong đất và phủ kín mặt đất ngay sau đó Do đó, nhất thiết phải trồng lại cây che phủ đất, không được
để đất trống Việc trồng lại cây che phủ đất sẽ giúp làm giảm sự mọc lại của cây mai dương,
có thể coi là biện pháp phòng ngừa sự xâm lấn của cây mai dương Tại nơi có trồng cây che phủ đất thì các loài cỏ dại bản xứ có tính
đa dạng sinh học cao hơn so với nơi không trồng cây che phủ đất (Marko, 1999; Miller, 2004) Thường sử dụng các loài cỏ dại bản xứ
để trồng lại che phủ đất, bởi vì các loài cỏ dại bản xứ dễ cạnh tranh với cây mai dương hơn
các loài thực vật thân gỗ bản xứ Tại vùng lãnh thổ phía Bắc Úc thường khuyến cáo trồng loài
cỏ Hymenachne acutigluma, nhưng không được trồng loài cỏ Hymenachne amplexicaulis (Weed management Guide, 2003)
Tại Sri Lanka đã thí nghiệm thành công trên ô nhỏ việc sử dụng loài cỏ Panicum maximum
để trừ cây mai dương ở giai đoạn cây nhỏ
Loài cỏ Panicum maximum ở giai đoạn 1 tháng tuổi với mật độ 16 cây/m2 đã khống chế không cho hạt cây mai dương mọc mầm
Tuy nhiên, cỏ Panicum maximum là một loài ngoại lai xâm lấn nhiều hệ sinh thái khác nhau
ở Sri Lanka (Marambe và nnk, 2004) Vì vậy, phải thận trọng trong việc sử dụng loài cỏ dại
để trồng lại cây che phủ đất nhằm cạnh tranh với cây mai dương Không sử dụng loài cỏ dại ngoại lai cho mục đích này
Việc trồng lại cây che phủ đất có những khó khăn nhất định như việc thu dọn tàn dư cây mai dương với chi phí lớn Mặt khác, biện pháp này chỉ có hiệu quả khi trồng sớm ngay sau khi đã áp dụng các biện pháp trừ diệt cây mai dương, trong khi đó thực tế rất khó trồng lại cây che phủ đất kịp thời vào giai đoạn đầu ngay sau khi áp dụng xong các biện pháp trừ diệt cây mai dương (Marko, 1999)
2.3 Biện pháp hóa học
Biện pháp hóa học đã được sử dụng trừ cây mai dương ở Mê-xi-cô, Costa-Rica, Úc và Thái Lan vào những năm 1970 - 1980 Đến nay biện pháp hoá học vẫn đang được coi là biện pháp phòng trừ chủ yếu có hiệu quả cao, triệt để, kinh tế nhất và được sử dụng rộng rãi để phòng trừ cây mai dương ở nhiều nước như Úc, Pakistan, Lào, Cam-pu-chia, In-đô-nê-sia,v.v (Marko, 1999)
Tại Florida (Hoa Kỳ) đã thử nghiệm hiệu quả của 16 loại thuốc hóa học trừ cỏ ở trong điều kiện nhà kính đối với cây mai dương có
6 - 8 tuần tuổi Kết quả cho thấy các thuốc hóa học trừ cỏ như Picloram (0,4 kg/ha),
Tebuthiuron (0,07 kg/ha), Hexazinone (0,14 kg/ha) và Sulfometuron (0,56 kg/ha) đều có thể diệt được cây mai dương Các thuốc Dicamba (1,12 kg/ha), Triclopyr (1,12 kg/ha), Linuron (4,48 kg/ha) và Glyphosate (8,96 kg/ha) cũng cho hiệu quả trừ cây mai dương Thuốc Chlorsulfuron và Metsulfuron cho hiệu quả trừ cây mai dương tới 90% ở liều lượng khảo nghiệm cao nhất Các thuốc trừ cỏ như Imazapyr, thifensulfuron, DPX-L5300 và Atrazine ở liều lượng khảo nghiệm cao nhất cũng chỉ cho hiệu lực trừ cây mai dương đạt 50% hoặc thấp hơn Loại thuốc trừ cỏ Fosamine không có khả năng trừ cây mai dương (Creager, 1992)
Năm 1978 - 1984 tại Chiang Mai (Thái Lan)
đã nghiên cứu hiệu lực của nhiều loại thuốc hóa học trừ cỏ đối với cây mai dương Các thuốc hóa học trừ cỏ được sử dụng trong thời gian này là 2,4-D; 2,4,5-TP; 2,4-D hỗn hợp với 2,4,5-TP; Glyphosate và Paraquat Kết quả cho thấy với phương pháp bón vào đất bằng thuốc Glyphosate (3,0 và 6,0 kg a.i/ha) và hỗn hợp của 2,4-D (2,25 kg a.i/ha) với 2,4,5-TP (2,25 kg a.i/ha) cho hiệu quả tốt nhất Vào các năm 1985 - 1987 cũng tại Chiang Mai đã tiến hành đánh giá hiệu quả sử dụng 8 loại thuốc hóa học trừ cỏ để diệt trừ cây mai dương ở giai đoạn có thân cao 1,5 - 3,0 m Các thuốc trừ
cỏ đã thí nghiệm gồm Dicamba, Glyphosate, Hexazinone, Metsulfuron-methyl, Picloram, 2,4-D, Triclopyr và Tebuthiuron Thuốc trừ cỏ được dùng ở nhiều nồng độ bằng 6 phương pháp sử dụng: phun bằng máy bay, phun thuốc lên tán lá, phun thuốc vào gốc cây đã
bị chặt, phun thuốc vào phần gốc cây mai dương trưởng thành, tiêm thuốc vào thân cây mai dương, bón thuốc vào đất Đồng thời thử nghiệm đánh giá hiệu quả biện pháp phun thuốc trừ cỏ hóa học bằng máy bay với thuốc Glyphosate và Fosemine Thuốc Glyphosate với liều lượng 6,0 và 12,0 kg a.i/ha được pha trong 125 - 375 lít nước và phun trên 1 ha cho hiệu quả tốt nhất (Kittipong, 1983; Thamasara
và nnk, 1991) Theo Thamasara (1983), nhiều
Hình 3 Biện pháp cơ giới trừ cây mai dương
(Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Trang 9thuốc hóa học trừ cỏ có thể trừ được cây mai
dương, nhưng việc sử dụng thuốc hóa học trừ
cỏ có chi phí cao Vì vậy, cần phải kết hợp
các biện pháp thủ công cơ giới (chặt gốc,
đốt, ) với biện pháp dùng thuốc hóa học trừ
cỏ Sự kết hợp này cho hiệu quả phòng trừ
cây mai dương ở Thái Lan đạt tới 85 - 90%
(Thamasara, 1983)
Tại Sri Lanka đã tiến hành thí nghiệm ô nhỏ
về hiệu quả của thuốc hóa học trừ cỏ đối với
cây mai dương ở các tuổi khác nhau Thuốc
Glyphosate dùng ở liều lượng 1,44 kg a.i./ha,
phun 3 lần, các lần cách nhau 4 tháng có thể
thành công trừ được cây mai dương không
quá 6 tháng tuổi Tuy nhiên, những thí nghiệm
đồng ruộng đối với thảm cây mai dương thì
còn chưa được tiến hành do sợ ảnh hưởng
của thuốc hóa học trừ cỏ đến hệ sinh thái
nước nơi mà cây mai dương xâm lấn chủ yếu
ở nước này (Marambe và nnk, 2004)
Tại Úc từ năm 1965 đã bắt đầu tử nghiệm
thuốc trừ cỏ đối với cây mai dương và từ
năm 1984 đã hợp tác với Thái Lan để nghiên
cứu biện pháp hoá học trừ cây mai dương
(Forno và nnk, 1990) Ở vùng lãnh thổ phía
Bắc Úc đã dùng thuốc 2,4-5T hoặc thuốc
2,4-5T hỗn hợp với thuốc Picloram hay thuốc
Triclopyr để trừ cây mai dương Đã dùng các
thuốc tiếp xúc như thuốc Atrazin hỗn hợp với
thuốc 2,4D, thuốc Tebuthiuron để trừ cây mai
dương ở giai đoạn cây con Các loại thuốc nội
hấp như Dicamba, Fluroxypyr, Gryphosate,
Picloram hỗn hợp với thuốc 2,4D và thuốc
Metsulfuron methyl có thể cho hiệu quả cao,
triệt để hơn Dùng các loại thuốc Dicamba,
Glyphosate, Imazapyr để phun vào các gốc
cây sau khi chặt đốn hay dùng các thuốc
Dicamba, Hexazinone để tiêm vào cây Dùng
thuốc Ethidimuron rải hoặc phun vào đất
Nhìn chung trong những trường hợp như vậy
hiệu quả thường thấp và không triệt để (Miller
và nnk, 1981, 1992)
Đã có hơn 21 loại thuốc hóa học trừ cỏ được
khảo nghiệm hiệu lực đối với cây mai dương
ở Úc (Lonsdale và nnk, 1995) Đến năm
1999, các thuốc 2,4,5-T, Tebuthiuron (Graslan 20P), fluroxypyr (Starane), Metsulfuron methyl (Brush-Off), Dicamba (Banvel 200), Hexazinone (Velpar) là những thuốc hóa học trừ cỏ chủ yếu được sử dụng trừ cây mai dương tại Úc (Marko, 1999; Miller, Siriworakul, 1992)
Phương pháp sử dụng thuốc hóa học để trừ cây mai dương
Đến nay người ta đã tìm ra nhiều hình thức khác nhau để sử dụng thuốc hóa học trừ cỏ cho hiệu quả cao và giảm thiểu ảnh hưởng xấu tới môi trường Tuỳ thuộc vào diện tích cần xử
lý, tuổi cây mai dương hay vị trí khu vực cần xử
lý, mức độ bị xâm nhiễm có thể áp dụng các phương pháp xử dụng thuốc phù hợp Các phương pháp sử dụng thuốc hóa học trừ cỏ
để trừ cây mai dương đã được khuyến cáo ở nhiều nước bao gồm:
* Biện pháp đưa thuốc vào đấtBiện pháp đưa thuốc vào đất được tiến hành bằng việc bón thuốc hạt trực tiếp vào đất hay phun thuốc lên bề mặt đất phụ thuộc vào diện tích yêu cầu xử lý, tuổi cây mai dương, nơi bị xâm nhiễm Hiệu quả của biện pháp này phụ thuộc rất nhiều vào loại đất, độ ẩm đất và lượng chất mùn trong đất Biện pháp này cho hiệu quả cao vì thuốc được hấp thụ qua rễ, sau đó lưu dẫn vào thân nên có thể diệt được toàn cây Các thuốc sử dụng theo biện pháp này cũng có thể kéo dài thời gian hiệu lực nên diệt được các mầm mọc tái sinh hay cây con mọc từ hạt ở trong đất Biện pháp đưa thuốc vào đất áp dụng thích hợp cho trường hợp cây mai dượng mọc rời rạc, cách biệt nhau hoặc mọc thành từng vạt nhỏ ở trên những nơi đất cao, đất ngập nước, nhưng không sử dụng cho cây mai dương mọc ở ven các sông
Thuốc trừ cỏ dùng theo phương pháp đưa vào đất có nhiều dạng Phổ biến được sử dụng để đưa vào đất là thuốc Tebuthiuron, Hexazinone (Miller, 2004; NTG, 2010b; Wingrave, 2004)
* Biện pháp phun thuốc lên tán láBiện pháp phun thuốc hóa học trừ cỏ lên tán lá (hình 4) được sử dụng rộng rãi với nhiều loại thuốc tiếp xúc hay lưu dẫn như Dicamba, Fluroxypyr, Metsulfuron methyl, Glyphosate, hỗn hợp của Pycloram với 2,4D hay Hexazinone Đây là biện pháp có hiệu quả cao, dễ ứng dụng và hiện đang được ứng dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới Biện pháp phun thuốc lên lá áp dụng thích hợp đối với các kiểu thảm cây mai dương từ mọc rải rác đến mọc thành thảm dày đặc Đối với thảm cây mai dương trưởng thành có mật độ cao cần phun lượng dung dịch nước thuốc tới 1.000 lít/ha Các thuốc hóa học tiếp xúc để trừ cỏ lá rộng như Dicamba, Fluroxypyr cho hiệu quả trừ cây mai dương nhưng không có tác dụng diệt hạt trong đất và không có tác dụng kéo dài Biện pháp phun thuốc lên lá thường có hiệu quả nhất vào đầu mùa mưa, trước khi ngập lũ và đầu mùa khô khi nước lũ rút và cây mai dương con bắt đầu mọc từ hạt
ở trong đất Tuy nhiên, hiệu quả của biện pháp phun thuốc lên lá bị ảnh hưởng mạnh bởi điều kiện thời tiết: ẩm độ thấp, nhiệt độ cao và gió
sẽ làm giảm hiệu quả của thuốc hóa học trừ
cỏ và làm tăng sự mất thuốc đã phun lên tán
áp dụng ở nơi bị xâm nhiễm với diện tích nhỏ, cây mai dương mọc không liên tục với mật độ thấp, nơi môi trường chứa những yếu tố mẫn cảm Biện pháp này ít ảnh hưởng đến đất
và thực vật ở xung quanh liền kề Biện pháp hiệu quả nhất khi áp dụng vào thời kỳ cây mai dương ở giai đoạn sinh trưởng mạnh Một số thuốc trừ cỏ được sử dụng theo phương pháp này là Glyphosate, Fluroxypyr (NTG, 2010b; Wingrave, 2004)
* Phun thuốc vào vỏ thân ở sát gốcDùng thuốc trừ cỏ (Fluroxypyr) hỗn hợp với diesel phun hay quét lên thân cây phần gốc với khoảng 30 cm ở gốc cây trên mặt đất
Hình 4 Phun thuốc hóa học trừ cỏ lên tán lá để trừ
cây mai dương (Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Hình 5 Phun thuốc hóa học trừ cỏ vào gốc cây mai
dương đã bị chặt (Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Trang 10Thời điểm phun thuốc hóa học trừ cỏ để trừ cây mai dương
Thời điểm phun thuốc là rất quan trọng Thuốc trừ cỏ hiệu quả nhất được sử dụng khi cây mai dương đang sinh trưởng mạnh Một cách lý tưởng là sử dụng trước khi cây hình thành hạt
Thời gian này thay đổi phụ thuộc vào từng nơi
và điều kiện môi trường Ở Úc thời gian này là
từ đầu mùa mưa đến đầu mùa khô Ở vùng lãnh thổ phía Bắc Úc, việc phun thuốc trừ cây mai dương thường được tiến hành vào đầu mùa mưa (tháng 11 đến tháng 12) khi cây mai dương con mới mọc hoặc các cây mai dương trưởng thành đang mọc mầm tái sinh mạnh
Nhờ có việc sử dụng liên tục thuốc hoá học trên diện rộng trong suốt thập niên 1970 và
1980 nên đã hạn chế đáng kể sự gia tăng về diện tích xâm lấn của cây mai dương (NTG, 2010b)
Khi cần sử dụng vài loại thuốc hóa học trừ cỏ thì phải lưu ý đặc điểm tác dụng của chúng
Thí dụ, thuốc Graslan sử dụng trước để làm rụng lá và thuốc Stardane được sử dụng để diệt những cây mai dương mọc rải rác sau khi
đã áp dụng Graslan (Schultz, Barrow, 1995)
Ở Úc việc phòng trừ cây mai dương bằng thuốc hoá học được tiến hành trên phạm vi khá lớn nằm trong phạm vi vùng ngập nước, vùng bảo tồn thiên nhiên hoang dã, trong đó
có rất nhiều loài chim trời và cá sinh sống
Tuy vậy, cho đến nay chưa có báo cáo nào phản ảnh tác động tiêu cực nghiêm trọng của thuốc hoá học trừ cây mai dương đối với các loài động vật thuỷ sinh trong các khu bảo tồn ngập nước kể cả những vùng được xử lý thuốc bằng máy bay trực thăng trên diện tích khá rộng
Tuy nhiên, biện pháp hoá học không thể tránh khỏi một số nhược điểm Mặc dù các thuốc trừ cỏ được sử dụng là những thuốc có tính chọn lọc cao, nhưng nếu sử dụng liên tục có thể làm suy giảm số loài thực vật bản xứ, do
đó suy giảm đa dạng sinh học ở các khu vực bảo tồn Hầu hết các thuốc hóa học trừ cỏ
sử dụng để trừ cây mai dương đều rất ít độc đối với môi trường và động vật thuỷ sinh Tuy nhiên, việc sử dụng rộng rãi những thuốc hóa học này trên diện tích lớn cũng có thể gây nên những ảnh hưởng tiêu cực tới môi trường và sức khoẻ con người
bỏ hàng triệu đô la lặp đi lặp lại hàng năm cho việc dùng thuốc hoá học để trừ cây mai dương Biện pháp sinh học được tiến hành nhằm khắc phục vấn đề này Biện pháp sinh học trừ cây mai dương được nghiên cứu nhiều nhất tại Úc, Thái Lan
Biện pháp sinh học là sử dụng các sinh vật sống hay các sản phẩm hoạt động sống của chúng để nhằm ngăn ngừa hay giảm bớt tác hại do các sinh vật hại gây ra Biện pháp sinh học đối với phòng chống cỏ dại là nghiên cứu
sử dụng các loài côn trùng ăn thực vật hay nấm gây bệnh có chuyến tính cao để khống chế sự sinh trưởng phát triển của cỏ dại
Để thực hiện biện pháp sinh học trừ cây mai dương đã phải tiến hành điều tra nguồn thiên địch (loài ăn thực vật và nấm gây bệnh) của cây mai dương tại vùng quê hương bản xứ của nó như tại Brazil, Mexico, Venezuela và du nhập, nhân thả ở các vùng bị cây mai dương xâm lấn
Việc tìm kiếm nguồn thiên địch (loài ăn thực vật và nấm gây bệnh chuyên tính cao) để trừ cây mai dương M pigra được tiến hành chủ yếu tại Brazil từ năm 1979 Trong các năm
1979 - 1981 đã phát hiện hơn 200 loài côn trùng ăn thực vật và vài loài nấm gây bệnh liên quan đến cây mai dương Chỉ có khoảng 10%
số loài thiên địch của cây mai dương đã phát
Hình 6 Phun thuốc hóa học trừ cỏ vào vỏ thân ở sát gốc cây mai dương
(Nguồn: Mimosa best practice management manual)
(hình 6) Đây là một biện pháp có hiệu quả
cao, nhất là áp dụng vào thời kỳ khi cây mai
dương sinh trưởng mạnh Biện pháp này
thích hợp áp dụng ở nơi bị xâm nhiễm với
diện tích nhỏ, cây mai dương mọc không liên
tục với mật độ thấp, nơi môi trường có những
yếu tố mẫn cảm (Miller, 2004; NTG, 2010b;
Wingrave, 2004)
* Biện pháp tiêm thuốc trực tiếp vào cây
Sử dụng dụng cụ chuyên dùng hay rìu nhỏ,
dao rựa tạo một nơi trũng/lõm vào trong gốc
thân cây mai dương và đưa thuốc trừ cỏ vào
đó Biện pháp này thích hợp và hiệu quả áp
dụng đối với cây mai dương trưởng thành mọc
rải rác (Miller, 2004; Wingrave, 2004)
* Dùng máy bay để phun thuốc
Biện pháp dùng máy bay để phun thuốc trừ
cỏ lên tán lá cây mai dương (hình 7) có chi
phí rất cao Biện pháp này được sử dụng
trong các trường hợp cây mai dương mọc
thành thảm rất dày đặc hoặc các cây mọc
cao lâu năm Ở Úc dùng máy bay phun thuốc
trừ cây mai dương trong các Vườn quốc gia
và khu vực hoang hoá đã trở nên phổ biến
Các thuốc thường được sử dụng là Dicamba, Fluroxypyr, Metsulfuron Methyl (Marko, 1999;
NTG, 2010b; Wingrave, 2004)
Hình 7 Phun thuốc hóa học trừ cỏ bằng máy bay
để trừ cây mai dương (Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Trang 11hiện được có tính chuyên hoá ký chủ để có
thể nhập nội về Úc và các nước Đông Nam Á
(Forno, 1992) Sau năm 1981, việc tìm kiếm
thiên địch tự nhiên của cây mai dương vẫn
được tiếp tục Theo Marko (1999), đến năm
1995 đã có tới 441 loài côn trùng ăn thực vật
và vật gây bệnh sống trên cây mai dương Đến
năm 2002, khoảng 43 loài trong số những loài
thiên địch đã phát hiện có triển vọng để nhập
nội về Úc (Heard, Segura, 2004); 13 loài trong
số này đã được đánh giá chuyên tính thức ăn,
nhân thả để trừ cây mai dương tại Úc và một
số nước ở Đông Nam Á (Julien, Griffths, 1999;
Nguyen Hong Son và nnk, 2004, Suasa-ard
và nnk, 2004)
Sử dụng biện pháp sinh học trừ cây mai
dương ở Thái Lan
Trong thời gian 1984 - 1991, tại Thái Lan đã
nhập nội 6 loài côn trùng ăn thực vật chuyên tính
trên cây mai dương thông qua Úc Đó là các loài
Chlamisus mimosae, Neurostrota gunniella,
Carmenta mimosa, Coelocephalapion
aculeatum, Acanthoscelides puniceus và A
quadridentatus Năm loài trong số sáu loài này
(trừ loài Neurostrota gunniella) đã được thả ra
ở Thái Lan để trừ cây mai dương Trong đó có
2 loài mọt đục hạt Acanthoscelides puniceus
và A quadridentatus là những tác nhân sinh
học trừ cây mai dương được thả đầu tiên ở
Thái Lan vào các năm 1984, 1987 Đến nay
các loài mọt đục hạt này tạo lập được quần
thể ở nơi thả Hai loài mọt đục hạt này gây
hại cho hạt cây mai dương với tỷ lệ cao nhất
đạt 86,9% Nếu đạt được tỷ lệ hạt bị hại như
vậy và ổn định ở tất cả các nơi đã thả hai loài
mọt này thì cũng là quá thấp so với sức sinh
sản của cây mai dương Trong khi đó, tỷ lệ
trung bình của hạt cây mai dương bị hai loài
mọt này gây hại ở tất cả các nơi đã thả chỉ là
21,3 - 41,4% (Suasa-ard và nnk, 2004) Điều
này cho thấy mặc dù hai loài mọt đục hạt cây
mai dương được thả và đã tạo lập quần thể ở
Thái Lan cũng không có vai trò lớn trong hạn
chế quần thể cây mai dương
Ngoài ra, một loài xén tóc Mylothis irrorata được nhập nội từ In-đô-nê-sia nhưng không được thả ra ở Thái Lan (Suasa-ard và nnk, 2004)
Sử dụng biện pháp sinh học trừ cây mai dương ở Úc
Chương trình nghiên cứu biện pháp sinh học trừ cây mai dương ở vùng lãnh thổ phía Bắc
Úc được bắt đầu từ năm 1979 Tác nhân sinh học đầu tiên được thả ở Úc là mọt đục hạt Acanthoscelides puniceus và A
quadridentatus vào năm 1983 (Wilson, 1998)
Đến năm 2009, đã có 15 loài tác nhân sinh học (gồm thả 13 loài côn trùng ăn thực vật và
2 loài nấm gây bệnh có chuyên tính vật chủ cao) được nhập nội về và đã thả để trừ cây mai dương ở Úc (Grace và nnk, 2006; NTG, 2012a, 2010b, 2010c; Routley và nnk, 2006)
Trong số 13 loài côn trùng ăn thực vật chuyên tính đã thả ở Úc để trừ cây mai dương, đến nay có bốn loài (Carmenta mimosa, Neurostrota gunniella, Coelocephalapion pigrae, Acanthoscelides puniceus) vẫn có khả năng làm giảm sức sống và sức sinh sản (khả năng tạo thành hạt) của cây mai dương; một loài có quần thể phong phú mang tính cục bộ;
hai loài đã tạo lập quần thể, nhưng phần lớn
đã biến mất dần; một loài gần đây mới tạo lập quần thể; ba loài mới thả gần đây, cần có thời gian để xác nhận mức độ tạo lập quần thể và
2 loài đã thả nhưng không tạo lập quần thể (Paynter, 2004; Routley và nnk, 2006)
Mọt đục hạt Acanthoscelides puniceus và A
quadridentatus là những tác nhân sinh học trừ cây mai dương đầu tiên được thả ở Úc năm 1983 Sâu non của loài côn trùng này
ăn dinh dưỡng trong những hạt mai dương thành thục, mỗi sâu non ăn trong một hạt mai dương Trong hai loài mọt đục hạt đã thả, chỉ
có loài mọt đục hạt Acanthoscelides puniceus
đã tạo lập quần thể ở những nơi bị cây mai dương xâm nhiễm thuộc vùng lãnh thổ phía Bắc Úc Loài mọt đục hạt A puniceus này đã
phát tán tới những nơi bị cây mai dương xâm nhiễm Loài mọt đục hạt này góp phần đáng
kể làm giảm nguồn hạt cây mai dương được sản sinh hàng năm: có khoảng 20% số hạt bị các loài một đục hạt gây hại ở Úc (Flanagan và nnk, 2004; Forno, 1991; Julien, 1992; Marko, 1999; NTG, 2010b; )
Loài sâu đục ngọn Neurostrota gunniella được nhập nội vào vùng lãnh thổ phía Bắc Úc năm
1989 Loài này đã thả và nó tạo lập được quần thể và phát tán rất nhanh đến khắp những nơi
bị cây mai dương xâm nhiễm tại vùng lãnh thổ phía Bắc Úc Sâu non của loài này đục vào thân cây mai dương, gây rụng lá và chết ngọn
Loài này có thể làm giảm tới 60% khả năng sinh hạt của cây mai dương ở Úc (Flanagan và nnk, 2004; Forno, 1991; Julien, 1992; Marko, 1999; NTG, 2010b)
Loài bọ Malacorhinus irregularis cũng được nhập nội và thả trừ cây mai dương Loài này
đã tạo lập quần thể ở vùng lãnh thổ phía Bắc
Úc Trưởng thành loài này ăn lá non của cây mai dương mới mọc, sâu non sống ở trong đất, ăn rễ và hạt mai dương Tại những nơi thả, đôi khi loài bọ Malacorhinus irregularis
hình thành quần thể với mật độ cao, gây tác hại đáng kể cho cây mai dương (Flanagan và nnk, 2004; NTG, 2010b)
Loài sâu ăn lá Macaria pallidata được nhập nội, thả và đã tạo lập quần thể rất tốt ở vũng lãnh thổ phía Bắc Úc Sâu non loài này ăn lá cây mai dương và gây rụng lá ở mức nặng (Flanagan và nnk, 2004; NTG, 2010b)
Loài Malacorhinus irregularis và loài Macaria pallidata mới được thả ở vùng lãnh thổ Bắc
Úc (tương ứng thả vào năm 2000 và 2002), nhưng cả hai loài đều có nhiều triển vọng thành công Hai loài này tạo lập quần thể thành công thì ở vùng lãnh thổ phía Bắc Úc
có một tập hợp các loài côn trùng ăn thực vật chuyên tính tấn công tất cả các bộ phận của cây mai dương Điều này hy vọng trong tương
lai tập hợp các loài ăn thực vật này cùng tác động sẽ làm giảm sức sống, khả năng sinh sản (sinh hạt) của cây mai dương, góp phần kiểm soát cây mai dương tốt hơn (Flanagan
và nnk, 2004)
Sâu đục thân Carmenta mimosa cũng được nhập nội và thả ở Úc năm 1989 Sâu non của loài Carmenta mimosa đục vào thân, cành của cây mai dương, gây chết cành, làm giảm
sự sinh trưởng và khả năng sinh sản (hình thành hạt) của cây mai dương Sau nhiều năm liên tục phá hại thì có thể gây chết
cả cây mai dương trưởng thành Loài sâu đục thân Carmenta mimosa đã tạo lập quần thể
ở hầu hết các nơi bị nhiễm cây mai dương thuộc vùng lãnh thổ phía Bắc Úc (Flanagan và nnk, 2004; Forno, 1991; Julien, 1992; Marko, 1999; NTG, 2010b; )
Hình 8 Cá thể trưởng thành loài N gunniella và triệu chứng hại trên
cây mai dương (Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Trang 12đạt khoảng 10% lượng hạt ở trong đất trước khi bắt đầu áp dụng biện pháp sinh học Có thể nói chương trình áp dụng biện pháp sinh học phòng chống cây mai dương ở vùng lãnh thổ phía Bắc Úc đã thành công Các loài côn trùng ăn thực vật chuyên tính nhập nội về thả
ra đã làm ảnh hưởng lớn đến sự tạo thành hạt của cây mai dương
2.5 Phòng chống cây mai dương theo hướng tổng hợp
Có rất nhiều biện pháp đã được đánh giá hiệu quả trừ diệt cây mai dương như biện pháp thủ công cơ giới, biện pháp hóa học, biện pháp sinh học, Tuy nhiên, biện pháp nào cũng có
ưu điểm và nhược điểm Thí dụ, biện pháp thủ công cơ giới hiệu quả không cao trong diệt trừ cây mai dương và chi phí cao do cây mai dương có khả năng tái sinh mạnh và nguồn hạt với số lượng lớn ở trong đất, biện
pháp sinh học thì hiệu quả chậm và không đáp ứng được do sức sinh sản của cây mai dương quá cao, Áp dụng đơn lẻ từng biện pháp sẽ không cho hiệu quả hạn chế sự lây lan và xâm lấn của cây mai dương Khi kết hợp một vài biện pháp với nhau sẽ cho hiệu quả hạn chế sự sinh trưởng và phát triển của cây mai dương, tạo điều kiện thuận lợi cho loài thực vật bản địa cạnh tranh với cây mai dương hoặc tạo thuận lợi cho tác nhân sinh học gia tăng vai trò của chúng trong hạn chế cây mai dương Tùy thuộc vào, tuổi cây mai dương, mật độ và diện tích bị cây mai dương xâm lấn cần lựa chọn các giải pháp sao cho hợp lý để nâng cao hiệu quả trừ diệt cây mai dương Tài liệu hướng dẫn quản lý cỏ dại của Úc (Weed management Guide, 2003) đã đưa ra các lựa chọn giải pháp phòng chống cây mai dương theo mức độ xâm nhiễm của cây mai dương như sau:
Hình 9 Trưởng thành loài C mimosa và triệu chứng hại trên cây mai dương
(Nguồn: Mimosa best practice management manual)
Mức độ xâm nhiễm của cây mai dương
Biện pháp sinh học Biện pháp hóa học Biện pháp cơ giới Biện pháp thủ công, vật lý
Thấp (rải rác, diện tích nhỏ)
Không thích hợp
Phun điểm bằng bình bơm tay với thuốc trừ cỏ đã đăng ký
Thả tác nhân sinh học
Phun điểm bằng bình bơm tay với thuốc trừ cỏ đã đăng ký
Sử dụng máy ủi bánh xích để chà nát, cào bới, cày lại, sau đó đốt
Tiếp tục trừ cây con bằng biện pháp vật lý (nhổ)
Nặng (nhiều cây, trên diện rộng nhiều ha)
Thả tác nhân sinh học
Phun các thuốc trừ cỏ trong danh mục được phép
Sử dụng máy ủi bánh xích để chà nát, cào bới Đốt những cây mọc tái sinh để kích tích hạt nảy mầm
Tiếp tục trừ cây con bằng biện pháp vật lý (nhổ)
Paynter và nnk (2004) dựa trên thí nghiệm diện rộng được tiến hành trong các năm 1997
- 2000 đã khẳng định kết hợp các biện pháp sẵn có một cách hợp lý, hài hòa thì hoàn toàn thành công để phòng trừ cây mai dương cả
khi đã hình thành thảm dày Các tác nhân sinh học được nhập nội và thả ở Úc hoàn toàn thích hợp cho việc kết hợp với các biện pháp khác và góp phần làm giảm đáng kể chi phí phòng chống cây mai dương
Hai loài mọt hoa Coelocephalapion pigrae và
C aculeatum đã nhập nội và loài C aculeatum
được thả vào năm 1992, loài C pigrae thả
năm 1994 tại lưu vực sông Adelaide Cá thể
trưởng thành loài C aculeatum ăn và đẻ trứng
vào nụ hoa chưa nở Sâu non hoàn thành phát
triển ở trong hoa cây mai dương Loài mọt hoa
Coelocephalapion pigrae ăn ở trong các cụm
hoa mai dương Trong hai loài mọt hoa đã thả
chỉ có loài Coelocephalapion pigrae còn tồn
tại, tạo lập quần thể Có thể do loài này có khả
năng ăn lá cây mai dương trong mùa khô khi
trên cây mai dương có rất ít hoa (Flanagan và
nnk, 2004; Heard và nnk, 2004; Marko, 1999;
NTG, 2010b)
Loài sâu ăn lá Leuciris fimbriaria đã nhập nội
và đang được nhân nuôi để thả Sâu non loài
này ăn lá cây mai dương Bọ cánh cứng ăn
lá Nesaecrepida infuscata cũng đã nhập nội,
đang trong giai đoạn nhân nuôi (Heard và nnk,
2004; NTG, 2010b)
Loài nấm Phloeospora mimosae-pigrae và
nấm Diabole cubensis gây bệnh rất nặng cho
cây mai dương ở Mexico và đã được nhập
nội về Úc Loài nấm Phloeospora
mimosae-pigrae đã phun trừ cây mai dương ở vùng sông
Adelaie và tạo lập được quần thể Hai loài nấm
P mimosae-pigrae và D cubensis sau thả đều
tạo lập được quần thể, nhưng về sau không
duy trì tiếp tục được quần thể (Flanagan và
nnk, 2004; Marko, 1999) Hai loài bọ vòi voi
ăn hạt non Chalcodermus serripes và Sibinia fastigiata đã nhập nội, được nhân nuôi và thả
ra, nhưng chúng không tạo lập được quần thể (Marko, 1999; NTG, 2010b)
Mọt đục hạt Acanthoscelides quadridentatus
đã thả năm 1983 và cũng ghi nhận đã tạo lập được quần thể tại nơi thả Loài mọt hoa Coelocephalapion aculeatum đã được thả năm 1992 ở vùng lãnh thổ Bắc Úc và sau thả cũng được ghi nhận có tạo lập quần thể Cả hai loài này sau khi thả vài năm đã không tìm lại được ở những nơi đã thả (Flanagan và nnk, 2004; Heard và nnk, 2004)
Những nghiên cứu trong năm 2004 cho thấy Carmenta mimosa, Neurostrota gunniella, Coelocephalapion pigrae, Acanthoscelides puniceus, Macaria pallidata hiện diện ở mức phong phú và đang phát tán rộng ở các vùng bị cây mai dương xâm nhiễm Hy vọng chúng tạo lập được quần thể đủ lớn để có ảnh hưởng nhất định đến sinh trưởng phát triển của cây mai dương Theo dõi sự tích lũy hạt cây mai dương ở trong đất ở vùng sông Adelaide (thuộc vùng phía Bắc Úc) cho thấy
có sự giảm đáng kể: năm 1984-1986 trung bình 9.103 hạt/m2, năm 2001 giảm xuống còn 2.868 hạt/m2 và năm 2006 chỉ còn 991 hạt/
m2 (Routley và nnk, 2006) Như vậy, lượng hạt cây mai dương ở trong đất của năm 2005 chỉ
Trang 133.1 Biện pháp thủ công cơ giới
Biện pháp chặt
Biện pháp chặt là dùng dùng dao sắc chặt sát
gốc, cách mặt đất khoảng 5 - 10 cm
* Hiệu quả kỹ thuật của biện pháp chặt
Mùa khô năm 2000, một thí nghiệm ô nhỏ
(100 m2) về biện pháp chặt được tiến hành
tại Vườn quốc gia Tràm Chim Cây mai dương
được chặt săt gốc, gom lại phía ngoài ô thí
nghiệm, sau 5 - 7 ngày thì đốt Kết quả cho
thấy sau khi chặt 2 tuần đã có gốc bắt đầu
mọc mầm tái sinh Số mầm tái sinh mọc sau
chặt 1 tháng đạt 3,5 - 4,0 cây/m2 và sau chặt
2 tháng là 3,14 - 3,22 cây/m2 Chiều cao của
mầm tái sinh sau chặt 1 tháng đạt 33,76 -
35,38 cm (có mầm tái sinh cao 1 m) và sau
chặt 2 tháng là 63,03 - 64,38 cm (có mầm
tái sinh cao tới 2 m) Mật độ cây mai dương
giảm từ 1,78 - 2,22 cây/m2 trước chặt xuống
còn 1,28 - 1,5 cây/m2 sau chặt 1 tháng và
1,24 - 1,32 cây/m2 sau chặt 2 tháng Độ che
phủ giảm từ 50,3 - 54,2% trước chặt xuống
còn 6,3 - 8,44% sau chặt 1 tháng và 11,08
- 11,94% sau chặt 2 tháng (Nguyễn Thị Lan
Thi và nnk, 2003; Vườn quốc gia Tràm Chim,
2001)
Năm 2001-2003 tại Vườn quốc gia Tràm Chim
một thí nghiệm ô nhỏ (100 m2) áp dụng biện
pháp chặt được Viện Bảo vệ thực vật tiến
hành Kết quả thí nghiệm cho thấy ở các ô
thí nghiệm sau khi chặt 2 - 4 tuần đều mọc
mầm tái sinh, có mầm tái sinh cao tới 1 m
Mật độ cây mai dương sau khi có mầm tái
sinh sau chặt 1 tháng đạt 1,58 cây/m2 và sau
chặt 2 tháng là 2,19 cây/m2, chỉ tiêu này trước chặt là 2,0 cây/m2 Độ che phủ sau chặt 1 - 2 tháng là 7,57 - 11,51% Chiều cao của các mầm tái sinh đạt trung bình 34,6 cm sau chặt một tháng và là 63,7 cm sau chặt hai tháng (chiều cao này đạt xấp xỉ 1/3 chiều cao 189
cm của cây trước khi chặt) Sau khi chặt, các mầm tái sinh phát triển nhanh hơn, mầm to
và mập hơn so với cây con mọc từ hạt Do có
độ che phủ lớn và mật độ mầm tái sinh cao nên sinh khối của công thức chặt đạt 176,5 g/m2 (Phạm Văn Lầm và nnk, 2003a, 2003b)
Kết quả này cho thấy một lần áp dụng biện pháp chặt không cho hiệu quả trừ diệt cây mai dương, chỉ làm giảm mật độ cây và độ che phủ
Biện pháp chặt tốn khoảng 60 công/ha Tính theo năm 2003 với giá trị công lao động là 30.000đ/công, chi phí công (chưa tính công
cụ và bảo hộ lao động) tính cho 1 ha của biện pháp chặt là 2.020.000 đồng (Phạm Văn Lầm
và nnk, 2003a, 2003b) Kết quả thí nghiệm này cho thấy biện pháp chặt để trừ cây mai dương cho hiệu quả không cao, mà chi phí thì quá cao
Dựa trên kết quả nghiên cứu bước đầu trong năm 2001-2003, Viện Bảo vệ thực vật đã tiến hành đánh giá hiệu quả kỹ thuật của biện pháp chặt để trừ cây mai dương bằng một thí nghiệm diện rộng (2.000m2/ô) Thí nghiệm được thực hiện trong năm 2005 tại 5 địa điểm
là lòng hồ Thác Bà, lòng hồ Hoà Bình, Vườn quốc gia Tràm Chim, Vườn quốc gia Cát Tiên
và lưu vực sông La Ngà Thí nghiệm đã chọn nơi đại diện về mức độ xâm nhiễm, sinh trưởng
và phát triển của cây mai dương tại các vùng thí nghiệm Kết quả của thí nghiệm này cho thấy sau chặt hai tuần một số gốc đã có mầm tái sinh mọc cao 3 - 10 cm Sau chặt 1 tháng
đã có 71,0 - 84,9% số gốc mọc mầm tái sinh với số lượng mầm tái sinh là 1,8 - 6,5 mầm/
gốc và chiều cao mầm tái sinh đạt 20,4 - 25,5
cm Sau chặt 2 tháng có 90,1 - 93,6% số gốc mọc mầm tái sinh với số lượng mầm tái sinh biến động là 3,4 - 8,3 mầm/gốc (cá biệt có gốc mọc tới 14 mầm tái sinh) và chiều cao mầm tái sinh đạt 65,4 - 73,3 cm Sau chặt 2 tháng có mầm tái sinh đã ra hoa quả và sau chặt 3 - 4 tháng, toàn bộ số cây bị chặt có mầm tái sinh với chiều cao gần bằng chiều cao các cây trước chặt, các mầm tái sinh đã
ra hoa kết quả Biện pháp chặt chỉ có hiệu quả làm giảm sinh khối của cây mai dương ngay sau chặt Sinh khối từ 3,536,7 - 5,578,2 g/
m2 vào thời điểm trước chặt giảm xuống còn 505,6 - 951,6 g/m2 vào thời điểm sau chặt 1 tháng và sau chặt 2 tháng chỉ tiêu này lại tăng lên 1,653,2 - 1,926,7 g/m2 tức là đạt từ 1/3 đến 1/2 sinh khối trước chặt (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Sau khi chặt, do có khoảng không gian thuận lợi, cường độ ánh sáng cao đã kích thích hạt
ở trong đất nảy mầm tạo thành cây con rất nhanh, đặc biệt là ở những nơi có mầm tái sinh mọc yếu như khu vực lòng hồ phía Bắc
Mật độ cây con trung bình trước khi chặt ở các điểm thí nghiệm biến động từ 11,1 đến 60,5 cây/m2 Chỉ tiêu này là 40,2 - 114,2 cây/m2 sau chặt 1 tháng và đạt 50,2 - 130,2 cây/m2 sau chặt 2 tháng Như vậy, mật độ cây con sau khi chặt 1 tháng tăng gấp 2 - 3 lần và sau khi chặt 2 tháng tăng gấp 2 - 4 lần so với thời điểm trước chặt Các cây con sinh trưởng rất nhanh, sau khi chặt khoảng 1 tháng, chúng mọc và có thể che phủ toàn bộ
bề mặt (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007) Kết quả này phù hợp với kết quả tiến hành trên ô nhỏ đã trình bày ở trên
Năm 2006, tại 5 địa điểm thí nghiệm nêu trên
đã triển khai biện pháp chặt trên diện rộng, với diện tích 1 ha cho mỗi địa điểm thí nghiệm Kết quả cho thấy cũng sau chặt hai tuần một
số gốc đã có mầm tái sinh mọc cao Sau chặt 1 tháng đã có 64,7 - 96,4% số gốc mọc mầm tái sinh với số lượng mầm mọc tái sinh
là 3,8 - 5,6 mầm/gốc và chiều cao mầm tái sinh đạt 17,9 - 26,5 cm Sau chặt 2 tháng có 92,5 - 100% số gốc mọc mầm tái sinh với số lượng mầm mọc tái sinh biến động từ 4,4 đến 5,7 mầm/gốc và chiều cao mầm tái sinh đạt 58,4 - 70,0 cm Sinh khối đã giảm từ 3.247,5
- 5.736,2 g/m2 ở thời điểm trước chặt xuống còn 1.286,8 - 1.639,8 g/m2 sau chặt 1 tháng
và lại tăng lên 1,585,5 - 2,015,4 g/m2 sau chặt
2 tháng Mật độ cây con trước chặt là 12,0 - 44,2 cây/m2 Chỉ tiêu này sau chặt 1 tháng,
2 tháng đã tăng lên tương ứng là 40,2 - 67,2 cây/m2 và 53,8 - 88,8 cây/m2 (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Chi phí cho biện pháp chặt chủ yếu là chi công lao động Chi phí này có sự biến động rất lớn, phụ thuộc vào mức độ xâm nhiễm của cây mai dương, giá trị ngày công ở các địa phương Tuỳ theo mức độ xâm nhiễm của cây mai dương, với giá trị ngày công tính theo năm 2007 là 30.000 đ/công, ở các tỉnh miền Núi phía Bắc (Hòa Bình, Yên Bái) có chi phí công lao động trong thí nghiệm ô nhỏ là 1.350.000 - 2.100.000 đ/ha và trên diện rộng
là 900.000 - 1.800.000 đ/ha Tại phía Nam với giá trị trị ngày công tính theo năm 2007 là 50.000 đ/công, ở Vườn quốc gia Tràm Chim
có chi phí công lao động trong thí nghiệm ô nhỏ là 1.750.000 - 2.500.000 đ/ha và trên diện rộng là 1.100.000 -1.850.000 đ/ha; Vườn quốc gia Cát Tiên có chi phí công lao động trong thí nghiệm ô nhỏ là 1.850.000 - 2.750.000 đ/ha và trên diện rộng là 1.250.000
- 2.250.000 đ/ha; ở lưu vực sông La Ngà có chi phí công lao động trong thí nghiệm ô nhỏ
là 1.500.000 - 2.250.000 đ/ha và trên diện rộng là 1.000.000 - 1.750.000 đ/ha (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Chương III
CÁC BIỆN PHÁP DIỆT TRỪ
CÂY MAI DƯƠNG Ở VIỆT NAM
Trang 14Biện pháp chặt hầu như không gây ảnh hưởng
tiêu cực tới đa dạng sinh học ở cấp độ loài,
kể cả vi sinh vật đất Các loài loài côn trùng
và sinh vật sống trên tán cây mai dương khi bị
chặt sẽ di chuyển sang khu vực khác Một số
loài thực vật dây leo bám trên thân cây (rất ít) bị
chặt cùng với cây mai dương sẽ nhanh chóng
phục hồi do mọc tái sinh từ gốc sau khi bị
chặt Đối với nơi có điều kiện thuận lợi cho cỏ
dại phát triển (như Vườn quốc gia Tràm chim)
thì thảm thực vật phía dưới tán cây mai dương
có thể phát triển nhanh sau khi chặt cây mai
dương, do đó có thể khống chế một phần cây
mai dương con mới mọc Còn đối với nơi như
khu vực các lòng hồ, khả năng phát triển của
các loài cỏ dại chậm hơn nên thường bị cây
mai dương con mới mọc lấn át Tuy nhiên, so
với trước khi chặt thì thảm cỏ dại phía dưới tán
cây mai dương đều phục hồi và phát triển tốt
hơn (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
* Khả năng triển khai trên diện rộng và hướng
ứng dụng biện pháp chặt
Kết quả xây dựng mô hình trên diện rộng trong
năm 2006 tại cả 5 địa điểm thí nghiệm (lòng
hồ Thác Bà, lòng hồ Hoà Bình, Vườn quốc gia
Tràm Chim, Vườn quốc gia Cát Tiên và lưu vực
sông La Ngà) cho thấy biện pháp chặt có ưu
điểm là đơn giản, dễ thực hiện Đối với những
nơi cây mai dương còn mọc rải rác thưa với
mật độ còn thấp, chưa phủ kín hoàn toàn mặt
đất thì việc áp dụng biện pháp chặt có tính
khả thi cao Những nơi cây mai dương mọc
rậm rạp, lâu năm, thân cây to, có nhiều cành
thì việc áp dụng biện pháp chặt không chỉ tốn
nhiều công hơn mà còn rất khó thực hiện
Việc huy động nhân lực lao động là yếu tố
quan trọng khi áp dụng biện pháp chặt Các
tỉnh miền núi phía Bắc (Hòa Bình, Yên Bái) có
nhân lực lao động dồi dào, giá trị ngày công
lao động thấp thì dễ dàng huy động nhân lực
lao động để chặt cây mai dương Các tỉnh
phía Nam rất khó khăn huy động nhân lực
để chặt cây mai dương và giá trị ngày công
lao động cao, do đó biện pháp chặt cây mai
áp dụng đơn lẻ biện pháp chặt sẽ không có hiệu quả cao trong phòng trừ cây mai dương
và rất tốn kém Nếu không có nguồn kinh phí
hỗ trợ thường xuyên của nhà nước thì sẽ khó
áp dụng thường xuyên được biện pháp chặt trong thực tiễn
Biện pháp chặt đơn lẻ chỉ áp dụng ở những nơi cây mai dương có mức độ xâm nhiễm thấp, ở vùng đất canh tác thuộc các tỉnh miền núi phía Bắc khi cây mới bắt đầu xâm nhiễm
Biện pháp chặt nên kết hợp với các biện pháp khác (như ngâm ngập lũ hay sử dụng thuốc trừ cỏ) để cho hiệu quả cao
Biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ
Tại những nơi đất bán ngập, vào đầu mùa
lũ tiến hành chặt cây mai dương Khi lũ về, những nơi cây mai dương bị chặt sẽ bị ngập trong nước lũ Trong điều kiện ngập nước lâu, gốc cây mai dương sẽ bị thối hoặc gốc các cây mai dương nhỏ sẽ có thể bị bật khỏi mặt đất trong thời gian ngập lũ Do đó, cây mai dương sẽ bị chết
* Hiệu quả kỹ thuật của biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ
Mùa mưa năm 2000, một thí nghiệm ô nhỏ (100 m2) về biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ được tiến hành tại Vườn quốc gia Tràm Chim Khi nước ngập đất 30 cm thì tiến hành chặt sát gốc cây mai dương, gom cây bị chặt lên nơi cao đợi khô thì đốt Kết quả cho thấy sau chặt 4 tháng mật độ cây mai dương (cây/m2) bằng 0 (Nguyễn Thị Lan Thi và nnk, 2003; Vườn quốc gia Tràm Chim, 2001)
Năm 2005 - 2006, Viện Bảo vệ thực vật tiến hành áp dụng biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ được tại 5 địa điểm: lòng hồ Thác Bà,
lòng hồ Hoà Bình, Vườn quốc gia Tràm Chim, Vườn quốc gia Cát Tiên và lưu vực sông La Ngà Trước khi lũ về khoảng 10 - 15 ngày tiến hành chặt cây mai dương Khi lũ về, những nơi cây mai dương bị chặt sẽ bị ngập trong nước lũ Kết quả thí nghiệm cho thấy biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ chỉ có hiệu quả đối với những cây mai dương mới mọc và những cây mai dương trưởng thành có đường kính nhỏ hơn 1 cm Hiệu quả của biện pháp này không cao đối với những cây mai dương trưởng thành có đường kính lớn hơn 1 cm Tại
5 điểm thí nghiệm (lòng hồ Thác Bà, lòng hồ Hoà Bình, Vườn quốc gia Tràm Chim, Vườn quốc gia Cát Tiên và lưu vực sông La Ngà) cho thấy biện pháp này cho hiệu quả diệt trừ cao nhất đối với cây mai dương trưởng thành chỉ là 55,2% tại Vườn quốc gia Tràm Chim, hiệu quả diệt trừ thấp nhất tại lưu vực sông La Ngà chỉ đạt 30,4% Hiệu quả ở lưu vực sông
La Ngà đạt thấp vì khu vực này có thời gian ngập nước ngắn hơn (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007) Như vậy, so với biện pháp chặt, biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ đã diệt được một phần gốc cây mai dương trưởng thành sau mỗi mùa ngập lũ
Sau lũ rút khoảng 2 tháng, từ những gốc cây mai dương chưa bị thối đã mọc mầm tái sinh tạo thành các cây mai dương tốt hơn Từ một gốc cây mai dương chưa bị thối đã mọc trung bình 3,9 - 6,3 mầm/gốc với chiều cao mầm tái sinh sau 2 tháng đạt 61,8 - 76,5 cm Trong khi đó, những cây mai dương không bị chặt nhưng bị ngập lũ thì cũng bị rụng hết lá Sau khi nước lũ rút, những cây này cũng mọc mầm tái sinh từ phần ngọn cây, nhưng mầm tái sinh mọc yếu và chậm hơn Số mầm mọc tái sinh
từ những cây này đạt 1,1 - 2,0 mầm/gốc và chiều cao mầm tái sinh sau 2 tháng đạt 55,8
- 69,4 cm (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Ngoài mầm tái sinh mọc từ gốc cây bị chặt, sau lũ rút khoảng 2 tháng, khá nhiều cây mai dương con mọc từ hạt ở trong đất Mật độ cây mai dương con mới mọc ở nơi chặt kết
hợp ngâm ngập lũ đạt 29,7 - 86,5 cây/m2 Trong khi đó, nơi cây mai dương không bị chặt nhưng cũng bị ngập lũ có mật độ cây mai dương con mới mọc sau lũ rút đạt thấp hơn và là 19,8 - 48,9 cây/m2 (Nguyễn Hồng Sơn và nnk, 2007)
Chi phí của biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ tương tự như chi phí của biện pháp chặt
Biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ hầu như không gây tác động tiêu cực cho môi trường
* Khả năng áp dụng biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ trên diện rộng
Biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ có ưu điểm đơn giản, dễ thực hiện Những nơi cây mai dương mọc rải rác, mật độ thấp, tán cây thưa chưa phủ kín hoàn toàn mặt đất thì dễ dàng áp dụng biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ trên diện rộng
Khó khăn lớn nhất của biện pháp này khi áp dụng trên diện rộng là phải thực hiện trong một thời gian rất ngắn, ngay trước khi nước lũ
về, trong khi đó lại không thể xác định chính xác được thời điểm bắt đầu ngập lũ để quyết định thời điểm chặt cây mai dương Mặt khác, rất khó huy động một lượng lớn nhân công lao động để tiến hành chặt cây mai dương đồng loạt trên diện rộng trong khoảng thời gian rất ngắn Đồng thời, ở các tỉnh phía Nam vào thời điểm trước mùa lũ đến giá trị ngày công lao động rất cao, sẽ đẩy chi phí của biện pháp này lên rất cao Vì vậy, việc áp dụng biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ trên diện rộng có tính khả thi rất thấp, nhất là đối với những nơi đất công hay đất canh tác có giá trị thấp trong mùa khô
Biện pháp chặt kết hợp ngâm ngập lũ chỉ có thể áp dụng ở các vùng đất canh tác bán ngập thuộc các tỉnh miền Núi phía Bắc và lưu vực sông La Ngà khi cây mới xâm nhiễm 1 - 2 năm hoặc kết hợp với các biện pháp khác để diệt trừ cây mai dương