- Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên, Trợ lý điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán Điều 36, Điều 40, Điều 42: Hầu hết các ý kiến đều nhất trí với quan điểm thứ nhấ
Trang 1VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN
TỈNH THÁI BÌNH
Số: 1112/BC-VKS
Độc lập- Tự do- Hạnh phúc
Thái Bình, ngày 27 tháng 11 năm 2014
BÁO CÁO Tổng hợp kết quả Hội nghị góp ý Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi)
Thực hiện Kế hoạch số 96/KH-VKSTC ngày 13/10/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, ngày 21/11/2014 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã tổ chức Hội nghị liên ngành góp ý vào Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) và báo cáo kết quả như sau:
I TÌNH HÌNH TRIỂN KHAI
Sau khi nhận được Kế hoạch số 96/KH-VKSTC ngày 13/10/2014 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Viện kiểm sát tỉnh Thái Bình đã khẩn trương triển khai chỉ đạo các đơn vị trực thuộc tổ chức cho toàn thể cán bộ, Kiểm sát viên nghiên cứu, thảo luận để đóng góp ý kiến vào Dự thảo Đồng thời Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thái Bình đã gửi văn bản đề nghị, cùng tài liệu để xin ý kiến, đặt bài tham luận của đại diện lãnh đạo các
cơ quan, ban, ngành trong tỉnh Ngày 21/11/2014, Viện kiểm sát tỉnh đã tổ chức Hội nghị liên ngành với sự tham gia của đại diện Ban Chỉ đạo cải cách tư pháp tỉnh; Ban Nội chính Tỉnh ủy; Công an tỉnh; Tòa án nhân dân tỉnh; Bộ chỉ huy Bộ đội Biên phòng tỉnh; Sở Tư pháp tỉnh; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh; Hội Luật gia tỉnh; Đoàn Luật sư tỉnh; Cục Thuế tỉnh; Chi Cục Hải quan Thái Bình; lãnh đạo Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, các đơn vị trực thuộc, các Kiểm sát viên trung cấp và đồng chí có trình độ Thạc sĩ trong ngành Tại hội nghị đã có 12 ý kiến đại diện cho tất cả các ngành tham gia thảo luận về các nội dung Dự thảo Kết quả tổng hợp các ý kiến thảo luận cụ thể như sau:
II ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ DỰ THẢO BỘ LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ (SỬA ĐỔI)
Dự thảo Bộ luật tố tụng hình sự (sửa đổi) được đưa ra lấy ý kiến lần này là kết quả của quá trình làm việc hết sức công phu, nghiêm túc và khoa học Dự thảo
đã được xây dựng theo hướng quán triệt đầy đủ chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Nhà nước, thể chế hóa các quy định mang tính nguyên tắc mới được bổ sung trong Hiến pháp 2013; kế thừa những quy định đang phát huy tác dụng tích cực, khắc phục căn bản những vướng mắc, bất cập trong quá trình thi hành Bộ luật
tố tụng hình sự năm 2003; tiếp thu những hạt nhân hợp lý của mô hình tố tụng tranh tụng Bố cục Dự thảo đã được thiết kế phù hợp hơn theo hướng phân chia theo các giai đoạn tố tụng; bổ sung những nội dung mới mà qua thực tiễn thấy cần đưa vào Bộ luật tố tụng hình sự, lược bỏ bớt một số nội dung về phần thi hành án hình sự được điều chỉnh trong Luật Thi hành án hình sự
Trang 2III CÁC NỘI DUNG GÓP Ý CỤ THỂ
1 Về phần Những quy định chung
- Về thầm quyền khởi tố của Tòa án (Điều 13, 161): Nhất trí với quan điểm thứ
nhất, phương án 1 đề nghị không quy định Tòa án có thẩm quyền khởi tố vụ án hình
sự Vì khởi tố vụ án là trách nhiệm của cơ quan buộc tội, Tòa án chỉ thực hiện chức năng xét xử, không thực hiện việc buộc tội, do đó, không nên tiếp tục quy định Tòa
án có trách nhiệm khởi tố vụ án Nếu qua hoạt động xét xử mà phát hiện tội phạm và người phạm tội cần phải điều tra thì Tòa án thực hiện quyền kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố Quy định như vậy một mặt phù hợp với sự phân định các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự, đồng thời, bảo đảm tính khách quan của hoạt động xét xử
- Điều 35: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Thủ trưởng, Phó Thủ
trưởng Cơ quan điều tra: Về quy định Thủ trưởng CQĐT có quyền “quyết định thay
đổi người giám định” Hiện nay, ở nước ta không có cá nhân là giám định viên độc
lập mà đều do các đơn vị chuyên trách tiến hành, việc phân công giám định viên đều
do người đứng đầu của đơn vị đó phân công trên cơ sở Quyết định trưng cầu giám
định của Thủ trưởng CQĐT Vì vậy, đề nghị sửa thành “yêu cầu thay đổi người giám
định” là phù hợp
Tương tự như vậy, tại điểm h khoản 2 Điều 39: Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát đề nghị sửa lại thành: “ yêu
cầu thay đổi người giám định, người phiên dịch, người dịch thuật”.
- Về nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Điều tra viên, Trợ lý điều tra
viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán (Điều 36, Điều 40, Điều 42): Hầu hết các ý kiến đều
nhất trí với quan điểm thứ nhất đề nghị sửa theo hướng các quyết định tố tụng nhằm phát hiện hoặc làm sáng tỏ sự thật vụ án giao cho Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, trừ thẩm quyền quyết định thực nghiệm điều tra, trưng cầu giám định, yêu cầu định giá tài sản, truy nã bị can, bị cáo vì liên quan đến kinh phí, liên quan đến các tỉnh và quốc tế Vì thực tế trong quá trình thực hiện tố tụng có những việc những người này tiến hành độc lập và có những việc phải quyết định ngay
- Về mở rộng diện người tiến hành tố tụng đối với Trợ lý điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên (Điều 36, 40, 45): Đa số các ý kiến nhất trí với đề xuất của Ban
soạn thảo đưa ra, đề nghị mở rộng diện người tiến hành tố tụng đối với Trợ lý điều tra viên, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên và quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn của các chủ thể này là phù hợp với thực tiễn Vì trong thực tế quá trình điều tra, truy tố, xét
xử thời gian qua, nhiều hoạt động đơn giản chỉ cần do cán bộ điều tra, Kiểm tra viên, Thẩm tra viên thực hiện Tuy nhiên do không quy định họ được tiến hành một số hoạt động tố tụng nên Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán phải đứng tên thực hiện, nhưng chỉ mang tính hình thức để bảo đảm tính pháp lý Việc bổ sung diện người tiến hành tố tụng đối với các chủ thể này sẽ không làm phát sinh biên chế vì hiện nay lực lượng này đang giúp việc cho những người tiến hành tố tụng
Trang 3- Nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của cấp trưởng, cấp phó, Trợ lý điều tra của Bộ đội biên phòng, Hải quan, Thuế, Kiểm lâm, Kiểm ngư, lực lượng Cảnh sát biển (Điều 37) Các ý kiến đều nhất trí bổ sung nhiệm vụ, quyền hạn cho các chức danh của cơ quan quản lý thuế; các chức danh trong cơ quan kiểm ngư để các cơ
quan này có thẩm quyền tiến hành một số hoạt động điều tra là cần thiết Trong đó đáng chú ý là ý kiến của đại diện Cục Thuế tỉnh và Chi cục Hải quan tỉnh Thái Bình đều đề nghị trước tình hình hiện nay các vi phạm trong lĩnh vực thuế ngày càng tinh
vi, nghiêm trọng, nhất là hiện tượng “chuyển giá” của các doanh nghiệp nước ngoài gây thất thu ngân sách rất lớn thì việc quy định cho cơ quan thuế có nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra là tất yếu và rất cần thiết Vì lực lượng điều tra trong ngành thuế có kiến thức nghiệp vụ chuyên môn sâu về lĩnh vực thuế, khi tiến hành điều tra phát hiện vi phạm, phát hiện, thu giữ chứng cứ sẽ thuận lợi hơn
- Về quyền im lặng của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 52,
53, 54, 55): Đây cũng là một trong vấn đề mà còn những ý kiến khác nhau và nhận
được nhiều ý kiến đóng góp trong và ngoài ngành kiểm sát Tuy nhiên phần lớn ý
kiến nhất trí với quan điểm quy định theo cách thứ nhất: “người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền trình bầy lời khai, đưa ra ý kiến” Vì việc trình bày lời
khai, đưa ra ý kiến được quy định là quyền, có nghĩa là họ có thể thực hiện bằng việc trình bầy, đưa ra ý kiến hoặc không thực hiện quyền này nghĩa là không trình bầy ý kiến (đồng nghĩa với quyền im lặng) Và cần phải hiểu đúng bản chất của quyền im
lặng chỉ là cách gọi của quyền không buộc phải đưa ra chứng cứ buộc tội mình của bị
can, bị cáo Bộ luật hình sự cũng quy định người phạm tội được áp dụng tình tiết giảm nhẹ nếu thành khẩn khai báo, nhưng không phải bị áp dụng tình tiết tăng nặng nếu không trình bầy, khai báo (giữ quyền im lặng) Nếu quy định vào điều luật theo cách thứ 2 thì sẽ dễ dẫn đến cách hiểu không đúng bản chất về quyền này của bị can,
bị cáo, gây ra những khó khăn cho công tác điều tra, xác minh, kéo dài thời gian giải quyết vụ án không cần thiết nếu người bị tình nghi im lặng không trình bầy bất cứ điều gì khi được hỏi
Tuy nhiên cũng có một số ý kiến (đại diện Hội luật gia và Đoàn luật sư) đề nghị nên quy định cụ thể về quyền im lặng của bị can, bị cáo theo cách thứ 2 Bởi vì việc chứng minh tội phạm là nhiệm vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, lời khai duy nhất của bị can, bị cáo không đủ làm chứng cứ buộc tội họ Việc quy định cụ thể quyền im lặng vào Bộ luật TTHS sẽ phần nào gây khó khăn cho Cơ quan điều tra, nhưng làm giảm thiểu việc bức cung, dùng nhục hình
- Về quyền của bị can đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau
khi kết thúc điều tra (Điều 54): Đa số các ý kiến nhất trí với quan điểm thứ nhất: Bị
can có quyền "Đọc, ghi chép và sao chụp những tài liệu trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa sau khi kết thúc điều tra" Vì Hiến pháp năm 2013 quy định người
bị buộc tội có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa Do đó, nếu bị can không có điều kiện thuê luật sư bào chữa thì phải được quyền đọc, ghi chép và sao chụp tài liệu trong hồ sơ vụ án sau khi kết thúc điều tra để bảo đảm quyền tự bào
Trang 4chữa của họ Tuy nhiên cần quy định cụ thể cách thức bị can thực hiện quyền đọc, ghi chép, sao chụp tài liệu, nếu bị can đang bị tạm giam thì việc thực hiện quyền này như thế nào Đồng thời phải bảo đảm sự an toàn của hồ sơ vụ án, bảo đảm sự tương xứng với quyền thu thập chứng cứ, xuất trình chứng cứ
2 Chương VI: Những biện pháp cưỡng chế trong tố tụng hình sự.
- Căn cứ áp dụng biện pháp tạm giam: Đa số số ý kiến nhất trí với phương án
1, sửa đổi thay quy định “đối với tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt
tù trên hai năm” bằng quy định “đối với tội ít nghiêm trọng mà BLHS quy định hình phạt tù” Vì như vậy phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội quy định tại Điều
31 Hiến pháp; đồng thời khắc phục đối với loại tội quy định mức hình phạt đến hai năm tù mà bị can, bị cáo gây khó khăn, cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử, nhưng lại không áp dụng được biện pháp tạm giam
- Về việc xắp xếp thứ tự các biện pháp ngăn chặn trong khoản 2 Điều 88, cũng như thứ tự các Điều luật quy định về các biện pháp ngăn chặn, đề nghị nên đưa biện pháp tạm giam sau các biện pháp ngăn chặn Vì tạm giam là biện pháp ngăn chặn nghiêm khắc nhất trong tố tụng hình sự, để áp dụng, thay thế khi đã áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác ít nghiêm khắc hơn (như bảo lĩnh, cấm đi khỏi nơi cư trú, đặt tiền ) mà không có kết quả nhằm bảo đảm tôn trọng quyền con người trong Nhà nước pháp quyền Quy định như vậy nhằm tránh các tư duy khi cân nhắc việc áp dụng biện pháp ngăn chặn thì thường nghĩ ngay đến việc áp dụng biện pháp tạm giam
- Về Đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm: Đa số các ý kiến cho rằng nếu sử dụng
cả tài sản có giá trị để đảm bảo thì sẽ phải thêm một thủ tục định giá tài sản, xác định nguồn gốc tài sản, các vấn đề liên quan đến bảo quản tài sản… Vì vậy đề nghị chọn phương án 1: Đặt tiền để bảo đảm là phù hợp với thực tế hiện nay, không nên quy định thêm hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo, sẽ dẫn đến khó khăn cho việc áp dụng, có nhiều loại tài sản
- Về Phạt tiền (Điều 110): Đa số ý kiến nghị thay mức phạt tiền 50 triệu đồng
bằng 50 lần mức lương tối thiểu, để ổn định quy định của Bộ luật Đồng thời có ý kiến cho rằng cần có cách quy định tên gọi và sắp xếp biện pháp này trong bố cục Bộ luật cho phù hợp, đúng bản chất đây là biện pháp chế tài đối với người vi phạm nghĩa
vụ cam đoan của người nhận bảo lĩnh, chứ không phải biện pháp cưỡng chế đối với
bị can, bị cáo Nên quy định nội dung này ngay trong điều luật quy định về Bảo lĩnh (Điều 101) sẽ bảo đảm lô gic, phù hợp hơn
3 Chương VII: Bào Chữa.
- Chỉ định người bào chữa, Điều 115 dự thảo quy định các trường hợp bắt buộc
cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa, trong đó có quy định về chỉ định người bào chữa đối với người bị bắt, người bị tạm giữ Các ý kiến thảo luận thấy rằng, việc người bào chữa tham gia tố tụng từ khi bị bắt, tạm giữ là cần thiết nhằm bảo vệ quyền
Trang 5con người, quyền công dân Tuy nhiên trong trường hợp người bị bắt, tạm giữ mời người bào chữa thì thực hiện được, còn trường hợp chỉ định bào chữa ngay từ khi bị bắt, bị tạm giữ là không khả thi, vì ngay khi mới bị bắt, tạm giữ cần có thời gian thu thập chứng cứ để xác định tội danh, các tài liệu để xác định chính xác người bị bắt, tạm giữ ở độ tuổi đã thành niên hay chưa thành niên… Do đó, đề nghị Điều 115 Dự thảo cần sửa đổi: chỉ bị can, bị cáo mới là đối tượng thuộc diện chỉ định người bào chữa, nghĩa là việc chỉ định người bào chữa được thực hiện từ khi bị khởi tố bị can
4 Chương XI: Khởi tố vụ án hình sự.
- Thẩm quyền tiếp nhận, giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố (Điều 146) Tại điểm b, khoản 2, Điều 146 dự thảo về thẩm quyền giải quyết
tố giác tin báo về tội phạm còn 2 phương án Qua thảo luận, các ý kiến nhất trí phương án 1 là khi phát hiện việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố của Cơ quan điều tra, cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm, Viện kiểm sát trực tiếp thực hiện việc kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố Vì Viện kiểm sát không làm thay cơ quan điều tra mà chỉ trong hai trường hợp nêu trên thì Viện kiểm sát mới trực tiếp giải quyết tố giác tin báo về tội
phạm Nếu theo phương án 02 là trong trường hợp cần thiết thì mang tính tùy nghi
dẫn đến chồng chéo trong việc giải quyết
- Về thẩm quyền khởi tố vụ án của Hội đồng xét xử, Đa số ý kiến nhất trí với
phương án 1, không quy định Tòa án có thẩm quyền khởi tố vụ án hình sự Bởi lẽ một trong những yêu cầu quan trọng đặt ra đối với việc sửa đổi BLTTHS là phải phân định hợp lý thẩm quyền của các chủ thể, bảo đảm phù hợp với các chức năng cơ bản của tố tụng hình sự (chức năng buộc tội, chức năng bào chữa và chức năng xét xử) Khởi tố vụ án là trách nhiệm của cơ quan buộc tội, Tòa án thực hiện chức năng xét xử, do đó, không nên tiếp tục quy định Tòa án có trách nhiệm khởi tố vụ án Nếu qua hoạt động xét xử mà phát hiện tội phạm và người phạm tội cần phải điều tra thì Tòa án thực hiện quyền kiến nghị Viện kiểm sát khởi tố
- Các trường hợp khởi tố vụ án theo yêu cầu người bị hại: Điều 162 Dự thảo
cơ bản kế thừa các quy định của BLTTHS hiện hành đã thể hiện nhiều điểm hạn chế,
cụ thể: không nêu rõ thời hạn mà trong đó người bị hại được quyền yêu cầu khởi tố, nghĩa là họ có quyền yêu cầu khởi tố vụ án bất cứ lúc nào, không bị giới hạn về mặt thời gian Thực tế có nhiều trường hợp người bị hại chưa yêu cầu khởi tố, nhưng cũng không thể hiện ý chí không yêu cầu khởi tố, dẫn đến kéo dài việc giải quyết Cơ quan điều tra không thể ra quyết định khởi tố vụ án vì chưa có yêu cầu khởi tố của người bị hại, cũng không thể ra quyết định không khởi tố vì không có căn cứ Trong khi đó, thời hạn giải quyết tin báo, tố giác về tội phạm tối đa là 4 tháng Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến vi phạm thời hạn giải quyết tin báo, tố giác tội phạm vì không có thời hạn yêu cầu khởi tố của người bị hại
Trang 65 Chương XII: Những quy định chung về điều tra vụ án hình sự.
- Thẩm quyền điều tra (Điều 167), đa số ý kiến nhất trí với phương án 1, vì quy
định như vậy phân định được rõ thẩm quyền điều tra trên tiêu chí về thẩm quyền của các cơ quan điều tra, thẩm quyền theo lãnh thổ và thẩm quyền theo cấp tố tụng
Khoản 3 sửa đổi Cơ quan điều tra của Viện kiểm sát nhân dân tối cao điều tra tội
phạm xảy ra trong hoạt động tư pháp mà người phạm tội là cán bộ, công chức thuộc Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án, cơ quan thi hành án hoặc người được giao thẩm quyền tiến hành một số hoạt động tư pháp Việc bổ sung này là cần
thiết, phù hợp với thực tế hoạt động của hệ thống cơ quan điều tra hiện nay, bảo đảm
Cơ quan điều tra của VKSND tối cao được quy định và hoạt động theo Bộ luật TTHS
- Chuyển vụ án để điều tra (Điều 173): Đề nghị xem xét đưa vào điều luật quy
định chuyển vụ án để nhập với vụ án khác để tiến hành điều tra, áp dụng với những
vụ án mà bị can phạm tội ở nhiều địa bàn khác nhau, nếu nhập vụ án lại để điều tra, xét xử một lần thì hiệu quả và đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị can (Tuy nhiên phải đảm bảo quyền lợi của người bị hại, người có quyền lợi liên quan trong vụ án)
- Chương XIV: Hỏi cung bị can: qua thảo luận, các ý kiến đều nhất trí việc dự
thảo bổ sung một số nội dung như: Điều tra viên phải thông báo việc hỏi cung trước cho Kiểm sát viên, quy định các trường hợp Kiểm sát viên phải tiến hành hỏi cung như khi họ kêu oan, khiếu nại hoạt động của Điều tra viên và cơ quan điều tra có vi phạm và khi xét thấy cần thiết, quá trình hỏi cung bị can ngoài việc lập biên bản hỏi cung theo quy định thì bắt buộc Điều tra viên phải tiến hành ghi âm hoặc ghi hình là rất phù hợp, qua đó góp phần hạn chế việc oan sai, ép cung, nhục hình
- Khai quật tử thi (Điều 207): Qua thảo luận, nhiều ý kiến đề nghị nên bổ sung
quy định: Viện kiểm sát ra Quyết định khi yêu cầu của Viện kiểm sát không được Cơ
quan điều tra thực hiện; Trước khi tiến hành khám nghiệm phải thông báo cho đại diện gia đình là người đã thành niên thân thích của người chết biết, trong trường hợp người chết không còn người thân thích hoặc không xác định được nhân thân người chết, thì phải báo cơ quan lao động thương binh xã hội nơi đã thực hiện việc mai táng cho người chết.
- Biên bản và kết luận định giá tài sản, Khoản 2 Điều 221 quy định: “Hội đồng định giá tài sản ra kết luận định giá tài sản sau khi hoàn thành việc định giá” Qua
thảo luận thấy thực tế hiện nay có nhiều vụ việc ở địa phương, Hội đồng định giá chậm tiến hành định giá và kết luận định giá khiến việc giải quyết án chậm Do vậy, điều luật cần quy định cụ thể thời gian để Hội đồng định giá tiến hành định giá và ban hành kết luận định giá
- Về việc luật hóa các biện pháp điều tra đặc biệt, qua thảo luận, các ý kiến
đều tán thành với loại ý kiến thứ nhất (thể hiện tại Phương án 2 Điều 224 a, 224b, 224c, 224d, Chương XIXa): cần thiết quy định các biện pháp điều tra đặc biệt trong
Trang 7BLTTHS nhằm đáp ứng yêu cầu của Hiến pháp năm 2013 “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật…”., bảo đảm tốt hơn quyền
con người, quyền công dân và tháo gỡ những vướng mắc trong thực tiễn đấu tranh chống tội phạm thời gian qua Hầu hết các quốc gia đều thể chế biện pháp điều tra đặc biệt trong BLTTHS và quy định rất chặt chẽ căn cứ áp dụng, thẩm quyền quyết định, thủ tục và thời hạn tiến hành, đặc biệt đều cho phép sử dụng các kết quả thu được từ hoạt động này làm chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án Sự khác nhau giữa luật các nước chủ yếu liên quan đến số lượng các biện pháp được áp dụng, tên gọi của các biện pháp và kỹ thuật thể hiện trong luật để phù hợp với điều kiện cụ thể của từng quốc gia
6 Phần thứ 3: Truy tố.
- Nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công
tố trong giai đoạn truy tố, tại mục 6 Điều 231 quy định thẩm quyền áp dụng thủ tục
rút gọn là không hợp lý, vì thẩm quyền này được áp dụng ngay trong giai đoạn điều
tra chứ không phải trong giai đoạn truy tố
- Thẩm quyền truy tố Điều 234: Đa số các ý kiến đồng ý với cách quy định theo phương án 2 Dự thảo: Cơ quan cấp nào điều tra thì Viện kiểm sát cấp đó là cơ quan kiểm sát điều tra và quyết định việc truy tố Vì hoạt động truy tố gắn chặt với hoạt động điều tra, là kết quả của hoạt động điều tra và trách nhiệm của cơ quan, người tiến hành tố tụng trước mỗi quyết định của mình
7 Phần thứ tư: Xét xử vụ án hình sự.
- Quy định chung về xét xử (Chương XXIII) có 13 điều trong đó có 03 điều mới
bổ sung đã quy định đầy đủ từ thành phần Hội đồng xét xử, nội quy phiên toà, Biên bản phiên toà, Bản án Đăc biệt dự thảo có 03 điều mới quy định về Phòng xử án; Nhiệm vụ của Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử và khi kiểm sát xét xử Qua thảo luận, các ý kiến cơ bản nhất trí với những điều luật do
dự thảo quy định đặc biệt là quy định về Phòng xử án tại điều Điều 252 Trên thực tế hiện nay việc sắp xếp vị trí ngồi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên, Thư ký Toà án của các phòng xử án ở mỗi nơi một khác không có sự thống nhất Đặc biệt vị trí ngồi của Kiểm sát viên có nơi ngồi phía trên cùng Hội đồng xét xử, có nơi ngồi phía dưới thấp hơn Hội đồng xét xử và ngang bằng với nhưng người tham gia tố tụng như: Luật
sư, người phiên dịch đã làm mất đi vị thế của cơ quan công tố tại phiên toà
8 Chương XXIV: Xét xử sơ thẩm.
- Về sự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa (Điều 288): Các ý kiến đều nhất
trí với phương án 1 Trong quá trình xét xử, Hội đồng xét xử có thể triệu tập Điều tra viên đã điều tra vụ án đến phiên tòa để làm rõ các tình tiết của vụ án, làm căn cứ cho việc ra bản án, quyết định đúng pháp luật Vì thực tiễn xét xử thời gian qua, nhiều
trường hợp ự có mặt của Điều tra viên tại phiên tòa là cần thiết để góp phần làm sáng
tỏ các tình tiết của vụ án, tăng tính minh bạch của các hoạt động tố tụng, làm căn cứ
Trang 8cho việc Tòa án ra bản án, quyết định đúng pháp luật, tăng tính minh bạch của các hoạt động tố tụng Thực tế có nhiều vụ án bị cáo không nhận tội trong giai đoạn xét
xử, việc khai nhận tại cơ quan điều tra bị cáo cho rằng do bị bức cung… sự có mặt của Điều tra viên sẽ góp phần làm sáng tỏ các chứng cứ, tình tiết của vụ án, đảm bảo các chứng cứ được đưa ra có tính thuyết phục cao hơn Nếu Hội đồng xét xử mời, thì Điều tra viên có thể tham gia phiên tòa, có thể không, như vậy không bảo đảm tính nghiêm túc của phiên tòa và sự chủ động của Hội đồng xét xử
- Kiểm sát viên rút quyết định truy tố hoặc kết luận về tội nhẹ hơn tại phiên toà (Điều 290): Qua nghiên cứu thảo luận, các ý kiến đều nhất trí với phương án 1:
Trường hợp Kiểm sát viên rút toàn bộ quyết định truy tố thì Tòa án đình chỉ việc xét
xử Trường hợp thấy việc rút quyết định truy tố không có căn cứ thì sau khi ra quyết định đình chỉ việc xét xử, Hội đồng xét xử kiến nghị với Viện trưởng Viện kiểm sát cùng cấp và Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp Vì việc truy tố của Viện kiểm sát đối với bị cáo là cơ sở để Hội đồng xét xử và xem xét bị cáo có phạm tội như truy tố hay không, khi Kiểm sát viên đại diện cho Viện kiểm sát đã rút quyết định truy tố, thì cơ sở để xét xử và tuyên án không còn nữa, Tòa án đình chỉ xét xử là
phù hợp lô gic tố tụng Nếu quy định theo phương án 2, Hội đồng xét xử ra bản án tuyên bố bị cáo không phạm tội Như vậy không phù hợp với nguyên tắc xét xử, bởi
tại phiên toà kiểm sát viên đã rút toàn bộ quyết định truy tố thì các hoạt động tố tụng khác tại phiên toà không được thực hiện nên Hội đồng xét xử không thể ra bản án được Hơn nữa nếu trường hợp do quyết định của cá nhân Kiểm sát viên rút quyết định truy tố là chưa chính xác mà Hội đồng xét xử đã tuyên bị cáo không phạm tội thi trình tự để khắc phục lại xảy ra nhiều vướng mắc, bất cập
- Về giới hạn xét xử (Điều 291): Đa số các ý kiến nhất trí với phương án 1:
Việc đặt ra giới hạn xét xử là để phù hợp với sự phân định các chức năng của tố tụng hình sự: buộc tội, bào chữa, xét xử Tòa án chỉ xét xử khi có truy tố của Viện kiểm sát và chỉ xét xử trong phạm vi truy tố của Viện kiểm sát; việc xét xử khác với nội dung cáo trạng chỉ được phép nếu không làm xấu hơn tình trạng của bị cáo và không
ảnh hưởng đến quyền bào chữa của họ Vì vậy quy định Tòa án có thể xét xử bị cáo theo khoản khác với khoản mà Viện kiểm sát đã truy tố trong cùng một điều luật hoặc về một tội khác bằng hoặc nhẹ hơn tội mà Viện kiểm sát đã truy tố nhưng phải bảo đảm quyền bào chữa của bị cáo là phù hợp.
- Về trình tự xét hỏi (Điều 300): Đa số ý kiến nhất trí với phương án 1 Vì phù
hợp với nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử, không quy định trong ai hỏi trước, ai hỏi sau mà do Hội đồng xét xử quyết định căn cứ vào đặc điểm cụ thể của từng vụ án Việc làm rõ hành vi phạm tội theo Cáo trạng truy tố, trước hết là trách nhiệm của Kiểm sát viên, dù bị cáo có nhất trí hay không nhất trí toàn bộ hoặc một phần cáo trạng Nên không cần quy định cụ thể từng trường hợp như phương án 2
- Chương XXV Xét xử phúc thẩm, nhiều ý kiến đề nghị nên xem xét bổ sung
quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự về những căn cứ kháng nghị phúc thẩm, quy
Trang 9định rõ bản án hoặc quyết định sơ thẩm vi phạm như thế nào, mức độ đến đâu thì Viện kiểm sát kháng nghị và có như vậy thì mới có tiêu chí để xác định kháng nghị phúc thẩm của Viện kiểm sát đúng hay không đúng để Toà án chấp nhận hay bác kháng nghị
- Thay đổi, bổ sung, rút kháng cáo, kháng nghị (Điều 335): Có ý kiến đề nghị
bổ sung thêm cụm từ tại khoản 2 Điều 335: “ngay sau khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị” sau cụm từ “Trường hợp rút toàn bộ kháng cáo, kháng nghị trước khi
mở phiên tòa thì Tòa án cấp phúc thẩm ra quyết định đình chỉ xét xử phúc thẩm” Lý
do là mặc dù bị cáo rút toàn bộ kháng cáo, Viện kiểm sát rút toàn bộ kháng nghị trước khi mở phiên toà phúc thẩm nhưng thời hạn kháng cáo, kháng nghị vẫn còn, bị cáo vẫn có quyền kháng cáo, Viện kiểm sát vẫn có quyền kháng nghị lại vì pháp luật không cấm Việc bổ sung nội dung này còn có ý nghĩa để xác định rõ thời điểm bản
án có hiệu lực pháp luật và thời điểm ra quyết định thi hành án, việc áp giải bị án…
- Hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại hoặc xét xử lại, Điều 352 quy định Toà án
cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại trong những trường hợp sau đây:
a) Có căn cứ cho rằng cấp sơ thẩm bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc để khởi tố, điều tra về tội nặng hơn tội đã tuyên trong bản án sơ thẩm;
b) Việc điều tra ở cấp sơ thẩm không đầy đủ mà cấp phúc thẩm không thể bổ sung được
Có ý kiến cho rằng trong thực tiễn xét xử đã có rất nhiều bản án sơ thẩm đã bị huỷ do vi phạm trong hoạt động điều tra, truy tố như vi phạm về việc tham gia của người bào chữa theo quy định tại khoản 2 Điều 57 BLTTHS; vi phạm trong việc lấy lời khai, hỏi cung bị can chưa thành niên từ 14 đến dưới 16 tuổi… theo quy định tại khoản 2 Điều 306 BLTTHS; vi phạm trong khám nghiệm hiện trường, trưng cầu giám định, đối chất, nhận dạng, thu giữ vật chứng Để đảm bảo việc xử lý vụ án được đúng đắn, khách quan, Toà án cấp phúc thẩm cần phải huỷ án đối với các trường hợp trên để điều tra, xét xử lại Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành không quy
định, do vậy đề nghị bổ sung thêm điểm c tại khoản 1 điều 352: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng trong hoạt động điều tra, truy tố
9 Chương XXVIII: Thủ tục giám đốc thẩm.
- Thẩm quyền của Hội đồng giám đốc thẩm sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật (Điều 385) Đa số các ý kiến nhất trí phương án 1, không bổ sung thẩm
quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Hội đồng giám đốc thẩm
Vì Điều 103 Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm” Do đó, nếu giao cho Hội đồng giám đốc thẩm quyền sửa bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, tức là giao cho cấp này thẩm quyền xét xử Như vậy, phải bổ sung các thủ tục tố tụng tương tự như xét xử sơ thẩm, xét xử phúc thẩm (thủ tục xét hỏi, tranh luận, nghị án…), bổ sung các quy định để bảo đảm quyền bào
chữa của bị cáo để thực hiện đúng nguyên tắc “Bản án, quyết định của Tòa án phải
Trang 10căn cứ vào kết quả thẩm vấn, tranh tụng và những chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa” Mặt khác trong dự thảo cũng chưa đưa ra được các trường hợp nào thì
được sửa
- Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm: Cần bổ sung nội dung về
thời hạn kháng nghị theo hướng có lợi cho Nhà nước có thể tiến hành bất cứ lúc nào bởi vì trong thực tế có những trường hợp việc xử lý vật chứng sai, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước nhưng không có biện pháp để khắc phục (Ví dụ: Trường hợp vật chứng nếu xử lý đúng là phải tịch thu sung quỹ Nhà nước nhưng cấp sơ thẩm lại tuyên trả lại cho đương sự hoặc tiêu hủy)
10 Chương XXX: Thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên.
- Về Phạm vi áp dụng, các đối tượng được áp dụng đã được bổ sung thêm
người bị hại, người làm chứng là vị thành niên song còn thiếu một số đối tượng nữa
là "người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan" vì Điều 54 Bộ luật TTHS hiện hành có quy định về quyền và nghĩa vụ của họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ
- Xác định tuổi của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên, các ý kiến nhất trí với phương án 1 là cần phân biệt căn cứ xác định tuổi
của người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa thành niên khác với cách xác định tuổi của bị hại chưa thành niên Cách tính này theo nguyên tắc có lợi cho ngượi bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo; nếu tính tuổi theo cùng một cách thì sẽ xảy ra trường hợp bất lợi cho họ
- Việc tham gia tố tụng của người đại diện theo pháp luật Các ý kiến cho rằng
khoản 2 của điều luật quy định cả đại diện theo pháp luật của người làm chứng cũng được đọc hồ sơ vụ án khi kết thúc điều tra là không hợp lý Bởi vì hồ sơ vụ án hình
sự được quy định trong danh mục tài liệu mật
- Lấy lời khai người bị bắt, tạm giữ (Điều 411): Khoản 2 điều luật quy định
"Đối với người đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, người có nhược điểm về thể chất hoặc tinh thần nếu người đại diện theo pháp luật không có mặt cơ quan tiến hành tố tụng phải mời đại diện cơ quan, tổ chức hữu quan" Nhiều ý kiến thấy quy định như trên rất
chung chung, khó thực hiện, nên quy định cụ thể, ví dụ như "đại diện chính quyền địa phương nơi họ cư trú" thì mới áp dụng thống nhất được Trong trường hợp người đại diện của họ vắng mặt thì khi lấy lời khai chỉ nên quy định phải có đại diện Viện kiểm sát là được, vì Viện kiểm sát có chức năng giám sát hoạt động tư pháp
11 Chương XXXIII: Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hình sự.
- Thời hiệu khiếu nại (Điều 437): Đoạn 2 điều luật này quy định: "Trong trường hợp ốm đau… đi công tác, học tập ở nơi xa… hoặc vì trở ngại khách quan khác mà người khiếu nại không thực hiện được quyền theo đúng thời hiệu thì thời gian trở ngại đó không tính vào thời hiệu khiếu nại" Qua thực tế thấy rằng trường
hợp này cũng phải ấn định một thời gian nhất định (chẳng hạn không quá 1 năm)