Trong kho tàng kinh điển Phật giáo qua những lời dạy của đức Phật, Ngài từ nơi thế giới xa xăm về cõi Ta bà này, để cứu độ chúng sanh mà thị hiện trong hình hài một con người bình thường để từ đó nhận chân được nỗi đau khổ, nhọc nhằn của kiếp người, rồi quyết tâm tìm con đường giải thoát cho chúng sanh bằng chính bản thân chứng nghiệm, bằng những phương tiện tinh xảo nhưng hoàn toàn thực tế đang xảy ra trong cuộc sống hằng ngày và vì thương chúng sanh nên Ngài đã không ở Niết bàn mà cùng trú ngụ cõi Ta bà, nên Ngài cũng cam chịu cái thân đói khát cũng cần ăn uống, ngủ nghỉ, cũng làm Tỳ kheo qua bao thăng trầm đến khi ngộ nhập tri kiến Phật và từ đó Ngài đã dùng các phương tiện để thuyết giảng tùy theo căn cơ của chúng sanh mà Ngài đã tuyên thuyết “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” mọi chúng sanh đều có Phật tánh, tính bình đẳng trong tất cả chúng sanh, bất cứ ai cũng có khả năng thành Phật, đủ khả năng giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử. Hàng Huynh trưởng là người học Phật, tin Phật đồng thời đem những lời Phật dạy vào trong cuộc sống của chính mình và cộng đồng chung quanh chúng ta chính điều này giúp chúng ta suy nghĩ, để ngộ nhập tri kiến Phật, có tới tám vạn bốn ngàn pháp môn để hành giả tùy duyên mà tu học vượt thoát mọi khổ đau để đến bờ giải thoát với chí nguyện trên, hàng Huynh trưởng thề nguyện theo lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa chính bằng sự tu học của mình để nhập vào tri kiến Phật. Huynh trưởng chúng ta cùng nhau tìm hiểu nội điển kinh Pháp Hoa nhất là tư tưởng Nhất thừa và ý nghĩa cũng như tính giáo dục trong dụ “Hạt châu trong chéo áo Thông điệp mang tính giáo dục Phật pháp cho giới trẻ ngày nay”, đó cũng là phạm vi đề tài luận văn này.
Trang 1BI – TRÍ – DŨNG oOo
ĐỀ TÀI LUẬN VĂN BẬC LỰC
Ý NGHĨA HẠT CHÂU TRONG CHÉO ÁO CỦA KINH PHÁP HOA THÔNG ĐIỆP MANG TÍNH GIÁO DỤC
PHẬT PHÁP CHO GIỚI TRẺ NGÀY NAY
Học viên : HUỲNH THỊ THÙY TRANG Pháp danh : DIỆU HÒA
Trang 2
Trang 3
Trang 4
Trang 5
2 Tinh yếu kinh Pháp Hoa
2.1 Tư tưởng Nhất thừa
2.2 Pháp phương tiện
2.3 Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ
2.4 Tri Kiến Phật
2.4.1 Tri kiến thế gian
2.4.2 Tri kiến xuất thế gian
3 Tính giáo dục theo kinh điển Đại thừa
3.1 Ý nghĩa dụ Hạt châu trong chéo áo
3.2 Tính giáo dục qua dụ Ngọc trong chéo áo
4 Thông điệp mang tính giáo dục Phật Pháp cho giới trẻ ngày nay
4.1 Hiện trạng giới trẻ ngày nay
4.2 Củng cố đạo đức cho giới trẻ
4.2.1 Đối với bản thân
Trang 6I DẪN NHẬP
Trong kho tàng kinh điển Phật giáo qua những lời dạy của đức Phật, Ngài từ nơi thế giới xa xăm về cõi Ta bà này, để cứu độ chúng sanh mà thị hiện trong hình hài một con người bình thường để từ đó nhận chân được nỗi đau khổ, nhọc nhằn của kiếp người, rồi quyết tâm tìm con đường giải thoát cho chúng sanh bằng chính bản thân chứng nghiệm, bằng những phương tiện tinh xảo nhưng hoàn toàn thực tế đang xảy ra trong cuộc sống hằng ngày và vì thương chúng sanh nên Ngài đã không ở Niết- bàn
mà cùng trú ngụ cõi Ta- bà, nên Ngài cũng cam chịu cái thân đói khát cũng cần ăn uống, ngủ nghỉ, cũng làm Tỳ- kheo qua bao thăng trầm đến khi ngộ nhập tri kiến Phật
và từ đó Ngài đã dùng các phương tiện để thuyết giảng tùy theo căn cơ của chúng sanh
mà Ngài đã tuyên thuyết “Ta là Phật đã thành, chúng sanh là Phật sẽ thành” mọi
chúng sanh đều có Phật tánh, tính bình đẳng trong tất cả chúng sanh, bất cứ ai cũng có khả năng thành Phật, đủ khả năng giải thoát khỏi khổ đau, sinh tử
Hàng Huynh trưởng là người học Phật, tin Phật đồng thời đem những lời Phật dạy vào trong cuộc sống của chính mình và cộng đồng chung quanh chúng ta chính điều này giúp chúng ta suy nghĩ, để ngộ nhập tri kiến Phật, có tới tám vạn bốn ngàn pháp môn để hành giả tùy duyên mà tu học vượt thoát mọi khổ đau để đến bờ giải thoát với chí nguyện trên, hàng Huynh trưởng thề nguyện theo lời Phật dạy trong kinh Pháp Hoa chính bằng sự tu học của mình để nhập vào tri kiến Phật
Huynh trưởng chúng ta cùng nhau tìm hiểu nội điển kinh Pháp Hoa nhất là tư
tưởng Nhất thừa và ý nghĩa cũng như tính giáo dục trong dụ “Hạt châu trong chéo áo- Thông điệp mang tính giáo dục Phật pháp cho giới trẻ ngày nay”, đó cũng là
phạm vi đề tài luận văn này
Trang 71.2 Ý nghĩa tên kinh
Diệu Pháp: Tiếng Phạn là Saddharma, Pháp Chân thật hay Hiện hữu Chân thật
là tri kiến Phật
Hoa sen: Được dùng làm ảnh dụ để chỉ những tính chất đặc biệt cao quý của tri kiến Phật
Hoa sen có ba tính chất đặc biệt:
- Sống trong bùn mà không hôi mùi bùn
- Biến bùn thành bông hoa tươi đẹp
- Hoa và gương sen có cùng một lúc
Dụ cho ba tính chất tương đương của tri kiến Phật vô nhiễm, siêu việt và bình đẳng, vô nhiễm vì ở giữa cõi đời ô trược mà không bị vấy bẩn bởi các phiền não của cuộc đời, siêu việt vì nó là năng lực biến phiền não thành Tuệ- giác, Ta- bà thành Tịnh- độ, bình đẳng vì chúng sanh và Phật đều có như nhau
Như vậy kinh Diệu Pháp Liên Hoa là bản kinh nói về tri kiến Vô- thượng của Phật- đà, tri kiến ấy là Hiện hữu Chân thật, được ví như bông sen, ở giữa đời mà không bị ô nhiễm bởi thói đời trái lại nó mang năng lực biến mọi phiền não thành pháp thân đầy đủ phước đức và trí tuệ, biến thế giới ô nhiễm thành thế giới trong sáng và đẹp đẽ Điểm đặc biệt hơn nữa là tri kiến Phật có mặt trong vạn hữu, không chỉ đức Phật mới có mà mọi chúng sanh đều có, nhờ tính chất đặc biệt này mà chư Phật ba đời mới thuyết giảng kinh Diệu Pháp cho Bồ- tát những người mong cầu tri kiến Vô- thượng của Phật đà, mới có thể thấy biết để đi vào Tuệ- giác ấy, kinh Pháp Hoa chứa đầy những khái niệm, hình ảnh, hoạt cảnh và thí dụ sống động tuy nhiên tất cả chúng đều nhắm đến trạng thái Giác ngộ bí ẩn của đức Phật ở nơi phẩm Tựa, là trạng thái được gọi là Pháp hay Diệu Pháp, đây cũng là nguồn cảm hứng vô tận cho nhiều học giả và độc giả qua mọi thời đại
Trang 81.3 Đại ý kinh:
Trước khi nhập Niết- bàn, đức Thế- tôn vận dụng các thần lực, thí dụ thọ ký, lập luận mối tương quan giữa thầy và trò xa xưa, để hệ thống toàn bộ giáo lý, Ngài đã thuyết giảng trong hơn bốn mươi năm dưới một chủ thể duy nhất: Tri kiến Phật đó là Tuệ- giác siêu việt, có khả năng chuyển hóa tâm xấu xa của chúng sanh thành tâm trong sáng của chư Phật, có khả năng biến đổi cảnh giới nhơ nhớp đầy đau khổ của chúng sanh thành cảnh giới an vui và đẹp đẽ của chư Phật, ví như bông sen đã biến bùn dơ thành đóa hoa tinh khiết, làm chốn ao lầy thành một cảnh trí đầy hương sắc, lý
do chư Phật ba đời xuất hiện tại thế gian là muốn mở bày cho chúng sanh thấy Tuệ- giác này, mọi giáo pháp các Ngài từng tuyên thuyết chỉ là phương tiện dẫn dắt chúng sanh đạt đến mục đích duy nhất ấy là tri kiến Phật
1.4 Bố cục kinh:
Kinh Pháp Hoa gồm 7 quyển, 28 phẩm- bố cục nội dung được phân chia, gồm hai phần là Tích môn và Bổn môn
1.4.1 Phần Tích môn:
Đây là phần hoá độ của Phật Thích Ca biểu hiện qua lịch sử- Tu tập, thành đạo
và giáo hoá, gồm 14 phẩm đầu
Phẩm tựa giới thiệu tổng quát về tri kiến Phật
Phẩm 2 gọi là “Pháp Thuyết Châu”, cũng chỉ bày tri kiến Phật, nhưng chỉ có
bậc đệ tử thượng trí như Tôn giả Xá- lợi- phất mới lãnh hội được
Phẩm 3-6 gọi là “Dụ Thuyết Châu”, ở đây Thế Tôn phải dùng nhân duyên thí
dụ để chỉ bày tri kiến Phật, nhờ thế, các bậc căn trí sau Ngài Xá- lợi- phất một bậc mới lãnh hội được
Phẩm 7-9 gọi là “Nhân Duyên Thuyết Châu”, tại đây đức Thế Tôn mở tâm cho
các đệ tử căn trí thấp hơn thấy rõ nhân tu hành quá khứ của tự thân để phát khởi tâm Đại thừa, hầu thấy rõ Phật tri kiến, phần này dạy các bậc Thanh văn hữu học
Phẩm 10-14 là phần trình bày bổ sung các phần trên, nói lên khả năng thành Phật của mọi chúng sanh, nói lên Phật tính và điều kiện để hiểu và thuyết giảng Pháp Hoa
1.4.2 Phần Bổn môn:
Phẩm 15-16 là phần chính của Bổn môn, nói lên Phật tính thường còn, không sinh diệt, đức Thế Tôn vốn đã thành Phật từ vô lượng kiếp ở Ta- bà, không phải mới ra
Trang 9đời và thành đạo trong hiện kiếp, đây là phần giáo lý đặc biệt của Pháp Hoa giải thích
lý do tại sao có thể thành Phật
Phẩm 17-22 tiếp tục giới thiệu tư tưởng của Bổn môn, vừa khích lệ các đệ tử học hiểu, tu tập và phổ biến kinh
Phẩm 23-28 trình bày con đường đi vào tri kiến Phật của Bồ- tát
2 Tinh yếu kinh Pháp Hoa:
2.1 Tư tưởng Nhất thừa:
Nhất thừa: Một khái niệm của kinh Pháp Hoa là Nhất thừa, vào thời gian kinh được biên soạn thì đã có mặt những danh xưng Thanh văn, Duyên giác và Bồ- tát, phần đông đi theo con đường A La Hán tuy nhiên chúng ta thấy trong kinh Pháp Hoa,
có một sự hạ thấp dần dần địa vị của A La Hán, mà lại nâng cao địa vị Phật và sự chứng ngộ của Ngài và kinh Pháp Hoa biểu thị đỉnh cao của tiến trình này Trong thực
tế chỉ có Nhất thừa, chỉ một đạo lộ dẫn đến mục tiêu tối hậu là Phật, mà không phải là ba; Nếu có chăng thì họ cũng chỉ khác nhau ở một vài phẩm hạnh, Nhất thừa là Phật thừa tối hậu, tối hậu là Nhất thừa đưa đến địa vị Phật toàn mãn, tất cả đều sẽ thành Phật và học thuyết Tam thừa trong thực tế chỉ là phương tiện của đức Phật
Từ lâu người ta đã quan niệm có ba con đường, con đường của Thanh văn, Duyên giác và con đường của Bồ- tát, đó là Tam thừa, khi kinh Pháp Hoa ra đời, nói rằng ý niệm Tam thừa là một ý niệm tạm, kỳ thực chỉ có một con đường chung cho mọi người thôi, đó gọi là Nhất thừa, có khi được gọi là Phật thừa có nghĩa không phải
là Thanh văn thừa, Duyên giác thừa, hay Bồ- tát thừa, mà là Phật thừa, danh từ Bồ- tát thừa là để phân biệt với Thanh văn thừa và Duyên giác thừa, nhưng danh từ Phật thừa bao gồm cả ba thừa kể trên Vì vậy, chúng ta đừng nên đồng nhất Bồ- tát thừa với Phật thừa khi đã đưa ra Nhất thừa hay là Phật thừa làm con đường duy nhất rồi, Phật nói rằng ta cũng có nói đến con đường thứ nhất tức là Thanh văn thừa, con đường thứ hai
là Duyên giác thừa và con đường thứ ba là Bồ- tát thừa, nhưng đó là vì ta tạm sử dụng phương tiện, thật ra chỉ có một thừa mà thôi, gọi là đạo lý Nhất thừa còn gọi là Pháp Nhất thừa
Trang 10Bài kệ bốn câu này có nhiều người thuộc vì nó là tinh yếu của Phẩm thứ hai và cũng là tinh yếu của kinh Pháp Hoa:
Thập phương Phật độ trung,
Duy hữu Nhất Thừa Pháp,
Vô nhị diệt vô tam,
Trừ Phật phương tiện thuyết
Có nghĩa là trong các cõi chư Phật ở mười phương, chỉ có Pháp Nhất thừa thôi, không có thừa thứ hai, cũng không có thừa thứ ba, chỉ trừ khi đức Phật dùng phương tiện để tuyên thuyết, đến đây chúng ta thấy ngôn từ của kinh điển Đại thừa đã ngọt ngào, đã bao dung và không có ý định muốn đẩy Nhị thừa ra khỏi vòng tay ấm áp của đạo Phật nữa, từ khi kinh Pháp Hoa xuất hiện thì chúng ta lại nghe nói rằng Thanh văn
và Duyên giác cũng đều là con Phật, chính Phật đã dạy như vậy, chính Phật đã dùng phương tiện để mà hướng dẫn như vậy
Thật ra, chữ phương tiện được rất nhiều nhà học Phật nghiên cứu định nghĩa và giải thích, song không ngoài hai ý trên, mở rộng ra ta có thể hiểu Pháp phương tiện như là một phương pháp đúng, đầy đủ tiện ích, thích đáng mà đức Phật dùng để soi sáng cho hết thảy chúng sanh thấy rõ được sự thật của các Pháp là vô tướng và nhận rõ Phật tri kiến của chính mình hay nói một cách cụ thể hơn Pháp phương tiện chính là
Trang 11phương pháp đúng đắn tiện ích mà đức Phật sử dụng nó để thực hiện bản hoài của
mình là “Khai Thị Chúng Sanh Ngộ Nhập Phật Tri Kiến”
Pháp phương tiện chính là phương pháp sử dụng phương tiện để thuyết giảng,
để giáo hóa chúng sanh, nhằm giúp cho chúng sanh nhận chân được Phật tri kiến của mình mà tu tập giải thoát
Trong phẩm Tựa, đức Phật nhập Vô lượng nghĩa xứ, định và phóng quang cho thấy tất cả cảnh giới của tứ thánh lục phàm, những người vào được ánh quang Phật, tức tiếp nhận được giáo pháp Phật mới nhận chân toàn cảnh Pháp giới, còn người chấp pháp, chấp ngã thì tuyệt phần Phật thương xót những người chưa vào Thiền định được, nên từ an tường tam muội thuyết pháp cho Bồ- tát trong Thiền định, Ngài trở lại đời sống bình thường và bắt đầu thuyết giảng nói về phương tiện
Phẩm thứ hai của kinh Pháp Hoa tên là Phương tiện, tất nhiên chính yếu nói về phương tiện, mở đầu phẩm Phương tiện, đức Phật gọi Xá Lợi Phất để nói về trí tuệ thâm sâu của Như Lai mà Ngài đã tu chứng, ngài khẳng định rằng tri kiến Phật khó hiểu khó vào, hàng Nhị thừa mới đến lớp vỏ và hàng Bồ- tát chỉ vào được một phần, làm thế nào nói cho chúng sinh bị ngũ uẩn ngăn che nhận biết được và đức Phật kết
luận rằng “Duy Phật dữ Phật nãi năng cứu tận chư pháp thật tướng”, nghĩa là chỉ có
Phật Thích Ca và chư Phật thấu biết Pháp Chân thật hay Thật tướng các pháp
Phương tiện của đức Phật dùng đúng người, đúng lúc, đúng chỗ nên có hiệu quả tốt, phương tiện này là Tam thừa giáo dìu dắt Thanh văn, Duyên giác, Bồ- tát ra khỏi sinh tử và những phương tiện khác làm cho Trời, Người được an vui, lợi ích đó là mục tiêu đức Phật hiện thân trên cuộc đời này
2.3 Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ:
Ngôn ngữ ẩn dụ, thí dụ là ngôn ngữ diễn đạt về một hình ảnh cụ thể, một trường hợp cụ thể để minh họa cho vấn đề được nêu ra trong kinh tạng Phật giáo, có rất nhiều hình ảnh ẩn dụ, thí dụ Ðức Phật, trong mỗi pháp thoại thường dùng thí dụ cụ thể để minh họa cho giáo lý của Ngài như phẩm Thí dụ trong kinh Pháp Hoa cũng là một
trường hợp điển hình, các thí dụ phần lớn mang tính cách triết lý, như thí dụ "nhà lửa", thí dụ "gã cùng tử”, thí dụ được dùng như là một thể cách đặc biệt của ngôn ngữ kinh
tạng, đó chính là những thí dụ rất sống động, rất giản đơn như những sự kiện, hiện tượng xảy ra hàng ngày và gắn liền với đời sống tâm thức, tình cảm của con người
Trang 12Một thí dụ khác rất độc đáo được nói trong kinh Pháp Hoa là "nhà lửa"- phẩm Thí dụ, ngôi "nhà lửa" ở đây chính là ngôi nhà tâm thức mà chúng ta đang trú ngụ, quả
tình đang mải miết cháy bởi các dục vọng, mong muốn, nhu cầu Nếu không nhanh chóng đi ra khỏi căn nhà đó- căn nhà dục vọng, thì sẽ bị thiêu đốt và sẽ chết tàn như tro bụi nhưng trớ trêu thay loài người đang mải mê trong cuộc vui, làm sao chúng sanh
có thể thấy được sự nguy hiểm đang vây bủa bao quanh
Từ một vài dẫn dụ trên, cho thấy rằng phép ẩn dụ và thí dụ của ngôn ngữ trong
kinh tạng Ðại thừa quả thật là vô cùng uyên thâm, chỉ một chủ đề là "lửa" nhưng nó
được thí dụ một cách linh hoạt, có khi lửa biểu trưng cho dục vọng, nhưng cũng có khi
lửa biểu trưng cho sức mạnh của Thiền định, như "lửa tam muội" trong kinh Lăng
cho chúng ta là phải biết "Giải thoát tri kiến"
2.4.1 Tri kiến thế gian:
Tri thức, sự hiểu biết, sự học, cái suy luận, nguyên cứu, tìm kiếm, thụ đắc từ
bên ngoài, còn gọi là “Trí khôn” nghĩa là dùng tư tưởng suy luận so sánh đúng sai để
hiểu những hiện tượng bên ngoài, trí khôn dễ bị phân tán trong rừng kiến giải vì vậy người hiểu rộng có nhiều sở đắc rất khó tu vì để tham, sân, si núp bóng sau trí khôn biện luận hoành hành mà không ai biết cũng như người đó bám víu vào cái ta đúng, kẻ khác sai, ta hơn, kẻ khác thua
Vì tri kiến lấy ngoại cảnh làm đối tượng, không có tri kiến chân thật nên hầu hết
bị lạc đường
2.4.2 Tri kiến xuất thế gian:
Tri kiến Phật hay Trí- tuệ giác ngộ dùng sự im lặng nội tâm để trực nhận cái bản chất trung thực của mình và chỉ có tri kiến Phật mới trực diện được chân lý vừa khởi ý nghĩa so sánh thì chân lý bất nhị liền đó biến thành kiến giải đối đãi, trí tuệ bản
Trang 13chất nó đầy đủ, không hơn không kém, tự nó có sẵn cái biết trong đó, không cần đem
từ ngoài vào, trí tuệ thường đi đôi với từ bi thông cảm, hiểu mình và hiểu người, sống với trí tuệ ta sẽ thấy mọi người đều bình đẳng như nhau cái hơn kém chỉ là ảo giác của
tư tưởng phân biệt, chính vì trí tuệ có nguồn gốc ngoài hiện tượng- chân không, kể cả hữu hình và vô hình nên mới dung hòa được sự bình đẳng, nếu có sự so sánh tốt xấu, hơn thua thì không thể nào có bình đẳng được, tột cùng của bình đẳng là Không, chính
là thân ánh sáng- pháp thân
Trí tuệ giúp ta hiểu chính mình còn trí khôn hiểu người, hiểu cảnh mà đôi khi ta còn dùng trí khôn để tự lừa dối mình- biện hộ hay lừa đối người để lấy phần lợi, phần thắng cho ta, càng hiểu nhiều ta càng che đậy con người thật của mình
- Thị Ngộ Tri Kiến Phật
Phật vì một đại sự nhân duyên mà ra đời dẫn dắt để chúng sanh được giác ngộ
và nhập vào tri kiến của Phật
Khai thị là làm cho thấy, mở ra, chỉ cho thấy
Với kinh Pháp Hoa, Phật mở ra cái biết cái thấy của Phật, gọi là khai tri kiến của Phật, chỉ cho biết cái biết cái thấy của Phật gọi là thị Phật tri kiến, khiến cho hiểu được, ngộ được cái biết cái thấy của Phật, gọi là ngộ Phật tri kiến, đưa chúng sanh vào cái biết cái thấy của Phật gọi là nhập Phật tri kiến nghĩa của thành ngữ khai thị ngộ nhập là như vậy
Từ phẩm Trì tới phẩm Chúc Lụy, Phật dạy chúng sanh đều bình đẳng có Thật tánh như nhau muốn được an lạc hạnh, thì an trụ nơi bốn pháp:
- Hành xứ: Nếu Bồ- tát an trụ nơi nhẫn nhục hòa dịu, khéo thuận, lòng cũng
chẳng kinh sợ, lại ở nơi pháp không phân biệt mà quán tướng như thật của các pháp cũng chẳng dựa theo, chẳng phân biệt, đó gọi là chỗ Hành xứ của Bồ- tát
- Trụ Thân cận xứ: Chẳng gần gủi kẻ chơi việc hung hiểm hạng người tăng
thượng mạn, phải thấu suốt nhân quả, giới luật phải nghiêm minh, Bồ- tát quán sát
"Nhứt thiết pháp không như thiệt tướng" chẳng điên đảo, chẳng động, chẳng thối,
chẳng chuyển, như hư không
- Thâm tâm: Chẳng nên hí luận các pháp có chỗ tranh cải, phải ở nơi tất cả
chúng sanh, khởi tưởng đại bi… Với tất cả chúng sanh đều bình đẳng nói pháp vì thuận theo pháp nên chẳng nói nhiều, chẳng nói ít, nhẫn đến người rất ưa pháp cũng chẳng vì nói nhiều