Nhận thức rõ bản chất và những lợi ích của thương mại quốc tế cùng những lý do thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế là điều cần thiết và có ý nghĩa quan trọng đối với vi
Trang 1Luận văn Khả năng vận dụng các học thuyết thương mại quốc tế trong điều kiện Việt Nam
Trang 2
Mở đầu
Thương mại quốc tế là một lĩnh vực quan trọng, nó ra đời sớm nhất và ngàynay vẫn giữ vai trò trung tâm trong quan hệ kinh tế quốc tế Hoạt động thươngmại quốc tế mang lại lợi ích cho tất cả các quốc gia, cả quốc gia phát triển caocũng như quốc gia phát triển thấp, đồng thời nó thúc đẩy sự phát triển của phâncông lao động quốc tế cũng như đưa tới sự tăng trưởng cao cho nền kinh tế mỗiquốc gia
Nhận thức rõ bản chất và những lợi ích của thương mại quốc tế cùng những
lý do thúc đẩy sự phát triển mạnh mẽ của thương mại quốc tế là điều cần thiết
và có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch định chính sách thương mại quốc
tế cho mỗi quốc gia cũng như đối với việc xây dựng chiến lược và các phương
án kinh doanh cho các doanh nghiệp
Chuyên đề này có mục tiêu hệ thống hóa và phân tích có phê phán nhữngthành tựu đã đạt được qua các lý thuyết thương mại quốc tế, đồng thời xem xétcác mặt hạn chế và điều kiện vận dụng của chúng Trên cơ sở đó gợi ý nhữngkhả năng vận dụng các lý thuyết thương mại quốc tế vào điều kiện cụ thể củaViệt Nam Chuyên đề gồm lời mở đầu, kết luận và được chia thành 3 chương:Chương I- Vai trò và ý nghĩa của các học thuyết thương mại quốc tế.
Chương II- Nội dung chủ yếu của các học thuyết thương mại quốc tế.
Chương III- Khả năng vận dụng các học thuyết thương mại quốc tế trong
điều kiện của Việt Nam.
Trang 3Chương I
Vai trò và ý nghĩa của các học thuyết thương mại quốc tế
I- Tính tất yếu khách quan của việc ra đời các học thuyết thương mại quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế nói riêng và hoạt động kinh tế đối ngoại nóichung của một quốc gia giữ vai trò ngày càng quan trọng không những đối với
sự phát triển của mỗi quốc gia mà còn đối với sự phát triển của nền kinh tế thếgiới Để tiến hành tổ chức và quản lý các hoạt động thương mại quốc tế, cácchính phủ cần phải có chính sách thương mại quốc tế phù hợp và các doanhnghiệp phải lựa chọn được thị trường và lĩnh vực kinh doanh có hiệu quả
Chính sách thương mại quốc tế và chiến lược sản xuất kinh doanh của cácdoanh nghiệp thường trả lời các câu hỏi sau:
- Nên xuất và nhập sản phẩm nào ?
- Kinh doanh với ai ?
- Kinh doanh bao nhiêu ?
Thương mại quốc tế bao gồm các giao dịch liên quan đến dòng vận độngcủa hàng hóa và dịch vụ diễn ra giữa các quốc gia Các câu hỏi được tập trunggiải quyết trong phần này là:
Tại sao các nước lại buôn bán với nhau? Cơ cấu chuyên môn hóa và trao
đổi được xác định như thế nào?
Thương mại quốc tế có lợi hay không? Nếu có thì lợi ích từ thương mại
được phân chia thế nào giữa các quốc gia? Và tất cả các quốc gia tham giabuôn bán đều có lợi hay chỉ một số ít mà thôi?
Thương mại quốc tế có tác động như thế nào tới quá trình phân bổ nguồnlực và phân phối thu nhập trong từng quốc gia?
Các yếu tố nào tác động tới quy mô và điều kiện thương mại?
Các nhà chức trách của mỗi nước đều vật lộn với những khó khăn trongviệc trả lời các câu hỏi: một nước nên xuất khẩu và nhập khẩu cái gì, bao nhiêu
và với ai Một khi đã quyết định được các vấn đề trên thì họ sẽ đề ra các chínhsách thương mại quốc tế nhằm đạt được kết quả cuối cùng như mong muốn Và
Trang 4ngược lại, các chính sách này cũng ảnh hưởng đến việc kinh doanh, chẳng hạnnhư chúng ảnh hưởng đến các sản phẩm mà một công ty có thể bán từ nguồnnước ngoài hay từ nước sở tại Các chính sách thương mại quốc tế cũng có thể
ảnh hưởng tới cái mà công ty có thể sản xuất để bán ở thị trường nội địa hay ởnước ngoài Dù các nhà chức trách của mỗi nước lập ra các chính sách để tuânthủ theo những mục tiêu và điều kiện duy nhất của họ nhưng họ vẫn phải lệthuộc vào các lý thuyết thương mại quốc tế của các nhà chức trách khác trênthế giới
II- học thuyết thương mại quốc tế trong mối quan hệ với các học thuyết kinh tế
Xã hội loài người đã và đang trải qua những hình thái kinh tế - xã hội khácnhau ở mỗi giai đoạn phát triển của lịch sử, xã hội loài người đều có nhữnghiểu biết và cách giải thích các hiện tượng kinh tế - xã hội nhất định Việc giảithích các hiện tượng kinh tế - xã hội ngày càng trở nên hết sức cần thiết, lúc
đầu nó xuất hiện dưới hình thức những tư tưởng tiên tiến lẻ tẻ rời rạc, về saumới trở thành những quan niệm, quan điểm kinh tế có tính hệ thống của cácgiai cấp khác nhau Các tư tưởng kinh tế đã xuất hiện từ thời cổ đại, tuy rằng
nó còn rất sơ khai, nó đã phản ánh sự đấu tranh giữa quan điểm bảo vệ nềnkinh tế tự nhiên với quan điểm ủng hộ nền kinh tế hàng hóa Những tư tưởngkinh tế trên đây được tiếp tục phát triển trong thời kỳ Trung cổ, nhưng chịu ảnhhưởng nhiều của các tư tưởng thần học Sự phát triển của nền kinh tế hàng hóa,kinh tế thị trường trong thời đại tư bản chủ nghĩa có quan hệ chặt chẽ với sựphát triển của các học thuyết kinh tế từ thế kỷ XV đến nay Một mặt, các họcthuyết kinh tế là phản ảnh sự phát triển của xã hội về mặt kinh tế, mặt khác nó
là sự khái quát thực tiễn để trở lại chỉ đạo sự phát triển của bản thân nền kinh tếthị trường, nó đưa ra các phương án khác nhau nhằm điều hành nền kinh tếphát triển với trình độ cao hơn
Sự phát triển của các học thuyết kinh tế từ cuối thế kỷ XV đến nay đã trảiqua một số giai đoạn Đó là học thuyết kinh tế của chủ nghĩa trọng thương,trong đó nhiệm vụ trung tâm là phản ánh và chỉ đạo quá trình tích lũy nguyênthủy tư bản, tạo điều kiện cho nền kinh tế thị trường ra đời Các nhà kinh tế họctrọng thương đã đề cao vai trò của ngành thương nghiệp trong việc tích lũynhững điều kiện cần thiết ban đầu cho sự ra đời và phát triển của nền kinh tế thịtrường Cuối thế kỷ XVII, với sự phát triển mạnh của lĩnh vực sản xuất công
Trang 5nghiệp và nông nghiệp, trường phái kinh tế học cổ điển ra đời nhằm đưa ra các
lý thuyết kinh tế phục vụ cho việc chỉ đạo hoạt động sản xuất Tuy nhiên, kinh
tế học cổ điển đại biểu cho lợi ích của giai cấp tư sản công nghiệp Sự pháttriển của chủ nghĩa tư bản đưa đến sự bần cùng hóa giai cấp vô sản cũng nhưlàm phá sản hàng triệu người sản xuất nhỏ Trước bối cảnh đó xuất hiện cáchọc thuyết kinh tế bảo vệ lợi ích của giai cấp vô sản và tiểu tư sản, phê phánkinh tế học tư sản cổ điển Điển hình nhất trong các học thuyết phê phán kinh
tế học tư sản cổ điển và chủ nghĩa tư bản là kinh tế chính trị học Marx - Lenin
Từ cuối thế kỷ XIX, điều kiện kinh tế - xã hội đã có nhiều thay đổi với sự pháttriển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật, sự phân công lao động, sự trao đổi mậudịch quốc tế Trong thời kỳ này, bên cạnh sự tăng trưởng kinh tế với tốc độ cao
là sự phát triển không đều giữa các quốc gia, tình trạng thất nghiệp, khủnghoảng kinh tế thường xuyên đe dọa, việc phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc.Những đặc điểm nói trên được phản ánh trong các học thuyết kinh tế của pháiTân cổ điển, phái Tân lịch sử, phái Keynes, phái Tự do mới, phái Chính hiện
đại, phái Thể chế, phái Tả và Cấp tiến cũng như các lý thuyết về tăng trưởng vàphát triển kinh tế
Các lý thuyết về thương mại quốc tế bắt đầu từ trường phái trọng thương,sau này tiếp tục phát triển cùng với sự phát triển của các lý thuyết cổ điển vềthương mại quốc tế (Adam Smith và David Ricardo), lý thuyết về chi phí cơ hộivận dụng vào lĩnh vực thương mại quốc tế, lý thuyết tân cổ điển về thương mạiquốc tế (Heckscher - Ohlin và những người kế tục), các lý thuyết hiện đại vềthương mại quốc tế
Như vậy, lý thuyết thương mại quốc tế là một bộ phận của các học thuyếtkinh tế nói chung, trong đó nó tập trung vào việc giải thích nguồn gốc và bảnchất của thương mại quốc tế, chỉ rõ các lợi ích thu được từ thương mại quốc tếcũng như vai trò của thương mại quốc tế đối với sự phát triển của các nền kinh
tế quốc gia Vì thương mại quốc tế là sự tiếp nối của hoạt động thương mạivượt ra ngoài phạm vi biên giới quốc gia, mặt khác nó cũng là một khâu cầnthiết của quá trình tái sản xuất và phân công lao động quốc tế, cho nên các lýthuyết về thương mại quốc tế cũng là sự phát triển ở một tầm rộng hơn, mộtphạm vi bao quát hơn so với các lý thuyết kinh tế nói chung, đồng thời nó cũngtrở thành một bộ phận quan trọng trong các lý thuyết kinh tế ấy Trong các lý
Trang 6thuyết kinh tế hiện đại, có một bộ phận quan trọng là lý thuyết về đầu tư Vìhoạt động đầu tư quốc tế liên quan chặt chẽ với hoạt động thương mại quốc tế,hơn nữa đầu tư quốc tế là một phương thức phát triển mở rộng của thương mạiquốc tế cho nên lý thuyết thương mại quốc tế có liên quan chặt chẽ với các lýthuyết về đầu tư nói chung và lý thuyết về đầu tư quốc tế nói riêng.
Sự phân tích nêu trên đưa tới nhận xét, việc nghiên cứu các lý thuyết vềthương mại quốc tế phải đặt trong mối quan hệ với các lý thuyết về kinh tế nóichung đồng thời việc phát triển các lý thuyết về thương mại quốc tế cần gắnliền với sự phát triển của các học thuyết kinh tế nói chung
iii- vai trò và ý nghĩa của các học thuyết thương mại quốc tế
Cho đến nay, có rất nhiều học thuyết về thương mại quốc tế đã được ra đời
và phát triển Một số học thuyết giải thích các mô hình kinh tế mà không kể
đến sự can thiệp của chính phủ Một số học thuyết giải thích những điều màchính phủ nên giành được trong thương mại quốc tế
Các học thuyết thường đi trước các sự kiện (như học thuyết tương đối củaEinstein là tiền đề cần thiết cho các cuộc thí nghiệm nguyên tử sau đó vài thậpniên), nhưng thương mại quốc tế lại tồn tại rất lâu trước khi các học thuyếtthương mại tuần tự phát triển Chẳng hạn như hoạt động thương mại trên thếgiới đã diễn ra trước các học thuyết về thương mại quốc tế khoảng 1.500 năm.Ban đầu, người ta buôn bán với nhau một cách tự phát do sự khác biệt về điềukiện tự nhiên và điều kiện sản xuất giữa các quốc gia Quốc gia này có thể sảnxuất ra những sản phẩm nào đó một cách thuận lợi (với chi phí thấp và chấtlượng hàng hóa cao), còn quốc gia kia lại có thể sản xuất ra những sản phẩmkhác một cách thuận lợi hơn Nhu cầu trao đổi hàng hóa giữa các quốc gia
được hình thành một cách tự nhiên do sự thiếu hụt (hoặc dư thừa) Lợi íchmang lại cho các nhà kinh doanh cũng mang tính hiển nhiên vì họ chỉ phải muavới giá rẻ mà lại bán với giá cao hơn nhiều
Tuy nhiên, thương mại quốc tế không thể chỉ diễn ra một cách lẻ tẻ và tựphát như vậy mà đòi hỏi phải có những học thuyết giải thích rõ những lợi ích
đem lại từ thương mại quốc tế và chỉ ra được vai trò của các nhà chức tráchcũng như của các nhà kinh doanh đối với các hoạt động thương mại quốc tế đó
Bảng 1- Đặc điểm nổi bật nhất của các học thuyết chủ yếu
Trang 7Học thuyết
Mô tả về thương mại tự nhiên Những quy tắc về mối quan hệ thương mại
Kinh doanh bao nhiêu
Kinh doanh sản phẩm nào
Kinh doanh với ai
Chính phủ có nên kiểm soát việc kinh doanh
Nên kinh doanh bao nhiêu
Nên kinh doanh sản phẩm nào
Nên kinh doanh với ai
? Sản xuất sản phẩm nào ? và với ai ? mà một công ty sẽ kinh doanh mà không
kể đến tính giới hạn của các quốc gia Không phải tất cả các học thuyết này
đều nghiên cứu mọi câu hỏi trên, nó chỉ tập trung vào một số câu như trongbảng 1, dưới tiêu đề "Mô tả về hoạt động thương mại tự nhiên" Lưu ý rằng haitrong số các học thuyết này là các nguyên tắc, chúng thừa nhận rằng một hệthống không hạn chế nên được phổ biến (chúng được đánh dấu "không" chocâu hỏi "chính phủ có nên kiểm soát việc kinh doanh hay không ?") Một sốhọc thuyết của loại này chỉ là những mô tả, chúng giải thích cái gì xảy ra hay
sẽ xảy ra mà không đánh giá kết quả Loại học thuyết quy định sự can thiệpcủa chính phủ vào luồng hàng hóa hay dịch vụ tự do của các nước nhằm thay
Trang 8đổi số lượng, cấu tạo và hướng kinh doanh Các học thuyết này được đánh dấu
"có" dưới câu hỏi " chính phủ có nên kiểm soát việc kinh doanh hay không ?"trong bảng 1
Vì không có riêng một học thuyết nào giải thích tất cả các mô hình thươngmại và vì tất cả các quy tắc chỉ thích hợp với một vài hoạt động trong chínhsách của chính phủ, chuyên đề này sẽ nghiên cứu nhiều loại phương pháp khácnhau Cả hai học thuyết quy tắc và mô tả đều có ảnh hưởng lớn đến hoạt độngkinh doanh quốc tế Chúng cung cấp những kiến thức về các khu vực thị trườngthuận lợi cũng như các sản phẩm có khả năng thành công Các học thuyết này
sẽ giúp gia tăng các hiểu biết về các loại chính sách thương mại của chính phủ
đã được thông qua và dự đoán ảnh hưởng của chúng đến vấn đề cạnh tranh
Trang 9CHươNG II
Nội dung chủ yếu của các học thuyết thương mại quốc tế
I- Quan điểm của trường phái trọng thương về thương mại quốc tế
Nghiên cứu kinh tế học nói chung, và thương mại quốc tế nói riêng, đượccoi là bắt đầu bằng các tác phẩm của trường phái trọng thươngvào các thế kỷ
17 và 18 Vào thời gian đó, vàng và bạc được sử dụng với tư cách là tiền tệ và
do đó một quốc gia được coi là giàu có và hùng mạnh hơn nếu như có đượccàng nhiều vàng bạc Các học giả trọng thương lập luận rằng đối với một quốcgia, xuất khẩu là rất có ích vì nó kích thích sản xuất trong nước, đồng thời dẫn
đến dòng kim loại quí đổ vào bổ sung cho kho của cải của quốc gia đó Ngượclại nhập khẩu là gánh nặng cho quốc gia vì làm giảm nhu cầu đối với hàng sảnxuất trong nước, và hơn nữa dẫn tới sự thất thoát của cải của quốc gia do phảidùng vàng bạc chi trả cho nước ngoài Như vậy sức mạnh và sự giàu có củamột quốc gia sẽ tăng lên nếu quốc gia đó xuất khẩu nhiều hơn nhập khẩu Vềmặt chính sách, kiến nghị của các học giả trọng thương là nhà nước phảikhuyến khích sản xuất và xuất khẩu thông qua trợ cấp, đồng thời phải hạn chếnhập khẩu bằng các công cụ bảo hộ mậu dịch, đặc biệt đối với các ngành côngnghiệp quan trọng
Các lập luận nói trên của trường phái trọng thương không phải là hoàn toànvô lý Trên thực tế khi năng lực sản xuất trong nước vượt quá mức cầu thì lúc
đó việc khuyến khích xuất khẩu và hạn chế bớt nhập khẩu là điều đáng hoannghênh Cũng có khi quốc gia gặp khó khăn trong việc cân bằng thanh toánvới nước ngoài cho nên mong muốn tạo ra được mức thặng dư trong hoạt độngngoại thương để bù đắp thiếu hụt đó Thậm chí ngay cả khi chưa có nhu cầutức thời về ngoại tệ nhưng quốc gia vẫn có thể mong muốn tích lũy càng nhiềungoại tệ càng tốt để đề phòng những bất trắc trong tương lai Cũng cần lưu ý làvào thế kỷ 18 tích lũy được nhiều vàng bạc còn giúp cho các quốc gia có đượcnguồn lực cần thiết để tiến hành chiến tranh Trong bối cảnh có khả năng nổ rachiến tranh thì việc bảo hộ các ngành công nghiệp có tầm quan trọng chiếnlược cũng là điều hợp lý Cuối cùng, các học giả trọng thương đã có lý khi chorằng sự gia tăng lượng vàng bạc (tức gia tăng mức cung tiền tệ) trong nền kinh
Trang 10tế sẽ có tác dụng kích thích hoạt động sản xuất Trên thực tế có thể kể ra nhiềutình huống và trường hợp khác nữa để minh họa cho lập luận của trường pháitrọng thương.
Tuy nhiên có rất nhiều điểm hạn chế trong lập luận của các học giả trọngthương Chẳng hạn như việc coi vàng bạc như là hình thức của cải duy nhấtcủa các quốc gia, gắn mức cung tiền tệ cao với sự thịnh vượng của quốc gia,coi thương mại là một "trò chơi" có tổng lợi ích bằng không (zero-sum game)
là sai lầm Các học giả này chưa giải thích được cơ cấu hàng hóa trong thưongmại quốc tế, chưa thấy được tính hiệu quả và lợi ích từ quá trình chuyên mônhóa sản xuất và trao đổi, và đặc biệt họ chưa nhận thức được rằng các kết luậncủa họ chỉ đúng trong một số trường hợp nhất định chứ không phải cho tất cảmọi trường hợp
II- Học thuyết thương mại quốc tế dựa trên lợi thế tuyệt đối (A Smith)
Adam Smith là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống vềnguồn gốc thương mại quốc tế Ông đã xây dựng mô hình thương mại đơngiản dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối để giải thích thương mại quốc tế cólợi như thế nào đối với các quốc gia Nếu quốc gia A có thể sản xuất mặt hàng
X rẻ hơn so với nước B, và nước B có thể sản xuất mặt hàng Y rẻ hơn so vớinước A, thì lúc đó mỗi quốc gia nên tập trung vào sản xuất mặt hàng mà mình
có hiệu quả hơn và xuất khẩu mặt hàng này sang quốc gia kia Trong trườnghợp này mỗi quốc gia được coi là có lợi thế tuyệt đối về sản xuất từng mặt hàng
cụ thể Nhờ có chuyên môn hóa sản xuất và trao đổi mà cả hai quốc gia đềutrở nên sung túc hơn ý tưởng về lợi thế tuyệt đối và thương mại quốc tế có thể
được minh họa bằng mô hình thương mại đơn giản dưới đây
Giả sử thế giới chỉ có hai nước (Anh và Mỹ) và hai mặt hàng (thép và vải);chi phí vận chuyển là bằng 0; lao động là yếu tố sản xuất duy nhất và được dichuyển tự do giữa các ngành sản xuất trong nước, nhưng không di chuyển đượcgiữa các quốc gia; cạnh tranh hoàn hảo tồn tại trên tất cả các thị trường Đểsản xuất mỗi đơn vị thép và vải, số lượng lao động cần tới ở mỗi nước được chotrong bảng 2 dưới đây
Bảng 2 - Mô hình giản đơn về lợi thế tuyệt đối
Trang 11Động cơ chủ yếu của thương mại giữa hai nước là ở chỗ mỗi nước đềumong muốn tiêu dùng được nhiều hàng hóa hơn với mức giá thấp nhất Do giáthép ở Anh cao hơn giá thép ở Mỹ nên Anh sẽ có lợi khi mua thép từ Mỹ thayvì tự sản xuất trong nước Thương mại còn có thể làm tăng khối lượng sản xuất
và tiêu dùng của toàn thế giới do mỗi nước thực hiện chuyên môn hóa sản xuấtmặt hàng mà mình có lợi thế tuyệt đối Chẳng hạn, giả sử mỗi nước Anh và
Mỹ có 120 đơn vị lao động, và số lao động đó được chia đều cho hai ngành sảnxuất thép và vải Trong trường hợp tự cấp tự túc, Anh sản xuất (và tiêu dùng)
12 đơn vị thép và 30 đơn vị vải, còn Mỹ - 20t và 10v Sản lượng của toàn thếgiới là (32t, 40v) Khi lượng lao động được phân bổ lại trong mỗi nước, cụ thể
là tất cả 120 lao động ở Mỹ tập trung vào ngành thép, và 120 lao động ở Anh vào ngành sản xuất vải, thì sản lượng của toàn thế giới sẽ là (40t, 60v) Rõràng là nhờ chuyên môn hóa và trao đổi, sản lượng của toàn thế giới tăng lênkhông chỉ đủ để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của mỗi nước như trong trường hợp
-tự cấp -tự túc mà còn dôi ra một lượng nhất định Vì vậy mỗi nước có thể tănglượng tiêu dùng cả hai mặt hàng và do đó trở nên sung túc hơn
Tóm lại, lợi thế tuyệt đối không chỉ giúp mô tả hướng chuyên môn hóa vàtrao đổi giữa các quốc gia, mà còn được coi là công cụ để các nước gia tăng
Trang 12phúc lợi của mình Mô hình thương mại nói trên có thể giúp giải thích cho mộtphần nhỏ của thương mại quốc tế, cụ thể nếu một quốc gia không có được điềukiện tự nhiên thích hợp để trồng các loại cây như chuối, càfê, v.v , thì buộcphải nhập khẩu các sản phẩm này từ nước ngoài Tuy nhiên, mô hình nàykhông giải thích được trường hợp tại sao thương mại vẫn có thể diễn ra khi mộtquốc gia có lợi thế tuyệt đối (hoặc có mức bất lợi tuyệt đối) về tất cả các mặthàng Để giải quyết vấn đề này cần dựa vào một khái niệm có tích chất kháiquát hơn - đó là khái niệm về lợi thế so sánh do David Ricardo đưa ra lần đầutiên vào năm 1817.
III- Học thuyết thương mại quốc tế dựa trên lợi thế so sánh và mô hình thương mại Ricardo
Nếu như khái niệm lợi thế tuyệt đối được xây dựng trên cơ sở sự khác biệt
về số lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau (hay nóicách khác, sự khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối), thì lợi thế so sánh lạixuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối Trong mô hình lợi thế tuyệt đối ởtrên, vải được sản xuất rẻ hơn ở Anh so với ở Mỹ do sử dụng một lượng lao
động ít hơn Ngược lại, thép được sản xuất ở Mỹ rẻ hơn ở Anh tính theo sốlượng lao động được sử dụng Tuy nhiên, nếu một nước, chẳng hạn là Anh, cóhiệu quả hơn trong việc sản xuất cả hai mặt hàng, thì theo quan điểm lợi thếtuyệt đối cả hai mặt hàng cần được mua từ Anh Thế nhưng đây không thể làmột giải pháp dài hạn bởi lẽ nước Anh không hề mong muốn nhập khẩu bất kỳmặt hàng nào từ Mỹ Trong trường hợp này cái quan trọng không phải là hiệuquả tuyệt đối mà là hiệu quả tương đối trong sản xuất vải và thép: Anh có lợithế tuyệt đối trong sản xuất cả hai mặt hàng, nhưng chỉ có lợi thế so sánh đốivới mặt hàng có mức lợi thế cao hơn; ngược lại Mỹ bất lợi trong sản xuất cả haimặt hàng nhưng vẫn có lợi thế so sánh đối với mặt hàng có mức bất lợi nhỏhơn
Quay trở lại mô hình thương mại giữa Anh và Mỹ ở phần trước Các giảthiết cơ bản của mô hình vẫn được giữ nguyên Tuy nhiên lượng lao động cầnthiết để sản xuất mỗi đơn vị thép và vải có khác đi theo như bảng dưới đây
Bảng 3 - Mô hình giản đơn về lợi thế so sánh
Trang 13động ở trên có thể được đổi lại thành bảng giá cả tương quan giữa thép và vảinhư sau:
Bảng 4 - Giá cả tương quan và lợi thế so sánh
tỷ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng mức giá tương quan của Mỹ (cụ thể là 1v = 2t)thì 2.5 đơn vị vải đó bán sang Mỹ sẽ đổi được 5 đơn vị thép Như vậy Anh sẽlợi 4 đơn vị thép (còn Mỹ trong trường hợp này không có lợi gì) Tương tự,nếu Mỹ dùng 12 đơn vị lao động để sản xuất 2 đơn vị thép (thay vì sản xuất 1
đơn vị vải) và bán sang Anh đổi lấy 5 đơn vị vải (với giả định tỷ lệ trao đổiquốc tế đúng bằng mức giá tương quan ở Anh, 1v = 0.4t), thì Mỹ sẽ lợi 4 đơn vịvải Trong trường hợp tỷ lệ trao đổi quốc tế nằm giữa hai mức giá tương quancủa Anh và Mỹ, cả hai nước sẽ thu được lợi, tuy không được nhiều như tronghai trường hợp nêu trên Tóm lại, trao đổi đem lại lợi ích cho cả hai bên do có
Trang 14sự khác biệt về giá cả tương quan giữa các mặt hàng.
Từ ví dụ đơn giản trên có thể phát biểu quy luật lợi thế so sánh như sau:
"Một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng có giá cả thấp hơn một cách tương đối so với quốc gia kia Nói cách khác, một quốc gia sẽ xuất khẩu những mặt hàng mà quốc gia đó có thể sản xuất với hiệu quả cao hơn một cách tương đối so với quốc gia kia".
Một cách cụ thể, quốc gia A sẽ xuất khẩu thép khi và chỉ khi:
chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị thép ở A chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị vải ở A
<
chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị thép ở B chi phí lao động để sản xuất 1 đơn vị vải ở B
Lợi ích từ thương mại dựa trên lợi thế so sánh có thể được minh họa bằng
đồ thị (xem hình 1) Nếu như mỗi nước, Anh và Mỹ, có 120 đơn vị lao động,thì các đường giới hạn khả năng sản xuất của Anh và Mỹ được vẽ một cáchtương ứng là DH và GC GC nhỏ hơn DH bởi vì Mỹ có hiệu quả tuyệt đối thấphơn so với Anh Nếu tất cả số lao động ở Anh được dùng để sản xuất vải thì sẽ
có 60 đơn vị vải được làm ra, nếu để sản xuất thép - sẽ có 24 đơn vị được làm
ra Các con số tương ứng của Mỹ là 10 và 20 Khi chưa có thương mại, Anhsản xuất và tiêu dùng cả hai mặt hàng tại một điểm nào đó, chẳng hạn là J, trên
Trang 15Khi thương mại được mở ra, mỗi nước sẽ chỉ tập trung sản xuất mặt hàng
mà mình có lợi thế so sánh Cụ thể là Anh sẽ chỉ sản xuất vải với điểm sảnxuất mới là D, còn Mỹ chỉ sản xuất thép với điểm sản xuất mới là C Nếuthương mại diễn ra theo mức giá tương quan của Mỹ (1v = 2t) thì Anh có thểtiêu dùng ở bất kỳ điểm nào nằm trên đường DF (được vẽ song song với GC).Ngược lại, nếu tỷ lệ trao đổi quốc tế đúng bằng mức giá tương quan của Anh(1v = 0.4t) thì Mỹ sẽ tiêu dùng tại bất kỳ điểm nào trên đường CE (đường songsong với DH)
Tuy nhiên Anh và Mỹ không thể cùng một lúc tiến hành trao đổi theo haimức giá trên: tỷ lệ trao đổi quốc tế (hay còn gọi là điều kiện thương mại) phải
là duy nhất đối với hai nước và chỉ dao động trong khoảng giới hạn bởi hai mứcgiá đó Nếu điều kiện thương mại vượt ra ngoài hai mức giá tương quan củahai nước, cụ thể là nếu 1v > 2t hoặc 1v < 0.4t thì một trong hai nước sẽ ngừngtrao đổi ngay vì không những không thu được lợi mà còn bị thiệt hại Tronghình 1 thì điều kiện thương mại phải nằm trong quãng giữa DH và DF đối vớiAnh, và giữa GC và CE đối với Mỹ, cụ thể được biểu thị bằng các đường DT và
CT song song với nhau
Nếu điều kiện thương mại đúng bằng mức giá tương quan của Anh thì Anh
sẽ tiếp tục sản xuất cả hai mặt hàng, còn Mỹ thì chuyên môn hóa hoàn toàntrong việc sản xuất thép Khi đó toàn bộ lợi ích từ thương mại sẽ thuộc về Mỹ.Khi đó Anh được coi là nước lớn, và Mỹ- là nước nhỏ Ngược lại nếu Mỹ lànước lớn, và Anh là nước nhỏ thì điều kiện thương mại đúng bằng mức giátương quan của Mỹ, và toàn bộ lợi ích thương mại sẽ thuộc về Anh, là nước chỉsản xuất một mặt hàng là vải Nói một cách tổng quát nước nào có mức sảnlượng nhỏ hơn thì sẽ có xu hướng thực hiện chuyên môn hóa hoàn toàn vàhưởng toàn bộ lợi ích từ thương mại
Xét về mặt lý thuyết có thể tồn tại trường hợp ngoại lệ đối với qui luật lợithế so sánh Điều này xảy ra khi lợi thế tuyệt đối (hay mức bất lợi tuyệt đối)của một quốc gia là như nhau đối với cả hai mặt hàng Bảng dưới đây minhhọa cho trường hợp ngoại lệ như vậy (lao động/sản phẩm)
Trang 16Tóm lại các lý thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế tương đối đều nhấnmạnh yếu tố cung, coi quá trình sản xuất trong mỗi nước là yếu tố qui địnhhoạt động thương mại quốc tế Trong các lý thuyết này giá cả từng mặt hàngkhông được biểu thị bằng tiền, mà được tính bằng số lượng hàng hóa khác, vàthương mại giữa các nước được thực hiện theo phương thức hàng đổi hàng.Những giả định này khiến cho sự phân tích trở nên đơn giản hơn nhưng vẫn
đồng thời vẫn giúp chỉ ra được nguồn gốc sâu xa của thương mại quốc tế
IV- Học thuyết thương mại quốc tế dựa trên cơ sở chi phí cơ hội
Trong mô hình thương mại Ricardo, chi phí sản xuất được giả định làkhông đổi Tuy nhiên trên thực tế chi phí sản xuất lại có xu hướng tăng dần.Nội dung chương này là mở rộng lý thuyết cổ điển về thương mại quốc tế trêncơ sở giả định chi phí cơ hội là tăng dần nhằm làm cho lý thuyết này trở nênthực tế hơn và có tính khái quát hơn Phần đầu nêu lên bản chất và các lý dodẫn đến chi phí cơ hội tăng dần Tiếp theo yếu tố cầu được đưa vào kết hợp vớiyếu tố cung để xác định điểm cân bằng Lợi ích từ thương mại được chỉ ratrong cả hai trường hợp phân tích cân bằng tổng quát và phân tích cân bằng bộphận Cuối cùng khái niệm đường cung ứng được giới thiệu và sử dụng để xác
định điều kiện thương mại quốc tế cân bằng
1 Chi phí cơ hội và lợi thế so sánh
Trang 17Chi phí cơ hội (còn được gọi là tỷ lệ chuyển đổi cận biên) của mặt hàng X
là số lượng mặt hàng Y cần được cắt giảm để sản xuất thêm một đơn vị hànghóa X Trong hai quốc gia thì quốc gia nào có chi phí cơ hội của X thấp hơnthì sẽ có lợi thế so sánh về mặt hàng này Trong mô hình Ricardo chi phí cơhội là không đổi và được xác định bằng độ dốc của đường giới hạn khả năngsản xuất Về thực chất chi phí cơ hội chỉ là cách phát biểu khác của giá cảhàng hóa tương quan Thật vậy, trong ví dụ ở chương trước thì để sản xuấtthêm 1 đơn vị vải Anh cần cắt giảm 0.4 đơn vị thép, đúng bằng giá một đơn vịvải tính theo thép Tương tự chi phí cơ hội để sản xuất vải ở Mỹ là 1 vải = 2thép, cũng đúng bằng mức giá tương quan giữa hai mặt hàng
Rõ ràng đối với mặt hàng vải thì Anh có chi phí cơ hội thấp hơn so với Mỹ,
và do đó có lợi thế so sánh về mặt hàng này Đối với mặt hàng thép thì chi phícơ hội ở Anh là 1 thép = 2.5 vải, cao hơn mức ở Mỹ là 1 thép = 0.5 vải, do đó
Mỹ có lợi thế so sánh về thép Như vậy kết luận rút ra cũng giống như nhữnggì đạt được trong mô hình Ricardo Tuy nhiên xác định lợi thế so sánh dựa vàokhái niệm chi phí cơ hội ưu việt hơn so với phương pháp của Ricardo ở chỗkhông cần phải đưa ra bất kỳ giả định gì về lao động
Khái niệm chi phí cơ hội cũng được vận dụng trong trường hợp có mhiềuyếu tố sản xuất Tuy nhiên khi đó chi phí cơ hội không phải là cố định mà có
xu hướng tăng dần Trường hợp có tính thực tế hơn này sẽ được xem xét ở cácphần tiếp theo
2 Chi phí cơ hội tăng dần và đường giới hạn khả năng sản xuất
Chi phí cơ hội của một mặt hàng là tăng dần nếu như để sản xuất thêm một
đơn vị mặt hàng đó thì cần phải cắt giảm một số lượng tăng dần các mặt hàngkhác Trong trường hợp đó đường giới hạn khả năng sản xuất sẽ không phải làmột đường thẳng mà là một đường cong lồi ra phía ngoài Hình 2 cho thấy đểsản xuất thêm 1 đơn vị thép thì lượng vải bị cắt giảm ngày càng tăng Tại saolại như vậy? Lý do là vì tính thích hợp của các yếu tố sản xuất đối với từngmặt hàng Một yếu tố sản xuất nào đó có thể được sử dụng rất có hiệu quảtrong sản xuất một mặt hàng nhất định, nhưng lại tỏ ra kém hiệu quả hoặc hoàntoàn không có hiệu quả trong sản xuất những mặt hàng khác Ví dụ, một mảnh
đất có thể rất thích hợp cho việc trồng lúa nhưng lại không thích hợp cho việctrồng chuối, hoặc một nông dân trồng lúa rất giỏi nhưng kỹ năng trồng lúa đó
Trang 18có thể hoàn toàn vô dụng trong việc làm ra một chiếc ô tô.
Hình 2 - Chi phí cơ hội tăng dần
Vải
Quay trở lại hình 2 để hình dung chi phí cơ hội tăng dần như thế nào Giả
sử rằng ban đầu toàn bộ nguồn lực của nền kinh tế được sử dụng để sản xuấtvải Tuy nhiên sau đó quốc gia đang xem xét nhận thấy mình có lợi thế so sánh
về sản xuất thép Khi đó nguồn lực bắt đầu được chuyển từ ngành vải sangngành thép Thoạt tiên những nguồn lực thích hợp nhất đối với sản xuất thép
được di chuyển, sản lượng thép do đó tăng lên nhanh chóng, còn sản lượng vải
bị giảm xuống nhưng với tốc độ chậm Điều này có nghĩa chi phí cơ hội củathép là rất thấp Khi qui mô ngành thép được mở rộng thì quốc gia bắt buộcphải sử dụng đến những nguồn lực kém thích hợp hơn để sản xuất thép, thậmchí sử dụng cả đến những nguồn lực vốn thích hợp cho sản xuất vải (chẳng hạnnhững người dệt vải có tay nghề cao) Kết quả là tốc độ gia tăng sản lượng thép
bị chậm lại, còn sản lượng vải thì giảm nhanh Nói cách khác chi phí cơ hộicủa thép tăng lên
Với chi phí cơ hội tăng dần thì cung được biểu thị bằng đường giới hạn khảnăng sản xuất như ở hình 2 Mỗi điểm trên đường đó cho thấy số lượng haimặt hàng được sản xuất ra khi toàn bộ nguồn lực của quốc gia được sử dụng
Độ dốc của đường tiếp tuyến tại mỗi điểm đó sẽ chỉ ra chi phí cơ hội hoặc mứcgiá tương quan (hay còn gọi là tỷ lệ chuyển đổi cận biên - MRT) giữa hai mặthàng Khi điểm sản xuất dịch chuyển xuống dưới theo đường giới hạn khả
Trang 19năng sản xuất thì chi phí cơ hội của thép (hay giá của thép tính theo vải) sẽtăng dần.
3 Mô hình thương mại với chi phí cơ hội tăng dần
Quay trở lại mô hình thương mại bao gồm hai quốc gia Mỹ và Anh, và haimặt hàng là vải và thép Trước khi có thương mại mỗi nước sản xuất và tiêudùng tương ứng tại PM và PA ở Mỹ thép rẻ hơn một cách tương đối so với vảinên Mỹ có lợi thế so sánh về mặt hàng này Ngược lại Anh có lợi thế so sánh
về mặt hàng vải Khi đó mỗi nước sẽ thực hiện chuyên môn hóa sản xuất mặthàng mà mình có lợi thế so sánh Mỹ sẽ chuyển một phần nguồn lực từ ngànhvải sang sản xuất thép, do đó sản lượng vải giảm còn sản lượng thép tăng lên
Điểm sản xuất sẽ di chuyển từ PM xuống dưới dọc theo đường giới hạn khảnăng sản xuất, và như vậy mức giá tương quan (chi phí cơ hội) của thép tăngdần
Hình 3 - Chi phí cơ hội tăng dần và thương mại quốc tế
Những gì diễn ra ở Anh là hoàn toàn ngược lại: điểm sản xuất di chuyển từ
PA lên phía trên dọc theo đường giới hạn khả năng sản xuất; sản lượng vải giatăng, sản lượng thép giảm; và mức giá tương quan của thép giảm dần (còn mứcgiá của vải thì tăng dần)
Quá trình chuyên môn hóa nói trên tiếp tục cho đến khi các mức giá tươngquan giữa hai mặt hàng trở nên cân bằng và được biểu thị bằng đường giá cả