MỞ ĐẦUHợp đồng lao động là một chế định pháp lý luôn được thừa nhận và quy định trong hệ thống pháp luật lao động nước ta kể từ khi lập nước đến nay. Tuy nhiên chỉ từ khi đất nước ta thừa nhận và phát triển nền kinh tế theo mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì HĐLĐ mới thật sự trở thành hình thức tuyển dụng lao động phổ biến nhất. Chính vì vậy HĐLĐ là một chế định pháp lý luôn được thừa nhận và quy định trong pháp luật lao động nước ta. Thông qua hợp đồng mà quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động (NLĐ và NSDLĐ) được thiết lập và xác định rõ ràng. Đặc biệt, HĐLĐ quy định trách nhiệm thực hiện hợp đồng và nhờ đó đảm bảo quyền lợi của NLĐ (vốn luôn ở thế yếu hơn so với NSDLĐ). Song trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế đã không chỉ có mức tăng trưởng ngoạn mục trong sản xuất kinh doanh mà còn luôn tạo ra môi trường làm việc năng động, hiệu quả, đảm bảo đầy đủ quyền lợi và quan tâm hỗ trợ đến đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên…, tạo nên mối quan hệ lao động hài hòa, giúp doanh nghiệp phát triển một cách bền vững. Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa NSDLĐ và NLĐ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho NLĐ, chăm lo đời sống tinh thần và vật chất cho NLĐ, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ. Vì vậy, vấn đề đặt ra tại thành phố Huế trong những năm tiếp theo, tiếp tục nghiên cứu, tham gia hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan trực tiếp đến NLĐ; tập trung thực hiện chương trình nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết và thực hiện có hiệu quả HĐLĐ; chủ động phối hợp, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật về HĐLĐ; để giảm thiểu những tranh chấp lao động giữa doanh nghiệp với NLĐ trong quá trình thực hiện HĐLĐ. Xuất phát từ yêu cầu đòi hỏi thực tế của HĐLĐ nói chung và thực tiễn trong các doanh nghiệp ở thành phố Huế, do đó em xin lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng lao động qua thực tiễn áp dụng tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” cho bài tiểu luận kết thúc học phần Luật Lao động. NỘI DUNGChương 1. KHÁI QUÁT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG1.1. Khái quát về hợp đồng lao động 1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao độngKhái niệm về HĐLĐ cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau. Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO), HĐLĐ là: “Một thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một NSDLĐ và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ việc làm” . Ở Việt Nam, kể từ Sắc lệnh số 29SL ngày 1231947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định về “khế ước làm công”, Sắc lệnh số 77SL ngày 2251950 có quy định về “công nhân tuyển dụng theo giao kèo” đến nay, chưa lúc nào trong hệ thống pháp luật lao động không tồn tại những văn bản về HĐLĐ. Nhưng tùy từng giai đoạn với điều kiện khác nhau mà khái niệm HĐLĐ có sự khác nhau nhất định. Và đến BLLĐ được Quốc hội thông qua năm 2012 thì HĐLĐ được định nghĩa tại điều 15, “là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ”. Quy định này gần như tương đồng với nội dung trong BLLĐ 1994, tuy có chỉnh sửa “trả lương, điều kiện làm việc” thay cho “trả công, điều kiện lao động”. Hiện nay, theo quy định tại Điều 13 Bộ luật lao động năm 2019, “HĐLĐ là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.Như vậy, về bản chất, hợp đồng phải là sự thoả thuận, giao ước giữa các bên và nội dung của nó phải là những quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia. HĐLĐ cũng là một loại hợp đồng (trước đây HĐLĐ được xem là hợp đồng dân sự, sau này mới tách ra thành loại HĐLĐ riêng), vì vậy nó cũng phải mang bản chất của hợp đồng nói chung đó là tính khế ước, được hình thành trên cơ sở sự thoả thuận của các bên.Song khác với hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, sự thoả thuận này phải là sự thoả thuận giữa các chủ thể của quan hệ lao động và nội dung của nó phải liên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như vấn đề về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, bảo hiểm xã hội…1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động Với tư cách là một khế ước, HĐLĐ mang đầy đủ những đặc điểm của hợp đồng nói chung và cũng mang những đặc điểm riêng, phản ánh đúng bản chất là một chế định xác lập, duy trì quan hệ lao động. Tuy nhiên, trong khoa học luật lao động hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về đặc điểm của HĐLĐ. Thứ nhất, có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ. Vì vậy, yếu tố bình đẳng trong hợp đồng dường như mờ nhạt, khi NSDLĐ có quyền ra lệnh cho NLĐ và NLĐ có nghĩa vụ phải thực hiện.Thứ hai, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công. HĐLĐ là một loại quan hệ mua bán đặc biệt khi hàng hoá mang ra trao đổi là sức lao động, luôn tồn tại gắn liền với cơ thể NLĐ. Tiền công trong HĐLĐ được trả cho sức lao động hiện tại – lao động sống.Thứ ba, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện. NLĐ phải trực tiếp thực hiện HĐLĐ, NLĐ muốn nhờ người khác làm thay phải được sự đồng ý của NSDLĐ. Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa HĐLĐ với hợp đồng dân sự và hợp đồng kinh tế. Vì trong hợp đồng dân sự hay trong hợp đồng kinh tế, người ký hợp đồng có thể uỷ quyền hoặc thuê người khác thực hiện, đảm bảo đúng nghĩa vụ hai bên đã thoả thuận.Thứ tư, nội dung của HĐLĐ luôn bị chi phối bởi những giới hạn pháp lý nhất định. Cũng như các loại hợp đồng khác, nội dung của HĐLĐ do các bên thoả thuận. Tuy nhiên, quyền tự do của các bên thường bị chi phối bởi các quy định của pháp luật lao động. Đặc trưng này của HĐLĐ, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ, duy trì và phát triển sức lao động trong nền kinh tế thị trường trên cơ sở nguyên tắc thoả thuận: quyền lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu.
Trang 1PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Luật Học
Học phần: Luật Lao động
Giảng viên phụ trách học phần: ThS Đỗ Thị Quỳnh Trang
Sinh viên thực hiện: NGUYỄN SONG THƯ
Mã sinh viên: 19A5011894Lớp: Luật K43E
Thừa Thiên Huế, năm 2022
Số phách
Trang 2ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT
TIỂU LUẬN KẾT THÚC HỌC PHẦN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG QUA THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Trang 3MỤC LỤC
BẢNG CÁC CHỮ VIẾT TẮT 3
MỞ ĐẦU 4
NỘI DUNG 5
Chương 1 KHÁI QUÁT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG 5
1.1 Khái quát về hợp đồng lao động 5
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động 5
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động 6
1.1.3 Phân loại hợp đồng lao động 7
1.1.4 Ý nghĩa của hợp đồng lao động 7
1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động 8
1.2.1 Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động 8
1.2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động 8
1.2.1.2 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động 9
1.2.1.3 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng lao động 9
1.2.1.4 Nội dung hợp đồng lao động 10
1.2.2 Quy định pháp luật về thực hiện, sửa đổi, tạm hoãn hợp đồng lao động 10
1.2.2.1 Thực hiện hợp đồng lao động 10
1.2.2.2 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động 10
1.2.2.3 Tạm hoãn việc thực hiện hợp đồng lao động 11
1.2.3 Quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động 11
Chương 2 THỰC TIỄN THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG TẠI CÁC DOANH NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HUẾ, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ 13
2.1 Giới thiệu về tình hình lao động trong các doanh nghiệp ở thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 13
2.2 Thực tiễn thực hiện pháp luật về hợp đồng lao động trong các doanh nghiệp tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế 13
Trang 42.2.1 Về loại hợp đồng lao động 13
2.2.2 Những kết quả đạt được 13
2.2.3 Những tồn tại, hạn chế và nguyên nhân 14
2.3 Một số kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về hợp đồng lao động 16
KẾT LUẬN 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
A Văn bản quy phạm pháp luật 20
B Tài liệu tham khảo 20
C Các trang thông tin điện tử 20
Trang 6Song trong nhiều năm qua, các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố Huế đãkhông chỉ có mức tăng trưởng ngoạn mục trong sản xuất kinh doanh mà còn luôntạo ra môi trường làm việc năng động, hiệu quả, đảm bảo đầy đủ quyền lợi và quantâm hỗ trợ đến đời sống vật chất, tinh thần cho cán bộ, công nhân viên…, tạo nênmối quan hệ lao động hài hòa, giúp doanh nghiệp phát triển một cách bền vững.Xác định tầm quan trọng của việc xây dựng mối quan hệ hài hòa giữa NSDLĐ vàNLĐ, bảo vệ quyền lợi hợp pháp chính đáng cho NLĐ, chăm lo đời sống tinh thần
và vật chất cho NLĐ, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của NLĐ
Vì vậy, vấn đề đặt ra tại thành phố Huế trong những năm tiếp theo, tiếp tụcnghiên cứu, tham gia hoàn thiện các chính sách pháp luật có liên quan trực tiếp đếnNLĐ; tập trung thực hiện chương trình nâng cao chất lượng thương lượng, ký kết vàthực hiện có hiệu quả HĐLĐ; chủ động phối hợp, tăng cường kiểm tra, giám sátviệc thực hiện pháp luật về HĐLĐ; để giảm thiểu những tranh chấp lao động giữadoanh nghiệp với NLĐ trong quá trình thực hiện HĐLĐ Xuất phát từ yêu cầu đòihỏi thực tế của HĐLĐ nói chung và thực tiễn trong các doanh nghiệp ở thành phố
Huế, do đó em xin lựa chọn đề tài “Pháp luật về hợp đồng lao động qua thực tiễn
áp dụng tại thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế” cho bài tiểu luận kết thúc học
phần Luật Lao động
Trang 7NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT HỢP ĐỒNG LAO ĐỘNG VÀ QUY ĐỊNH CỦA
PHÁP LUẬT VỀ HỢP ĐỒNG LAO ĐỒNG 1.1 Khái quát về hợp đồng lao động
1.1.1 Khái niệm về hợp đồng lao động
Khái niệm về HĐLĐ cũng có nhiều cách tiếp cận khác nhau Theo Tổ chức
Lao động quốc tế (ILO), HĐLĐ là: “Một thỏa thuận ràng buộc pháp lý giữa một NSDLĐ và một công nhân, trong đó xác lập các điều kiện và chế độ việc làm” 1 Ở Việt Nam, kể từ Sắc lệnh số 29/SL ngày 12/3/1947 của Chủ tịch Hồ Chí Minh quy định về “khế ước làm công”, Sắc lệnh số 77/SL ngày 22/5/1950 có quy định về
“công nhân tuyển dụng theo giao kèo” đến nay, chưa lúc nào trong hệ thống pháp
luật lao động không tồn tại những văn bản về HĐLĐ Nhưng tùy từng giai đoạn vớiđiều kiện khác nhau mà khái niệm HĐLĐ có sự khác nhau nhất định Và đến BLLĐ
được Quốc hội thông qua năm 2012 thì HĐLĐ được định nghĩa tại điều 15, “là sự thỏa thuận giữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong QHLĐ” Quy định này gần như tương đồng với nội dung trong BLLĐ 1994, tuy có chỉnh sửa “trả lương, điều kiện làm việc” thay cho “trả công, điều kiện lao động”.
Hiện nay, theo quy định tại Điều 13 Bộ luật lao động năm 2019, “HĐLĐ là
sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động”.
Như vậy, về bản chất, hợp đồng phải là sự thoả thuận, giao ước giữa các bên
và nội dung của nó phải là những quy định về các quyền lợi và nghĩa vụ của các bêntham gia HĐLĐ cũng là một loại hợp đồng (trước đây HĐLĐ được xem là hợpđồng dân sự, sau này mới tách ra thành loại HĐLĐ riêng), vì vậy nó cũng phải
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, “Giáo trình Luật Lao động Việt Nam” (2012), NXB Công an nhân dân,
Tr.214.
Trang 8mang bản chất của hợp đồng nói chung đó là tính khế ước, được hình thành trên cơ
sở sự thoả thuận của các bên
Song khác với hợp đồng dân sự hay hợp đồng thương mại, sự thoả thuận nàyphải là sự thoả thuận giữa các chủ thể của quan hệ lao động và nội dung của nó phảiliên quan đến các quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ lao động như vấn đề
về việc làm, tiền lương, thời gian làm việc, bảo hiểm xã hội…
1.1.2 Đặc điểm của hợp đồng lao động
Với tư cách là một khế ước, HĐLĐ mang đầy đủ những đặc điểm của hợpđồng nói chung và cũng mang những đặc điểm riêng, phản ánh đúng bản chất làmột chế định xác lập, duy trì quan hệ lao động Tuy nhiên, trong khoa học luật laođộng hiện nay còn có nhiều ý kiến khác nhau về đặc điểm của HĐLĐ
Thứ nhất, có sự phụ thuộc pháp lý của NLĐ với NSDLĐ Vì vậy, yếu tố bình
đẳng trong hợp đồng dường như mờ nhạt, khi NSDLĐ có quyền ra lệnh cho NLĐ
và NLĐ có nghĩa vụ phải thực hiện
Thứ hai, đối tượng của HĐLĐ là việc làm có trả công HĐLĐ là một loại
quan hệ mua bán đặc biệt khi hàng hoá mang ra trao đổi là sức lao động, luôn tồntại gắn liền với cơ thể NLĐ Tiền công trong HĐLĐ được trả cho sức lao động hiệntại – lao động sống
Thứ ba, HĐLĐ do đích danh NLĐ thực hiện NLĐ phải trực tiếp thực hiện
HĐLĐ, NLĐ muốn nhờ người khác làm thay phải được sự đồng ý của NSDLĐ.Đây cũng là điểm khác biệt lớn nhất giữa HĐLĐ với hợp đồng dân sự và hợp đồngkinh tế Vì trong hợp đồng dân sự hay trong hợp đồng kinh tế, người ký hợp đồng
có thể uỷ quyền hoặc thuê người khác thực hiện, đảm bảo đúng nghĩa vụ hai bên đãthoả thuận
Thứ tư, nội dung của HĐLĐ luôn bị chi phối bởi những giới hạn pháp lý nhất
định Cũng như các loại hợp đồng khác, nội dung của HĐLĐ do các bên thoả thuận.Tuy nhiên, quyền tự do của các bên thường bị chi phối bởi các quy định của phápluật lao động Đặc trưng này của HĐLĐ, xuất phát từ nhu cầu bảo vệ, duy trì và
Trang 9phát triển sức lao động trong nền kinh tế thị trường trên cơ sở nguyên tắc thoảthuận: quyền lợi của NLĐ là tối đa, nghĩa vụ là tối thiểu.
Thứ năm, HĐLĐ được thực hiện liên tục trong một khoảng thời gian nhất
định hay vô hạn định Sự ngắt quãng, tạm ngưng trong việc thực hiện hợp đồng chỉđược thực hiện trong các trường hợp được pháp luật quy định
1.1.3 Phân loại hợp đồng lao động
Theo quy định của Bộ luật Lao động thì hiện nay nhà làm luật đang phân loạitheo thời hạn hợp đồng Theo đó, thời hạn HĐLĐ là khoảng thời gian HĐLĐ phátsinh hiệu lực, ràng buộc trách nhiệm pháp lý đối với các bên trong việc thực hiệnquyền và nghĩa vụ đã được xác định trong nội dung của hợp đồng
Căn cứ theo Điều 22 của BLLĐ năm 2019 có phân loại đó là:
(i) HĐLĐ không xác định thời hạn2 là hợp đồng mà hai bên không xác định
thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng
(ii) HĐLĐ có xác định thời hạn3 là hợp đồng mà trong đó hai bên xác định
thời hạn, thời điểm chấm dứt hiệu lực của hợp đồng trong thời gian không quá 36tháng kể từ thời điểm có hiệu lực của hợp đồng
1.1.4 Ý nghĩa của hợp đồng lao động
Với tư cách là một loại hợp đồng, HĐLĐ có ý nghĩa là hình thức để các bênxác lập và thực hiện một quan hệ pháp luật và là cơ sở pháp lý để các bên bảo vệquyền lợi của mình khi tranh chấp xảy ra Ngoài ra, dưới góc độ quan hệ lao độngHĐLĐ còn có ý nghĩa đối với bên thứ ba như cơ quan quản lý nhà nước
Đối với NLĐ, HĐLĐ là phương tiện pháp lý quan trọng để thực hiện quyền
làm việc và quyền tự do việc làm của mình Trong thời kinh tế thị trường, hoạt độnglao động trong xã hội là các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ đây cũng làlĩnh vực sử dụng lao động nhiều nhất HĐLĐ là phương tiện để NLĐ tự do lựa chọnthay đổi việc làm, nơi làm việc phù hợp với khả năng, sở thích và nhu cầu của mình
Đối với NSDLĐ, HĐLĐ là phương tiện pháp lý quan trọng để NSDLĐ thực
hiện quyền tự chủ trong thuê mướn và sử dụng lao động Trong khuôn khổ pháp
2 Điểm a, Khoản 1 Điều 20 BLLĐ 2019.
3 Điểm b, Khoản 1 Điều 20 BLLĐ 2019.
Trang 10luật cho phép, NSDLĐ có thể thoả thuận với NLĐ các nội dung cụ thể của quan hệlao động cho phù hợp với nhu cầu sử dụng của mình Các bên cũng có thể thoảthuận thay đổi nội dung HĐLĐ hoặc thoả thuận để chấm dứt HĐLĐ trước thời hạn
Đối với nhà nước và các cơ quan quản lý nhà nước, HĐLĐ được coi là công
cụ pháp lý quan trọng trong việc tạo lập và phát triển thị trường lao động Thịtrường lao động đóng một vai trò quan trọng trong vận hành nền kinh tế thị trường.HĐLĐ là hình thức pháp lý phù hợp để đảm bảo sự bình đẳng, tự do và tự nguyệncủa các bên khi xác lập quan hệ lao động HĐLĐ là một trong những cơ sở pháp lýquan trọng để nhà nước kiểm tra giám sát việc thực hiện pháp luật lao động
1.2 Nội dung pháp luật hiện hành về hợp đồng lao động
1.2.1 Quy định pháp luật về giao kết hợp đồng lao động
1.2.1.1 Nguyên tắc giao kết hợp đồng lao động
Thứ nhất, về nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, hợp tác và trung thực Đây là nguyên tắc cơ bản khi giao kết HĐLĐ nói riêng và xác lập các giao
dịch dân sự nói chung Nội dung nguyên tắc này đã được quy định tại điều 3 Bộ luậtDân sự năm 2015 Trong một giao dịch hợp đồng, các bên trong giao dịch đều phảixuất phát từ sự tự nguyện, không bị ép buộc, cưỡng ép Mọi hành vi dụ dỗ, chèn épgây nên sự mất bình đẳng, không tự nguyện đều là vi phạm nguyên tắc khi giao kếthợp đồng Chính vì vậy, các bên khi giao kết HĐLĐ đều phải có quyền thể hiện ýchí của mình, sau đó cùng thỏa thuận, thống nhất
Tuy nhiên, điểm b khoản 4 Điều 18 BLLĐ 2019 cũng quy định trường hợpgiao kết HĐLĐ với NLĐ từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi khi có sự đồng ý bằngvăn bản của người đại diện theo pháp luật của người đó Như vậy trong trường hợpnày thì nguyên tắc tự nguyện không phải là tuyệt đối bởi các chủ thể trong quan hệHĐLĐ vẫn phải bị chi phối bởi ý chí của bên thứ ba Vì vậy có thể nói nguyên tắc
tự nguyện trong giao kết HĐLĐ vừa có tính tuyệt đối, vừa có tính tương đối
Thứ hai, nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng lao động nhưng không được trái pháp luật, thỏa ước lao động tập thể và đạo đức xã hội
Trang 11Nội dung nguyên tắc này thể hiện các bên trong quan hệ lao động có quyền
tự do thỏa thuận các nội dung trong hợp đồng, tuy nhiên không được trái với cácquy định của pháp luật Điều này cũng phù hợp với nguyên tắc pháp chế xã hội chủnghĩa được quy định tại Hiến pháp năm 2013, khi tham gia giao kết HĐLĐ các bênphải tuân thủ pháp luật Các thỏa thuận trong HĐLĐ cũng không được trái với cácđạo đức xã hội Nguyên tắc không trái đạo đức xã hội cũng là một trong nhữngnguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 2 Điều 3 Bộ luậtDân sự năm 2015 Điều này có nghĩa là nội dung của HĐLĐ không được vi phạmđạo đức, thuần phong mỹ tục, không được xâm phạm vào các giá trị truyền thốngtốt đẹp của dân tộc Các thỏa thuận trong HĐLĐ cũng không được trái với thỏa ước
lao động tập thể Khoản 1 Điều 75 BLLĐ năm 2019 quy định: “Thỏa ước lao động tập thể là thỏa thuận đạt được thông qua thương lượng tập thể và được các bên ký kết bằng văn bản.” Những điều khoản trong thỏa ước là những thỏa thuận về điều
kiện lao động, quyền lợi và nghĩa vụ của hai bên khi tham gia quan hệ lao động vàphải có lợi hơn cho NLĐ
1.2.1.2 Chủ thể giao kết hợp đồng lao động
Quy định về chủ thể giao kết HĐLĐ Quy định của pháp luật lao động về chủthể có quyền giao kết HĐLĐ Theo quy định của pháp luật, HĐLĐ là sự thoả thuậngiữa NLĐ và NSDLĐ về việc làm có trả lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa
vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động Tuy nhiên, không phải ai cũng có quyềngiao kết hợp đồng
1.2.1.3 Trình tự, thủ tục giao kết hợp đồng lao động
Việc giao kết HĐLĐ được tiến hành trực tiếp giữa NLĐ và NSDLĐ NLĐtrực tiếp giao kết là chủ yếu, bởi vì việc tham gia HĐLĐ có tư cách cá nhân Nhưngmột nhóm NLĐ nhất định cũng có thể uỷ quyền cho một NLĐ (cùng nhóm) giaokết HĐLĐ Tuy nhiên việc uỷ quyền của một nhóm NLĐ cho một NLĐ giao kếtHĐLĐ chỉ áp dụng đối với HĐLĐ có xác định thời hạn Trong trường hợp đó phải
có văn bản uỷ quyền hợp pháp theo quy định của pháp luật Những NLĐ dưới 15
Trang 12tuổi vẫn có thể tự mình giao kết HĐLĐ nhưng phải có sự xác nhận bằng văn bảncủa cha, mẹ hoặc người giám hộ hợp pháp mới có giá trị4
Giai đoạn 1: Các bên thể hiện và đưa ra các đề nghị thiết lập quan hệ lao động
Giai đoạn 2: Các bên thương lượng và đàm phán nội dung HĐLĐ.
Giai đoạn 3: Hoàn thiện và giao kết HĐLĐ
1.2.1.4 Nội dung hợp đồng lao động
Nội dung của HĐLĐ là toàn bộ những vấn đề được phản ánh trong hợpđồng, trong đó chứa đựng các quyền và nghĩa vụ do các bên đã thỏa thuận Vềnguyên tắc, pháp luật hợp đồng thường quy định những nội dung chủ yếu của hợpđồng mà các bên bắt buộc phải thỏa thuận đảm bảo quyền và lợi ích cần thiết củacác bên chủ thể
1.2.2 Quy định pháp luật về thực hiện, sửa đổi, tạm hoãn hợp đồng lao động
1.2.2.1 Thực hiện hợp đồng lao động
Phải tuân thủ hai nguyên tắc cơ bản là:
+ Phải thực hiện đúng các điều khoản đã cam kết trên phương diện bìnhđẳng; + Phải tạo ra những điều kiện cần thiết để bên kia có thể thực hiện các quyền
và nghĩa vụ của mình
1.2.2.2 Sửa đổi, bổ sung hợp đồng lao động
Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, nếu bên nào có yêu cầu sửa đổi, bổ sungnội dung HĐLĐ thì phải báo cho bên kia biết trước ít nhất 3 ngày làm việc vềnhững nội dung cần sửa đổi, bổ sung Trong trường hợp hai bên thỏa thuận được thìviệc sửa đổi, bổ sung HĐLĐ được tiến hành bằng việc ký kết phụ lục HĐLĐ hoặcgiao kết HĐLĐ mới Trong trường hợp hai bên không thoả thuận được việc sửa đổi,
bổ sung nội dung HĐLĐ thì tiếp tục thực hiện HĐLĐ đã giao kết
Trường hợp hai bên thống nhất được việc sửa đổi, bổ sung HĐLĐ thì sẽđược thực hiện bằng một phụ lục hợp đồng hoặc ký HĐLĐ mới để thay thế Trênthực tế, thường các bên sẽ sử dụng phụ lục hợp đồng trong trường hợp sửa đổi, bổ
Trang 13sung một hoặc một số điều khoản nhất định của HĐLĐ đang thực hiện mà khôngảnh hưởng tới các điều khoản khác Trường hợp có sự thay đổi căn bản nội dungcủa hợp đồng hai bên sẽ ký HĐLĐ mới để thay thế
1.2.2.3 Tạm hoãn việc thực hiện hợp đồng lao động
Trong quá trình thực hiện HĐLĐ, rất có thể NLĐ phải tạm hoãn thực hiệnHĐLĐ do có sự cố hoặc trong một số tình huống nhất định mà pháp luật cho phéphoặc các bên có thể thỏa thuận với nhau để tạm dừng thực hiện HĐLĐ
1.2.3 Quy định của pháp luật về chấm dứt hợp đồng lao động
Chấm dứt HĐLĐ là sự kiện pháp lý xảy ra khi một hoặc cả hai bên khôngtiếp tục thực hiện HĐLĐ và chấm dứt quyền và nghĩa vụ của mình5 Việc chấm dứtHĐLĐ có thể ảnh hưởng đến việc làm, thu nhập của NLĐ và từ đó tác động đếncuộc sống của bản thân và gia đình họ; đồng thời ảnh hưởng đến kế hoạch sản xuất,kinh doanh của NSDLĐ Vì vậy, pháp luật quy định rất chặt chẽ về các căn cứ (sựkiện pháp lý) dẫn đến việc chấm dứt HĐLĐ và hậu quả pháp lý của việc chấm dứtnày Các trường hợp chấm dứt HĐLĐ:
Đương nhiên chấm dứt HĐLĐ là trường hợp HĐLĐ chấm dứt hiệu lực khi
có sự kiện pháp lý nhất định mà các bên thường không cần phải thực hiện thêm cácnghĩa vụ pháp lý nào để chấm dứt HĐLĐ Theo quy định của pháp luật, HĐLĐ sẽđương nhiên chấm dứt khi có các sự kiện pháp lý sau6: HĐLĐ hết hạn; đã hoànthành công việc theo HĐLĐ; hai bên thỏa thuận chấm dứt HĐLĐ; NLĐ bị kết ánphạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự
do theo quy định tại khoản 5 Điều 328 của BLTTHS, tử hình hoặc bị cấm làm côngviệc ghi trong HĐLĐ theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật;NLĐ là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyếtđịnh của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩmquyền; NLĐ chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đãchết; NSDLĐ là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất
5 Nguyễn Hữu Chí, “Hợp đồng lao động” trong Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Lưu Bình Nhưỡng (chủ biên), Nxb Công an nhân dân, Hà Nội, 2009, tr.129.
6 Điều 34 BLLĐ 2019.