Phát triển địa du lịch Công Viên Đá Hoa Cương Kê Gà, tỉnh Bình Thuận Hoàng Thị Phương Chi*, Đoàn Ngọc Quỳnh Như, Huỳnh Bá Dũng Tóm tắt—Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá
Trang 1Phát triển địa du lịch Công Viên Đá Hoa
Cương Kê Gà, tỉnh Bình Thuận
Hoàng Thị Phương Chi*, Đoàn Ngọc Quỳnh Như, Huỳnh Bá Dũng
Tóm tắt—Nghiên cứu được thực hiện với mục
tiêu đánh giá tiềm năng địa du lịch của công viên đá
Kê Gà bao gồm đánh giá các giá trị khoa học, giá trị
bổ sung và vị trí của khu vực, từ đó đề xuất kế
hoạch quy hoạch khu vực thành một địa điểm địa du
lịch Phương pháp được thực hiện dựa theo đánh giá
giá trị địa du lịch của tác giả Górna M và Golonka
J kết hợp với phương pháp khảo sát ý kiến chuyên
gia Khu vực nghiên cứu được phân thành năm
điểm: bãi đá Bắc, bãi đá Nam, đảo Kê Gà, bãi biển
Kê Gà và bãi biển Hang Mú Kết quả nghiên cứu
cho thấy, khu vực bãi đá Bắc có giá trị địa du lịch
cao, khu vực bãi đá Nam và đảo Kê Gà có giá trị địa
du lịch trung bình Từ kết quả nghiên cứu đề xuất
quy hoạch Công viên đá hoa cương Kê Gà thành
điểm địa du lịch trong tuyến ven biển Bình Thuận
cùng với một số sản phẩm địa du lịch phù hợp
Từ khóa—địa du lịch, giá trị địa du lịch, mũi Kê
Gà
1 GIỚI THIỆU Hiện nay, các dạng du lịch bền vững ra đời như
du lịch sinh thái, du lịch xanh đã làm đa dạng
thêm sản phẩm du lịch và cũng phần nào giải
quyết được tác động tiêu cực lên môi trường, đẩy
mạnh công tác bảo tồn thiên nhiên Tuy nhiên,
hiện nay ở Việt Nam, bảo tồn thiên nhiên được
hiểu là bảo tồn đa dạng sinh học, mặc dù môi
trường tự nhiên bao gồm cả đa dạng sinh học và
đa dạng địa học Trong khi đó, đa dạng địa học là
nền móng cho đa dạng sinh học [1] Đa dạng địa
học (hợp phần phi sinh) bao gồm môi trường, nền
móng cùng hàng loạt các quá trình hỗ trợ mạnh
mẽ cho đa dạng sinh học Như vậy, yếu tố địa
chất, địa mạo, cảnh quan làm nên đa dạng địa học
cũng cần được xem xét một cách cẩn thận để bảo
tồn Việc bảo tồn các di sản địa chất ít nhất là
Ngày nhận bản thảo: 20-08-2018, ngày chấp nhận đăng:
10-12-2018, ngày đăng: 31-12-2018
Hoàng Thị Phương Chi*, Đoàn Ngọc Quỳnh Như, Huỳnh
Bá Dũng – Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
ĐHQG-HCM
*Email: htpchi@hcmus.edu.vn
giảm sự phá hủy chúng tới mức tối thiểu Bảo tồn
di sản địa chất là cần thiết bởi lẽ không chỉ là việc tiết kiệm tài nguyên, mà còn đảm bảo rằng không
có sự lãng phí trong việc sử dụng chúng [1] Các điểm du lịch phần lớn sẽ là các vị trí có các giá trị về địa chất, địa mạo, cảnh quan (geosite), chúng ta cũng có thể gọi là những di sản địa chất,
là một phần tài nguyên địa chất có giá trị nổi bật
về khoa học, giáo dục, thẩm mỹ và kinh tế [2]
Tác giả Reynard (2007) đã phân thành hai loại giá
trị khoa học và các giá trị bổ sung (bao gồm giá
trị về sinh thái, thẩm mỹ, văn hóa, lịch sử, kinh tế ); và ông cũng đưa ra nhận định hoạt động du lịch có thể gây ra các tác động cũng như đến địa
di sản hay các giá trị của chúng [3] Các giá trị này cần được đánh giá và khai thác để phát triển theo hướng địa du lịch và bảo tồn tài nguyên địa học thông qua hoạt động nghiên cứu, học tập tìm hiểu về lịch sử địa chất khu vực
Trên thế giới thuật ngữ “Địa du lịch - Geotourism” đã trở nên phổ biến, nhưng ở Việt Nam, địa du lịch vẫn còn khá mới mẻ Lần đầu tiên thuật ngữ địa du lịch được định nghĩa bởi Thomas A Hose (1995) [4], sau đó là của National Geographic Traveler (2002) [4], Ross K Dowling và David Newsome (2006) [5] Cho đến
2011, Đại hội quốc tế về Địa du lịch được tổ chức bởi UNESCO, đưa ra tuyên bố Arouca nêu một định nghĩa mới cho Địa du lịch: “Địa du lịch là một loại hình du lịch giúp duy trì và tăng cường đặc điểm đặc sắc của một vùng lãnh thổ, cần chú
ý các đặc điểm địa chất, môi trường, văn hóa, thẩm mỹ, di sản và phúc lợi của cư dân địa phương Địa chất du lịch là một trong nhiều thành phần của Địa du lịch” [6] Trên thế giới, mô hình địa du lịch rất được quan tâm và được xem như một ngành học ở các trường tại Hoa Kỳ, Iran, Úc,
và một số nước châu Âu Theo đó Địa du lịch là một khoa học liên ngành nó dựa trên sự tương tác giữa chính trị, khoa học địa chất các trường đại
Trang 2học và ngành công nghiệp du lịch Từ đó dẫn đến
sự ra đời của Mạng lưới Công viên địa chất toàn
cầu (Global Geopark Network) vào năm 2004 với
mục tiêu cung cấp một nền tảng cho sự hợp tác,
trao đổi của các chuyên gia và học viên trong các
vấn đề về di sản địa chất dưới sự quản lý của
UNESCO [5] Phát triển địa du lịch là việc tạo ra
sản phẩm địa du lịch để bảo vệ địa di sản, giúp
xây dựng cộng đồng, giao tiếp, phát triển các di
sản địa chất và tạo việc làm cho người dân Việc
xây dựng các tuyến du lịch địa chất, công viên địa
chất là việc làm cần thiết để đẩy mạnh công tác
bảo tồn di sản địa chất Về lâu dài, các di sản địa
chất cần được bảo vệ theo pháp luật về bảo tồn
quốc gia Vì vậy, bảo vệ các điểm địa chất thông
qua hình thức địa du lịch sẽ là một hướng đi mới,
bền vững đóng góp không những cho khoa học
mà còn cho phát triển du lịch địa phương
2 PHƯƠNG PHÁP Theo quan điểm của Dowling R và Newsome
D., địa du lịch được chia thành ba thành phần: các
dạng thành tạo của khu vực (form), các quá trình
địa chất (process) và du lịch (tourism) [5] Để
phản ánh được đầy đủ các giá trị của địa di sản,
nghiên cứu tiến hành hai quá trình đánh giá: 1)
Đánh giá kiểm kê, 2) Đánh giá giá trị theo nghiên
cứu của tác giả Gorna M và Golonka J (2010)
[7]
Giai đoạn một, đánh giá kiểm kê bao gồm nhận
diện ra các vị trí tiềm năng, các lựa chọn ban đầu
và các đặc điểm Nghiên cứu thực hiện dựa trên
dữ liệu tổng hợp từ những nghiên cứu trước tại khu vực Kê Gà, Phan Thiết của các tác giả Hà Quang Hải (2016), La Thị Chích và cs (2009), Đỗ Văn Lĩnh (2010) và Bản đồ Địa chất – Khoáng sản tỉ lệ 1: 200.000 cùng các dữ liệu ghi nhận từ thực địa Các dữ liệu bao gồm: vị trí, đặc điểm địa chất, địa mạo, thực vật, điều kiện tiếp cận, hiện trạng tác động của hoạt động dân sinh…Tổng hợp các nguồn trên cho phép xác định số lượng và mô
tả các vị trí trong khu vực nghiên cứu
Giai đoạn hai, đánh giá giá trị bằng cách cho điểm đối với từng đặc tính của các vị trí, theo các tiêu chí và quy mô thiết lập Khung định giá trị dựa trên ba tiêu chí chính và mười ba tiêu chí phụ (Bảng 1) Khoảng giá trị là từ 1 – 3 và có thể bằng
0 khi nó dưới tiêu chuẩn được đề xuất Tổng của tất cả các chỉ số xác định tổng giá trị của các vị trí (tối đa 36) được đưa vào bảng tổng hợp đánh giá địa du lịch Kết quả thực hiện đánh giá so sánh các vị trí và tạo ra các bảng xếp hạng có thể hữu ích trong việc bảo vệ tương lai, phát triển địa du khách hoặc các sáng kiến khác Sau đó, nghiên cứu tiến hành khảo sát ý kiến 3 chuyên gia thuộc Khoa Môi trường – trường Đại học Khoa học Tự nhiên (có kinh nghiệm trong khu vực nghiên cứu); tổng hợp phiếu khảo sát cùng với đánh giá chủ quan của nhóm tác giả để có kết quả đánh giá tổng quan và chính xác hơn
Bảng 1 Các Tiêu chí đánh giá giá trị địa du lịch của di sản địa chất (có điều chỉnh dựa trên nghiên cứu của Gorna M và
Golonka J (2010)) [7]
GIÁ TRỊ KHOA HỌC – Sc (Tối đa 12 điểm) Tính hiếm có của khu vực
Rar
1 Khu vực có một vài điểm tương tự xung quanh
2 Một trong những khu vực quan trọng nhất
Điều kiện quan sát (điểm
nhìn)
Con
1 Một phần bị che phủ bởi thảm thực vật và một phần bị phá hủy do hoạt động của con người và tự nhiên
Khả năng minh họa
Ilu
2 Ví dụ tốt để minh họa các quá trình và chức năng hợp lý của địa chất
3 Ví dụ xuất sắc để minh họa các quá trình và chức năng hợp lý của địa chất
Trang 3trưng và quá trình địa chất
Div
ĐỊNH VỊ – Lc (tối đa 12 điểm) Cách đường mòn
TT
Cách đường lớn (có thể đi
bằng xe hơi)
Ro
1 Cách bãi đậu xe từ 2,5 đến 5 km
2 Cách bãi đậu xe từ 1 đến 2,5 km
Cách các khu hỗ trợ dịch vụ
(nhà nghỉ, ăn uống)
Ss
Khả năng tiếp cận
Acc
1 Khó khăn, chỉ tiếp cận được bằng một số phương tiện đặc biệt
2 Khó tiếp cận với một vài du khách
GIÁ TRỊ BỔ SUNG – Add (Tối đa 12 điểm) Giá trị thẩm mỹ
Aes
Phát triển và sử dụng
DU
1 Hiện nay được sử dụng như một khu vực du lịch, văn hóa,…
2 Hiên nay được sử dụng như một khu vực địa chất
3 Hiện nay được sử dụng như một khu vực địa du lịch (với các tài liệu giải
thích) Tiếp cận thông tin địa chất
AI
1 Tiếp cận khó khăn hoặc chỉ kiến thức khoa học 1,5 Tiếp cận thông tin chung (qua internet, sách báo)
Bảo vệ bởi pháp luật
LP
1 Được bảo vệ như một phần của khu vực lớn hơn 1,5 Được bảo vệ riêng như một khu vực lịch sử, tự nhiên
2 Được bảo vệ riêng như một khu vực địa chất Giá trị lịch sử/văn hóa
Giá trị Văn hóa – 1
Ngoài ra, nghiên cứu còn đề xuất các sản phẩm
địa du lịch tại geosite Kê Gà định hướng theo
phân loại của tác giả Dryglas D và Miśkiewicz K
(2014) [8] tương tự tác giả Reynard E (2008) [9]:
sản phẩm địa du lịch được phân thành 2 bậc cơ
bản và phức hợp với các sản phẩm đó là cơ sở hạ
tầng, phương tiện di chuyển, sản phẩm khoa học
thứ cấp (sách, quà lưu niệm, tài liệu điện tử, trò
chơi…), hệ thống thuyết minh tại điểm đến (bảo
tàng, trung tâm du khách, triển lãm, hướng dẫn
tham quan, các bảng chỉ dẫn, thuyết minh, trang web)
3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
Các di sản địa chất dải ven biển Bình Thuận
Bình Thuận là một tỉnh có nhiều lợi thế và tiềm năng cho phát triển du lịch Với bờ biển dài 192
km cùng với nhiều bãi biển, đồi cát, rừng cây ven biển, nước khoáng, và nhiều cảnh quan thiên nhiên đẹp như: Mũi Né, Mũi Kê Gà, Bàu Trắng, Gành Son, Bãi biển Cổ Thạch…, Bình Thuận có thể phát triển nhiều loại hình du lịch nghỉ dưỡng,
Trang 4vui chơi giải trí Bên cạnh đó tỉnh còn có tiềm
năng về nhân văn, tín ngưỡng, di tích lịch sử - văn
hóa phục vụ cho phát triển các loại hình du lịch
tham quan nghiên cứu, học tập
Đại bộ phận lãnh thổ là đồi núi thấp, đồng bằng
ven biển nhỏ hẹp, địa hình hẹp ngang kéo theo
hướng Đông Bắc – Tây Nam Khu vực nghiên
cứu khá đa dạng về địa mạo cũng như có một số
đặc điểm địa chất và địa tầng đặc trưng [10] Cảnh
quan địa mạo khá đá dạng như các mũi đá; các
vịnh biển, bãi biển, thềm biển, vách biển do hoạt
động mài mòn và tích tụ của biển và cao nguyên cát đỏ rộng lớn, các đụn cát hiện đại do gió Các cảnh quan này đã hình thành nên đới bờ biển đặc trưng của Bình Thuận Đó là các vịnh biển uốn cong xen giữa các mũi nhô mà có thể nhận dạng
dễ dàng trên ảnh vệ tinh và bản đồ qua hình thái đường bờ [10] 19 geosite đã được nhóm tác giả
Hà Quang Hải và nnk đề xuất và phân loại thuộc 4 kiểu: 1) Cảnh quan địa mạo, 2) Địa tầng, 3) Cấu trúc và 4) Nước khoáng (Hình 1)
Hình 1 Các di sản địa chất ven biển Bình Thuận [10]
Đánh giá giá trị địa du lịch công viên đá hoa
cương Kê Gà – Bình Thuận
Mũi Kê Gà là một địa điểm có vẻ đẹp độc đáo
và có tiềm năng giá trị địa du lịch cao Khu vực
này có các bãi đá hoa cương (phức hệ Đèo Cả)
nhô ra biển, gồm các cột đá đủ hình dạng, kích
thước, nằm nghiêng, thẳng đứng Sự phá hủy lâu
dài của sóng biển đã tạo ra đảo Kê Gà (mũi Điện)
tách rời khỏi mũi đá Đây là một geosite (địa di
sản) phức hợp ba yếu tố Địa mạo – Thạch học –
Kiến tạo
Đánh giá kiểm kê
Trong bước đầu tiên, nghiên cứu tiến hành
đánh giá kiểm kê và tạm phân vùng Kê Gà thành
ba điểm: bãi đá Bắc, bãi đá Nam và đảo Kê Gà
Khu vực 1: Bãi đá Bắc
Bãi này nằm ở trung tâm khu vực mũi Kê Gà
và là khu vực có đặc điểm nổi bật và đặc sắc nhất Khu vực bãi đá Bắc (Kí hiệu 1 trên Hình 2) có diện tích khoảng hơn 3,7 ha Khi bước chân vào đây có thể cảm thấy choáng ngợp trước vẻ đẹp của công viên đá với nhiều khối đá xếp chồng lên nhau một cách ngẫu nhiên, có những khối đá với
đủ hình dáng kỳ lạ Trong khu vực bãi đá Bắc, nghiên cứu chia ra làm bốn điểm có đặc điểm nổi bật nhất: bãi đá hình búp sen (Hình 3); hệ thống khe nứt (Hình 4); đá có gốc dốc 70o – 80o (Hình 5); bãi đá lớn nhìn ra Hải đăng – đảo Kê Gà (Hình 6)
Khu vực 2: Bãi đá Nam
Bãi đá Nam (Kí hiệu 2 trên Hình 2) nằm ở phía bên ngoài bãi đá Bắc và là nơi tiếp xúc trực tiếp
Trang 5với nước biển Khu vực này rộng khoảng hơn 0,14
ha, gồm những khối đá nằm rải rác trên biển
(Hình 7) Vì tiếp xúc lâu ngày với nước biển nên
đá có màu đen, và với những khối đá xếp cao hơn,
không chịu tác động của nước biển thì vẫn giữ
được màu vàng, trắng của đá granit Với trí tưởng tượng của người dân nơi đây, một số khối đá được
vẽ thêm mắt thành những chú cá đang vươn ra biển lớn (Hình 8)
Hình 2 Bản đồ khu vực Công viên đá hoa cương Kê Gà
Bãi đá Nam là nơi sinh sống của nhiều loài
động vật biển như cá, cua, ốc,… Khu vực này
nằm ở vị trí gần biển do đó khó tiếp cận và nguy
hiểm, chỉ khi nước thủy triều rút mới có thể đến
khu vực này dễ dàng Ngoài ra, bãi đá Nam còn là
nơi thích hợp cho những nhiếp ảnh gia chuyên
nghiệp vì nơi đây có điểm nhìn tốt khi có thể
ngắm được bao quát đảo Kê Gà và ngọn hải đăng
Khu vực 3: Đảo Kê Gà
Đây là một hòn đảo nằm ở ngoài biển Mũi Kê
Gà (Kí hiệu 3 trên Hình 2), có diện tích khoảng 8,5 ha Vì nằm ở ngoài biển nên khó tiếp cận bằng đường bộ được và chỉ có thể ra đảo bằng tàu hoặc
có thể đi bộ ra đảo vào những ngày triều xuống thấp Trên đảo Kê Gà cũng có nhiều khối đá lạ, xếp chồng lên nhau và tạo thành hình chữ S rất đẹp
Trang 6Hình 3 Đá Búp sen nhìn từ hướng Đông
Hình 5 Đá có gốc dốc – Bãi đá Bắc
Hình 7 Từ bãi đá Nam nhìn ra ngọn hải đăng
Hình 4 Khe nứt 1 và khe nứt 2
Hình 6 Từ bãi đá bắc nhìn ra đảo Kê Gà
Hình 8 Những tảng đá như những chú cá vươn ra biển lớn
Trang 7Trên đảo Kê Gà còn có một ngọn hải đăng cổ
đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ và giúp
đỡ tàu thuyền khi đi qua khu vực này Đứng từ
trên cao từ ngọn hải đăng có thể quan sát được
toàn cảnh Mũi Kê Gà Khu vực đảo Kê Gà cũng
giống như khu vực bãi đá Bắc và bãi đá Nam, đá
có nguồn gốc là đá hoa cương, màu chủ đạo là
trắng, vàng và có hệ thống khe nứt theo hai hướng
chính là ĐB – TN và TB – ĐN
Đánh giá giá trị khoa học và bổ sung của Công
viên đá hoa cương Kê Gà
Đánh giá giá trị địa du lịch, khẳng định rằng giá
trị khoa học cũng quan trọng như định vị hoặc giá
trị bổ sung Các khu vực địa du lịch hấp dẫn nhất
là các khu vực có giá trị, đẹp, hiếm và dễ tiếp cận
Giá trị khoa học
Khu vực Bình Thuận thuộc tầng cấu trúc móng
tuổi trước Kainozoi (hình thành cách đây khoảng
65 triệu năm), các thành tạo trầm tích chủ yếu lục
nguyên Trias muộn (khoảng 200 – 251 triệu năm
trước) – Jura (khoảng 146 – 200 triệu năm trước)
[11]
Theo Bản đồ địa chất – khoáng sản tỉnh Bình
Thuận (Tờ Gia Ray – Bà Rịa) tỷ lệ 1:200.000
[12], khu vực Mũi Kê Gà bị phủ bởi chủ yếu các
trầm tích Đệ Tứ, thống Holocen thượng (vQ2)
trầm tích gió
Magma xâm nhập trong vùng nghiên cứu chỉ có
phức hệ Đèo Cả Các đá xâm nhập phức hệ Đèo
Cả phân bố rải rác, tạo thành từng chòm nhỏ hoặc
các mũi nhô ra biển với diện tích vài chục m2 đến
gần 2 km2 Trong diện tích vùng nghiên cứu chỉ lộ
ra các đá granosyenit, granit biotit, granit biotit có hornblend hạt trung, màu trắng xám
Tại diện lộ Mũi Kê Gà có chiều dài trên 500m
và rộng khoảng 250 m theo phương vĩ tuyến Khu vực Mũi Kê Gà phát triển bốn hệ khe nứt sau [13]: 1) Phương ĐB – TN 20o – 30o cắm về phía
ĐN, góc dốc 70o – 80o chiếm 57%, hệ khe nứt tạo thành một đới dập vỡ rộng từ 0,5m đến 5 – 6 m; 2) Phương 290 o với góc dốc thẳng đứng tập trung thành đới rộng từ 0,7 đến 7m chiếm 29%; 3) Phương vĩ tuyến, góc dốc thẳng đứng, hướng về phía Nam, chiếm 9%; 4) Kinh tuyến góc dốc từ
60o – 70o hướng về phía Đông Các đứt gãy nhỏ phương ĐB – TN 50 o – 65 o và các khe nứt sinh kèm
Khu vực bãi đá Bắc, bãi đá Nam và đảo Kê Gà
có dạng địa hình xâm thực bóc mòn Lý giải theo
sự thành tạo của một số đảo nối bờ, theo hình 9,
có thể giải thích khi mới hình thành, ba khu vực này chính một mũi biển tuy nhiên theo thời gian, dưới tác động của sóng biển va đập vào các khe nứt vốn tồn tại bên trong đá gốc hoa cương làm đá
vỡ ra và tạo thành hình dạng Mũi Kê Gà Ngày nay, vẫn còn những khối đá còn nằm lại ở khu vực bị sóng phá hủy và những khi nước biển rút
có thể quan sát thấy (Hình 7)
(A) (B)
Hình 9 Giải thích quá trình trước (A) và sau (B) hình thành đảo Kê Gà tại Mũi Kê Gà
Trang 8Hai bãi tắm Kê Gà và bãi Hang Mú thuộc kiểu
địa hình tích tụ hiện đại có nguồn gốc biển mQ2
do khu vực bãi tắm Kê Gà được nằm giữa hai mũi
biển có tác dụng như kè biển giúp giữ lại các trầm
tích, theo thời gian tích tụ và hình thành nên bãi
biển Tuy nhiên, hiện nay do mực nước biển gia
tăng làm cho bãi tắm Kê Gà xuất hiện xâm thực
nhẹ do đó phải xây kè biển để bảo vệ bờ biển
Giá trị bổ sung
Với việc kế thừa các tài liệu của các tác giả liên
quan, hai tác giả Górna M và Golonka J đã đưa
ra các tiêu chí phụ cho tiêu chí giá trị bổ sung
gồm: giá trị thẩm mỹ, sự phát triển và sử dụng,
cách tiếp cận thông tin địa chất, sử dụng luật pháp
để bảo vệ và giá trị văn hóa/ lịch sử
Dựa trên quan điểm của Gray M thì giá trị
thẩm mỹ là các giá trị liên quan đến cảnh quan mà
mọi người cảm nhận được [14] Giá trị thẩm mỹ
bao gồm: Cảnh quan địa phương; Du lịch địa chất
và hoạt động giải trí; Cảm hứng nghệ thuật
Hiện nay, cả ba khu vực trên đều được sử dụng
như một khu vực du lịch, văn hóa…trong đó phát
triển hơn cả là khu vực đảo Kê Gà Theo ý kiến
của khách du lịch và người dân địa phương về nơi
diễn ra hoạt động du lịch vui chơi và giải trí mà
họ biết khi đến khu vực này thì tất cả đều trả lời là
khu vực đảo Kê Gà và hầu như không ai biết đến
khu vực bãi đá Bắc và bãi đá Nam
Việc tiếp cận các thông tin địa chất tại khu vực
Mũi Kê Gà khá khó khăn vì hiện nay loại hình địa
du lịch còn khá mới mẻ ở Việt Nam nói chung và
Mũi Kê Gà nói riêng Do đó, chỉ có thể tiếp cận
các thông tin địa chất thông qua các báo cáo từ
các chuyên gia về khu vực này
Về tiêu chí bảo vệ bởi pháp luật thì hiện nay
duy nhất chỉ có đảo Kê Gà là nhận được sự quan
tâm hơn bởi đây là nơi có ngọn hải đăng Kê Gà
thuộc sự quản lý của nhà nước, còn hai khu vực
bãi đá Bắc và bãi đá Nam thì chưa được một cơ
quan nào quản lý
Có thể nói giá trị lịch sử được quan tâm nhất tại
khu vực này chính là Ngọn Hải đăng Kê Gà -
ngọn hải đăng cổ nhất Đông Nam Á do người
Pháp xây dựng từ năm 1897 và đưa vào sử dụng
năm 1899
Định vị
Một khu vực tham quan địa du lịch dù có thỏa mãn tiêu chí giá trị khoa học và giá trị bổ sung cao mà không có vị trí tiếp cận thuận lợi vẫn trở thành một trở ngại lớn trong việc phát triển loại hình du lịch này Địa du lịch cũng là một loại hình
du lịch nên tác giả Górna M và Golonka J cho rằng tiêu chí định vị cũng đóng một vai trò quan trọng như hai tiêu chí còn lại do đó sẽ được đánh giá riêng như một tiêu chí Trong tiêu chí vị trí có những tiêu chí phụ sau: Khoảng cách đến đường mòn; Khoảng cách đến đường lớn (có thể đi bằng
xe hơi); Khoảng cách đến các khu hỗ trợ dịch vụ (nhà hàng, khách sạn,…); Khả năng tiếp cận Trong ba khu vực nghiên cứu thì khu vực Đảo Kê
Gà là nơi khó tiếp cận nhất vì chỉ có thể đi thuyền
ra đảo hoặc nếu may mắn khách du lịch có thể lội
bộ qua khu vực này vào những ngày nước xuống Tuy nhiên, phần lớn khách du lịch khi đến đây đều phải di chuyển bằng thuyền thúng hoặc cano
do các cơ sở du lịch kinh doanh, và thời gian di chuyển tới đảo mất khoảng 10 phút
Kết quả thực hiện định giá cho phép so sánh các vị trí và tạo ra các bảng xếp hạng có thể hữu ích trong việc bảo vệ tương lai, phát triển địa du khách hoặc các sáng kiến khác
Sau khi tính toán, Bản đồ chuyên đề được thành lập thể hiện tiêu chí giá trị địa du lịch của 3 khu vực khảo sát, kèm theo các giá trị khoa học, giá trị
bổ sung và vị trí
Từ kết quả đánh giá giá trị (Bảng 2) ta có thể kết luận bãi đá Bắc là nơi có giá trị địa du lịch cao; bãi đá Nam và đảo Kê Gà lại có giá trị địa du lịch thấp hơn Xét về tiêu chí giá trị khoa học thì bãi đá Bắc là nơi có giá trị khoa học cao nhất, sau
đó là đảo Kê Gà và bãi đá Nam Tuy nhiên, xét về tiêu chí giá trị bổ sung, đảo Kê Gà lại có giá trị cao nhất, sau đó là bãi đá Bắc và bãi đá Nam Đảo
Kê Gà nằm ở ngoài biển nên xét về tiêu chí vị trí thì có giá trị thấp nhất Bãi đá Bắc là nơi có vị trí tốt nhất, sau đó là bãi đá Nam (Hình 10)
Trang 9
Bảng 2 Điểm khảo sát đánh giá giá trị địa du lịch cho 3 khu vực: bãi đá Bắc, bãi đá Nam và đảo Kê Gà
Tiêu
chí
Khu
vực
(12)
(12)
(12)
Tổng cộng (36)
Phần trăm (%)
Bãi đá Bắc 2,5 2,75 2,75 2,25 10,25 2 3 3 2,75 10,75 3 1,25 1,125 1 1,25 7,625 28,625 79,51
Bãi đá Nam 1,5 2,5 2 1,75 7,75 1,5 2,75 3 2,25 9,5 2,5 1,25 1,125 1,125 0,75 6,75 24 66,67
Đảo Kê Gà 2,5 3 1.75 2 9,25 1 1,75 2,75 1,25 6,75 2,75 1,5 1,375 1,25 1,438 8,312 24,312 67,53
Ghi chú:
- Giá trị khoa học (Sc): Rar: tính hiếm, Con: Điều kiện quan sát, Ilu: Khả năng minh họa, Div: Tính đa dạng về các nét đặc trưng và quá trình địa chất
- Vị trí (Lo): TT: Cách đường mòn, Ro: Cách đường lớn (có thể đi bằng xe hơi), Ss: Cách các khu hỗ trợ dịch vụ(nhà nghỉ, ăn uống), Acc: Khả năng tiếp cận
- Giá trị bổ sung (Add): Aes: Giá trị thẩm mỹ, DU: Phát triển và sử dụng, AI: Tiếp cận thông tin địa chất, LP: Bảo vệ bởi pháp luật, CH: Giá trị lịch sử/văn hóa
Trang 10Hình 10 Bản đồ giá trị địa du lịch Công viên đá hoa cương Kê Gà
Phân vùng sơ bộ công viên đá hoa cương Kê
Gà
Geosite Kê Gà đáp ứng tiêu chí đại diện (điển
hình cho các geosite mũi nhô) và phức hợp (địa
mạo- thạch học – kiến tạo – Văn hóa/lịch sử) Đề
nghị xếp Kê Gà thuộc geosite cấp Quốc gia
Nghiên cứu đề xuất quy hoạch geosite này thành
Công viên địa chất Đá hoa cương Kê Gà với ba
địa điểm tham quan du lịch chính: 1) bãi đá Bắc,
2) bãi đá Nam, 3) đảo Kê Gà Trong đó khu vực
bãi đá Bắc sẽ là khu vực trung tâm của Mũi Kê Gà
(Hình 10) với tên gọi: Độc sen lấy hình tượng từ
tháp đá hình búp sen (Hình 3) Tại đây sẽ diễn ra
các hoạt động tham quan, học hỏi các kiến thức về
địa chất, địa mạo hoặc làm nơi cắm trại, tổ chức
các buổi team building Mô hình du lịch này rất phù hợp với các các buổi thực địa do các trường
tổ chức cho học sinh, sinh viên học tập cũng như khách du lịch sẽ có điều kiện biết thêm nhiều kiến thức về Khoa học Trái đất Tiếp đến, khách du
lịch có thể qua đảo Kê Gà với tên gọi: Bến đỗ, để
tiếp tục tham quan ngọn hải đăng cổ nhất Đông Nam Á cùng với hàng cây sứ cổ thụ Với khu vực đảo Kê Gà, khách du lịch còn có thể tổ chức cắm trại ở khu đất trống, tham gia các hoạt động câu cá hoặc tắm biển Với khu vực bãi đá Nam, vì nằm sát biển nên việc tiếp cận gặp khó khăn, khách du lịch có thể tổ chức câu cá, câu mực,… hoặc tổ chức các buổi chụp hình ngoại cảnh Vào những ngày rằm tháng 7 âm lịch, khách du lịch còn có