1. Trang chủ
  2. » Tất cả

1435 Báo cáo công tác b-o t-n dân ca, dân vu, dân nh-c các dân t-c thi-u s-.signed.signed

17 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

chu kỳ trong năm gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng như: Lễ hội Katê, Chabur, Ramưwan, Yôr Yang, Palao Sah, Puis Payak, các lễ nghi liên quan đến vòng đời người, các lễ nghi theo chu

Trang 1

SỞ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH

Số: 1435/BC-SVHTTDL

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bình Thuận, ngày 03 tháng 6 năm 2021

O O

C n t ảo tồn, phát huy dân a, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số trên địa bàn tỉnh Bình Thuận

Thực hiện Công văn số 1589/BVHTTDL-VHDT ngày 18/5/2021 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch về việc báo cáo công tác bảo tồn, phát huy dân ca, dân vũ, dân nhạc của các dân tộc thiểu số;

Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Bình Thuận báo cáo kết quả thực hiện như sau:

I THỰC TRẠNG BẢO TỒN, PH T HUY DÂN A, DÂN VŨ, DÂN NHẠC TRUYỀN THỐNG CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ GIAI ĐOẠN 2016 -

2020

1 Khái quát chung

Bình Thuận là tỉnh duyên hải cực Nam Trung bộ, có diện tích 7.828 km2, gồm 10 huyện, thị xã, thành phố và 124 xã, phường, thị trấn; trên địa bàn tỉnh có

35 dân tộc anh em cùng sinh sống, trong đó có 34 dân tộc thiểu số (Theo số liệu Tổng Cục thống kê đến tháng 01/2021) Trong đó, đông nhất là dân tộc Chăm với 40.979 khẩu, dân tộc Raglai 19.305 khẩu, dân tộc Cờho 12.684 khẩu, dân tộc Hoa 10.753 khẩu, dân tộc Tày 5.527 khẩu, dân tộc Chơro 4.993 khẩu, dân tộc Nùng 3.001 khẩu, dân tộc Giarai 2.209 khẩu Các dân tộc thiểu số còn lại

có dân số rất ít khoảng vài trăm người, một số dân tộc chỉ có dân số vài người đến vài chục người Trong số 35 dân tộc sinh sống trên đất Bình Thuận, có 04 nền văn hóa dân gian (dân ca, dân vũ, dân nhạc) tiêu biểu của 04 dân tộc cụ thể như sau:

1.1 Khái quát về dân tộc Chăm

- Người Chăm ở Bình Thuận tập trung sinh sống tại 6 huyện: Tuy Phong 5.316 người, Bắc Bình 25.286 người, Hàm Thuận Bắc 5.238 người, Hàm Thuận Nam 1.610 người, Hàm Tân 1.368 người, Tánh Linh 2.148 người và một số ít còn lại sinh sống tại các huyện, thị xã và thành phố trong tỉnh Họ theo tôn giáo tại các thôn để vừa thuần nhất tôn giáo, vừa tiện làm ăn và thực hiện các giáo lễ theo quy định Người Chăm theo chế độ mẫu hệ và có 02 tôn giáo chính: Đạo Bàlamôn (hay còn gọi là Chăm Ahier) và đạo Bàni (Hồi giáo cũ hay Chăm Awal)

- Nhiều lễ nghi, lễ hội và truyện cổ dân gian Chăm có nội dung ca ngợi các

vị thần thánh, các tôn giáo trong lịch sử, mà đến ngày nay họ vẫn tôn thờ và tôn vinh ngay trong từng nhân vật của các loại hình tín ngưỡng văn hóa dân gian Lĩnh vực văn học dân gian Chăm rất phong phú về thể loại, gồm: Tục ngữ, ca dao, thành ngữ, hát đố, đồng dao, dân ca, truyện cổ dân gian và thơ Ariya loại hình ngâm, kể chuyện

- Hiện đang lưu giữ nhiều loại hình văn hóa phi vật thể với những nội dung rất phong phú và đặc sắc Với hơn 70 lễ hội, lễ nghi diễn ra liên tục theo

Trang 2

chu kỳ trong năm gắn với sinh hoạt tôn giáo, tín ngưỡng như: Lễ hội Katê, Chabur, Ramưwan, Yôr Yang, Palao Sah, Puis Payak, các lễ nghi liên quan đến vòng đời người, các lễ nghi theo chu kỳ sản xuất nông nghiệp… Hầu hết các lễ hội nêu trên đều có sử dụng đến bộ nhạc cụ truyền thống Chăm gồm: Trống Ghinăng, trống Baranưng, kèn Saranai, Chiêng, Grong (Lục lạc), Seng (Chập chõa), đàn Kanhi, phục vụ cho các lễ thức múa dâng cúng thần linh, nói lên ước

mơ khát vọng của con người về cuộc sống ấm no, hạnh phúc Nghệ thuật dân gian dân tộc Chăm rất độc đáo, mang đậm bản sắc riêng, thể hiện rõ nét trong các lễ nghi của dòng tộc và sinh hoạt cộng đồng

1.2 Khái quát về dân tộc Raglai

- Người Raglai là tộc người tại chỗ, địa bàn cư trú chủ yếu ở các huyện Tuy Phong 1.052 người; huyện Bắc Bình 4.501 người; huyện Hàm Thuận Bắc 1.898 người; huyện Hàm Thuận Nam 3.532 người; huyện Hàm Tân 2.090 người

và huyện Tánh Linh 6.226 người Trước đây, người Raglai ở thành các làng, trong mỗi làng gồm có nhiều tộc họ, các tộc họ sống quần tụ bên nhau trong một khu vực riêng bao gồm các dòng suối, khu rừng xung quanh để canh tác nương rẫy Mỗi làng có từ 20 - 30 nóc nhà, đất đai thuộc sở hữu của làng Người Raglai theo chế độ mẫu hệ, trong các dòng họ người phụ nữ lớn tuổi có vai trò rất lớn, con cái lấy theo họ mẹ và đa phần con gái út là người được quyền thừa kế tài sản của cha mẹ để lại

- Trong sinh hoạt tín ngưỡng tâm linh, tồn tại nhiều nghi lễ, lễ hội Đó là những lễ nghi liên quan đến vòng đời người như: Sinh đẻ, cưới hỏi, tang ma; các lễ nghi liên quan đến chu kỳ sản xuất cây lúa, sản xuất nông nghiệp; các lễ nghi cộng đồng như: Lễ dời làng, lễ cầu mưa, lễ cúng bệnh tật Bởi tín ngưỡng dân gian của người Raglai là tín ngưỡng đa thần, họ tin và thờ cúng hồn lúa, hồn bắp, đặc biệt là lúa Mẹ với cả một hệ thống lễ nghi khá phong phú, mà gia đình nào cũng phải thực hiện khi mùa lúa đến Người Raglai có quan niệm thần linh ngự ở khắp mọi nơi và gọi thần là Yàng: Thần Núi, Thần Suối, Thần Sông, Thần Mặt trời, Thần Mưa, Thần Gió…

- Nghệ thuật trình diễn dân gian của người Raglai ở Bình Thuận trước đây rất phong phú, được lưu truyền từ đời này qua đời khác, chủ yếu bằng truyền miệng, thực hành diễn xướng và trí nhớ Theo thời gian và tác động của đời sống xã hội, sản xuất có nhiều thay đổi… nên nghệ thuật truyền thống dân gian

bị mất dần nhiều loại hình hầu như đã quên hẳn, không còn lưu giữ trong trí nhớ nên không thể phục dựng lại được

1.3 Khái quát về dân tộc Cờho

- Người Cờho ở Bình Thuận tập trung sinh sống tại các huyện: Bắc Bình 2.025 người, Hàm Thuận Bắc 6.142 người; Hàm Tân 247 người; Tánh Linh 3.763 người; Đức Linh 495 người và một số ít còn lại sinh sống tại các huyện khác trong tỉnh Người Cờho theo chế độ mẫu hệ, cư trú tập trung theo từng thôn khá đông đúc tại nhiều địa phương trong tỉnh như: Xã La Dạ, Đông Gang, Đông Tiến, Thuận Hòa… huyện Hàm Thuận Bắc; xã Măng Tố, La Ngâu, thị trấn Lạc Tánh… huyện Tánh Linh; xã Phan Sơn, Phan Lâm… huyện Bắc Bình; một số ít

cư trú ở huyện Đức Linh và Hàm Tân

Trang 3

- Trước năm 1975, đơn vị tổ chức xã hội của người Cờho là bon (tức buôn hoặc làng), đó vừa là một đơn vị tổ chức xã hội, vừa là một đơn vị kinh tế tự cấp

và tự túc Đứng đầu bon là già làng rất được nể trọng, có vai trò to lớn trong đời sống của làng vì ông là người am hiểu về phong tục, lễ nghi, tín ngưỡng và có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất

- Do đời sống kinh tế của người Cờho chủ yếu là trồng trọt và chăn nuôi, nên có nhiều lễ nghi liên quan đến nông nghiệp như lễ cầu mưa, lễ cúng

Mẹ Lúa (Ông Bà Lúa) hay còn gọi là lễ cúng lớn, lễ cúng rẫy đầu năm, lễ về nhà mới, lễ hiến trâu tế thần, lễ cúng thần Núi… Nghệ thuật trình diễn dân gian truyền thống gắn liền với các lễ nghi, lễ hội, sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất của người Cờho qua bao đời nay khá phong phú và đặc sắc Tuy nhiên, do điều kiện cuộc sống, phương thức sản xuất có nhiều thay đổi… nên nhiều bài diễn xướng dân ca, dân vũ, khí nhạc của đồng bào Cờho đã bị quên lãng và mất dần theo thời gian

1.4 Khái quát về dân tộc Chơro

- Người Chơro ở Bình Thuận sinh sống chủ yếu ở huyện Tánh Linh và Đức Linh với dân số 4.993 người; một số ít cư trú tại các huyện Hàm Thuận Bắc, Hàm Tân, Hàm Thuận Nam và Bắc Bình Người Chơro ở huyện Tánh Linh có 1.689 người, sống tập trung ở các xã Gia Huynh, thị trấn Lạc Tánh và một số sinh sống xen k với người Kinh và các dân tộc khác ở xã Suối Kiết, Đức Thuận và Gia An

Ở huyện Đức Linh, người Chơro có 2.994 nhân khẩu, trong đó đông nhất ở thôn

04 xã Trà Tân, thôn 7 xã Đức Tín và một số ít cư trú tại xã Mê Pu, Tân Hà

- Thực hiện chính sách định canh định cư của Nhà nước, người Chơro đã được vận động về sống định canh định cư bên cạnh người Kinh, quá trình sống xen k và cộng cư lâu ngày, việc giao lưu, tiếp biến văn hóa với người Kinh cùng với những tác động của quá trình mở cửa hội nhập, phát triển của kinh tế thị trường và khoa học công nghệ Họ không còn giữ được phong tục tập quán truyền thống của dân tộc mình mà đã bị Việt hóa một cách mạnh m trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội mà biểu hiện rõ nhất dễ nhận thấy là người Chơro đã chuyển dần từ chế độ mẫu hệ sang chế độ phụ hệ, hôn nhân gia đình, tang ma, các lễ nghi, lễ hội đều chịu ảnh hưởng theo tập tục của người Kinh Không phải chỉ văn hóa, nghệ thuật trình diễn dân gian bị thất truyền mà ngay

cả luật tục, lễ nghi, tín ngưỡng, trang phục truyền thống, cưới xin, tang ma… cũng đều bị mai một gần như hoàn toàn

2 Tình hình công tác bảo tồn dân a, dân vũ, dân nhạc truyền thống các dân tộc thiểu số tiêu biểu ở Bình Thuận

- Các loại hình dân ca, dân vũ, dân nhạc truyền thống (hay còn gọi là nghệ thuật trình diễn dân gian) là di sản văn hóa phi vật thể do người dân sáng tạo ra, trên cơ sở sự tồn tại bền vững, lâu đời của nền văn hóa cổ truyền, gắn với văn hóa và điều kiện địa lý tự nhiên cũng như thành phần dân cư của mỗi tộc người Bởi bất cứ một tộc người nào cũng đều lấy văn hóa truyền thống làm nền tảng

để hình thành nên các lĩnh vực xã hội như: Luật tục, trường ca, tục ngữ, ca dao… trong đó có nghệ thuật dân ca, dân vũ, dân nhạc Như vậy, dân ca, dân vũ

và dân nhạc truyền thống của các tộc người Chăm, Raglai, Cờho và Chơro ở Bình Thuận được hình thành từ nền văn hóa có từ lâu đời của mỗi tộc người

Trang 4

- Với sự thay đổi về môi trường tự nhiên, xã hội, địa bàn cư trú và do quá trình sinh sống xen k , cộng cư, giao lưu, tiếp biến văn hóa với người Kinh cùng với những tác động của quá trình mở cửa hội nhập, phát triển của kinh tế thị trường… nên người Raglai, Cờho và Chơro ở Bình Thuận hầu như không còn giữ được phong tục tập quán truyền thống riêng biệt của dân tộc mình mà đã bị Việt hóa một cách mạnh m trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội biểu hiện rõ nhất là trên lĩnh vực hôn nhân gia đình, tang ma, các lễ nghi, lễ hội và cả lĩnh vực nghệ thuật trình diễn dân gian

- Trong tiến trình lịch sử tồn tại và phát triển, cộng đồng các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro đã sản sinh ra nhiều loại hình nghệ thuật trình diễn dân gian hết sức đa dạng, phong phú như dân ca, dân vũ, dân nhạc để phục

vụ đời sống, sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo, lễ nghi, lễ hội của cộng đồng, dòng tộc, gia đình Những loại hình nghệ thuật đó được kết tinh từ chính cuộc sống lao động sản xuất, tôn giáo, tín ngưỡng, lễ nghi, lễ hội và không ngừng được sáng tạo, bồi đắp qua từng thế hệ để tạo nên giá trị bản sắc văn hóa riêng của cộng đồng mỗi dân tộc và ít nhiều còn duy trì đến ngày nay

II NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC

Năm 2017, Nhà hát ca múa nhạc Biển Xanh trực thuộc Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch được giao nhiệm vụ nghiên cứu và thực hiện Đề tài khoa học và công nghệ cấp tỉnh: “Bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian (dân ca, dân vũ, diễn xướng dân gian) 4 dân tộc tiêu biểu tỉnh Bình Thuận thông qua hình thức biểu diễn nghệ thuật” để hình thành các chương trình nghệ thuật dân gian đặc trưng, tiêu biểu mang bản sắc văn hóa của từng dân tộc thiểu số hòa vào nền văn hóa chung, là cơ sở để bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số Bình Thuận một cách bền vững, lâu dài Đồng thời, việc thực hiện đề tài góp phần đưa phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa vùng đồng bào các dân tộc thiểu số phát triển và thực thi chính sách đại đoàn kết dân tộc,

phục vụ cho công cuộc xây dựng nông thôn mới hiện nay

1 Tình hình bảo tồn nghệ thuật dân gian của dân tộc hăm

Nghệ thuật dân gian của dân tộc Chăm rất phong phú, độc đáo, mang đậm bản sắc riêng, được diễn xướng trong các lễ nghi, lễ hội và sinh hoạt cộng đồng

Các làn điệu dân ca, dân vũ và dân nhạc của người Chăm ngày càng bị biến đổi và mất dần theo thời gian; đặc biệt là về dân nhạc, do việc lưu giữ, trao truyền giữa các thế hệ nghệ nhân chưa tốt nên hiện nay số lượng nghệ nhân người Chăm ở Bình Thuận biết sử dụng được các loại nhạc cụ ngày càng khan hiếm Trong số nghệ nhân hiện nay không có ai còn nhớ (thuộc) và diễn xướng

đủ 72 điệu trống Ghinăng và các điệu kèn Saranai, cụ thể:

1.1 Về dân ca

- Các điệu hát trong lễ nghi tín ngưỡng: Điệu hát “Tóh Pô Nai” (Daoh Pô Nai); điệu hát “Pô Thàrà”; điệu hát “Pô tang Ahauk”…

- Các điệu hát trong sinh hoạt cộng đồng: Điệu hát “Anichlo”; điệu hát “Tóh Tầm Tàrà (Daoh Dam Dara); điệu hát “Kathơng Klòng Lơi” (Katheng Glaong Ley)

- Các điệu hát trong lao động sản xuất: Điệu hát “Pék Nhjăm dăm” (Paik Njiem); điệu hát “Mứk Chàn” (Mâk Jan)

Trang 5

1.2 Về dân vũ (múa dân gian)

Trong các lễ hội, múa tín ngưỡng dân gian được diễn trình trong rạp lễ gọi

là Kajang và được gắn liền với hệ thống các lễ nghi do Ong Kaing (ông Bóng - còn gọi là Thầy múa), Muk Pajow (bà Bóng - còn gọi là Bà múa), Ong Maduen (Thầy vỗ), Muk jinyeng (bà Bóng của tộc họ) trình diễn các điệu múa như:

“Tamia Tadik” (múa Quạt), “Tamia Tanriak” (múa Khăn), “Tamia Karit” (múa Kiếm lễ), “Tamia Kaik tapang dieng”(múa Cắn nến), “Tamia Hawei” (múa Roi),

“Tamia Jak apwei” (múa Đạp lửa), “Tamia Wah gaiy” (múa Chèo thuyền),

“Tamia Barung pah klap” (múa Váy)…

Các điệu múa tín ngưỡng dân gian thường xuất hiện trong các lễ hội Rija của đồng bào Chăm ở Bình Thuận hiện nay, gồm có: Múa “Âm dương” (Tamia Mưk kayuw); Múa “Barung” (múa Váy); “Múa Quạt”; Múa hát “Mứk Chàn (Vãi chài); Múa Chèo thuyền (Tamia Wah gaiy); Múa Đạp lửa (Tamia Jwak apwei)

Múa Sinh hoạt cộng đồng bao gồm những điệu múa như sau:

- “Múa Quạt truyền thống”: Là điệu múa có mặt hầu hết trong các lễ rước cũng như sinh hoạt cộng đồng với nhiều hình thức khác nhau

- “Múa hát Mứk Chàn”: Lời của điệu hát được cách điệu thể hiện sinh hoạt đánh bắt cá của cư dân vùng sông nước, niệm nhớ và biết ơn thần Biển

- Múa “Đoa Pu” (Đội nước); “Múa Khăn”

1.3 Về dân nhạc (bao gồm khí nhạc và nhạc cụ)

Âm nhạc truyền thống dân tộc Chăm luôn có nhiều nhạc cụ tham gia như: Trống Ghinăng, trống Baranưng, Chiêng, Lục lạc, Đàn đá, đàn Chămpi, đàn Kapin, đàn Kanhi, Nhị mu rùa, sáo Wau, kèn Saranai, kèn Bầu Rakle, Tù Và…

- Trống Ghinăng: Là nhạc cụ chính, tạo nên sinh khí cho âm nhạc Trong thư tịch cổ của dân tộc Chăm ghi là từ xưa đã có tổng cộng 72 giai điệu trống Ghinăng

- Kèn Saranai: Trong phần hòa tấu nhạc cụ và nhạc đệm cho múa dân gian không thể thiếu tiếng kèn Saranai Mỗi điệu kèn Saranai thường tương ứng với một hoặc nhiều điệu trống Ghinăng; có điệu trống Ghinăng không có kèn thổi

- Trống Paranưng: Là nhạc cụ chủ yếu sử dụng đệm cho các điệu hát dân ca trong lễ nghi, tín ngưỡng và sinh hoạt cộng đồng

- Đàn Kanhi (cùng họ với đàn Rabáp): Là loại đàn kéo một dây tương tự như đàn Nhị của người Kinh

- Chiêng, Lục lạc: Là những nhạc cụ thường sử dụng với các nhạc cụ khác để tạo thêm âm sắc trong các bài độc tấu, hòa tấu và đệm hát dân ca

2 Tình hình bảo tồn nghệ thuật dân gian của dân tộc Raglai

2.1 Về dân ca

- Các điệu hát trong lễ nghi tín ngưỡng: Những điệu hát dân ca trong lễ nghi tín ngưỡng trước đây luôn gắn với nghi lễ liên quan đến cây lúa, hiện nay các điệu hát lễ nghi, tín ngưỡng không còn lưu giữ Các điệu hát ngâm Hari,

Trang 6

Xitít, Kathơn, hát đối đáp giao duyên… vốn được coi là phổ biến trong cộng đồng trước đây, hầu như ai cũng biết hát thì hiện nay số người biết hát các điệu hát này rất ít và chỉ còn một vài người

- Các điệu hát trong sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất gồm có: Điệu hát “Hari”, “Xitít”, “Kathơn” (các điệu hát ngâm dân gian truyền thống của dân tộc Raglai); Điệu hát “Đối đáp; “Mời vào nhà” và “Gà gáy sáng” (Gà rừng gáy)

2.2 Về dân vũ (múa dân gian)

Các điệu múa trong lễ nghi, tín ngưỡng, sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất chỉ còn lưu giữ một vài động tác cơ bản Múa dân gian dân tộc Raglai thường xuất hiện trong các lễ hội và sinh hoạt cộng đồng Các hình thái múa truyền thống dân gian, gồm có: Múa tín ngưỡng dân gian; múa sinh hoạt cộng đồng; múa lao động sản xuất

2.3 Về dân nhạc (bao gồm nhạc cụ và khí nhạc)

- Cũng chỉ còn lưu giữ một số nhạc cụ và một vài điệu nhạc trong nghi lễ cúng ông bà; cúng cầu an dòng tộc, cúng Yàng lúa, ngày vui của cộng đồng Nhạc

cụ của dân tộc Raglai rất phong phú, gồm: Đồng la, Chiêng, kèn Bầu, trống Sagơr, trống Gờnưng (như trống Baranưng của người Chăm), Lục lạc

- Các loại nhạc cụ thường được sử dụng để độc tấu hoặc hòa tấu trong các

lễ hội cúng ông bà, cúng trâu trong nghi lễ dời làng, cúng thần Lúa, đám cưới, đám hỏi, lễ bỏ mả và các ngày vui của buôn làng (lễ hội, đám cưới, cuộc vui )

3 Tình hình bảo tồn nghệ thuật dân gian của dân tộc Cờho

3.1 Về dân ca

- Các điệu hát trong lễ nghi tín ngưỡng: Điệu hát “Cúng lúa mới”: Thường xuất hiện trong Lễ Cúng lúa mới của dân tộc Cờho; tiết tấu chậm rãi; giai điệu mang yếu tố tâm linh Các điệu hát lễ nghi tín ngưỡng còn lại hầu như bị thất truyền

- Các điệu hát trong sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất, gồm: Điệu hát “Tỏ tình”; điệu hát “Ô mê lơi”; điệu hát “Đối đáp”

3.2 Về dân vũ (múa dân gian)

- Múa dân gian của dân tộc Cờho thường không có tên gọi cụ thể cho từng điệu múa, thể hiện trong các nghi lễ vào dịp tết, lễ hội, ngày vui của cộng đồng

- Múa tín ngưỡng dân gian: Vào các dịp lễ hội như: Lễ hội đâm trâu, lễ dời làng, cúng thần lúa… khi các nghi thức lễ kết thúc người Cờho thường diễn xướng các động tác múa tín ngưỡng dân gian để tạ ơn thần linh

- Múa sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất: Giữa các điệu múa sinh hoạt cộng đồng và lao động có nhiều nét tương đồng nhau, ít có sự khác biệt

3.3 Về dân nhạc (bao gồm nhạc cụ và khí nhạc)

- Trước đây nhạc cụ của dân tộc Cờho rất phong phú nhưng hiện nay người Cờho ở Bình Thuận chỉ còn lưu giữ các nhạc cụ chủ yếu như: Cồng, Chiêng, trống Sagơr, kèn Bầu, Lục lạc Các nhạc cụ này thường được diễn tấu

Trang 7

với các điệu nhạc trong các lễ cúng của gia đình, dòng tộc và các lễ hội, ngày vui của cộng đồng

- Khoảng nửa thế kỷ trở lại đây do nhiều yếu tố và nguyên nhân tác động, nên đa phần các lễ hội lớn của dòng tộc, cộng đồng gần như không còn, mà thỉnh thoảng họ mới tổ chức lễ hội Đâm trâu tế thần (Lễ ăn trâu)

- Nghệ thuật dân gian trong sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất của người Cờho tuy vẫn lưu giữ các điệu dân ca, dân vũ, dân nhạc của dân tộc; nhưng số lượng người biết hát, biết múa và sử dụng nhạc cụ truyền thống ngày càng khan hiếm, đặc biệt là thế hệ trẻ ít biết hoặc không biết diễn xướng

4 Tình hình bảo tồn nghệ thuật dân gian của dân tộc hơro

4.1 Về dân ca

- Điệu hát trong lễ nghi tín ngưỡng: Trước đây, trong cộng đồng người Chơro cũng có các điệu hát trong lễ nghi tín ngưỡng Hiện nay, hầu như không còn ai nhớ đến các làn điệu dân ca này

- Điệu hát trong sinh hoạt cộng đồng và lao động sản xuất hiện còn lưu giữ, gồm: Điệu hát “Kinh tơ lơ thoong” và điệu hát “Đuổi chim”

4.2 Về dân vũ (múa dân gian)

Múa dân gian dân tộc Chơro với các động tác phản ánh môi trường sinh sống, lao động sản xuất, thể hiện các mối quan hệ giữa con người với con người

và giữa con người với thiên nhiên, gồm các loại hình như: Múa tín ngưỡng dân gian, múa sinh hoạt cộng đồng

4.3 Về dân nhạc (bao gồm nhạc cụ và khí nhạc)

- Nhạc cụ truyền thống của dân tộc Chơro rất đa dạng, gồm: Trống, đàn Talod, kèn Lúa, kèn Bầu, Cồng, Chiêng đồng, đàn Chinkcla (đàn Tre)

- Hiện nay, nghệ thuật dân gian trong cộng đồng người Chơro chỉ còn tồn tại một số điệu hát, múa dân gian và nhạc cụ như: Về dân ca có: Điệu hát “Kinh

tơ lơ thoong” (hát sinh hoạt cộng đồng), điệu hát “Đuổi chim” (hát về lao động sản xuất) Về múa dân gian: Chỉ còn một số động tác trong múa tín ngưỡng dân gian và sinh hoạt cộng đồng; không còn lưu giữ các điệu múa phản ánh đời sống lao động sản xuất Về dân nhạc: Chỉ còn lưu giữ bộ Chiêng 06 chiếc, kèn Bầu và Lục lạc cùng với các điệu nhạc được diễn xướng trong sinh hoạt cộng đồng

5 Những sản phẩm qua nghiên cứu bảo tồn, phát huy nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số ở Bình Thuận

- Qua công tác xây dựng việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật dân gian trong triển khai thực hiện Đề tài nghiên cứu khoa học “Bảo tồn và hát triển nghệ thuật dân gian dân ca, dân vũ, diễn xương dân gian của 04 dân tộc tiêu biểu của tỉnh Bình Thuận” đã đạt được một số kết quả nhất định trong việc bảo tồn, phát huy nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số tiêu biểu của tỉnh Bình Thuận Việc phục dựng nghệ thuật dân gian của 04 dân tộc Chăm, Raglai, Cờho, Chơro thông qua hình thức biểu diễn theo định hướng: Bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian truyền thống trong lễ nghi, tín ngưỡng; bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân

Trang 8

gian truyền thống trong lao động sản xuất; bảo tồn và phát triển nghệ thuật dân gian truyền thống trong sinh hoạt cộng đồng

- Trên cơ sở nghiên cứu bảo tồn, triển khai viết kịch bản phục vụ cho việc phục dựng 04 chương trình nghệ thuật dân gian các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho, Chơro ở Bình Thuận theo hình thức diễn xướng dân gian và chương trình

ca múa nhạc dân gian truyền thống phục dựng được một số chương trình cụ thể như sau:

5.1 Chương trình nghệ thuật dân gian của dân tộc Chăm

- 01 tác phẩm diễn xướng dân gian (gồm 08 tiết mục, trong đó có: 03 tiết mục hát dân ca; 03 múa độc lập và 02 hòa tấu nhạc cụ)

- 01 tác phẩm thể hiện lao động sản xuất (01 ca khúc dân ca có múa minh họa)

- 01 tác phẩm thể hiện sinh hoạt cộng đồng (gồm 03 tiết mục, trong đó: 01 tiết mục múa độc lập; 01 tiết mục hòa tấu và 01 ca khúc dân ca có múa minh họa)

5.2 Chương trình nghệ thuật dân gian của dân tộc Raglai

- 01 tác phẩm diễn xướng dân gian (gồm 09 tiết mục, trong đó có: 03 tiết mục hát dân ca; 03 múa độc lập và 03 hòa tấu nhạc cụ)

- 01 tác phẩm thể hiện sinh hoạt cộng đồng (gồm 02 tiết mục, trong đó có

01 độc tấu bộ Chiêng ba và 01 điệu hát dân ca có múa minh họa)

- 01 tác phẩm về lao động sản xuất (gồm 02 tiết mục múa, trong đó có 01 múa độc lập và 01 tiết mục hát dân ca có múa minh họa)

5.3 Chương trình nghệ thuật dân gian của dân tộc Cờho

- 01 tác phẩm diễn xướng dân gian gồm 06 tiết mục (03 múa độc lập, 01 hòa tấu nhạc cụ và 02 ca khúc dân ca có múa minh họa)

- 01 tác phẩm về sinh hoạt cộng đồng (01 ca khúc dân ca có múa minh họa)

- 01 tác phẩm về lao động sản xuất (01 ca khúc dân ca có múa minh họa)

5.3 Chương trình nghệ thuật dân gian của dân tộc Chơro

- 01 tác phẩm thể hiện lễ hội (02 tiết mục múa độc lập)

- 01 tác phẩm thể hiện sinh hoạt cộng đồng (01 tiết mục hòa tấu nhạc cụ

và 01 ca khúc dân ca có múa minh họa)

- 01 tác phẩm về lao động sản xuất (01 ca khúc dân ca có múa minh họa) 5.4 Các tài liệu thu thập khác

- 04 đĩa DVD chương trình biểu diễn nghệ thuật dân gian 04 dân tộc Chăm, Cờho, Raglai, Chơ ro (mỗi dân tộc 01 đĩa)

- 24 đĩa DVD tư liệu gốc ghi âm tư liệu và phim ảnh kèm theo về quá trình nghiên cứu thu thập tư liệu tại vùng đồng bào dân tộc

- Tập ca khúc dân ca các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro

Trang 9

- Tập giai điệu âm nhạc các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro

- Phân tích đánh giá các loại hình nghệ thuật dân gian hiện có của các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro để định hướng bảo tồn và phát triển

- Kịch bản nghệ thuật để dàn dựng chương trình biểu diễn dân gian các dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro

- DVD biểu diễn 08 xuất tại các địa phương tập trung đồng bào dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro sinh sống để lấy ý kiến các chức sắc tôn giáo, già làng, nghệ nhân dân gian 04 dân tộc (11 đĩa DVD ghi hình)

- DVD ghi âm, ghi hình phát biểu của các nghệ nhân 04 dân tộc Chăm, Raglai, Cờho và Chơro sau khi xem chương trình biểu diễn (02 đĩa)

6 Lợi ích của việc nghiên cứu bảo tồn nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số ở Bình Thuận

- Sản phẩm Đề tài khoa học công nghệ tỉnh năm 2017 là nguồn tư liệu quý cho các cấp, ngành có liên quan ở địa phương tham khảo, phục vụ công tác quản

lý nhà nước về văn hóa nghệ thuật; nghiên cứu để đề ra chủ trương, chính sách

về văn hóa phù hợp, thích ứng với vùng đồng bào Chăm, Raglai, Cờho và Chơ

ro nói riêng và vùng đồng bào các dân tộc thiểu số trong tỉnh nói chung

- Từng bước phổ biến và giáo dục rộng rãi cho các thế hệ, đặc biệt là thế

hệ trẻ trong cộng đồng người Chăm, Raglai, Cờho và Chơ ro hiểu được vai trò,

vị trí và giá trị nghệ thuật dân gian truyền thống của dân tộc, từ đó có thái độ trân trọng và ý thức bảo tồn, phát triển Sản phẩm và kết quả của Đề tài s cung cấp nguồn tư liệu bổ ích, thiết thực cho Nhà hát ca múa nhạc Biển Xanh, Trung tâm Văn hóa - Điện ảnh tỉnh và các huyện, thị xã, thành phố trong tỉnh ứng dụng

để xây dựng, phục dựng chương trình nghệ thuật biểu diễn phục vụ công chúng

và quảng bá, giới thiệu nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số trong tỉnh nhằm xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở và phục vụ phát triển du lịch

7 Những tồn tại và hạn chế trong bảo tồn, phát huy nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số ở Bình Thuận

7.1 Về kinh phí: Nguồn kinh phí để thực hiện nghiên cứu bảo tồn nghệ

thuật dân gian còn hạn hẹp Địa bàn sinh sống của hầu hết các dân tộc thiểu số là vùng sâu vùng xa, địa hình phức tạp rất khó khăn trong việc di chuyển Mặt khác, các nhân vật hiểu biết và nắm rõ các loại hình này còn phải làm kinh tế để đảm bảo cuộc sống cho gia đình nên việc tiếp cận các già làng để lấy tư liệu nghiên cứu, để thu thập tư liệu phải đi vận động các già làng bỏ ngày công để cung cấp tư liệu và phải trả công phù hợp Tuy nhiên, việc chi trả kinh phí cho các đối tượng này rất thấp nên đây cũng là điều khó khăn

7.2 Về tiếp cận: Cách tiếp cận gặp rất nhiều khó khăn bởi:

- Nghệ thuật dân gian như dân ca, dân vũ và âm nhạc chủ yếu là tồn tại trong trí nhớ, thực hành diễn xướng được lưu truyền trong không gian văn hóa của một sự kiện, một lễ nghi với ít người tham gia Với người Chăm một số lĩnh vực còn lưu giữ trong tài liệu viết, khắc và cả chế tác nhạc cụ còn bảo lưu đến ngày nay; còn các dân tộc khác như Raglai, Cờho, Chơro thì các điệu dân ca, múa dân gian và âm nhạc chỉ được truyền miệng, không hề có một văn bản, tài liệu

Trang 10

nào ghi chép cụ thể nên khi nghệ nhân qua đời, nguồn tài liệu sống vốn ít ỏi lại không ai quan tâm khai thác cũng theo họ xuống lòng đất và vĩnh viễn mất đi nên việc tiếp cận của các nhà nghiên cứu để bảo tồn rất khó khăn

- Các lễ hội ít được tổ chức, mặt khác ít được viết và ghi chép để lưu truyền lại mà việc lưu truyền chính bằng con đường truyền miệng nên rất hiếm thấy một làn điệu dân ca, dân vũ nào được lưu giữ một cách hoàn chỉnh và đầy

đủ Chính vì vậy, nghệ thuật dân gian của các dân tộc đã bị quên lãng và mất dần theo thời gian mà thực tế đã có nhiều loại hình dân ca, dân vũ, diễn xướng dân gian của các dân tộc này đã mất hẳn, không thể phục dựng lại được; có chăng chỉ còn lại trong ký ức, trong lời kể của một số người lớn tuổi, nhưng do tuổi già, sức yếu nên trí nhớ giảm sút, phần thì không ai quan tâm ghi chép hoặc ghi âm lại

7.3 Về nguồn nhân lực: Là một vấn đề lớn nhất cần được quan tâm là bởi

nguồn nhân lực thực hiện việc nghiên cứu bảo tồn, phát huy hiện nay còn thiếu, trình độ chuyên môn hầu như hiện nay tại tỉnh Bình Thuận chưa có nhà nghiên cứu chính thống nào nghiên cứu chuyên sâu về nghệ thuật dân gian các dân tộc thiểu số Việc nghiên cứu, bảo tồn, phát huy nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số tại Bình Thuận hầu như phải chắt góp, kết hợp nhân sự của các cơ quan chuyên môn khác, phải nhờ sự hỗ trợ của các nhà nghiên cứu ngoài tỉnh mới có thể hoàn thành việc tiếp cận để bảo tồn Tuy nhiên, kết quả đạt được vẫn không giữ nguyên cái gốc mà chỉ phục dựng lại thành những tổ hợp động tác hết sức độc đáo, đặc sắc tránh được sự đơn điệu, nên chưa đáp ứng được nhu cầu hưởng thụ nghệ thuật truyền thống sơ khai

7.4 Nguyên nhân:

- Do quá trình đô thị hóa và sự phát triển của kinh tế thị trường, nên nghệ thuật dân gian của các dân tộc thiểu số bị mai một dần Có nhiều nguyên nhân dẫn đến sự mất mát, thất lạc như về thời gian, sự tiếp xúc và giao lưu lâu dài với văn hóa các dân tộc, sự tác động của kinh tế thị trường, phương tiện thông tin, truyền thông Thực tế hàng trăm năm qua, nghệ thuật dân gian trước hết là các làn điệu dân ca, dân vũ và âm nhạc truyền thống luôn gắn với đời sống văn hóa tinh thần của cộng đồng; vì vậy sự phát triển bền vững hay dần mai một đều phụ thuộc vào cộng đồng; trong khi đó, những nghệ nhân thực hành các loại hình nghệ thuật dân gian trong cộng đồng dân cư ngày càng cao tuổi, nhiều bậc cao niên tâm huyết đã qua đời Do đó, nếu không kịp sưu tầm, nghiên cứu và lưu giữ một cách khoa học thì trong thời gian ngắn nữa s mất tất cả, cho dù nền văn hóa đa sắc màu về nghệ thuật dân gian ấy đã từng là hồn cốt của mỗi dân tộc và tồn tại hàng thế kỷ qua

- Hiện nay, số lượng nghệ nhân biết các thể loại dân ca, dân vũ, dân nhạc hầu như còn rất ít Như hát ngâm Hari chỉ là một trong số các thể loại hát ngâm dân gian của tộc người Raglai Khảo sát thực tế cho thấy không phải tộc người Raglai ở địa phương nào cũng còn lưu truyền thể loại hát ngâm Hari, có nơi lưu truyền thể loại hát ngâm Kathơn, có nơi không lưu truyền thể loại hát ngâm Hari, Xitit, Kathơn nhưng lại lưu truyền thể loại khác Còn về dân vũ (múa dân gian) thì gần như quên hết chỉ còn lưu giữ rất ít động tác trong lễ nghi, lao động sản xuất và sinh hoạt cộng đồng Về nhạc cụ cũng chỉ còn một số

Ngày đăng: 18/03/2022, 12:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w