1. Trang chủ
  2. » Tất cả

BAI 4

23 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 1,59 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với văn hóa Ấn Độ Dựa trên lý thuyết “Các trung tâm và sự lan tỏa văn hóa”, có thể xem ảnh hưởng của Văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam đã trải qua hai đợ

Trang 1

BÀI IV: VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG QUAN HỆ VỚI

VĂN HÓA BÊN NGOÀI

Mục tiêu

Trong bài này Anh/Chị cần đạt được những mục tiêu sau:

1 Biết được quá trình, nội dung và kết quả đạt được qua quá trình giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Ấn Độ

2 Biết được quá trình, nội dung và kết quả đạt được qua quá trình giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa Trung Hoa

3 Biết được quá trình, nội dung và kết quả đạt được qua quá trình giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hóa phương Tây

4 Biết được sự tác động của toàn cầu hóa đối với bản sắc văn hóa, từ đó biết được các biện pháp nhằm giữ gìn và làm giàu bản sắc văn hóa Việt Nam trước bối cảnh toàn cầu hóa

Nội dung

I VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG GIAO LƯU VỚI VĂN HOÁ BÊN NGOÀI

1 Giao lưu với văn hoá Ấn Độ

a Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với văn hóa Ấn Độ

Dựa trên lý thuyết “Các trung tâm và sự lan tỏa văn hóa”, có thể xem ảnh hưởng

của Văn hóa Ấn Độ vào Việt Nam đã trải qua hai đợt lan tỏa: Tiên phát và thứ phát

Lan tỏa tiên phát

Ngay từ đầu công nguyên Ấn Độ đã có sự giao thương mạnh mẽ với Trung Đông

và vùng Địa Trung Hải Để có nguồn cung cấp nguyên liệu, vật phẩm cho sự giao thương này họ đã mở rộng con đường đi về hướng Đông rồi đến Giao Chỉ Dấu vết của họ thấy

cả ở vùng Óc Eo (An Giang), ở ven biển miền Trung và cả ở Luy Lâu (Bắc Ninh) Họ

mang theo cả Bàlamôn giáo lẫn Phật giáo.1

Đến thế kỷ thứ II, khu vực phía bắc Việt Nam Khâu-Đà-La (năm 168 -189) đã

đến Luy lâu truyền giáo Thời kỳ này, sự thâm nhập của Phật giáo đã ở vào giai đoạn

Trang 2

mới, đã hình thành tăng đoàn, công việc hành đạo từ đó mà cũng đi vào tổ chức, các tăng

sĩ bắt đầu dịch Kinh, sáng tác, xây dựng chùa chiền… Luy Lâu đã tồn tại như một trung

tâm Phật giáo quan trọng và phồn thịnh

Cũng trong giai đoạn này, vào năm 192, lợi dụng lúc nhà Hậu Hán suy yếu, một

viên chức quận Tượng Lâm (phía nam Thừa Thiên ngày nay) là Khu Liên đã lãnh đạo người Chăm nổi lên khởi nghĩa thắng lợi, lập nên vương quốc Lâm Ấp Sau khi lập quốc,

người Chăm thoát khỏi ách đô hộ của Trung Hoa, liên hệ với Trung Hoa cũng hầu như không còn Thay vào đó, người Ấn Độ đến ngày một nhiều hơn và, khác với Trung Hoa,

họ không mang theo chiến tranh, vì vậy, nền văn hóa Ấn Độ được người Chăm vui vẻ tiếp nhận Ảnh hưởng của Ấn Độ đối với văn hóa Chăm phát huy mạnh mẽ trong khoảng

từ thế kỷ thứ VII đến hết thế kỷ thứ XV, khi Chămpa chấm dứt sự tồn tại với tư cách quốc gia dân tộc Trong khoảng VIII thế kỷ, ảnh hưởng này lớn đến mức người ta chỉ nhìn thấy những yếu tố Ấn Độ trong văn hóa Chăm Do vậy, nói đến ảnh hưởng của Ấn

Độ ở Việt Nam thì trước hết phải nói đến văn hóa Chăm và khu vực phía Nam vì chỉ có ở đây, ảnh hưởng đó mới bộc lộ mạnh mẽ và trực tiếp hơn cả

Từ Ấn Độ, người Chăm đã tiếp thu nhiều tôn giáo: Phật giáo, Bàlamôn giáo và Hồi giáo Nhưng ở chính quốc từ thế kỉ thứ V, Phật giáo đã bị Bàlamôn giáo tấn công và dần dần đi đến lụi tàn Chính vì vậy, khi nói đến ảnh hưởng của Ấn Độ trong việc hình thành văn hóa Chăm thì Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò quan trọng nhất

Lan tỏa thứ phát

Đó là sự gặp gỡ văn hóa Ấn Độ dòng Đại thừa (chủ yếu là Thiền tông và Tịnh độ

tông) có xuất phát điểm từ Trung Hoa thâm nhập một cách mạnh mẽ xuống phương Nam (kể từ thế kỷ thứ III trở đi), chẳng mấy chốc nó đã lấn át dòng tiểu thừa có từ trước đó để

lại những dấu ấn phổ biến trong sinh hoạt Phật giáo cũng như trong tín ngưỡng dân gian

Như vậy, khi nói về quá trình tương tác với văn hóa Ấn Độ, qua hai đợt lan tỏa, đã

để lại dấu ấn trong văn hóa Việt Nam, bao gồm: Phật giáo (đại thừa và tiểu thừa); văn

hóa Chăm (chủ yếu là Bà lamôn giáo) và văn hóa Óc eo

b) Kết quả của sự giao lưu với văn hóa Ấn Độ

- Sự xuất hiện Phật giáo Việt Nam

Trang 3

Ngay trong giai đoạn đầu, khi Phật giáo du nhập vào Việt Nam đã tạo nên sự hòa hợp giữa tín ngưỡng bản địa sẵn có với giáo lý cơ bản của Phật giáo, hình thành nên một loại tín ngưỡng Phật giáo bình dân trong thế kỷ đầu công nguyên

Thời kỳ Bắc thuộc, Phật giáo Đại thừa vốn đã được thay đổi căn bản trong lòng nền văn hóa Trung Hoa, trở nên gần gũi hơn với đời sống trần tục, khi truyền vào Việt Nam cùng với sự cai trị của các triều đại phong kiến Trung Hoa Được nhân dân Việt Nam tiếp nhận một cách tự nguyện, Phật giáo Việt Nam đã từng là cơ sở của khối đại đoàn kết dân tộc trong cuộc đấu tranh dựng nước và giữa nước, bởi vậy thấm đượm chủ nghĩa yêu nước của người Việt Phật giáo đã trở thành một tôn giáo lớn làm đối trọng chống lại sự đồng hóa của Nho giáo - nền văn hóa của kẻ xâm lược trong thời kỳ Bắc thuộc

Nhà Lý ra đời đưa Phật giáo lên hàng quốc đạo, không chỉ góp phần phát triển việc tu học mà còn qua đó phát triển một nền văn hóa riêng của Đại Việt khác biệt với Trung Hoa Một dấu ấn quan trọng thời này là việc khai sinh Thiền phái Thảo Đường Tuy nhiên, vì khuynh hướng thiên trí thức và văn chương, thiền phái Thảo Ðường không cắm rễ được trong quần chúng mà chỉ ảnh hưởng đến một số trí thức có khuynh hướng văn học Phật giáo

thời nhà Lý có nhiều ảnh hưởng không chỉ với dân thường mà cả vua quan

Khi nhà Trần lên nắm quyền, tiếp tục kế thừa và phát triển thêm nền tảng xã hội đã

có từ thời Lý trong đó có Phật giáo Nét nổi bật nhất của Phật giáo thời kì này so với trước đó là sự ra đời của Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, do người Việt Nam sáng lập mà

tổ sư chính là vị vua rời bỏ chính sự để xuất gia là Trần Nhân Tông Số lượng chùa chiền cũng như tăng sĩ tăng lên rất nhiều, các chùa cũng như tăng sĩ được nhiều ưu đãi lớn không chỉ từ phía vua quan nhà Trần mà còn từ nhân dân

Phật giáo có ảnh hưởng rất lớn đến các mặt Kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội trong thời kỳ tự chủ của dân tộc, sự phát triển của Phật giáo với tinh thần nhập thế không

hề đứng trên tư tưởng thống trị, quyền lực và quyền lợi Phật giáo đã thực thi một tinh thần khoan dung, độ lượng, hòa hợp đối với dân chúng, với kẻ thù, và cả đối với những

tư tưởng giáo lý khác Điều này không những làm cho Phật giáo đứng ở trung tâm của

Trang 4

hoạt động chính trị, văn hóa, xã hội trong giai đoạn thế kỷ X – XIV, thậm chí có những lúc là quyết định đến vận mệnh quốc gia.1

- Góp phần hình thành nét độc đáo của nền văn hóa Chăm

Từ khi được thành lập (TK II) đến khi suy tàn (TK XVII), quốc gia Chămpa đã chịu ảnh hưởng của nhiều nền văn hóa, nhưng dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hóa

Chăm là sâu sắc nhất

+ Về tôn giáo: Văn hoá Chăm chịu ảnh hưởng của nhiều tôn giáo khác nhau từ Ấn

Độ (Bàlamôn giáo, Phật giáo, Hồi giáo), nhưng Bàlamôn giáo là yếu tố đóng vai trò

quan trọng nhất trong việc hình thành văn hoá Chăm Bàlamôn giáo là tôn giáo được hình

thành trên cơ sở kinh Veda, thờ Brahma (thần sáng tạo), Visnu (thần bảo tồn) và Silva (thần phá hủy)

Người Chăm tiếp nhận tư tưởng Bàlamôn giáo của Ấn Độ kết hợp với tín ngưỡng bản địa làm cho sắc thái của tôn giáo có sự biến đổi rõ ràng Vì vậy, trong bộ ba vị thần người Chăm đặc biệt nhấn mạnh vai trò của thần Shiva, khiến cho việc thờ phụng thần

Shiva trở thành một nhánh tôn giáo phát triển khá độc lập (Shiva giáo) Shiva giáo và tín

ngưỡng phồn thực bản địa hòa trộn với nhau hình thành một thứ tôn giáo hỗn dung, theo

đó, Shiva được hóa thân thành Linga1 hay hiện diện đi kèm với Linga - với tư cách là đối

tượng thờ cúng của người Chăm

Bên cạnh niềm tin vào các vị thần Ấn Độ, người Chăm còn thờ nhiều vị thần khác

có nguồn gốc siêu nhiên hay những công thần khai quốc Ngoài ra, khi tiếp nhận

Bàlamôn giáo từ Ấn Độ, kết hợp với tín ngưỡng của cư dân bản địa (tín ngưỡng Phồn

thực, sùng bái các nữ thần…), người Chăm đã biến cải thành đạo Bà Chăm, được coi là

một tôn giáo mới, gần gũi với người Chăm hơn và được xem như một biến thể của Bàlamôn Cũng như vậy, khi tiếp thu Hồi giáo, một biến dạng của Hồi giáo với tên gọi

riêng của mình – Đạo Bà Ni, người Chăm đã sáng lập ra đạo Bà Ni trên cơ sở tín ngưỡng

1 Vua Lý Công Uẩn có lý lịch xuất thân từ nhà chùa Các nhà sư là những người hậu thuẫn cho

sự lên ngôi của Hoàng đế Lý Công Uẩn và thuyết phục nhà Lý dời đô về Thăng Long để bảo vệ nền độc lập lâu dài

1 Sinh thực khí nam trong tín ngưỡng Phồn thực của văn hóa Chăm

Trang 5

bản địa Đạo Bà Ni tin vào thánh Allah nhưng họ vẫn thờ các vị thần truyền thống của mình và khu vực như thần Mưa, thần Núi, thần Biển…

- Kiến trúc và điêu khắc

Trong suốt chiều dài lịch sử Chămpa, vương triều nào khi lên nắm quyền đều cho xây dựng hoặc trùng tu công trình tôn giáo để chứng tỏ sự tồn tại của vương triều mình, phô trương sức mạnh quốc gia, nhưng quan trọng hơn cả vẫn nhằm vào mục đích tạ ơn thần linh qua việc dâng lễ vật cúng cho đền tháp vì đã phù trợ sức mạnh và chiến thắng cho vương triều

Như các quốc gia trong khu vực Đông Nam Á cùng chịu ảnh hưởng văn minh Ấn

Độ, vật liệu cơ bản và chủ yếu để xây dựng đền tháp là gạch Có thể nói, người Chăm là bậc thầy về kĩ thuật chế tác gạch, trải qua bao thế kỉ, những tháp gạch Chăm vẫn còn tươi rói, màu sắc ánh hồng, kết dính với nhau một cách kì lạ mà nhiều nhà khoa học còn chưa thể giải mã hết Trên tổng thể thân tháp bằng gạch, những thợ điêu khắc đã chạm trổ hoa văn, những con vật thiêng liêng của Hindu giáo hay cảnh sinh hoạt trong cung đình, rất sinh động và chân thật

Tháp Chăm thường gồm 3 tầng, tầng trên cùng là đặt các vị thần quốc giáo, tầng giữa thường diễn tả hoạt động sống của cung đình, tầng đế chỉ gia cố nền móng cho vững chắc, không có trang trí Phần lớn các tháp Chăm đều có hình chóp tượng trưng cho ngọn núi Mêru trong thần thoại Ấn Độ, trên các tầng có thể có tháp con ở góc, ứng với các ngọn núi nhỏ Đối với người Chăm, đây còn là biểu tượng của thiên nhiên miền Trung, thể hiện tính dương tính, phỏng hình sinh thực khí nam Bên cạnh đó còn có những kiến trúc phụ có mái cong hình thuyền, do ảnh hưởng của văn hoá khu vực Chức năng của tháp Chăm đều mang tính chất lăng mộ thờ vua , ngoài ra còn là đền thờ thần bảo trợ nhà vua, nên nội thất rất chật

- Dấu ấn của văn hóa Ấn Độ trong văn hoá Óc Eo

Đây là tên địa danh nơi lần đầu phát hiện ra di chỉ của nền văn hoá này, được người Pháp khai quật vào năm 1944 (tỉnh An giang)

Cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến về chủ nhân của nền văn hoá này Một số người cho rằng, chủ nhân của nền văn hoá này là thuỷ tổ của người Khmer ngày nay; số khác

Trang 6

lại cho rằng đây là nền văn hoá thuộc chủng Indonesien, sử dụng tiếng Nam Đảo là chủ yếu Chỉ có một điểm thống nhất là nền văn hoá rực rỡ này đã tàn lụi vào khoảng thế kỷ thứ VIII

Các di chỉ khảo cổ cho thấy, địa bàn cư trú của người Óc eo trải rộng khắp các tỉnh Nam bộ gồm: tiểu vùng tứ giác Long Xuyên, tiểu vùng Đồng Tháp Mười, vùng U Minh, Năm Căn, Đồng Nai, Đông Nam bộ, ven biển Đông

Người Óc Eo bị ảnh hưởng bởi văn hoá Ấn độ Họ theo Brahmanism, Phật giáo, thờ cúng Linga Nghệ thuật đồ gốm, thiếc, điêu khắc đã phát triển cao, hệ thống đền đài, lăng tẩm khá qui mô và hầu như đều mang hơi hướng văn hoá Ấn độ

2 Giao lưu với văn hoá Trung Hoa

Văn hóa Việt Nam giao lưu với văn hóa Trung Hoa diễn ra trong thời gian rất dài, thông qua nhiều con đường khác nhau Trong quá trình tiếp thu, dân tộc Việt Nam đã cải biến cho phù hợp với hoàn cảnh và truyền thống của mình, rồi cấu trúc lại một cách tài tình làm cho văn hóa Việt Nam trở nên phong phú và sinh động

a Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với văn hóa Trung Hoa

- Giai đoạn Bắc thuộc

Văn hóa Trung Hoa được du nhập vào Việt Nam từ cuối đời Tây Hán và đầu đời Đông Hán, cùng với chính sách cai trị và “Hán hóa” vùng đất của người Việt cổ Là một thành phần của văn hóa Hán, Nho giáo có mặt rất sớm tại Việt Nam Nhưng, có lẽ sự hiện diện tương đối rõ nét của Nho giáo chỉ thực sự bắt đầu vào cuối đời Đông Hán với

vai trò tích cực của Sĩ Nhiếp (187 - 226)

Cũng trong thời kỳ này, Đạo gia và Đạo giáo ở phương Bắc theo chân nhà Hán vào Việt Nam Trong khi Nho giáo chưa tìm được chỗ đứng ở Việt Nam, thì Đạo giáo đã tìm thấy ngay tính tương đồng trong tín ngưỡng bản địa đã có sẵn từ lâu, nên Đạo giáo dễ dàng thâm nhập vào đời sống cư dân bản địa Chính vì thâm nhập theo con đường đó, nên Đạo gia với tư cách là “một triết lý sống” ít được người dân Việt Nam biết đến, mà chủ yếu người Việt Nam chỉ biết về các phương thuật với các bùa chú, phù phép…của Đạo giáo

Tuy nhiên, trong hàng ngàn năm bị lệ thuộc phong kiến phương Bắc, Nho giáo được đưa vào Việt Nam chủ yếu với tư cách là công cụ phục vụ cho chính sách cai trị và

Trang 7

đồng hóa Việt Nam về văn hóa, người Việt Nam tiếp nhận Nho giáo vẫn với thái độ thụ động, cho nên suốt cả giai đoạn chống Bắc thuộc Nho giáo chưa có chỗ đứng trong xã hội Việt Nam

- Giai đoạn tự chủ (từ năm 938 đến nay)

Sau khi giành độc lập (938), nhà nước phong kiến Việt Nam được hình thành, chính lúc này vai trò của Nho giáo trong việc tổ chức, quản lý đất nước được phát huy Nho giáo được người Việt Nam chủ động thừa nhận như là một yếu tố văn hóa của người Việt Nam,

và xác lập địa vị của nó khi nền độc lập dân tộc hoàn toàn ổn định vững chắc và đi vào

phục hưng ở triều Lý (năm 1010), với sự kiện Lý Thánh Tông cho lập văn Miếu thờ Chu Công và Khổng Tử, Nho giáo mới được coi là tiếp nhận chính thức Chính vì vậy mà Nho

giáo ở Việt Nam chủ yếu là Tống nho chứ không phải Hán Nho Cùng với Nho giáo, Đạo gia trong thời kỳ này cũng được đưa vào học hành thi cử, thể hiện, trong các kỳ thi ở thời

kỳ này đều có nội dung của cả Nho, Phật và Đạo (gọi là Minh kinh bác học)

Việc Nho giáo chính thức được tiếp nhận tại Việt Nam đã mang theo những triết

lý cơ bản trong ngũ Kinh và tứ Thư (bộ kinh điển của Nho giáo) Người Việt Nam vốn có

lối tư duy “lưỡng phân lưỡng hợp” – sản phẩm của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước,

đã dễ dàng với việc tiếp thu triết lý Âm dương, từ tạo tạo nên cơ sở cho nhận thức và hoạt động thực tiễn của người Việt Nam

Năm 1406, đế quốc Minh đem quân xâm lược Việt Nam Trong cuộc kháng chiến

10 năm chống quân Minh (1418 - 1428) vương triều Lê chính thức được kiến lập và bắt

đầu công việc xây dựng, phát triển nền văn hóa độc lập dân tộc Sự lớn mạnh của Nho

giáo Việt Nam (điều kiện chủ quan) cùng với nhu cầu cải cách quản lý đất nước (yêu cầu

khách quan) đã dẫn đến triều đại Lê đưa Nho giáo thành quốc giáo, sự phát triển của Nho

giáo thời kỳ này đã chuyển sang một giai đoạn mới - giai đoạn Nho giáo độc tôn

b Kết quả chủ yếu của giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hoá Trung Hoa

- Về tôn giáo và đời sống tâm linh

Phật giáo Đại thừa vào Việt Nam theo con đường xâm lược của nhà Hán Trong lòng nền văn hóa Trung Hoa, Phật giáo đã bị thay đổi một cách căn bản, gần gũi và rộng

Trang 8

mở hơn với đời sống trần tục, cùng với Đạo giáo kết hợp với văn hóa bản địa tạo nên tính tổng hợp và xu hướng nhập thế của tôn giáo Việt Nam

Đạo Hòa Hảo, hay còn gọi là Phật giáo Hòa Hảo, là một tông phái Phật giáo Việt

Nam do Huỳnh Phú Sổ khai lập năm 1939, lấy pháp môn Tịnh Độ tông (Phật giáo Đại

thừa) làm căn bản và chủ trương tu hành tại gia

Đạo Cao Đài cũng là một tôn giáo được thành lập ở Việt Nam vào đầu thế kỷ XX, Một số nhân vật Phật giáo cũng được tôn thờ trong đạo Cao Đài như Nhiên Đăng Cổ Phật, Thích Ca Mâu Ni, Quan Âm Bồ Tát, và được xem như những vị tôn trưởng vô hình trấn giữ nền đạo Pháp môn Tuyển độ của Cao Đài chịu ảnh hưởng rất lớn từ pháp môn Thiền của Phật giáo Thiền tông

Tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên cũng được coi là có nguồn gốc từ Trung Quốc du nhập vào Việt Nam, đã trở thành tín ngưỡng cơ bản của người Việt Nam bởi tính phổ biến của nó trong đời sống người Việt Nam

- Về triết lý

Triết lý Âm dương, thuyết Ngũ hành, lịch Âm dương và Hệ Can chi đã ảnh hưởng đến mọi mặt của đời sống cư dân nông nghiệp Việt Nam, hình thành nên triết lý sống bình quân, khả năng thích nghi cao với mọi hoàn cảnh thói quen tính toán thời gian cho phù hợp với thời vụ trong canh tác nông nghiệp

- Về chính trị và cách tổ chức bộ máy

Nhà nước Phong kiến Việt Nam chủ động tiếp nhận Nho giáo chính là để khai thác những yếu tố là thế mạnh của Nho giáo trong việc tổ chức và quản lý đất nước Qua lăng kính của người Việt, Nho giáo bị "khúc xạ" và mang những nội hàm mới

Nhà nước quân chủ Việt Nam, đặc biệt là triều đại nhà Lê, kể từ vua Lê Thái Tổ

(1428-1433) sau khi lên ngôi đã học tập rất nhiều ở cách tổ chức triều đình và hệ thống

pháp luật của người Trung Hoa Các bộ kinh điển và sách vở liên quan tới Nho giáo đều được du nhập từ Trung Hoa và được phổ biến rộng rãi, vì vậy Nho giáo có điều kiện để trở thành cơ sở lý luận cho các nhà soạn thảo luật pháp thời Lê Quốc Triều Hình Luật

thời Lê (hay còn được gọi là Bộ Luật Hồng Đức) là bộ luật chịu ảnh hưởng sâu sắc của

Nho giáo, Bộ luật ra đời trong thời điểm Nho giáo có mức độ, điều kiện và phạm vi ảnh

Trang 9

hưởng rộng rãi, sâu sắc nhất Quốc Triều Hình Luật là công cụ quan trọng để xây dựng và củng cố nhà nước quân chủ trung ương tập quyền

Ngoài ra, việc tuyển chọn nhân tài bổ dụng vào bộ máy cai trị đã được các triều đại phong kiến Việt Nam áp dụng thông qua con đường học hành và thi cử của Nho giáo

Từ kỳ thi đầu tiên (năm 1075) được nhà Lý khởi xướng đến kỳ thi cuối cùng của lịch sử khoa cử phong kiến (năm 1919), nhà nước phong kiến Việt Nam đã tổ chức 185 kỳ thi,

tuyển chọn được 2.875 người đỗ đạt để tuyển chọn vào bộ máy cai trị của nhà nước phong kiến trong 844 năm áp dụng phương thức này

- Về chuẩn mực đạo đức xã hội, chịu ảnh hưởng của Nho giáo với những chuẩn

mực đạo đức:

“Tam cương”, ba trật tự của xã hội phong kiến: Vua – tôi (tôi phải trung với vua); cha – con (cha nhân từ, con hiếu thuận); chồng – vợ (vợ phải theo chồng)

“Ngũ thường” là năm đức tính của con người: Nhân; Nghĩa; Lễ; Trí; Tín

“Tam tòng”: Tại gia tòng phụ (người phụ nữ khi còn ở nhà phải theo cha); Xuất giá tòng phu (lúc lấy chồng phải theo chồng); Phu tử tòng tử (nếu chồng qua đời phải

theo con trai)

“Tứ Đức”: Công là Nữ công gia chánh (may vá thêu thùa, nấu nướng cơm nước)

Dung là cung cách đi đứng phải nhẹ nhàng, ăn mặc kín đáo Ngôn là lời ăn tiếng nói

phải đúng mực, nhỏ nhẹ, lễ phép với người trên, ôn tồn với người dưới Hạnh là đức

hạnh, là lòng sắt son chung thủy với chồng, hiếu với cha mẹ, thảo với anh em

- Về chủng tộc

Ngay từ những năm đầu tiên khi nhà Hán thôn tính Nam Việt, nhà Hán đã bắt đầu tiến hành chính sách đồng hóa người Việt Nam và văn hóa Việt Nam Dân tộc Việt Nam đã hình thành trên cơ sở có sự hoà huyết với chủng tộc Hán và các chủng tộc phương Bắc khác

- Về ngôn ngữ

Tiếng Việt là ngôn ngữ dùng trong sinh hoạt giao tiếp của dân thường từ khi lập quốc Bắt đầu từ khi Trung Quốc có ảnh hưởng tới Việt Nam, tiếng Việt đã du nhập thêm những từ ngữ Hán cổ, từ đó hình thành nên hệ thống Hán-Việt Kể từ đầu thế kỷ thứ XI, Nho học phát triển, việc học văn tự chữ Nho (Hán) được đẩy mạnh, tầng lớp trí thức

Trang 10

được mở rộng tạo tiền đề cho một nền văn chương của người Việt Nam bằng chữ Nho cực kỳ phát triển Cùng thời gian này, một hệ thống chữ viết được xây dựng riêng cho người Việt Nam, đó chính là chữ Nôm Chữ Nôm được chính thức dùng trong hành chính

khi vua Quang Trung lên ngôi vào năm 1789

- Về tri thức khoa học

Thời kỳ nước ta thuộc nhà Hán (Đông Hán), khi Nhâm Diên làm Thái thú quận

Cửu Chân, dân ta đã học được một số kỹ năng canh tác nông nghiệp như rèn đúc đồ sắt

để làm điền khí, dùng trâu bò cày bừa ruộng đất…

3 Giao lưu với văn hoá phương Tây

a Các giai đoạn trong quá trình giao lưu với với văn hoá Phương Tây

- Giai đoạn từ đầu thế kỷ XVI đến giữa thế kỷ XIX

Những người phương Tây đã biết đến Đông Nam Á và Việt Nam từ những năm đầu công nguyên, nhưng phải đến thế kỷ XVI, các giáo sĩ Phương Tây mới biết đến Việt Nam Tuy nhiên, ở giai đoạn này, sự xâm nhập của văn hoá Phương Tây mới chỉ ảnh hưởng một cách gián tiếp đến chính sách của nhà nước phong kiến Việt Nam

Bước chuyển biến và ảnh hưởng quan trọng đến văn hoá Việt Nam là sự xuất hiện

của Thiên chúa giáo Năm 1553, (năm Nguyên Hoà thứ 1 đời Lê Trang Tông), Ignatio

(Inêkhu) theo đường biển lẻn vào giảng đạo Giatô (Công giáo) ở các làng Ninh Cường,

Quần Anh, Trà lũ (Thuộc tỉnh Nam Định) Sau đó là các giáo sĩ Bồ Đào Nha, Tây Ban

Nha tìm đến truyền đạo ngày càng đông

Cuối năm 1624, giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rrodes (1591 - 1660) thuộc giáo

hội Bồ Đào Nha sau mấy năm truyền giáo đã về Roma vận động giao cho Pháp toàn quyền truyền giáo ở Viễn Đông Năm 1658, Giáo hoàng đã phong cho hai giáo sĩ người

Pháp (là Francois Pallu và Lambert de la Motte) làm giám mục cai quản hai địa phận

Đàng Trong và Đàng Ngoài Năm 1664, Hội thừa sai Paris được thành lập.1

Cuối thế kỷ XVIII, cuộc nội chiến Nguyễn Ánh - Tây Sơn là cơ hội cho Hội truyền giáo nước ngoài bành trướng thế lực tại Việt nam Giám mục Pierre Pigneaux de

Bðhaine (Bá đa lộc - còn gọi là Cha Cả) đại diện toà thánh Đàng Trong đã trở thành

1 Hội truyền giáo nước ngoài của Pháp

Trang 11

người đỡ đầu cho Nguyễn Ánh Bá đa lộc đã mộ quân, mua sắm vũ khí giúp Nguyễn Ánh chống quân Tây Sơn Hoạt động này đã giúp Pháp có vị trí vững chắc về tôn giáo và chính trị tại Việt Nam

- Giai đoạn giữa cuối thế kỷ XIX đến giữa thế kỷ XX (1954)

Năm 1858, Hải quân Pháp đổ bộ tấn công vào cảng Đà Nẵng và sau đó tiến vào xâm chiếm Sài Gòn, đánh dấu giai đoạn thực dân Pháp cai trị Việt Nam và đi liền với nó

là sự xâm nhập của văn hoá phương Tây vào Việt Nam

- Giai đoạn từ năm 1954 đến nay

Sau trận chiến Điện Biên Phủ, các bên tham chiến đã họp tại Genève năm 1954 để tìm kiếm phương cách giải quyết chiến tranh Kết quả, Hiệp định Genève được ký kết với nội dung là một cuộc đình chiến và tạm phân đôi Việt Nam thành hai miền tại vĩ tuyến 17

Miền Nam bị đã bị đặt dưới sự cai trị của Mỹ, trở thành quốc gia phụ thuộc hoàn toàn về kinh tế và chính trị vào Mỹ

Miền Bắc dưới sự lãnh đạo của chủ tịch Hồ Chí Minh, đã thành lập chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, một mặt bắt tay vào việc tổ chức đất nước theo mô hình xã hội chủ nghĩa như ở các nước Liên Xô, Trung Quốc

Đây là giai đoạn đấu tranh thống nhất đất nước và xây dựng Chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam Năm 1975, nước Việt Nam thống nhất đã tồn tại trên thế giới như một quốc gia có chủ quyền, có vị thế bình đẳng với các nước trên thế giới Giai đoạn này được đánh dấu bằng sự tiếp xúc với văn hoá Xô Viết, Văn hóa Mỹ và văn hóa toàn cầu

b Kết quả của sự giao lưu giữa văn hóa Việt Nam với văn hoá phương Tây

- Giai đoạn từ thế kỷ 16 đến năm 1954

+ Về tôn giáo: Kitô giáo là một bộ phận quan trọng của văn hóa Phương Tây khi

được du nhập vào Việt Nam đã tạo nên “tính linh hoạt” trong văn hoá của người Việt Nam Tính linh hoạt đó được biểu hiện qua kiến trúc, nếu kiến trúc nhà thờ Thiên Chúa giáo nổi

tiếng về sự rập khuôn cứng nhắc theo lối kiến trúc cao với đỉnh tháp nhọn hoắt (Gôtich), thì

ở Việt Nam, nhà thờ Thiên chúa giáo lại dưới dạng kiến trúc thấp, trải rộng có mái cong

(Nhà thờ Phát Diệm), hoặc do truyền thống tôn trọng phụ nữ, người Việt Nam thường đưa

Đức mẹ Maria lên vị trí sùng kính đặc biệt mà ở phương Tây không gặp

Ngày đăng: 18/03/2022, 10:36

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w