Phân hệ tầng dưới O3 -S tm 1 Phân bố ở tây nam Chi Si Cai kéo dài đến phía nam làng Tấn Mài và một số diện tích ở đông sườn núi Vàng Mô Léng, núi Tài Vòng Mô Lèng, Mặt cắt từ Tấn Mài đến
Trang 1SỞ CÔNG THƯƠNG QUẢNG NINH -*0* -
BÁO CÁO TỔNG KẾT
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
NGHIÊN CỨU CÁC CHỈ TIÊU KỸ THUẬT SỬ DỤNG VẬT LIỆU
NỔ CÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
QUẢNG NINH - 2019
Trang 3DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
học hàm, học vị
Tổ chức công tác Chức dah
1 KS Nguyễn Minh Hà
Sở TN&MT
tỉnh Quảng Ninh
Thành viên chính
tỉnh Quảng Ninh
Thành viên chính
tỉnh Quảng Ninh
Thành viên chính
Mỏ-Địa chất
Thành viên chính
Mỏ-Địa chất
Thành viên chính
thương, Tổng công ty hóa chất, các mỏ, nhà thầu xây dựng công trình
Trang 4MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 PHÂN NHÓM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, ĐỊA
CHẤT CÔNG TRÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 3
TỈNH QUẢNG NINH 3
1.3 KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 70
CHƯƠNG 2 KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ CÁC PHƯƠNG PHÁP SỬ DỤNG
VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP
72
DỤNG VLNCN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH 73 2.2.1 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng VLNCN của các mỏ than lộ thiên trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh 73 2.2.2 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng VLNCN của các mỏ than hầm lò trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh 93 2.2.3 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng VLNCN của các mỏ VLXD trên địa
bàn tỉnh Quảng Ninh 107 2.2.4 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng VLNCN của các mỏ quặng trên địa bàn
tỉnh Quảng Ninh 119 2.2.5 Phân tích, đánh giá hiện trạng sử dụng VLNCN của các công trình xây dựng
trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh 122
THỐNG ĐỊNH MỨC SỬ DỤNG VLNCN CỦA CÁC MỎ TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH QUẢNG NINH 126 2.3.1 Hệ thống định mức về sử dụng VLNCN áp dụng cho các mỏ khoáng sản trên
địa bàn tỉnh Quảng Ninh 126 2.3.2 Đánh giá thực trạng công tác thực hiện và áp dụng Định mức sử dụng VLNCN
trong các mỏ than lộ thiên vùng Quảng Ninh 129 2.3.3 Đánh giá thực trạng công tác thực hiện và áp dụng Định mức sử dụng VLNCN
trong các mỏ than hầm lò vùng Quảng Ninh 142
Trang 52.3.4 Đánh giá thực trạng công tác thực hiện và áp dụng Định mức sử dụng VLNCN
trong các mỏ VLXD, mỏ quặng và công trình xây dựng trên địa bàn tỉnh
Quảng Ninh 155
2.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 156
CHƯƠNG 3 XÂY DỰNG CÁC CÔNG THỨC XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU, THÔNG SỐ KỸ THUẬT TRONG SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP 159
3.1 CƠ SỞ XÂY DỰNG CÁC CÔNG THỨC XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU, THÔNG SỐ KỸ THUẬT TRONG SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP 159
3.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT XÂY DỰNG CÁC CÔNG THỨC XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU, THÔNG SỐ KỸ THUẬT TRONG SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP 159
3.3 XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU, THÔNG SỐ KỸ THUẬT TRONG SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP 245
3.3.1 Đối với mỏ than lộ thiên 245
3.3.2 Đối với mỏ than hầm lò 256
3.3.3 Đối với các mỏ VLXD, mỏ quặng và công trình xây dựng 274
3.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 274
CHƯƠNG 4 TỔ CHỨC THI CÔNG NỔ MÌN THỬ NGHIỆM TẠI CÁC KHU VỰC ĐẶC TRƯNG CỦA TỪNG NHÓM ĐỊA CHẤT THEO TỪNG PHƯƠNG PHÁP VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VLNCN 277
4.1 NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN XÁC ĐỊNH KHU VỰC NỔ MÌN THỰC NGHIỆM 277
4.1.1 Nghiên cứu lựa chọn xác định khu vực nổ mìn thực nghiệm tại các mỏ than lộ thiên 277
4.1.2 Nghiên cứu lựa chọn xác định khu vực nổ mìn thực nghiệm tại các mỏ hầm lò 278 4.1.3 Nghiên cứu lựa chọn xác định khu vực nổ mìn thực nghiệm tại các mỏ đá vôi 280 4.1.4 Nghiên cứu lựa chọn xác định khu vực nổ mìn thực nghiệm tại các mỏ quặng 281 4.2 THIẾT KẾ HỘ CHIẾU, TỔ CHỨC THI CÔNG NỔ MÌN THỬ NGHIỆM TẠI CÁC KHU VỰC ĐẶC TRƯNG CỦA TỪNG NHÓM ĐỊA CHẤT THEO TỪNG PHƯƠNG PHÁP VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VLNCN 284
4.2.1 Các nội dung cần thực hiện khi tiến hành lập phương án nổ mìn 284
4.2.2 Xây dựng phương án tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm cho các mỏ khai thác than lộ thiên 296
Trang 64.2.3 Xây dựng phương án tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm cho các mỏ khai
thác than hầm lò 316 4.2.4 Xây dựng phương án tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm cho các mỏ đá vôi 329 4.2.5 Xây dựng phương án tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm cho các mỏ quặng 338 4.2.6 Xây dựng phương án tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm phục thi công các
công trình xây dựng 342
ĐẾN CÔNG TÁC KHOAN NỔ MÌN, SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG
NGHIỆP VÀ ĐI LẠI LÀM VIỆC TRONG KHAI TRƯỜNG MỎ, CÔNG
TRƯỜNG XÂY DỰNG 347 4.3.1 Biên soạn tài liệu huấn luyện kỹ thuật an toàn về VLNCN 347 4.3.2 Tập huấn kỹ thuật an toàn về sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tất cả các
đối tượng sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại mỏ than lộ thiên 348 4.3.3 Tập huấn kỹ thuật an toàn về sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tất cả các
đối tượng sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại mỏ than hầm lò 349 4.3.4 Tập huấn kỹ thuật an toàn về sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tất cả các
đối tượng sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại mỏ đá vôi 349 4.3.5 Tập huấn kỹ thuật an toàn về sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tất cả các
đối tượng sử dụng vật liệu nổ công nghiệp tại mỏ quặng 349 4.3.6 Tập huấn kỹ thuật an toàn về sử dụng vật liệu nổ công nghiệp cho tất cả các
đối tượng sử dụng vật liệu nổ công nghiệp phục vụ thi công công trình 350 4.4 LẬP CÁC HỘ CHIẾU KHOAN, HỘ CHIẾU NỔ MÌN, HỘ CHIẾU AN
TOÀN PHỤC VỤ CHO NỔ MÌN THỬ NGHIỆM THEO THÔNG SỐ KỸ
THUẬT ĐÃ TÍNH TOÁN LÝ THUYẾT 350 4.4.1 Lập hộ chiếu khoan, hộ chiếu nổ mìn, hộ chiếu an toàn cho những khu vực nổ
mìn thử nghiệm trên mỏ khai thác than lộ thiên 350 4.4.2 Lập hộ chiếu khoan, hộ chiếu nổ mìn, hộ chiếu an toàn cho những khu vực nổ
mìn thực nghiệm tại mỏ khai thác than hầm lò 351 4.4.3 Lập hộ chiếu khoan, hộ chiếu nổ mìn, hộ chiếu an toàn cho những khu vực nổ
mìn thực nghiệm trên mỏ khai thác đá vôi
351
4.4.4 Lập hộ chiếu khoan, hộ chiếu nổ mìn, hộ chiếu an toàn cho những khu vực nổ
mìn thực nghiệm trên mỏ khai thác quặng 352 4.4.5 Lập hộ chiếu khoan, hộ chiếu nổ mìn, hộ chiếu an toàn cho những khu vực nổ
mìn thực nghiệm thi công các công trình 352
Trang 74.5 THỎA THUẬN VỀ VIỆC HỖ TRỢ THỰC HIỆN NỔ MÌN THỬ NGHIỆM
VỚI CÁC DOANH NGHIỆP ĐƯỢC LỰA CHỌN; KÝ HỢP ĐỒNG THUÊ
KHOAN 352
4.6 TỔ CHỨC THI CÔNG KHOAN, NỔ MÌN THỬ NGHIỆM 356
4.6.1 Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các mỏ than lộ thiên được lựa chọn 357
4.6.2 Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các mỏ than hầm lò được lựa chọn 360
4.6.3 Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các mỏ đá vôi được lựa chọn 362
4.6.4 Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các mỏ quặng được lựa chọn 364
4.6.5 Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các công trình xây dựng được lựa chọn 366
4.6.6 Hội thảo đánh giá kết quả nổ mìn thử nghiệm 368
4.7 KẾT LUẬN CHƯƠNG 4 368
CHƯƠNG 5 XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU THÔNG SỐ KỸ THUẬT HỢP LÝ TRONG SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP CHO TỪNG KHU VỰC ĐỊA CHẤT THEO TỪNG PHƯƠNG PHÁP VÀ MỤC ĐÍCH SỬ DỤNG VẬT LIỆU NỔ CÔNG NGHIỆP 370
5.1 XÂY DỰNG CÁC THÔNG SỐ XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU KỸ THUẬT HỢP LÝ CHO CÁC MỎ THAN LỘ THIÊN 370
5.2 XÂY DỰNG CÁC THÔNG SỐ XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU KỸ THUẬT HỢP LÝ CHO CÁC MỎ THAN HẦM LÒ 376
5.3 XÂY DỰNG CÁC THÔNG SỐ XÁC ĐỊNH CHỈ TIÊU KỸ THUẬT HỢP LÝ CHO CÁC MỎ ĐÁ VÔI, MỎ QUẶNG VÀ CÁC CÔNG TRINH XÂY DỰNG 386
5.4 KẾT LUẬN CHƯƠNG 5 397
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 398
TÀI LIỆU THAM KHẢO 404 CÁC PHỤ LỤC
Trang 8MỞ ĐẦU
Trong công đoạn đập vỡ đất đá cứng bằng công nghệ nổ mìn là một phát minh ứng dụng vô cùng lớn của nhân loại về sử dụng Vật liệu nổ; nó giúp làm giảm giá thành phá vỡ đất đá rất nhiều so với các công nghệ phá
vỡ đất đá khác Tuy nhiên sử dụng VLNCN đảm bảo hợp lý và hiệu quả cho công tác phá vỡ đất đá bằng nổ mìn với những điều kiện, tính chất địa chất khác nhau vẫn chưa được giải quyết thoả đáng Đặc thù Quảng Ninh
có điều kiện địa hình, địa chất phức tạp Cùng với sự phát triển công nghiệp - xây dựng, đặc biệt trong đó có ngành công nghiệp khai thác khoáng sản phát triển, nên nhu cầu VLNCN sử dụng lớn
Thực trạng của việc xác định các chỉ tiêu của thông số kỹ thuật trong
hộ chiếu nổ mìn hiện nay chỉ dựa trên thông số của độ cứng đất đá f)(tương đồng với giới hạn bền nén) và điều kiện địa chất thủy văn (Điều kiện địa chất thủy văn chỉ dùng trong lựa chọn chủng loại VLNCN để sử dụng), còn một loạt các chỉ số khác của địa chất chưa được đề cập như độ giới hạn bền kéo, kiến tạo, đặc điểm vỏ phong hóa, đặc điểm tân kiến tạo; đặc điểm các quá trình động lực (Tất cả các chỉ số này đều tác động trực tiếp đến hiệu suất hữu ích của công năng VLNCN)
Cũng như thực tế thi công nổ mìn (sử dụng VLNCN) thì các định mức kinh tế - kỹ thuật trong sử dụng VLNCN là công cụ phục vụ quản lý nhà nước về sử dụng VLNCN, được cấp có thẩm quyền ban hành hiện nay chỉ dựa trên một chỉ số đó là độ cứng đất đá; đồng thời các chỉ tiêu đó được xác định đối với phương pháp sử dụng VLNCN lạc hậu (Nổ mìn tức thời), đã quá lạc hậu so với phương pháp nổ mìn chủ yếu như hiện nay đó
là nổ vi sai qua hàng/vi sai qua lỗ qua hàng/vi sai toàn phần; cũng như định mức này mang tính tổng thể trên cả nước, nên các chỉ tiêu định mức kinh tế - kỹ thuật không sát với điều kiện địa chất riêng cũng như công nghệ nổ mìn thực tế của địa phương
Trang 9Để có cơ sở đầy đủ về khoa học phục vụ xây dựng định mức kinh
tế-kỹ thuật trong sử dụng VLNCN trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh, baoc cáo
công nghiệp trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh” mang tính cấp thiết, đáp ứng yêu cầu thực tế hiện nay, là cơ sở phục vụ công tác quản lý nhà nước về VLNCN trên địa bàn Quảng Ninh đạt hiệu quả cao, thích ứng với sự phát triển kinh tế của xã hội; đồng thời góp phần đổi mới và hiện đại hoá công nghệ trong ngành công nghiệp khai khoáng ở Việt Nam
Nội dung của báo cáo tổng kết bao gồm 05 chương với các nội cung như sau:
Chương 1: Phân nhóm địa chất, địa chất thủy văn, địa chất công
trình trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Chương 2: Khảo sát, đánh giá các phương pháp sử dụng vật liệu nổ
công nghiệp
Chương 3: Xây dựng các công thức xác định chỉ tiêu, thông số kỹ
thuật trong sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
Chương 4: Tổ chức thi công nổ mìn thử nghiệm tại các khu vực đặc
trưng của từng nhóm địa chất theo từng phương pháp và mục đích sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
Chương 5: Xác định chỉ tiêu thông số kỹ thuật hợp lý trong sử dụng
vật liệu nổ công nghiệp cho từng khu vực địa chất theo từng phương pháp
và mục đích sử dụng vật liệu nổ công nghiệp
Trang 10CHƯƠNG 1 PHÂN NHÓM ĐỊA CHẤT, ĐỊA CHẤT THỦY VĂN, ĐỊA CHẤT CÔNG TRÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
1.1 TỔNG QUAN CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NINH
1.1.1 KHÁI QUÁT CHUNG ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÝ TỰ NHIÊN, KINH TẾ, NHÂN VĂN VÙNG QUẢNG NINH
1.1.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Quảng Ninh nằm phía
đông bắc nước Việt Nam, có toạ độ
địa lý:
20o42’ - 21o40’ vĩ độ bắc,
106o25’ - 108o25’ kinh độ
đông;
Với diện tích khoảng 6.082
nước); phía bắc giáp Trung Quốc
(trên 120 km đường biên giới),
phía tây-tây bắc giáp Hải Dương,
Bắc Giang, Lạng Sơn, phía nam
giáp Hải Phòng, phía đông giáp
biển (với khoảng 250 km đường bờ
biển), cách thủ đô Hà Nội 160 km
Quảng Ninh
Trang 111.1.1.2 Hành chính
Hiện tại, tỉnh Quảng Ninh có 14 đơn vị hành chính (4 thành phố, 2 thị xã, 8 huyện), với 186 đơn vị hành chính cấp xã, bao gồm: 71 phường, 8 thị trấn và 107 xã, trong đó thành phố Hạ Long là trung tâm chính trị, kinh
tế, xã hội của tỉnh (Hình 1.2)
Tổng dân số toàn tỉnh (Theo số liệu điều tra dân số ngày 01/4/2019) 1,320324 triệu người bao gồm các dân tộc Kinh, Tày, Dao, Sán Chỉ…trong
đó dân tộc Kinh chiếm chủ yếu (khoảng 90%), mật độ dân số trung bình
198 người/km2 Cơ cấu dân số: nam giới chiếm 50,3%, nữ giới 49,7%; dân
số thành thị chiếm 64,1%, nông thôn 35,9%; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên toàn tỉnh trong 10 năm gần đây có xu hướng giảm dần, từ 1,69% (năm 1996) xuống còn 1,02% (năm 2016), trong đó tỷ lệ tăng cao nhất là các huyện miền núi như Ba Chẽ, Bình Liêu (trên 1,43%), thấp nhất là thành phố Cẩm Phả (dưới 0,8%) Nhìn chung tỉnh Quảng Ninh có nguồn nhân lực lao động dồi dào
Hình 1.2 Bản đồ hành chính tỉnh Quảng Ninh 1.1.1.3 Địa hình
Tỉnh Quảng Ninh có địa hình đa dạng và phong phú, có núi
Trang 12cao-trung bình-thấp, đồi và đồng bằng, với đặc điểm chung là địa hình thấp dần
từ bắc, đông bắc đến nam, tây nam, được chia thành 3 vùng như sau:
- Vùng núi cao-trung bình: phân bố dọc địa giới phía bắc của tỉnh từ Đông Triều, Uông Bí qua Ba Chẽ, Bình Liêu đến tây bắc Móng Cái, chiếm khoảng nửa diện tích toàn tỉnh, có độ cao trung bình giao động từ 500-1000m (vùng núi cao), đỉnh cao nhất trên 1500m, đến 300-500m (vùng núi trung bình), với độ dốc sườn 30-500 Một số vùng núi cao vẫn bảo tồn được rừng tự nhiên, thảm thực vật phát triển tốt, nhiều cây to, rậm rạp
- Vùng đồi núi thấp: là vùng chuyển tiếp giữa vùng núi cao-trung bình với vùng đồng bằng, tạo thành dải có phương đông bắc-tây nam, có
độ cao trung bình 100-150m, độ dốc sườn thoải Chủ yếu phát triển thảm thực vật thứ sinh do dân trồng như thông, bạch đàn, keo tai tượng, cây ăn quả vải nhãn…
- Vùng đồng bằng và dải ven biển:
* Vùng đồng bằng phân bố chủ yếu ở phía nam, tây nam của tỉnh thuộc các thị xã Quảng Yên, Đông Triều, thành phố Uông Bí…có độ cao trung bình < 10m, thường có xen đồi thấp hoặc khối núi đá sót Phát triển cây lương thực (lúa nước) là chủ yếu
* Dải ven biển hẹp chạy dọc đới duyên hải từ Móng cái, Đầm Hà, Hải Hà, Tiên Yên, Cẩm Phả, Hạ Long đến Quảng Yên và 2 huyện đảo: Vân Đồn, Cô Tô Dải ven biển có độ cao giao động phụ thuộc vào mức nước thuỷ triều lên xuống, có bờ biển dài, với nhiều bãi cát phẳng, sạch, đẹp…thuận lợi cho việc nuôi trồng, đánh bắt thuỷ hải sản, khu du lịch sinh thái, khu nghỉ mát và phát triển các khu công nghiệp, cảng biển…
Nhìn chung vùng đồng bằng và dải ven biển nằm sát các cửa sông lớn nên thường bị chia cắt bởi hệ thống sông, lạch rất phát triển trong vùng
1.1.1.4 Khí hậu-thuỷ văn
a Khí hậu
Trang 13Quảng Ninh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cận chí tuyến, nóng ẩm mưa nhiều, với 2 mùa rõ rệt, mùa khô từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm;
số giờ nắng 130-195 giờ/tháng)*, lạnh nhất vào tháng 1 (nhiệt độ có thể
năm giao động 1300-2700mm* (trung bình ~ 2000mm), tháng có lượng mưa trung bình cao nhất là tháng 7-8 (300-900mm)*, tháng có lượng mưa trung bình thấp nhất là tháng 12 và tháng 1 (0-6mm)*, các vùng có mưa nhiều nhất là Hải Hà, Móng Cái, Tiên Yên, lớn hơn lượng mưa trung bình của vùng đồng bằng Bắc bộ; độ ẩm tương đối trung bình cả năm 81-84%*
* Các số liệu trong cuốn Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ninh 2006
b Thuỷ văn
Quảng Ninh có mạng lưới sông suối khá phát triển, với mật độ trung
theo hướng tây bắc-đông nam, gần như vuông góc với bờ biển Do đặc điểm sông suối ngắn, dốc, xâm thực sâu mạnh, nên tốc độ dòng chảy thường lớn, đặc biệt vào mùa mưa, lũ lên rất nhanh và rút cũng rất nhanh,
dễ xảy ra các hiện tượng tai biến địa chất như: trượt lở đất, lũ ống, lũ quét…
Chế độ hải văn (nhật triều) tương đối thuần nhất, số ngày có một lần nước lên và một lần nước xuống chiếm 85-90% Nước triều lên xuống (mùa hè triều lên vào buổi chiều, triều xuống vào buổi sáng và ngược lại mùa đông triều lên vào buổi sáng, triều xuống vào buổi chiều) với mực nước giao động trung bình 1,9-2,2m, vùng vịnh Hạ Long có thuỷ triều lên xuống vào loại lớn nhất ở nước ta, khoảng 3,5-4,0m (biên độ giao động cực đại là 4,7m)
1.1.1.5 Giao thông
Quảng Ninh có hệ thống giao thông phát triển bao gồm: đường bộ,
Trang 14đường sắt, đường thuỷ (sông, biển) rất thuận lợi cho việc giao lưu trong nước và quốc tế
- Đường bộ: có các quốc lộ 18A, 18C, 10, 4B tạo trục xương sống chạy xuyên suốt chiều dài từ tây sang đông, từ bắc xuống nam của tỉnh, nối liền với thủ đô Hà Nội về phía tây và với Trung Quốc qua cửa khẩu Móng Cái về phía đông; ngoài ra còn có các tuyến giao thông tỉnh lộ, các tuyến liên huyện, liên xã, liên bản cũng rất phát triển, nhìn chung chúng đã được nâng cấp (nhựa hoá, bê tông hoá) khá tốt, tạo thuận lợi cho việc đi lại, giao lưu hàng hoá giữa các vùng, miền trong tỉnh
Đường thuỷ: với hệ thống sông, lạch chằng chịt, với dải bờ biển dài tạo nên hệ thống đường thuỷ rất phát triển, trong đó hệ thống đường thuỷ biển với các cảng biển: Mũi Chùa, Mũi Ngọc, Móng cái, Vạn Gia, đặc biệt
là cảng nước sâu Cái Lân…chúng đóng vai trò quan trọng trong việc lưu chuyển hàng hoá (xuất, nhập khẩu) trong nước và quốc tế
Đường sắt: so với đường bộ, đường thuỷ thì giao thông đường sắt có hạn chế hơn, ngoài tuyến đường sắt chính Kép-Uông Bí-Hạ Long, còn có các tuyến đường sắt thuộc các vùng mỏ than Uông Bí, Cẩm Phả, đã góp phần đáng kể trong lưu thông vận chuyển hàng hoá (chủ yếu than)
1.1.1.6 Tài nguyên khoáng sản
Quảng Ninh có nguồn tài nguyên khoáng sản rất phong phú, với 209
mỏ khoáng sản và điểm quặng của 36 loại hình khoáng sản đã được điều tra, thăm dò, đánh giá ở các mức độ khác nhau như: khoáng sản cháy (than
đá, đá dầu), khoáng sản kim loại (vàng, antimon, đồng, chì, kẽm…), khoáng sản vật liệu xây dựng và khoáng chất công nghiệp (sét chịu lửa, sét gạch ngói, đá vôi xi măng, đá ốp lát, kao lin, pyrophylit, sericit, cát cuội sỏi xây dựng…) Trong đó bể than Quảng Ninh được đánh giá có trữ lượng
và chất lượng lớn nhất vùng Đông Nam Á; sét Giếng Đáy được đánh giá
có chất lượng rất tốt; pyrophylit, sericit vùng Bình Liêu, Tấn Mài có tiềm năng lớn…
Trang 151.1.2 ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ TỔNG HỢP CẤU TRÚC ĐỊA CHẤT – KHOÁNG SẢN VÙNG QUẢNG NINH
1.1.2.1 Quá trình thu thập và các tài liệu đã thu được
Đề tài được thực hiện trên cơ sở các tài liệu:
1 Thu thập, tổng hợp các nguồn tài liệu chính thống về địa chất, khoáng sản, địa mạo, tai biến địa chất, địa chất môi trường…được lưu trữ tại các trung tâm lưu trữ của Trung ương, ngành và địa phương tỉnh, bao gồm:
- 10 công trình lập bản đồ địa chất và điều tra khoáng sản ở các tỷ lệ (1/500000; 1/200000; 1/50000);
- 50 báo cáo đánh giá, thăm dò các loại hình khoáng sản;
- 13 báo cáo (quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội, quy hoạch khoáng sản của các sở, quy hoạch môi trường…thuộc địa bàn tỉnh Quảng Ninh);
- 16 văn liệu liên quan của Trung ương, tỉnh ban hành (Luật, Nghị định, quyết định, quy chế…)
2 Báo cáo lập bản đồ địa chất thủy văn, bản đồ địa chất công trình
tỷ lệ 1/200.000 tờ Hòn Gai – Móng Cái do Liên đoàn địa chất thủy văn- Địa chất công trình Miền Bắc thực hiện (được Bộ Công nghiệp phê duyệt tại Quyết định số 2834/QĐ-CNCL ngày 07/11/2002)
3 Báo cáo lập bản đồ địa chất thủy văn- địa chất công trình tờ Hải Phòng – Nam Định tỷ lệ 1/200.000 do kỹ sư địa chất thủy văn Cao Sơn Xuyên chủ biên (được Tổng cục địa chất phê chuẩn tại Quyết định số 51/QĐKT ngày 12/11/1985)
4 Báo cáo đề án “Tổng hợp tài liệu địa chất, khoáng sản và quy
hoạch hoạt động khoáng sản tỉnh Quảng Ninh đến năm 2010, tầm nhìn đến năm 2020” - Liên đoàn Bản đồ địa chất miền Bắc-2008
Chi tiết các tài liệu thu thập xem Phụ lục 1.1
Trang 161.1.2.2 Đặc điểm cấu trúc địa chất - khoáng sản sản trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh
Thuộc phạm vi đất liền và biển (tính từ 0 đến 30 mét nước so với mặt biển), tỉnh Quảng Ninh có mặt 30 phân vị địa tầng (đá gốc và trầm tích
bở rời) có tuổi từ Paleozoi hạ đến Đệ tứ và 2 phức hệ magma, nằm trên 4 đới cấu trúc (đới Quảng Ninh, đới Hòn Gai, đới An Châu và một phần nhỏ thuộc Trũng Hà Nội)
1.1.2.2.1 Địa tầng
GIỚI PALEOZOI
HỆ ORDOVIC, THỐNG THƯỢNG-HỆ SILUR
a Hệ tầng Tấn Mài (O 3-S tm): do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác
lập (1965) theo mặt cắt đặc trưng ở vùng Tấn Mài (Quảng Ninh)
Hệ tầng phân bố từ Móng Cái qua Tấn Mài tới núi Răng Chó, nằm hoàn toàn ở phía nam đứt gãy sâu Đồng Mô-Tiên Yên-Móng Cái, kéo dài gần 60 km, rộng từ 3-6 km; vùng bắc Dương Huy, ngoài ra còn phân bố tạo dải nhỏ ở đảo Cái Chiên và đảo Vĩnh Thực Thành phần đặc trưng của
hệ tầng là các đá trầm tích lục nguyên biến chất yếu, phần dưới chủ yếu có
độ hạt trầm tích lớn và phần trên hạt nhỏ, bị biến chất không đều theo đường phương Nhiều nơi đá bị vò nhàu, uốn nếp mạnh mẽ và bị ép láng bóng Hệ tầng được chia thành 2 phân hệ tầng
Phân hệ tầng dưới (O3 -S tm 1)
Phân bố ở tây nam Chi Si Cai kéo dài đến phía nam làng Tấn Mài và một số diện tích ở đông sườn núi Vàng Mô Léng, núi Tài Vòng Mô Lèng,
Mặt cắt từ Tấn Mài đến Hà Cối gồm 5 tập (từ dưới lên):
- Tập 1: cát kết, bột kết, đá phiến sét sericit, màu xám vàng Dày 96m
- Tập 2: cát kết tuf xen lớp mỏng sạn kết, đá phiến sét sericit, màu xám vàng Dày 45m
Trang 17- Tập 3: bột kết, cát bột kết xen đá phiến sericit, đá phiến thạch sericit Dày 240m
anh Tập 4: đá phiến sericit, đá phiến thạch anhanh sericit xen cát kết hạt vừa Dày 256m
- Tập 5: cát kết dạng quarzit, đôi khi xen đá phiến sét sericit Dày 156m
Tổng chiều dày của phân hệ tầng dưới hệ tầng Tấn Mài 900-1000m
Phân hệ tầng trên (O3 -S tm 2)
Mặt cắt từ Tấn Mài đi Hà Cối, gồm 4 tập:
- Tập 1: đá phiến thạch anh-sericit xen đá phiến silic phân lớp mỏng Dày 363m
- Tập 2: bột kết, cát bột kết xen đá phiến phylit Dày 352m
- Tập 3: cát kết xen ít lớp mỏng bột kết màu xám vàng Dày 120m
- Tập 4: bột kết xen cát bột kết và đá phiến sét sericit Dày 125m Tổng chiều dày của phân hệ tầng trên hệ tầng Tấn Mài là 700m Trong các đá phiến sét ở phần trên của hệ tầng trên, Trần Thanh Tuyền và Phạm Đình Long (1995) đã tìm được dấu vết hoá thạch Bút đá
Pseudoclimacograptus hughesi và Monoclimacis sp Tuổi Silur sớm
Hệ tầng Tấn Mài bị các trầm tích Devon hạ-Loạt sông Cầu phủ không chỉnh hợp lên trên và chứa tập hoá thạch Bút đá đề cập trên Do đó xếp hệ tầng vào Ordovic thượng-Silur
Khoáng sản liên quan: có sét gạch ngói nguồn gốc tái trầm tích từ
các đá trầm tích hạt mịn (bột kết, đá phiến sét, trầm tích hạt mịn chứa tuf) phong hoá tạo nên Một số khoáng sản nội sinh như antimon, vàng… Ngoài
ra, ở một số nơi còn gặp quặng sắt lăn (limonit)
b Hệ tầng Cô Tô (O 3-Sct): do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác lập
(1965), xếp tuổi Neogen; Trần Văn Trị và nnk (1972), xếp tuổi tuổi Ordovic muộn-Silur sớm, theo mặt cắt quần đảo Cô Tô (Quảng Ninh) Hệ tầng phân bố ở vịnh Hạ Long gồm các đảo Thanh Lân, Mã Châu (Con
Trang 18Ngựa), Núi Ngọn, Lò Chúc San, quần đảo Cô Tô và được chia 2 phân hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (O3 -Sct 1 )
Phân bố ở đảo Lò Chúc San, quần đảo Cô Tô Thành phần chủ yếu gồm cát kết tuf phân lớp dày, xen thấu kính sạn kết và lớp mỏng sét kết, bột kết cấu tạo sọc dải, các đá xen kẽ với nhau có tính chất dạng nhịp Dày
1000m Trong các đá bột kết tìm thấy Bút đá: Hedrograptus retangularis,
Pseudoclimacograptus hughesi, Demirastrites triangulatus
Phân hệ tầng trên (O3 -Sct 2 )
Phân bố hạn chế ở các đảo Cô Tô, Thanh Lân Thành phần gồm bột kết, sét kết xen nhịp nhàng với cát kết tuf và đá phiến sét silic, chứa phong
phú Bút đá: Rastriteees sp., Monoclimacis limardsoni, Streptograptus
exiguus, Monograptus priodon, Pristiograptus dusbius tuổi Silur Chiều
dày 700m
Hệ tầng bị các trầm tích Devon hạ phủ lên và ở phần thấp của hệ tầng chưa phát hiện được hoá thạch, do đó hệ tầng được xếp vào Ordovic thượng- Silur; tương tự hệ tầng Tấn Mài phân bố ở phía tây thuộc đất liền, còn hệ tầng Cô Tô chỉ phân bố ở phía đông ở một số đảo thuộc vùng biển
Ở đáy biển khu vực giữa cửa Thiện Ngôn (gần đảo Sâu Nam) và quần đảo Cô Tô lộ các đá của hệ tầng Cô Tô với diện lộ khá rộng, hơn chục km2
HỆ DEVON
HỆ DEVON, THỐNG HẠ Loạt Sông Cầu (D 1 sc): do Trần Văn Trị và nnk xác lập (1964) và
gọi là điệp; Tống Duy Thanh (1979) chuyển thành loạt, theo mặt cắt vùng Sông Cầu (Thái Nguyên)
Loạt Sông Cầu có thành phần và khối lượng tương ứng với “seri” Bắc Bun do Deprat J., 1915 xác lập ở vùng Đồng Văn (Hà Giang) Các trầm tích của loạt chỉ phân bố ở các đảo trên Vịnh Hạ Long thuộc phía
Trang 19đông tỉnh Quảng Ninh như đảo Thoi Xanh, Sâu Nam, Ba Mun, Trà Bàn, Phượng Hoàng, Nứt Dất, Thượng Mai Ngoài ra còn các khối nhỏ ở phía nam đảo Lò Chúc San (đảo Trần), nam đảo Vĩnh Thực
Mặt cắt của loạt Sông Cầu ở các đảo có thể phân chia thành 2 phần:
Phần dưới: lộ ra ở các đảo Lò Chúc San, đảo Vĩnh Thực gồm cuội
kết hỗn tạp, sạn kết chuyển lên là cát xen bột kết màu tím hoặc nâu vàng Trong các lớp bột kết nằm trên lớp cuội cơ sở ở đảo Thoi Xanh đã tìm
được hoá thạch Tay cuộn Lingula Chiều dày 200-440m
Phần trên: quan sát thấy ở đảo Trà Bàn, có mặt cắt khá đầy đủ, gồm 5
tập:
- Tập 1: bột kết xen cát bột kết màu xám vàng Dày 110m
- Tâp 2: sạn kết thạch anh-silic xen cát kết, bột kết màu xám Dày 110m
- Tập 3: cát kết thạch anh, cát kết quarzit xen cát bột kết màu xám trắng, xen bột kết và thấu kính sét than Dày 290m
- Tập 4: cát kết dạng quarzit xen cát bột kết Dày 190m
- Tập 5: đá phiến sét vôi màu xám đen Dày 200m
Tổng chiều dày của loạt Sông Cầu là 1150-1390m
Cuội kết cơ sở của loạt Sông Cầu phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng
Cô Tô Dựa vào các di tích hoá thạch cổ sinh thu thập ở các vùng lân cận, nên loạt được xếp vào Devon hạ
HỆ DEVON, CÁC THỐNG HẠ-TRUNG
Hệ tầng Dưỡng Động (D 1-2 dđ): do Nguyễn Quang Hạp xác lập
(1967) theo mặt cắt vùng Dưỡng Động (Hải Dương); sau đó Phạm Văn Quang và nnk (1969) mô tả và đặt tên là điệp Yên Phụ (Hải Phòng) Các trầm tích hệ tầng phân bố ở các đảo Trà Bàn, Châu Dáp, Ngọc Vừng, Lũ Con, Thừa Bồng, Ba Mun, Sâu Nam,…thuộc vùng Quán Lạn và lạch Đồng Chén
Mặt cắt ở đảo Châu Dáp gồm 4 tập:
Trang 20- Tập 1: cát kết thạch anh dạng quarzit Dày 500-700m
- Tập 2: cát kết xen bột màu xám Dày 250-300m
- Tập 3: cát kết thạch anh phân lớp dày xen đá phiến sét Dày 250m
- Tập 4: bột kết màu xám Dày 50m
Tổng chiều dày của hệ tầng là 1000-1300m
Trên đảo Ngọc Vừng, Izokh E.P (1965) đã phát hiện hoá thạch Tay
cuộn: Desquamatia ex.gr desquamatia, Camarotoechia sp., Acrospirifer
sp., còn Trần Văn Trị phát hiện Atrpa sp ở đảo Trà Bàn (1977) Căn cứ
vào các hoá thạch trên nên xếp hệ tầng vào Devon, các thống hạ-trung
Về khoáng sản liên quan: các lớp cát kết thạch anh dạng quarzit
thuộc tập 1 của hệ tầng phân bố trên đảo Trà Bàn được sử dụng là vật liệu xây dựng rất tốt Ngoài ra, trên diện phân bố của hệ tầng ở Điềm Xá, Lộc
Dữ (Cẩm Phả) dã phát hiện quặng sắt lăn (limonit) với diện tích nhỏ
HỆ DEVON, THỐNG TRUNG
Hệ tầng Bản Páp (D 2 bp): do Nguyễn Xuân Bao xác lập (1970) theo
các mặt cắt chủ yếu là đá vôi vùng Bản Páp (Sơn La); trước đó Phạm Văn Quang, 1969 cũng mô tả đá vôi này và đặt tên hệ tầng Lỗ Sơn (Hải Dương) Các đá đặc trưng hệ tầng chủ yếu là đá vôi phân bố ở đảo Trà Bàn
và các đảo ở lạch Công Thế Cái như Lũ Con, Thừa Cống, Bàn Sen,…và một số chỏm núi đá vôi ở phía nam thị trấn Đông Triều
Mặt cắt ở đảo Bàn Sen từ dưới lên có 3 tập:
- Tập 1: đá vôi phân lớp mỏng đến trung bình, màu xám, xám sẫm,
bị tái kết tinh Dày 200m
- Tập 2: đá vôi phân lớp trung bình, màu xám, xám nhạt, bị tái kết
inh chứa hoá thạch San hô: Caliapora battersbyi, Amphipora ramosa
minor Dày 250m
- Tập 3: đá vôi phân lớp trung bình đến dày, màu xám, xám nhạt, tái
kết tinh yếu chứa hoá thạch San hô Thamnopora sp và Tay cuộn
Stringocephalus burtin Dày 200m
Trang 21Chiều dày tổng cộng khoảng 650m
Trong phần cao của hệ tầng ở đảo Trà Bàn tìm thấy hoá thạch San
hô Amphipora minima và ở đảo Thừa Cống có Amphipora laxeperforata, A.ramosa subminor Các đá vôi hệ tầng chứa phong phú San hô, Tay cuộn thuộc các phức hệ Caliapora battersbyi-Stringocephalus tuổi Givet Với sự
có mặt của San hô tuổi Gibet-Frasni Amphipora laxeperforata, A perversiculata, nên không loại trừ yếu tố Devon muộn ở phần cao của hệ tầng
Hệ tầng Bản Páp nằm chỉnh trên hệ tầng Dưỡng Động, còn phía trên quan hệ chưa rõ, do đó hệ tầng Bản Páp tạm xếp vào Devon trung và không loại trừ yếu tố Devon thượng có mặt ở phần cao của mặt cắt
Đá vôi của hệ tầng là các đảo, quần đảo núi đá vôi có kích thước và hình thù khác nhau tạo nên thắng cảnh đẹp của vịnh Hạ Long
HỆ CARBON, THỐNG HẠ
Hệ tầng Cát Bà (C 1cb): do Nguyễn Công Lượng và nnk xác lập
(1979) ở vùng đảo Cát Bà (Hải Phòng) Hệ tầng phân bố ở các đảo phía bắc đảo Cát Bà, là các khối núi đá vôi nhỏ ở vịnh Bái Tử Long, vịnh Hạ Long, trên đất liền phân bố ở phía bắc huyện Hoành Bồ, tạo dải đá vôi kéo dài không liên tục 12-14 km Hệ tầng có mặt cắt chuẩn ở vùng đảo Cát Bà chia làm 2 phần:
- Phần dưới: đá vôi xám đen, phân lớp vừa đến dày, đá vôi chứa silic
kẹp lớp mỏng đá phiến cháy và đá vôi màu xám trắng, đá vôi trứng cá Chứa phong phú hoá thạch thuộc các nhóm Trùng lỗ, San hô, Huệ biển, Tay cuộn: Syingopora geniculata, Schizophoria cf resupinata, Cylocyclicus aff tien, Chenyshynella disputabilis, Septaglomospiranella grozdilovae, Chenyshynella disputabilis, Septatournayella questila, Dainella nucula, D uralica
- Phần trên: đá vôi màu xám, xám sẫm, phân lớp vừa đến dày và dạng khối, chứa Trùng lỗ: Endothyranopsis crassa sphaerica, Archaediscus
Trang 22sp., Mediocris breviscula, M.medocris, Eostaffella mosquensis Chiều dày tổng cộng 450m
Hệ tầng Cát Bà nằm không chỉnh hợp trên hệ tầng Bản Páp (đảo Vân Cảnh) và theo tập hợp hoá thạch đề cập trên, hệ tầng được xếp vào Carbon
hạ
Tương tự như hệ tầng Bản Páp, sự có mặt phong phú các đảo đá vôi thuộc hệ tầng Cát Bà phân bố ở vịnh Bái Tử Long đã tạo nên thắng cảnh “sơn thuỷ hữu tình” của vịnh Hạ Long Đây cũng là nguồn khoáng sản về đá vôi xi măng, đá vôi dùng trong lĩnh vực công nghiệp, vật liệu xây dựng khá lớn của tỉnh, song việc khai thác, sử dụng chúng cần được lưu ý vì chúng nằm trong khu di sản được UNESCO công nhận
HỆ CARBON - HỆ PERMI
Hệ tầng Bắc Sơn (C-Pbs): do Nguyễn Văn Liêm xác lập (1979) ở
khối đá vôi Bắc Sơn (Lạng Sơn) với khái niệm là loạt, nó tương ứng với hệ tầng Quang Hanh của Nguyễn Công Lượng xác lập (1979) khi đo vẽ tờ Hòn Gai - Móng Cái tỷ lệ 1/200.000 Hệ tầng phân bố là vùng Quang Hanh trên đất liền và ở các đảo ở phía bắc đảo Cát Bà thuộc vịnh Bái Tử Long; ngoài ra lộ một số khối, chỏm đá vôi nhỏ ở phía nam Đông Triều Thành phần nhìn chung khá đồng nhất về mặt thạch học, gồm 2 phần:
- Phần dưới: đá vôi xám sáng, đá vôi trứng cá, phân lớp dày và dạng khối, chứa Trùng lỗ: Pseudoendothyra sp., Pseudostaffella antiqua,
Pseudoschwagenrina cf muongthensis
- Phần trên: đá vôi xám sáng, phân lớp dày và dạng khối, xen lớp kẹp mỏng đá vôi silic, silic vôi, đá vôi giả trứng cá, chứa Trùng Lỗ: Profusulina praecursor, Fusulina bocki, Triticites cf laocensis Chiều dày của hệ tầng 750m
Tập hợp hoá thạch trên tuổi Carbon đến Permi là cơ sở xếp hệ tầng
Trang 23Liên quan các đá vôi hệ tầng Bắc Sơn đã và đang được điều tra, khai thác, sử dụng sản xuất xi măng, vật liệu xây dựng, đá ốp lát, đá trang trí, đá vôi đất đèn, phosphorit Ngoài ra còn tạo ra nhiều hang động đẹp, đầy sức quyến rũ phục vụ cho ngành du lịch
HỆ PERMI, THỐNG THƯỢNG
Hệ tầng Bãi Cháy (P 3bc): mô tả trên cơ sở tầng silic Bãi Cháy
(Quảng Ninh) của Nguyễn Văn Liêm (1967); Nguyễn Quang Hạp (1967) gọi là tầng Phù Lãng; Phạm Văn Quang (1969) lại gọi là điệp Hạ Long Hệ tầng phân bố ở các vùng Bãi Cháy, Hạ Long, Cẩm Phả thành một dải hẹp theo hướng đông bắc-tây nam, kéo dài không liên tục gần 20 km và một diện tích nhỏ ở phía bắc rìa biên giới Việt-Trung Mặt cắt hệ tầng được chia làm 2 phần:
- Phần dưới: dăm kết silic màu xám đen, ròn mịn, đôi chỗ xen mỏng cát bột kết Dày 100-150m
- Phần trên: đá silic màu xám đen xen lớp đá vôi silic Dày 150m
Hệ tầng chứa các hoá thạch: Meekella cf ufensis, Lytonia sp Productus gracisus, Spiriferina cf cambogesnis, Pseudophylipsia cf acuminata, Nankinella sp., Neoendothyra sp., Nodosaria sp
Chiều dày tổng cộng là 250 - 300m
GIỚI MESOZOI
Các trầm tích Mesozoi khá phát triển và phân bố rộng rãi chiếm chủ yếu diện tích của tỉnh Quảng Ninh, bao gồm các hệ tầng Bình Liêu, Nà Khuất, Mẫu Sơn, Hòn Gai, Vân Lãng, Hà Cối; trong đó đáng chú ý là hệ tầng Hòn Gai chứa khoáng sản than đá, có quy mô và trữ lượng lớn
HỆ TRIAS, THỐNG TRUNG, ANISI
Hệ tầng Bình Liêu (T 2abl): do Trần Thanh Tuyền và nnk xác lập
(1992) theo các mặt cắt vùng Bình Liêu (Quảng Ninh) khi đo vẽ nhóm tờ Bình Liêu-Móng Cái tỷ lệ 1/50.000 Trước đó, Dovjikov A E (1965) xếp
Trang 24Hệ tầng Bình Liêu phân bố rộng rãi ở xung quanh huyện Ba Chẽ, Bình Liêu, tạo dải kéo dài không liên tục ở phía bắc Đông Triều về phía đông gần Quang Hanh và dải ở góc tây bắc tỉnh Hệ tầng có thành phần thạch học không đồng nhất ở một số vùng, đặc trưng chủ yếu là trầm tích lục nguyên-các đá nguồn núi lửa và được chia làm 2 phân hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (T2 abl 1)
Phân bố ở vùng Minh Tâm, Ba Chẽ, Đông Ca, Pò Hèn, Co Khang…
Kiểu mặt cắt đặc trưng kiểu trầm tích-phun trào
Mặt cắt lộ ở dọc sông Ba Chẽ từ dưới lên gồm 4 tập:
- Tập 1: đá phiến sét, bột kết phân lớp mỏng đến vừa, xen ít cát kết Dày 200m
- Tập 2: cát kết, cát kết tuf chứa ít hạt cuội thạch anh xen các lớp kẹp bột kết và đá phiến sét phân lớp mỏng Dày 150m
- Tập 3: ryolit porphyr, dacit porphyr xen các thấu kính hay lớp mỏng cuội kết tuf, cát kết tuf Dày 350m
- Tập 4: ryolit porphyr, dacit porphyr xen ít lớp kẹp bột kết và đá phiến sét Dày 300m
Bề dày chung của kiểu mặt cắt này lớn hơn 1000m Trong những lớp thuộc phần cao của phân hệ tầng, ở chân Đèo Tài Phật và vùng Bản Buông
đã tìm thấy hoá thạch Cúc đá tuổi Anisi: Leiophylltes sp., Monophylltes sp., và hoá thạch chân rìu: Modiolus aff Frugi, Mytilus cf gibbus; còn ở vùng Ba Chẽ đã tìm được Modiolus nachamensis, Unionnites cf
elisabethae
Kiểu mặt cắt đặc trưng hoàn toàn trầm tích, không có phun trào
Mặt cắt ở Pò Hèn và Co Khang được chia làm 6 tập:
- Tập 1: cuội kết cơ sở, cuội chủ yếu là thạch anh Dày 30m
- Tập 2: bột kết màu xám, phân lớp trung bình Dày 100m
- Tập 3: cát kết thạch anh chứa cuội, phân lớp dày Dày 40m
- Tập 4: bột kết màu xám, phân lớp trung bình, thỉnh thoảng xen lớp
Trang 25cát thạch anh sáng màu, cát kết dạng quarzit Dày 160m
- Tập 5: xen kẽ đều đặn bột kết màu xám và cát kết sáng màu Dày 210m
- Tập 6: cát kết có chứa lớp cuội, xen ít bột màu xám, chứa hoá
thạch Chân lá nước lợ Estheria và thực vật Thân đốt Equysertites Dày
80m
Tổng chiều dày của kiểu mặt cắt này là 620m
Ở mặt cắt Co Khang-Mộc Pai Tiên cũng chủ yếu là trầm tích lục nguyên, song lượng trầm tích hạt thô ở phần dưới mặt cắt lớn hơn, dày khoảng 200m Trong những lớp cát kết hạt mịn thuộc phần này đã tìm
được hoá thạch Chân rìu thuộc đới ven bờ gồm Mytlus eduliformis
praecursor, Unionites sp., tuổi Anisi cùng động vật Thân đốt Calamites
sp
Phân hệ tầng trên (T2 abl2)
Phân bố thành dải kéo dài từ bắc Minh Cầm đến tây bắc Ba Chẽ Dọc sông Ba Chẽ đã quan sát được những mặt cắt đặc trưng của phân hệ tầng trên, gồm cát kết tuf phân lớp vừa xen bột kết và cát kết phân lớp mỏng, dày 600-1000m Trong bột kết màu nâu ở Lâm Kỳ Thượng, Khe
Lao và Hà Lâu đã tìm thấy hoá thạch Chân rìu tuổi Anisi như: Costatoria
chegarperahensis, C curvirosstris, C aff prohrpa, Gervillia modiolaeformis, G cf mytiloides, Modiolus triqueter, Posidonia cf aequylatera, Neoschizodus ovatus elongatus
Ở vùng Bảo Hèn, Lí Sai đi Pình Hồ, Bình Liêu đi Pa Chim Ái, đặc trưng của hệ tầng lại có các đá phun trào felsic ở phần giữa mặt cắt, gồm:
- Tập 1: cuội tảng núi lửa, cuội kết tuf, cát kết tuf, xen ít thấu kính mỏng ryolit Dày 100m
- Tập 2: ryolit, ryolit porphyr, dacit porphyr, nhiều nơi có quan hệ không gian chặt chẽ với granit phức hệ Núi Điệng Dày 600-800m
- Tập 3: cát kết tuf, bột kết tuf phân lớp dày xen thấu kính tuf và đá
Trang 26phun trào ryolit Dày 150m
- Tập 4: bột kết tuf, đá phiến sét, bột kết, tuf ryolit dạng dải mỏng;
trong bột kết chứa hoá thạch nước lợ Estheria cf hubeiesis, E cf dactylis,
E lepida đã gặp trong Anisi ở nam Trung Quốc Dày 150m
Chiều dày của phân hệ tầng này khoảng 800-1000m
Tổng chiều dày của hệ tầng Bình Liêu có thể đạt tới 2000m
Hệ tầng Bình Liêu nằm không chỉnh hợp trên các đá biến chất yếu của hệ tầng Tấn Mài, nhưng tiếp xúc trực tiếp chưa quan sát được rõ ràng Còn về phía trên, nó chuyển tiếp liên tục lên hệ tầng Nà Khuất thông qua một tập tuf ryolit dạng dải mỏng màu xám sẫm Tuổi hệ tầng được xác định là Anisi dựa vào tập hợp hoá thạch thu thập và vào sự đối sánh với hệ tầng Khôn Làng phân bố ở vùng Lạng Sơn Hai hệ tầng này cùng mức tuổi căn cứ vào cùng chứa hoá thạch và cùng chứa những tập đá dày phun trào felsic, nhưng khác nhau ở chỗ vị trí các lớp phun trào của hệ tầng Khôn Làng ở phần dưới mặt cắt, còn hệ tầng Bình Liêu lại ở phần trên Hoá thạch hệ tầng Khôn Làng thuộc loại biển nông, còn của hệ tầng Bình Liêu thuộc nước lợ ven bờ
Khoáng sản liên quan: có mối liên quan khoáng sản (trực tiếp và
gián tiếp) phong phú và đa dạng bao gồm: kaolin-pyrophylit-sericit (?) là loại hình khá phát triển liên quan các kiểu nguồn gốc: trao đổi nhiệt dịch (quarzit thứ sinh); phong hoá; tái trầm tích Vàng, chì-kẽm, sét gạch ngói, sét xi măng, bazan dùng làm phụ gia xi măng, pyrit, nước khoáng nóng và vật liệu xây dựng (đá xây dựng, cát sỏi)
HỆ TRAS, THỐNG TRUNG
Hệ tầng Nà Khuất (T 2 nk): do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác
lập (1965) với tuổi Ladin-Carni (Trias trung-thượng) theo mặt cắt đặc trưng vùng Nà Khuất (Lạng Sơn) Phân bố ở vùng trung tâm và tây bắc, khu vực núi Hang Chiêng, phần trung và thượng lưu các sông Làng Cổng, sông Đoáng, sông Quanh, dọc sông Ba Chẽ, Dọc theo suối Tia Cát, mặt cắt
Trang 27của hệ tầng có thể chia làm 4 tập:
- Tập 1: sét vôi xám xanh, xám nâu phân lớp mỏng Dày 200m
- Tập 2: bột kết xen cát kết dạng quarzit phân lớp vừa, bột kết màu nâu chứa hoá thạch Chân rìu bảo tồn xấu Dày 400m
- Tập 3: đá vôi sét, sét vôi xen bột kết màu xám tím, phân lớp mỏng
chứa Chân rìu: Trigonodus prapezoidalis Dày 200m
- Tập 4: bột kết xen ít cát kết màu xám tím, tím nâu, phân lớp mỏng Dày 200m
Chiều dày chung của hệ tầng ở mặt cắt trên khoảng 1000m
Mặt cắt của hệ tầng vùng suối Nhân Chi đến Châu Sơn, vùng núi Cao Trai là khá dày, không gặp thành phần vôi xen kẽ và tương tự mặt cắt chuẩn vùng Lạng Sơn, đặc trưng của mặt cắt như sau:
- Tập 1: cát kết màu xám vàng, hạt vừa đến hạt nhỏ, phân lớp trung bình đến dày, ở phần dưới xen ít lớp kẹp đá phiến sét màu xám, phong hoá màu vàng hồng, phần trên đôi chỗ gặp cát kết chứa cuội hạt nhỏ Trong đá
phiến sét ở phần dưới chứa Chân rìu Neoschizodus lavigatus, Bakewellia
modiola tuổi Anisi Dày 285m
- Tập 2: chủ yếu là đá phiến sét màu xám, phong hoá có màu vàng đến hồng, phân lớp mỏng, xen kẽ với các lớp cát kết hạt vừa và bột kết phân lớp trung bình Trong các lớp bột kết chứa hoá thạch Chân rìu
Costatoria submultistriatus tuổi Anisi Dày 505m
- Tập 3: xen kẽ giữa bột kết xám, phong hoá màu vàng, phân lớp trung bình với đá phiến sét và cát kết hạt vừa, hạt nhỏ màu vàng nhạt,
trong đá phiến sét chứa Chân rìu Costatoria chegarperahensis, Trigonodus
trapezoidallis tuổi Landin Dày 700m
- Tập 4: chủ yếu là cát kết và bột kết màu vàng nhạt, xám vàng, phân lớp trung bình đến dày, xen ít lớp đá phiến sét phân lớp mỏng Dày 485m
Mặt cắt của hệ tầng ở vùng sông Ba Chẽ chủ yếu gồm bột kết màu xám lục, xám tím đến nâu, phân lớp mỏng xen ít cát kết; đặc biệt ở phần
Trang 28trên xen ít đá vôi xám đen chứa hoá thạch Tay cuộn Tại phần dưới và giữa của mặt cắt đã tìm thấy hoá thạch Chân rìu tương tự phức hệ hoá thạch tìm
thấy ở mặt cắt suối Tia Cát, nhưng phong phú hơn bao gồm: Trigonodus
sandbergeri, T zhamoidai, T keuperius, T trapezoidalí, Costatoria aff C goldfussi, Myophyriopsis aff M guizhowensis, Modiocnus sp., cùng với
hoá thạch Tay cuộn Holcorhynchia, Mentzelia mentzelii; đặc biệt trong bột
kết ở phần trên cùng của mặt cắt đã tìm thấy hoá thạch Chân lá nước ngọt
Eues theria dazuensis, E lepida (Lê Hùng, 1995), đánh dấu sự chuyển tiếp
của hệ tầng lên trên các trầm tích lục địa màu đỏ của hệ tầng Mẫu Sơn Chiều dày chung của hệ tầng Nà Khuất ở mặt cắt trên ~1000m
Diện tích phân bố hệ tầng khá rộng, song chưa thấy biểu hiện khoáng sản liên quan Duy nhất ở Tinh Húc (Bình Liêu) trong một vết lộ quan sát thấy malachit (đồng) ở dạng vết bám hoặc dạng ổ trong cát kết
HỆ TRIAS, THỐNG THƯỢNG, CARNI
Hệ tầng Mẫu Sơn (T 3cms): do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác
lập (1965) theo mặt cắt vùng núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn) Hệ tầng có diện tích phân bố không nhiều ở góc tây bắc và tây nam vùng, chúng được chuyển tiếp liên tục từ hệ tầng Nà Khuất Đặc trưng của hệ tầng chủ yếu là trầm tích lục địa và ít carbonat ở phần cao, hệ tầng được chia làm 3 phân
hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (T3 c ms 1)
Phân bố thành những dải hẹp thuộc hai cánh của nếp lồi Mẫu Sơn dọc sông Ba Chẽ, ở khe Giám, nam Nà Giác, Na Hát Mặt cắt từ dưới lên gồm:
- Tập 1: cát kết thạch anh, cát kết dạng quarzit màu xám sáng, phân lớp trung bình Dày 250-300m
- Tập 2: bột kết màu xám tím, phân lớp vừa xen cát kết thạch anh sáng màu, phân lớp không đều Dày 150-200m
Chiều dày chung của phân hệ tầng dưới khoảng 400m
Trang 29- Tập 2: cát kết màu xám trắng, hạt nhỏ xen kẽ bột kết Dày 100m
Bề dày chung của phân hệ tầng giữa là 300-400m
- Tâp 2: chủ yếu bột kết màu xám, xám tím xen cát kết phân lớp xiên, màu xám tím, ít sét vôi xám sẫm Dày 300-350m
- Tập 3: bột kết xám tím xen cát kết phân lớp xiên, đôi khi có lớp mỏng thấu kính cuội kết và sạn kết thạch anh Dày 200-300m
Chiều dày chung của phân hệ tầng trên là 800-950m
Hệ tầng Mẫu Sơn nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Nà Khuất và khá đặc trưng là trầm tích lục địa màu đỏ; các trầm tích trên được đối sánh với hệ tầng chuẩn ở khu vực núi Mẫu Sơn (Lạng Sơn), nên xếp vào Trias thượng, Carni
HỆ TRIAS, THỐNG THƯỢNG, NORI-RET
Đây là địa tầng chứa than đá, từ lâu đã được nhiều nhà địa chất chú
ý tới Thuộc phạm vi tỉnh Quảng Ninh có 2 địa tầng chứa than, đó là:
a Hệ tầng Hòn Gai (T 3n-rhg): do Pavlov xác lập (1965) để mô tả tầng
chứa than đá vùng Quảng Ninh Hệ tầng phân bố rộng rãi ở vùng Hòn Cẩm Phả, đảo Cái Bầu và vùng Hoành Bồ Đây là hệ tầng chứa than đá có tiềm năng, quy mô và trữ lượng lớn cung cấp nguồn nguyên liệu than chủ
Trang 30Gai-yếu của nước ta, than ở đây thuộc loại antracit có chất lượng tốt, đã được khai thác từ thế kỷ XIX Dựa vào mức độ chứa than, hệ tầng Hòn Gai chia làm 2 phân hệ tầng:
- Tập 1: cuội kết, sạn kết thạch anh xen cát kết Dày 140m
- Tập 2: cuội kết, sạn kết thạch anh xen cát kết, ít bột kết Dày 420m
- Tập 3: ở đảo Cái Bầu, gồm cát kết thạch anh Dày 100m
- Tâp 4: cát kết xen cuội kết, sạn kết thạch anh, đá phiến sét, sét than Dày 280m
- Tập 5: cát kết thạch anh phân lớp xiên xen kẽ đều đặn với bột kết,
đá phiến sét màu xám đen, các vỉa than công nghiệp, chứa hoá thạch thực vật Dày 230m
- Tập 6: cát kết thạch anh xen lẫn vỉa than công nghiệp Dày 120m
- Tập 7: bột kết, đá phiến sét, sét than xen các vỉa than công nghiệp, chứa nhiều loại hoá thạch thực vật Dày 100m
- Tập 8: cát kết thạch anh xen các thấu kính cuội, sạn kết và các vỉa
than công nghiệp Dày 100m
- Tập 9: bột kết, đá phiến sét và sét than xen cát kết thạch anh, các
vỉa than công nghiệp Dày 180m
- Tập 10: cuội và sạn kết thạch anh Dày 50m
- Tập 11: cuội kết, sạn kết thạch anh xen sét than, các vỉa than Dày
200m
- Tập 12: cát kết thạch anh, bột kết Dày 80m
- Tập 13: cuội kết, sạn kết thạch anh xen sét than và các vỉa than
Trang 31Dày 140m
- Tập 14: bột kết, đá phiến sét, sét than xen cuội kết, sạn kết thạch anh và các vỉa than Dày 140m
- Tập 15: cuội kết, sạn kết thạch anh xen bột kết, đá phiến sét và sét
than, các vỉa than công nghiệp, chứa phong phú hoá thạch thực vật Dày 220m
Ở vùng Cái Bầu, các tập từ 4 đến 9 và tập 15 chứa phong phú các
loài thực vật chủ yếu sau: Glossopteris indica, Dictyophyllum nathorstii,
Clathopteris; ở vùng Ngã Hai, các tập 4 và 5 chứa thực vật Taeniopterris spatulata, Baera gulhaumati, B gracilis, Protoblechnum hongaiyicum, Pecopteris tonquynensis, Neocalamiteshoerensis; còn ở Khe Chàm, Khe
Mài, ngoài các loài trên còn gặp Cycadocarpindium erdmani, Taeniopteris
hongayica, Macrotaeniopteris sp đi cùng với ít hoá thạch động vật nước
lợ, nước ngọt như Estheria sp Discinidae
Chiều dày chung của phân hệ tầng dưới khoảng 1500-1700m
Phân hệ tầng trên (T 3 n-rhg 2 )
Phân bố ở vùng Vịnh Cuốc Bê, Bàng Nâu và đảo Cái Bầu, bao gồm chủ yếu các trầm tích hạt thô, mặt cắt đặc trưng lộ ở dọc suối Lại, gồm 3 tập:
- Tập 1: cuội kết thạch anh màu xám sáng Dày 100m
- Tập 2: cuội kết xen cát kết thạch anh màu xám sáng và bột kết màu xám đen chứa ổ sét than nhỏ, dày 350m
- Tập 3: cuội kết thạch anh xen ít lớp cát kết thạch anh sáng màu Dày 150m
Chiều dày chung của phân hệ tầng trên là 600 - 700m
Các ranh giới dưới và trên của hệ tầng chưa quan sát được Còn về hoá thạch thực vật đã tìm thấy trong hệ tầng từ lâu đã quen biết dưới cái
tên gọi là “Thực vật Hòn Gai” hoặc “Hệ thực vật
Dictyophyllum-Clathopteris” có tuổi Nori-Ret
Trang 32Khoáng sản liên quan: chủ yếu là than đá, ngoài ra còn có đá phiến
sét chịu lửa và sét gạch ngói
b Hệ tầng Vân Lãng (T 3n-rvl): do Tạ Hoàng Tinh, Phạm Đình Long xác
lập (1966) theo mặt cắt vùng Vân Lãng (Thái Nguyên) Hệ tầng chỉ phân
bố ở phía tây và lộ với diện tích nhỏ vùng Na Min, Động Thắm mặt cắt
hệ tầng được chia làm hai phân hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (T3n-r vl 1),
- Tập 1: bột kết xen cát kết mầu nâu đỏ, xám lục nhạt, phân dải mờ,
xen ít cát kết dạng quarzit xám sáng Dày 300m
- Tập 2: cát kết dạng quarzit màu xám xen cuội kết, sạn kết thạch
anh, đôi khi xen lớp mỏng silic màu xám đen Dày 300-350m
- Tập 3: cát kết dạng quarzit xen đá phiến sét và sét than xám đen,
bột kết vôi màu xám sẫm Dày 150m
Chiều dày của phân hệ tầng dưới là 1600-1700m
Phân hệ tầng trên (T2 n-rvl 2)
- Tập 1: cát bột kết màu xám tím xen cát kết dạng quarzit màu đỏ
nhạt Dày 800-900m
- Tập 2: bột kết màu đỏ xen kẽ đều đặn với cát kết màu xám tím nhạt
chứa nhiều kết hạch vôi Dày 830m
Chiều dày chung của phân hệ tầng trên khoảng 800m
Hệ tầng Vân Lãng nằm không chỉnh hợp trên các trầm tích Trias cổ hơn Trong vùng chưa tìm thấy hoá thạch, song ở các mặt cắt đặc trưng của
hệ tầng thuộc vùng An Châu và Thái Nguyên đã tìm thấy phong phú hoá thạch động vật và thực vật tuổi Nori-Ret, tương tự các phức hệ hoá thạch thu thập ở hệ tầng Hòn Gai, song không phong phú như vùng Hòn Gai Đây là tầng chứa than đá tương tự hệ tầng Hòn Gai, đặc trưng cho đới An Châu, tại một số tỉnh Thái Nguyên, Bắc Giang, Yên Bái đã điều tra và khai thác than trong hệ tầng này Tuy nhiên thuộc phạm vi tỉnh Quảng Ninh, hệ tầng Vân Lãng có diện lộ ít, đến nay chưa phát hiện được điểm
Trang 33quặng than đá nào
HỆ JURA, THỐNG HẠ-TRUNG
Hệ tầng Hà Cối (J 1-2hc): do Jamoida A và Phạm Văn Quang xác
lập (1965) theo mặt cắt vùng Hà Cối (Quảng Ninh) Đặc trưng trầm tích của hệ tầng là lục địa màu đỏ hạt thô, có thế nằm thoải, phân bố thành các dải hẹp kéo từ Tiên Yên đến Vạn Hoa, từ Khe Tân đến núi Khe Thai, vùng núi Khe Cầm và tạo thành dải dọc đồi núi thấp sát trên bờ biển và ở một số đảo Cái Chiên, đảo Cái Bầu và đảo Vĩnh Thực; ngoài ra còn lộ ở bắc và tây bắc tỉnh với diện lộ nhỏ tạo dải nhỏ và mở rộng về phía Lạng Sơn Hệ tầng được chia 2 phân hệ tầng:
Phân hệ tầng dưới (J1-2hc 1)
Mặt cắt theo đường ôtô Tấn Mài-Hà Cối gồm 4 tập:
- Tập 1: cuội kết thạch anh, dày 50m, phủ không chỉnh hợp trên trầm tích Ordovic-Silur thuộc hệ tầng Tấn Mài
- Tập 2: cát kết thạch anh xen cát kết dạng quarzit xám sáng Dày 200m
- Tập 3: bột kết màu nâu đỏ, nâu tím chứa vật chất than Dày 25m
- Tập 4: cát kết thạch anh xen cát kết quarzit chứa vôi màu xám trắng, nâu nhạt, chứa hoá thạch Chana bụng bảo tồn kém, xen ít lớp bột kết màu nâu đỏ, nâu tím Chiều dày 110m
Chiều dày chung phân hệ tầng dưới là 300-750m
Tại Dương Hào, Cái Lân, cát kết thường có cấu tạo phân lớp xiên chéo và xen các thấu kính cuội kết thạch anh: ở Thác Than có các thấu kính sét than và than antracit; ở Tòng Liêu có xen thấu kính sét vôi, vôi sét Trong thấu kính sét than ở Thác Than tìm thấy hoá thạch thực vật
Amonozamites sp., Equysetum sp (Nguyễn Tri Vát, 1969) Trong cát kết ở
tây bắc Khe Thiu đã tìm thấy hoá thạch Chân rìu nước ngọt Tutuella cf
kui, T cf nuculiformis
Phân hệ tầng trên (J1-2hc )
Trang 34Phân bố rộng rãi ở các vùng Khe Nong, Đông Quý, Mông Dương, Bản Lự, thượng nguồn sông Kéo May, Khau Phéo, Móng Cái, Nà Quan, đảo Cái Bàu Mặt cắt theo đường ô tô Móng Cái-Hà Cối gồm 6 tập:
- Tập 1: bột kết màu nâu tím, nâu đỏ xen kẽ đều đặn với cát kết hạt nhỏ cùng ít thấu kính đá vôi màu vàng lục nhạt Dày 120m
- Tập 2: bột kết màu nâu đỏ đôi khi loang lổ xen ít cát kết hạt nhỏ màu xám nhạt phân lớp xiên chéo Dày 150m
- Tập 3: bột kết phân lớp xiên xen kẽ cát kết màu hồng nhạt Dày 120m
- Tập 4: bột kết màu nâu đỏ, tím xen cát kết Dày 160m
Phần trên của mặt cắt tiếp tục ở sông Vang Ma, từ bản Rộng đến bản Rộc:
- Tập 5: cát kết, cát kết dạng quarzit màu nâu nhạt, xám sáng, chứa kết hạch vôi, xen ít bột kết màu nâu tím Dày 116m
- Tập 6: bột kết màu nâu đỏ xen ít cát kết hạt nhỏ Dày 190m
Chiều dày của phân hệ tầng trên 700-850m
Tổng chiều dày của hệ tầng này là 1000-1600m
Hệ tầng Hà Cối phủ không chỉnh hợp trên nhiều hệ tầng cổ hơn Dựa
vào hoá thạch thực vật Coniopteris sp dạng Jura sớm tìm thấy trong phần
dưới mặt cắt ở vùng gần Đầm Hà, do đó, hệ tầng được xếp vào Jura trung
hạ-Khoáng sản liên quan: có cát kết xây dựng (cát kết thạch anh, cát kết
dạng quarzit), than đá (chỉ có ý nghĩa địa tầng, về mặt khoáng sản không có triển vọng), sét gạch ngói (nguồn gốc phong hoá), ngoài ra, một số nơi gặp
quặng sắt lăn (deluvi) với diện nhỏ
GIỚI KAINOZOI
HỆ NEOGEN, MIOCEN THƯỢNG
Hệ tầng Đồng Ho (N 1 đh): do Phạm Văn Quang thành lập theo các
mặt cắt vùng Đồng Ho (Quảng Ninh) Hệ tầng phân bố ở khu vực sông Cái
Trang 35phía nam dải núi Nương Chén kéo dài hơn chục km theo hướng đông-tây, rộng 1-5 km, phủ không chỉnh hợp trên hệ tầng Hòn Gai Theo mô tả của Trần Đình Nhân và Trịnh Dánh tại suối Đồng Ho và đường Trới-Bang Bê,
hệ tầng gồm 6 tập:
- Tập 1: cuội kết có thành phần hỗn tạp, kích thước 3-12cm, độ mài
tròn tốt; xi măng là sỏi, cát, sét ngậm oxyt sắt Dày 25-130m
- Tập 2: sạn kết thạch anh xen cát kết, sét kết Dày 10-100m
- Tập 3: bột kết xen đá phiến sét thấm dầu, phân lớp mỏng, có nhiều
hoá thạch thực vật lá: Quercus nerifolia cf lobbii, Dryophyllum
yunnanense, Castanea crenata Dày 20-70m
- Tập 4: cát kết hạt vừa, màu xám, chứa thực vật bảo tồn xấu Dày 8m
- Tập 5: cát kết thạch anh hạt nhỏ, ít lớp mỏng cuội kết, sạn kết Dày 8m
- Tập 6: sét kết xen thấu kính cuội kết, sạn kết, cát kết chứa Bào tử
phấn hoa: Gleichenia sp., Quercus sp., Liquydambar sp., và vết in lá:
Pecopteris totangensis, Magunollia janschinii, Laurus nobilis Dày
60-70m
Chiều dày chung hệ tầng là 150m
Tập hợp hoá thạch trên, theo Trịnh Dánh thuộc phức hệ Quercus cf
lobbii -Artocarpus là thực vật cận nhiệt đới nhiệt độ ẩm tuổi Miocen
muộn Do đó, hệ tầng xếp vào Miocen thượng
Khoáng sản liên quan: sét gốm sứ, sét gạch ngói, sét xi măng liên
quan trực tiếp các đá hệ tầng phong hoá tại chỗ hoặc tái trầm tích và đây là khoáng sản chủ yếu có chất lượng tốt, quy mô và trữ lượng lớn, đáng được chú ý trong việc quy hoạch điều tra, đánh giá tiềm năng và khai thác cho hiện tại và trong tương lai và đá dầu
HỆ NEOGEN, PLIOCEN
Hệ tầng Tiêu Giao (N tg): do Trần Đình Nhân và Trịnh Dánh xác
Trang 36lập để mô tả mặt cắt đặc trưng của Pliocen vùng Tiêu Giao, Giếng Đáy
Trới, Cây Quẹo, nằm chuyển tiếp lên hệ tầng Đồng Ho Mặt cắt quan sát ở khu vực Tiêu Giao, Giếng Đáy gồm 2 tập:
- Tập 1: cát kết, bột kết, sét kết xen nhau nhịp nhàng, mỗi nhịp dày
0,2-0,5m Trong bột kết có vết in lá: Cinamomum polymorphum, Quercus
neriifolia, Q.lantenoisi, Castanopsis sp., Phragmites oeningensis và di tích
Thân mềm Tulotoma sp., Viviparus cf margaryaeformis Dày 15-20m
- Tập 2: cuội kết, sạn kết, cát kết thạch anh, ít sét kết; cát kết có cấu tạo phân lớp xiên, chứa di tích thuộc phức hệ thực vật rừng cận nhiệt đới
ôn hoà Dày 100-180m
Chiều dày của hệ tầng 20-200m
Hệ tầng Tiêu Giao nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Đồng Ho Hoá thạch
thực vật theo Trịnh Dánh xác định thuộc phức hệ phragmites
oeningensis-Quercus nerifolia tuổi Pliocen nên hệ tầng được xếp vào Pliocen
HỆ ĐỆ TỨ PLEISTOCEN TRUNG - THƯỢNG
a Trầm tích Pleistocen trung-thượng (Q 1 2-3 )
phân bố hạn chế thành dải hẹp ở vùng Đông Triều, Uông Bí, ven rìa phía bắc đồng bằng Bắc Bộ, thành phần chủ yếu là cuội, tảng, cát, sét, kích thước cuội, tảng từ vài cm đến vài chục cm Hệ tầng phủ không chỉnh hợp trên các đá gốc có tuổi khác nhau
Mặt cắt tại Hạ Lôi (phía bắc Đông Triều 2 km) được mô tả như sau:
- Phần dưới: cuội, sỏi, dăm thạch anh sắc cạnh; kích thước sỏi 2cm, phủ lên các trầm tích hệ tầng Hòn Gai Dày 2m
0,2 Phần trên: cát bột màu vàng, cát có thành phần chủ yếu là thạch anh Dày 1-1,5m
Ở thung lũng Bình Liêu, Hoành Mô chúng phân bố dưới dạng các
Trang 37bậc thềm sông lũ bậc II với độ cao 10-25m Thành phần gồm cuội, sạn, cát, sét Các tảng cuội có màu nâu vàng loang lổ, kích thước từ 5-10cm đến 20-30cm, chủ yếu là đá ryolit bị phong hoá bóc vỏ, có tảng bở vụn thành sét màu vàng, nâu, đỏ Trên lớp cuội tảng là cát, sét Dày 3-8m
b Trầm tích Pleistocen thượng (Q 1 )
Trầm tích phân bố hạn chế ở một số vùng: Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ, Tiên Yên, vùng đáy biển phía đông và đông nam đảo Cô Tô Dựa đặc điểm thạch học, quy luật phân bố, trầm tích này có các nguồn gốc sau:
một số nơi ở vùng Đông Triều, Uông Bí, Hoành Bồ với diện tích nhỏ, có thành phần gồm phần dưới chủ yếu là cát, sạn, sỏi và phần trên là bột sét, ít cát, đôi nơi bị phong hoá có màu loang lổ Dày 2-4m
- Trầm tích Pleistocen thượng, nguồn gốc biển (mQ13)
+ Ở vùng đất liền: phân bố thành dải nhỏ không liên tục ở ven rìa đồng bằng Bắc Bộ từ Đông Triều đến Uông Bí, và lộ rải rác ở nam Đồng Rui, huyện Tiên Yên, ven phía nam đảo Cái Bầu, trên bề mặt địa hình cao 5-17m đến 20m Thành phần dưới cùng là cát, cuội, sỏi nhỏ đa khoáng,
dày 3-4m, chứa Trùng lỗ: Quyqueloculina, Cibicites, Igmoilina, .phần
trên là bột, cát, sét màu vàng loang lổ bị laterit hoá Dày 6-10m
Ở khu vực Hà Cối, diện lộ nhỏ trên các thềm có độ cao 10-15m, thành phần từ dưới lên gồm: cuội, sỏi, cát, sét, bột bị laterit hoá yếu Dày 3-8m
+ Ở vùng đáy biển: phân bố hạn chế, theo kết quả điều tra địa chất biển tỷ lệ 1/500.000 vùng Quảng Ninh, ở khu vực đáy biển có độ sâu ngoài 25-30m so với mặt nước biển, ở phía đông đảo Lò Chúc San và đông, đông nam đảo Cô Tô, phân bố xen kẽ với các trầm tích biển, biển-đầm lầy Holocen hạ-trung có dạng da báo, có thành phần phía dưới là cát mịn hạt trung chuyển lên là các lớp sét bột xen cát màu xám xanh và trên cùng là
Trang 38sét bột phong hoá màu vàng loang lổ, đôi chỗ chứa vón kết laterit là bột, sét, bột sét, sét bùn, ít cát Dày 5-30m Chứa phong phú Trùng lỗ môi
trường biển nông Ammonia annecten, Aphissstegina sp Elphidilum sp.,
Psendorotania sp
c Trầm tích Holocen hạ-trung (Q 2 1-2 )
Phân bố khá rộng rãi ở thung lũng sông và đồng bằng hẹp giữa núi
ở các vùng Đông Triều, Uông Bí, Hà Cối, Ka Long …và ở vùng đáy biển thuộc Hải Phòng có độ sâu 20-25m so với mặt nước biển, có diện phân bố khá rộng và là trầm tích chủ yếu ở vùng biển Quảng Ninh; theo đặc điểm trầm tích, quy luật phân bố, tài liệu cổ sinh; trầm tích Holocen hạ-trung có nguồn gốc sau:
- Trầm tích Holocen hạ-trung, nguồn gốc sông (aQ21-2): phân bố dọc thung lũng các sông: Tiên Yên, Hà Cối, Ka Long…dưới dạng các bãi bồi tích tụ, quy mô hẹp, thành phần gồm cát, cuội, sạn thạch anh, cuội có độ mài tròn tốt, trên cùng là cát, sét màu xám Dày 1-2m
trên đất liền và ở đáy biển:
+ Ở trên đất liền: phân bố dọc bờ biển từ Tiên Yên đến Móng Cái dưới dạng thềm biển có độ cao từ 4-5m với những bề mặt khá bằng phẳng như ở đông bắc Hà Cối, Đoan Linh, Văn Ninh, ở vịnh Cuốc Bê và diện nhỏ ở Đông Triều Mặt cắt từ dưới lên là lớp cát cuội hạt nhỏ, dày 0,5m chuyển lên là cát sạn, sét có vỏ sò hến, dày 1,2m Chiều dày chung 1,5-2m
+ Ở đáy biển: tạo dải kéo dài từ đảo Lò Chúc San qua đảo Cô Tô xuống khu vực biển thuộc Hải Phòng, ở độ sâu 20-25m nước, có cát bùn, sạn cát màu xám đến xám xanh, giàu vụn sinh vật, vi cổ sinh, phía trên là bùn cát có thành phần là cát sạn bùn, màu trắng xám, cát bùn sét màu xám xanh Ở quanh khu vực đảo Cô Tô, cát có độ chọn lọc trung bình,
dày 5-40m, chứa phong phú Trùng lỗ tuổi Holocen sớm giữa Ammonica
annectens elphidium sp., Bigenneria sp., Quynqueloculina sp Các trầm
Trang 39tích này phủ trên bề mặt bào mòn trầm tích sét, bột loang lổ nguồn gốc biển thuộc Pleistocen muộn
chỉ phân bố ở đáy biển với 2 diện lộ nhỏ ở nam đảo Cô Tô, nằm xen kẽ với các trầm tích nguồn gốc biển cùng tuổi trên bề mặt đáy biển, tạo nên dạng
da báo, có thành phần bùn cát, bùn sét màu xám tối chứa mùn thực vật, bã hữu cơ màu nâu đen Trong các ống phóng trọng lực gặp trầm tích có cấu tạo phân dải, giàu di tích Thân mềm, Trùng lỗ, Tảo silic, dày 5-10m; chúng nằm xen trong mặt cắt hoặc nằm trên bề mặt trầm tích cùng tuổi nguồn gốc biển
d Trầm tích Holocen thượng (Q 2 )
Phân bố khá rộng rãi ở ven biển gần sát mép nước biển, phần thấp nhất của các thung lũng sông, vùng cửa sông-ven biển có độ cao 0-2m và vùng biển ven bờ ở độ sâu 0-10m nước so với mặt nước biển, có nguồn gốc:
- Trầm tích Holocen thượng, nguồn gốc sông (aQ23): phân bố ở các sông Cái Xương, Tiên Yên, Hà Cối, Ka Long,… dưới dạng các bãi bồi thấp ven bờ hoặc giữa lòng, thành phần chủ yếu là cuội, sạn, cát, sét Ở các bãi bồi thành phần chủ yếu là sét, bột màu nâu, nâu gụ có thể sản xuất sét gạch ngói chất lượng tốt Dày 0,5-2m
- Trầm tích Holocen thượng, nguồn gốc biển (mQ23): phân bố cả trên đất liền, ven rìa một số đảo và vùng đáy biển nông:
+ Ở đất liền: phân bố dọc bờ biển, thường là các bãi, cồn cát dọc theo bãi biển hiện nay chạy song song với đường bờ, khi nước triều lên thì
bị ngập và lộ ra khi nước triều xuống, thực vật ngập mặn phát triển mạnh
mẽ, có thành phần cát hạt mịn-trung bình, màu xám, thạch anh chiếm 80%, felspat và muscovit 10-20%, các khoáng vật khác 10-30% Dày 0,5-4m
60-+ Ở đáy biển: phân bố ven rìa một số đảo và vùng biển nông có độ
Trang 40sâu 0-10m song song với đường bờ, có thành phần là bùn cát, bùn sét màu xám xanh, cát thông thường là đa khoáng, chứa vỏ sò thân mềm, trùng lỗ Ammonia japonica, Ammonia, Quynqueloculina ablonga… Diatome Cyclotetla stylorum, Paralia sulcata, …tuổi Holocen muộn
bố chủ yếu ở các cửa sông, suối đổ ra biển từ Tiên Yên tới Móng Cái, tạo nên các bãi lầy ở độ cao địa hình 0-2m Thành phần gồm cát, bột, sét màu xám, xám sẫm lẫn nhiều mùn thực vật (ở nơi ít bị ngập nước), hoặc bùn cát, cát bùn, bùn sét màu xám, xám tối, giàu thực vật và rễ cây, thân cây bị phân huỷ kém Chứa hoá thạch bào tử phấn hoa thực vật ngập mặn Polydium sp., Morus sp., Cyathea sp., Rhizophra sp., Someratia, tuổi Holocen muộn Dày 1-5m
Khoáng sản liên quan của các thành tạo trầm tích bở rời tuổi Đệ tứ: nhìn chung khá phong phú và đa dạng, thuộc các loại hình vật liệu xây dựng, khoáng chất công nghiệp được phát hiện ở nhiều nơi, có mức độ quy
mô từ nhỏ đến lớn, cụ thể là sét gạch ngói, đôi nơi tầng sét này còn đạt tiêu chuẩn sét gốm sứ, sét phụ gia xi măng, cuội, cát, sỏi xây dựng, cát thuỷ tinh
e Các trầm tích Đệ tứ không phân chia
- Trầm tích Đệ tứ không phân chia, nguồn gốc sông-lũ (apQ): có
diện lộ rất ít thường phân bố chủ yếu ở một số thung lũng giữa núi (phía bắc Đông Triều, Hoành Bồ, Mai Lộc, Nà Mùng ), ranh giới địa hình một
số dải núi thấp (phần đá gốc và đệ tứ) ở phía bắc đồng bằng Bắc Bộ Thành phần trầm tích gồm cuội, cát, sỏi, bột sét Thành phần mặt cắt phụ thuộc từng nơi và nguồn cung cấp vật liệu; độ phân lớp kém, độ dày từ 1m đến vài mét
- Trầm tích Đệ tứ không phân chia, nguồn gốc sườn-lũ tích (edQ):
có diện lộ rất ít, phân bố ở một số nơi như sườn thung lũng sông Cấm vùng Đông Triều và sườn địa hình các trầm tích sông-lũ có đặc điểm tương tự