Trong số các điểm di sản có thể khai thác phục vụ du lịch trong Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn - Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, ba điểm LS-1: Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây
Trang 1See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/345055308
Các điểm di sản liên quan đến san hô bán hóa thạch trên cụm đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi “Heritage sites related to semi-fossil corals in the group of Lý Sơn islands, Quảng Ngãi pro
Article in The Journal of Geology · June 2020
CITATIONS
0
READS 68
6 authors, including:
Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
Coastal pollution in the Viet Nam View project
Vietnam national Coral protection policy View project
Phan Dong Pha
Institute of Marine Geology and Geophysics-Vietnam Academy of Science and Tec…
67PUBLICATIONS 76CITATIONS
SEE PROFILE
Tran Duc Thanh Institute of Marine Environment and Resource
405PUBLICATIONS 966CITATIONS SEE PROFILE
Trang 2Tạp chí ĐỊA CHẤT, loạt A, số 369-370/2019, tr 32-42
Các điểm di sản liên quan đến san hô bán hóa thạch
trên cụm đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
1Viện Nghiên cứu Cổ sinh; 2Viện Tài nguyên Môi trường Biển - Viện Hàn lâm KH&CNVN; 3Viện Khoa
học Địa chất và Khoáng sản; 4Viện Địa chất và Địa vật lý biển - Viện Hàn lâm KH&CNVN;
5Liên đoàn Địa chất và Khoáng sản biển, Tổng cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam
Tác giả liên hệ: tahoaphuong@gmail.com
Ngày nhận bài: 01/3/2020
Ngày chấp nhận đăng:
05/6/2020
Quảng Ngãi, thềm mài mòn,
microatoll, san hô
Tóm tắt: Lý Sơn là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng Ngãi, gồm Đảo
Lớn còn được gọi là Cù Lao Ré, Đảo Bé ở phía bắc Đảo Lớn, còn được gọi là Cù Lao Bờ Bãi và hòn Mù Cu ở phía đông của Đảo Lớn
Huyện đảo nằm ở phía đông bắc của tỉnh, cách đất liền khoảng 15 hải lý Đây là cụm đảo được hình thành do hoạt động núi lửa trẻ, với những di tích còn lại là những ngọn núi lửa có tuổi Neogen-Đệ tứ với cảnh quan tuyệt đẹp Trong số các điểm di sản có thể khai thác phục
vụ du lịch trong Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn - Sa Huỳnh thuộc tỉnh Quảng Ngãi, ba điểm LS-1: Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây cầu tàu An Bình, Đảo Bé; LS-2: Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía bắc xã An Vĩnh, Đảo Lớn; và LS-3: Di sản San hô khổng lồ dạng cối xay (microatoll), xã An Hải, phía đông bắc Đảo Lớn là những điểm di sản liên quan đến san hô bán hóa thạch Chúng có giá trị đặc biệt về khoa học, đào tạo và thẩm mỹ, là những điểm di sản hiếm có
ở Việt Nam, góp phần làm tăng giá trị đa dạng sản phẩm du lịch của cụm đảo vốn có nhiều di sản núi lửa nổi tiếng của Miền Trung Riêng tại điểm di sản LS-3 cần có kế hoạch bảo tồn tốt các mẫu vật và sớm triển khai phục dựng một cảnh quan microatoll bên bãi biển trên cơ
sở những sưu tập mẫu vật hiện có Đó sẽ là một điểm nhấn du lịch đặc sắc của Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn-Sa Huỳnh trong tương lai không xa.
1 Mở đầu
Lý Sơn là một huyện đảo thuộc tỉnh Quảng
Ngãi, gồm Đảo Lớn còn được gọi là cù lao Ré,
Đảo Bé ở phía bắc Đảo Lớn, còn được gọi là
cù lao Bờ Bãi và hòn Mù Cu ở phía đông của
Đảo Lớn (Hình 1) Huyện đảo nằm ở phía đông
bắc tỉnh, cách đất liền khoảng 15 hải lý Đây là
cụm đảo được hình thành do hoạt động núi lửa
trẻ, với những di tích còn lại của những ngọn
núi lửa có tuổi Neogen-Đệ tứ với cảnh quan
tuyệt đẹp Trên Đảo Lớn có di tích của 5 ngọn
núi lửa khá rõ Trên Đảo Bé, nguồn nước ngầm
gần như không có, nên phải sử dụng nước mưa
và những nguồn nước tự tạo
Ngoài những điểm địa di sản (geosite) liên
quan đến hoạt động núi lửa đã được giới thiệu trong một số bài báo (Nam, 2018; Nam và nnk, 2018) thu hút sự chú ý của du khách đến với huyện đảo này, trên các đảo Lý Sơn còn có nhiều di sản văn hóa và các điểm địa di sản khác Chúng góp phần làm nên giá trị địa chất, địa mạo và văn hóa độc đáo, phong phú, là cơ
sở để tỉnh Quảng Ngãi xây dựng hồ sơ di sản,
đề nghị UNESCO xét công nhận Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn - Sa Huỳnh, hướng tới mục tiêu xây dựng mô hình phát triển kinh
tế bền vững, bảo vệ môi trường, cảnh quan và
đa dạng sinh học
Trang 3Hình 1 Sơ đồ vị trí 3 điểm địa di sản LS-1 LS-2 và L-S 3 trên cụm đảo Lý Sơn
Theo Thông tư 50/2017/TT-BTNMT ban
hành ngày 30-11-2017 của Bộ Tài nguyên và
Môi trường quy định nội dung công tác điều
tra, đánh giá di sản địa chất, công viên địa chất;
các địa di sản được phân loại thành các kiểu
sau đây:
a) Di sản cổ sinh (ký hiệu Kiểu A) là một
điểm hoặc tập hợp điểm trong tự nhiên, chứa
một hoặc nhiều loại hóa thạch đặc trưng có giá
trị định tuổi, chỉ thị cho điều kiện cổ môi
trường tại một khu vực và là kết quả của một
giai đoạn lịch sử địa chất khu vực;
b) Di sản địa mạo (ký hiệu Kiểu B) là cảnh
quan địa mạo (ký hiệu Kiểu B1) hoặc hang động
(ký hiệu Kiểu B2) có giá trị thẩm mỹ đặc sắc,
độc đáo và thể hiện lịch sử địa chất khu vực;
c) Di sản cổ môi trường (ký hiệu Kiểu C) là
một điểm hoặc tập hợp điểm lộ địa chất chứa
những dấu tích rõ ràng, đặc trưng về môi trường
thành tạo đá trong lịch sử địa chất khu vực;
d) Di sản đá (ký hiệu Kiểu D) là một hoặc
tập hợp điểm lộ địa chất thể hiện các thành tạo
đá đặc trưng cho một giai đoạn lịch sử địa chất
khu vực;
đ) Di sản địa tầng (ký hiệu Kiểu E) là một
điểm lộ hoặc tập hợp điểm lộ địa chất hoặc mặt
cắt địa chất thể hiện đặc điểm, trật tự, ranh giới
của một hoặc nhiều phân vị địa tầng;
e) Di sản khoáng vật, khoáng sản (ký hiệu Kiểu F) là một điểm lộ hoặc tập hợp điểm lộ địa chất có khoáng vật hoặc khoáng sản đặc trưng về thành phần, nguồn gốc và điều kiện thành tạo;
g) Di sản kinh tế địa chất (ký hiệu Kiểu H)
là mỏ khoáng sản đã dừng khai thác có cảnh quan đẹp, đặc trưng về quy mô, thành phần quặng, đá và lưu giữ đầy đủ các tư liệu lịch sử
về hoạt động, phát triển mỏ khoáng sản; h) Di sản kiến tạo (ký hiệu Kiểu I) là một điểm lộ hoặc tập hợp điểm lộ địa chất thể hiện
rõ các dấu tích cấu trúc kiến tạo, dấu tích dịch chuyển tương đối của một hoặc nhiều quá trình chuyển động kiến tạo khu vực;
i) Di sản vũ trụ (ký hiệu Kiểu K) là khu vực còn lưu giữ các sản phẩm, dấu tích thiên thạch hoặc dấu tích các va đập có nguồn gốc vũ trụ; k) Di sản lục địa, đại dương (ký hiệu Kiểu L) là khu vực lưu giữ dấu tích những biến động lớn liên quan đến hình thành, biến đổi vỏ lục địa và đại dương
Bài báo này sẽ tập trung nghiên cứu 3 điểm địa
di sản liên quan đến san hô bán hóa thạch trên cụm đảo Lý Sơn gồm: (1) LS-1 - Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây cầu tàu An Bình,
Đảo Bé (Di sản hỗn hợp, gồm các kiểu A, B, C; (2) LS-2 - Thềm mài mòn trên đá bãi biển ở
bờ bắc Đảo Lớn, phía bắc xã An Vĩnh (Di sản
Trang 4hỗn hợp, gồm các kiểu A, B, C); và (3) LS-3 -
Di sản San hô khổng lồ dạng cối xay ở đông
bắc Đảo Lớn, xã An Hải (Di sản thuộc kiếu A)
(Hình 1)
2 Cơ sở tài liệu và phương pháp nghiên
cứu
Các nội dung trình bày trong bài báo này
là kết quả nghiên cứu khảo sát của nhóm tác
giả trong 2 mùa thực địa năm 2018 và 2019,
trong khuôn khổ dự án nghiên cứu xác lập
Hồ sơ di sản Lý Sơn - Sa Huỳnh của Viện
Khoa học Địa chất và Khoáng sản Ngoài các
quan sát thực địa, nhóm tác giả đã lấy hơn 30
mẫu trầm tích và san hô phục vụ nghiên cứu
thành phần trầm tích và thành phần giống
loài của các quần thể san hô bán hóa thạch
trong vùng nghiên cứu
Để hoàn thiện bài báo, ngoài phương pháp
phân tích địa mạo (đo đạc kích thước các bãi
đá trầm tích bãi biển, độ cao/sâu phân bố của
chúng so với đới triều hiện đại) được sử dụng
để làm sáng tỏ quá trình phát triển thềm mài
mòn liên quan đến trầm tích bãi biển, các
mẫu san hô đã được thu thập và được phân
tích theo phương pháp nghiên cứu san hô để
xác định thành phần giống loài cho những
quần thể san hô tiêu biểu được thu thập tại
các điểm di sản Kết quả xác định sơ bộ ngoài
thực địa cho thấy các mẫu san hô nằm trong
đá bãi biển ở khu vực Lý Sơn là tương đồng
về thành phần giống loài với san hô hiện
sống trong các rạn san hô hiện đại, do vậy
chúng còn rất trẻ và thuộc vào kỷ Đệ tứ (Q),
bởi vậy các tác giả không đặt ra vấn đề xác
định tuổi san hô Các mẫu san hô được lấy từ
các quần thể san hô lộ rõ trên bề mặt thềm
mài mòn, từ các quần thể có mức độ bảo tồn
tốt nhất, có hình thái khác biệt nhau, mẫu
không lấy theo tuyến và cự ly gián cách
Tổng cộng 18 mẫu san hô từ trầm tích bãi
biển được thu thập (LS.01-LS.18) Riêng đối
với các quần thể san hô dạng cối xay, vì phần
lớn đã được trục lên bờ trong quá trình thi
công cầu cảng, nên 6 mẫu được lấy trực tiếp
từ các quần thể san hô đã được quy tập trên
bờ (LS 23-LS.28), chỉ có 6 mẫu
(LS.29-LS.34) được lấy từ các quần thể còn nằm tại
chỗ dưới bãi biển Các mẫu thu thập đều có
đủ thiết diện ngang và dọc qua các ổ, đảm
bảo có thể xác định trong phòng thí nghiệm
Các mẫu trầm tích được thu thập hạn chế hơn gồm 4 mẫu (LS.19-LS.22, tại điểm LS-1), do
đá có thành phần đơn điệu và có thể xác định được tên đá bằng mắt ngoài thực địa
3 Kết quả và thảo luận
Qua nghiên cứu tổng thể các di sản trên cụm đảo Lý Sơn, ba điểm địa di sản liên quan đến san hô bán hóa thạch tiêu biểu sau đây được lựa chọn giới thiệu
3.1 Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây cầu tàu An Bình, Đảo Bé (điểm LS-1)
(Di sản thuộc loại hỗn hợp, gồm các kiểu
A - Cổ sinh, B - Địa mạo, C - Cổ môi trường)
Đá bãi biển hình thành khi lớp trầm tích bãi biển trở nên rắn chắc nhờ tích tụ thứ sinh của carbonat calci làm chất gắn kết
Thành phần của loại đá trầm tích này có
sự thay đổi tùy vùng, gồm hai phần chính: Phần những vật liệu thô nhất chính là những mảng quần thể san hô tạo rạn, có khi đạt kích thước hàng mét, thường vài chục centimet, ngoài ra là di tích của nhiều nhóm sinh vật khác nhau vốn hội sinh với san hô tạo rạn, như Động vật hình rêu, Da gai, Hai mảnh vỏ, Chân bụng v.v Ngoài ra, trong thành phần
đá bãi biển cũng có thể gặp các vật liệu khác như các mảnh gỗ, dừa, hoặc cả vật dụng như chai lọ, mảnh gốm, sứ Phần những vật liệu nhỏ hơn bao gồm sỏi, sạn, cát, sét… cùng những vụn sinh vật Chúng đóng vai trò nền tảng của đá bãi biển Tại những chỗ có nhiều mảnh quần thể san hô thì chúng lấp đầy khoảng trống giữa các di tích sinh vật ấy Nhưng vai trò quan trọng làm xi măng gắn kết đá bãi biển, cũng như các rạn san hô, chính là carbonat calci vốn là chất tiết của
các loại Rong vôi (tảo San hô - Coralline algae) Hiện nay trong các rạn san hô nước
ta, Rong vôi chủ yếu thuộc họ Coralliaceae,
và đã phát hiện được bốn chi trong họ này
gồm: Peyssonnelia, Jania, Lithophyllum và Mastophora Trong số các chi trên, Peyssonnelia là phổ biến và đóng vai trò
quan trọng nhất Trong chi này có 3 loài thì
Peyssonnelia calcea phổ biến nhất (Yết và
nnk, 2008) Nếu không có lượng carbonat calci kể trên thì các mảnh vụn chỉ là trầm tích
Trang 5bở rời, bị sóng biển ở đới triều đánh phá làm
biến dạng theo thời gian, chứ không thành
được thành đá bãi biển được Tuy được hình
thành chưa lâu, nhưng đã được cố kết khá rắn
chắc bởi xi măng carbonat có nguồn gốc Rong
vôi, nên trầm tích bãi biển cũng được coi là đá,
tương tự vậy, di tích san hô gặp trong chúng có
thể được xem như bán hóa thạch (các khoang
trống trong khung xương san hô đã được xi
măng carbonat lấp đầy) Tuy nhiên, để trở
thành hóa thạch thực thụ (fossils), chắc chắn
còn cần qua quá trình thành đá lâu dài, ứng với
Cũng như các đá trầm tích khác, đá bãi biển
có cấu tạo phân lớp, nằm nghiêng thoải về phía
biển Nhìn từ góc độ địa mạo, đây là một loại
thềm biển đặc biệt Phần trên thường có một
lớp mỏng trầm tích bở rời bao phủ Chúng
được hình thành trong đới gian triều vùng nhiệt
đới hoặc cận nhiệt đới Khi lớp trầm tích bở rời
phủ trên bị cuốn đi, đá bãi biển lộ ra dưới dạng
thềm mài mòn Đá bãi biển được tìm thấy ở
vùng biển Caribe, Địa Trung Hải, Biển Đỏ,
vịnh Ả Rập, bờ biển Brazil, Nam Phi, Úc và ở
Đông Nam Á (Nguyễn Thanh Sơn, Trần Đức
Thạnh, 2017) Ở xung quanh các đảo Lý Sơn,
đá bãi biển khá phổ biến, lộ thành dải rộng
khoảng 5-25 m, dài hàng chục, hàng trăm mét
Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây cầu
tàu An Bình là một thềm mài mòn tiêu biểu,
thuận tiện cho du khách tham quan, tìm hiểu
Thềm này lộ ra trong phần cao của đới gian
triều, sát bậc bãi biển (beach berm) hiện đại
Thềm rộng khoảng 15 m, kéo dài khoảng
400 m, bề mặt nghiêng về phía biển khoảng
do động lực của sóng biển (Hình 1, 2) Tập đá
bãi biển dày khoảng 1-2,5 m, nằm trên bề mặt
gồ ghề của đá basalt và trầm tích núi lửa bao
quanh đảo
Đá bãi biển tại thềm mài mòn này có màu
xám, cấp hạt chủ yếu là cát, sạn, lẫn nhiều vụn
sinh vật (san hô, vỏ động vật thân mềm), đặc
biệt có nhiều tảng san hô kích thước to, nhỏ
khác nhau, những tảng lớn nhất có kích thước
tới 80 cm Tất cả các vật liệu vụn kể trên được
gắn kết chặt chẽ bởi xi măng carbonat vốn là
chất tiết của các loại Rong vôi như đã nói ở
phần trên Đặc biệt lý thú là các tảng san hô bán hóa thạch lớn, nhỏ, rất phong phú về chủng loại, y hệt như trong các rạn san hô còn sống Qua một số mẫu san hô thu thập tại thềm, đại diện của các giống san hô sau đây đã được xác
định: Goniastrea và Favites (thuộc họ
(thuộc họ Pocilloporidae) (mẫu LS.08), giống
Porites (họ Poritidae) (mẫu LS.03), giống Favia (bộ Faviidae) (mẫu LS.01), giống Symphyllia (họ Mussidae) (mẫu LS.02) Tất
các các giống này đều thuộc nhóm San hô sáu tia (Hexacorallia)
Như vậy, điểm di sản Thềm mài mòn trên
đá bãi biển phía tây cầu tàu An Bình thuộc Đảo
Bé là một điểm di sản điển hình phát triển trên
đá bãi biển, một thành tạo địa chất bao gồm các vật liệu vụn thô gắn kết có nguồn gốc đặc biệt
và phân bố rất hạn chế ở Việt Nam Thềm biển này chứa đựng nhiều thông tin khoa học quý
về địa chất, địa mạo, hải dương, cổ khí hậu, cổ sinh và cổ sinh thái học Nghiên cứu chi tiết điểm di sản này, cũng như một số nơi lộ thềm mài mòn tương tự ở phía nam Đảo Bé hoặc phía bắc Đảo Lớn (điểm LS-2) thuộc nhóm đảo
Lý Sơn, sẽ góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn
đề biến đổi khí hậu, dao động mực nước biển, biến đổi đường bờ trong Holocen ở vùng ven biển Việt Nam Ngoài ý nghĩa khoa học, điểm
di sản cũng có ý nghĩa đào tạo đối với sinh viên thuộc khối Các khoa học về Trái đất và sinh học Du khách yêu thích tìm hiểu thiên nhiên cũng sẽ rất thú vị khi được giới thiệu
về điều kiện hình thành kiểu thềm biển đặc biệt này và khám phá các quần thể san hô bán hóa thạch phong phú gặp trong đó Các tảng san hô lớn nhỏ dày đặc trong tầng đá bãi biển của thềm khiến du khách mường tượng về điều kiện cổ môi trường của một rạn san hô ven bờ biển ấm, nước trong và độ muối ổn định trong khoảng 30‰ - điều kiện sống thiết yếu đối với san hô tạo rạn Ngoài những giá trị khoa học và đào tạo kể trên, thềm biển này còn hiện diện như một kè chắn sóng ở sát bờ biển, giúp bảo vệ đảo khỏi bị xói lở do sóng
và thủy triều Cũng vì thế, thềm mài mòn trên
đá bãi biển cần được bảo vệ vì giá trị nhiều
mặt của nó
Trang 6Hình 2 Những mảng vỡ của thềm mài mòn trên đá bãi biển phía tây cầu tàu An Bình, Đảo Bé
Hình 3 Đá bãi biển với cấp hạt chủ yếu là cát, sạn, lẫn nhiều vụn sinh vật (san hô, vỏ động vật thân mềm)
Hình 4 Các quần thể san hô bán hóa thạch đa dạng hiện rõ trên bề mặt đá bãi biển.
Trang 73.2 Thềm mài mòn trên đá bãi biển phía
bắc xã An Vĩnh, Đảo Lớn (điểm LS-2)
(Di sản hỗn hợp, gồm các kiểu A, B, C)
Thềm mài mòn này kéo dài khoảng 1 km từ
cổng Tò Vò, phía bắc núi lửa Giếng Tiền về
hướng đông Điểm di sản này có hình thái và
nội dung tương tự như điểm LS-1, nhưng trải
dài và rộng hơn: chiều rộng đạt 25 m (Hình 5)
Xét về hình thái, thì thềm mài mòn này trải
rộng hơn, lộ đẹp và liên tục hơn so với thềm ở
điểm LS-1 trên Đảo Bé Thành phần trầm tích
của tập đá bãi biển cũng tương tự như ở điểm LS-1, nhưng hiếm hơn những vị trí chứa phong phú các tảng san hô bán hóa thạch to và đẹp so với điểm ở Đảo Bé (Hình 6)
Hai điểm di sản LS-1 và LS-2 cho thấy nổi bật bức tranh tổng thể về hình loại thềm mài mòn đặc biệt này, cũng như ý nghĩa khoa học, đào tạo và mỹ học của chúng Chúng góp phần làm tăng giá trị đa dạng sản phẩm du lịch của cụm đảo Lý Sơn vốn có nhiều địa di sản gắn với hoạt động núi lửa nổi tiếng của Miền Trung
Hình 5 Thềm mài mòn trên đá bãi biển, điểm LS-2 Hình 6 Trầm tích sinh hóa, chứa nhiều di tích sinh vật,
trong điểm di sản LS-2
Hình 7 Các san hô cối xay microatoll trên bãi biển New
Zealand Ảnh: Jamie Norton
Hình 8 Một số microatoll được phát hiện đã bị biến vị trên bãi biển tại điểm di sản LS-3
Trang 8Hình 9 Một số microatoll đã được quy tập tại điểm địa di sản LS-3
3.3 Điểm di sản San hô khổng lồ dạng
cối xay tại xã An Hải, phía đông bắc Đảo
Lớn (điểm LS-3)
(Di sản thuộc kiểu A- Cổ sinh)
Bãi biển phía đông bắc Đảo Lớn, thuộc xã
An Hải, nơi phát hiện những quần thể San hô
khổng lồ dạng cối xay, đường kính trên dưới
2 m Loại quần thể san hô này trên thế giới
được gọi là dạng đảo vòng nhỏ (microatoll)
(Hình 7) Các quần thể san hô bán hóa thạch
kể trên được phát hiện nằm rải rác trong khu
vực bãi biển phía đông và bắc của Đảo Lớn
và hiện được thu gom để bảo quản tại điểm
LS-2 (Hình 8, 9)
Hiện nay trên thế giới các san hô tạo
microatoll đều thuộc về nhóm San hô sáu tia,
phát triển trong đới ngập triều Chúng được
hình thành chủ yếu bởi một số loài thuộc
giống Porites (họ Poritidae), nhưng cũng gặp
ở các loài thuộc các giống khác như Favia,
Goniastrea
Để xác định thành phần giống loài của các san hô tạo microatoll ở điểm di sản LS-2 chúng tôi đã thu thập 12 mẫu xương san hô từ các quần thể khác nhau Các mẫu lấy từ các phần thể hiện rõ nhất cấu trúc đài ổ, thiết diện ngang
và dọc của quần thể san hô Kết quả phân tích của TS Nguyễn Huy Yết (chuyên gia nghiên cứu san hô, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam) cho thấy, toàn bộ 12 mẫu (từ LS.23 đến LS.34)
đều thuộc về loài Porites lutea, thuộc họ
Poritidae, nhóm San hô sáu tia (Hexacorallia): Giới Animalia (Động vật)
Ngành Cnidaria (Sợi chích) Lớp Anthozoa (ĐVHH-San hô)
Bộ Scleractinia (San hô cứng)
Họ Poritidae
Giống Porites Loài: Porites lutea
Trang 9Hình 10 Bề mặt quần thể san hô loài Porites lutea, với các đài ổ san hô ở mức độ chi tiết khác nhau (a, b, c) và tiết
diện dọc cho thấy các dẻ quạt tăng trưởng (d, e)
Sự hiện diện của các quần thể san hô đặc biệt
này tạo nên một điểm nhấn du lịch nếu trong
Công viên địa chất toàn cầu Lý Sơn - Sa Huỳnh
có kế hoạch tái dựng cảnh quan microatoll phục
vụ du khách tới tham quan, chụp ảnh (Hình 11)
Tuy nhiên, để làm việc đó, cần định vị chính xác
thế nằm ban đầu của các quần thể san hô Công
việc này cũng không đơn giản, khi hiện nay các
quần thể san hô đều đã được quy tập, không còn
ở vị thế ban đầu khi chúng còn sống Để giải
quyết vấn đề này, quá trình hình thành của các
microatoll cần được tiếp tục nghiên cứu
Theo những tài liệu nghiên cứu san hô hiện
đại, các giống San hô sáu tia có khả năng tạo
microatoll, trong đó có Porites, bao gồm các loài
có quần thể phát triển dạng khối, sống trong vùng
nước nông Trong quá trình tăng lớn của quần
thể, các ổ san hô phát triển phân tỏa, tạo nên các
dẻ quạt tăng trưởng hướng về phía bề mặt quần thể, nghĩa là hướng lên trên hoặc ngang (Wendy
M Darke, 1991) (Hình 12)
Trong điều kiện sống thuận lợi, quần thể san
hô sẽ phát triển và đạt được hình dáng bán cầu Khi mực nước biển tại khu vực hạ xuống, phần trên của quần thể có thể bị phơi nhiễm không khí khiến san hô chết Khi đó, quần thể buộc phát triển theo bề rộng ở phần thấp, tạo nên các microatoll đa dạng (Hình 13, các mức 1-2-3) Trong trường hợp khu vực tiếp tục có những biến động nâng hoặc hạ đột ngột, microatoll sẽ tiếp tục phát triển, tạo nên các dạng phức tạp hơn như
dạng mũ (hat microatoll ) hoặc dạng lõm (cup microatoll) (Hình 13, mức 4-5) (Meltzner và
nnk, 2015)
Trang 10Hình 11 Cảnh quan microatoll phục dựng từ các quần thể san hô của điểm LS-3 nhằm xây dựng một điểm du lịch trên
Đảo Lớn
Hình 12 Trong quá trình tăng lớn, quần thể san hô Porites tạo nên các dẻ quạt tăng trưởng hướng về phía bề mặt
quần thể (Darke, 1991)
Hình 13 Sơ đồ giải thích cơ chế hình thành các loại microatol (Meltzner et al, 2015)