Do vậy nhận biết được thực trạng đội ngũ cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín là yếu tố cơ bản góp phần đưa ra giải pháp hữu hiệu cho
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM KHOA KINH TẾ & PTNT
- □ □ -
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
THỰC TRẠNG NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ
NGHIỆP-GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN
HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
Sinh viên thực hiện : Đỗ Hải Sơn
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong khóa luận là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo vệ bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận đã được cảm ơn, các thông tin trích dẫn trong khóa luận này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Tác giả khóa luận
Đỗ Hải Sơn
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành khóa luận, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè và gia đình
Trước tiên nhân dịp hoàn thành khóa luận, tôi xin chân thành được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến Th.S Trần Hương Giang, Bộ môn Kế hoạch và Đầu
tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức thời gian và tạo mọi điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Tôi xin tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Kế hoạch và Đầu tư, Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành khóa luận
Tôi xin gửi lời cảm ơn đến Sở Giáo dục Hà Nội, UBND huyện Thường Tín, Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong việc cung cấp các thông tin, tư liệu, số liệu và triển khai nghiên cứu ở cơ sở
Cuối cùng tôi xin gửi lời cảm ơn đến tập thể Ban Giám đốc Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, bạn bè và người thân trong gia đình đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi về chuyên môn, về thời gian và nhiều sự giúp đỡ quý báu khác để tôi hoàn thành khóa luận này
Hà Nội, ngày tháng năm 2020
Sinh viên
Đỗ Hải Sơn
Trang 4TÓM TẮT KHÓA LUẬN
Bước sang thế kỷ mới, thế kỷ của Khoa học- Công nghệ-Thông tin cùng với
đó là sự phát triển lớn mạnh, không ngừng nghỉ của xã hội Nắm bắt được thời cơ này, đất nước đã có bước chuyển mình nhịp nhàng, uyển chuyển trong cuộc xây dựng đất nước càng giàu đẹp, văn minh, hiện đại và hơn đó là việc phấn đấu cho mục tiêu chung là trở thành một nước CNH-HDH
Sự nghiệp đổi mới này đòi hỏi Đảng phải xây dựng cho được đội ngũ cán
bộ, viên chức vững mạnh và đồng bộ, đặc biệt là cán bộ lãnh đạo Trong đó, cả cán
bộ đương chức lẫn đội ngũ cán bộ kế cận phải vững mạnh, đủ tiêu chuẩn về mọi mặt Thực tế cho thấy, ở nơi đâu có đội ngũ năng lực, nhất là cán bộ cốt cán thì ở đó
có phong trào phát triển ở mọi mặt Một trong những nội dung quan trọng của công cuộc cải cách hành chính vừa có phẩm chất đạo đức tốt, vừa có năng lực, trình độ chuyên môn cao, có kỹ năng quản lý để thực hiện hiệu quả chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của nhà nước
Đội ngũ cán bộ, viên chức có vai trò quan trọng, quyết định chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp nói chung và chính quyền cấp huyện
ủy nói riêng Do vậy nhận biết được thực trạng đội ngũ cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín là yếu tố cơ bản góp phần đưa ra giải pháp hữu hiệu cho việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức nhằm đạt hiệu quả cao trong công tác quản lý nhà nước Xuất phát từ
những yêu cầu thực tế tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Thực trạng nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội’’
Mục tiêu của khóa luận là qua việc nghiên cứu thực trạng nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội từ đó đề xuất định hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng cán bộ viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Trang 5Trong quá trình nghiên cứu đề tài có sử dụng các phương pháp như: Phương pháp chọn điểm nghiên cứu, Phương pháp thu thập dữ liệu, Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin, Phương pháp phân tích thông tin, Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu Đề tài tiến hành phỏng vấn 32 cán bộ, viên chức và 30 học sinh trong trung tâm
Kết quả nghiên cứu cho thấy các yếu tố như: Chủ trương, đường lối của Đảng, chế độ, chính sách của Nhà nước, Quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức, Công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng đãi ngộ cán bộ, viên chức, Môi trường và điều kiện làm việc có ảnh hưởng lớn tới chất lượng CBVC Thêm vào đó, các yếu tố độ tuổi, giới tính, trình độ học vấn cũng tác động ít nhiều đến chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
Qua những quá trình nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn, khóa luận đưa ra những giải pháp nâng cao chất lượng CBVC của Trung tâm GDNN-GDTX huyện
Thường Tín như: Phải có số lượng thích hợp, cơ cấu về ngạch bậc, trình độ, tuổi tác,
giới tính đồng bộ và hợp lý Thực hiện tốt công tác quy hoạch cũng như kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ; bởi nguồn bổ sung cho đội ngũ cán bộ, viên chức vẫn phải lấy từ cơ sở, nguồn tại chỗ là chính
Hoàn thiện công tác đào tạo và bồi dưỡng về các mặt để nâng cao trình độ chính trị, trình độ chuyên môn Ngoài ra còn cần thêm đào tạo bồi dưỡng kỹ năng cho cho CBVC làm công tác chuyên môn
Nâng cao công tác tuyển dụng trong Trung tâm là lựa chọn được những CBVC
có trình độ học vấn, có khả năng phù hợp yêu cầu đồng thời có tiềm năng để đáp ứng
xu thế phát triển của Trung tâm cũng như xu hướng chung của ngành Giáo dục
Chính sách sử dụng nhân lực cũng cần đổi mới, trước hết tập trung vào lựa chọn, bồi dưỡng tài năng nhằm tạo ra động lực, khơi dậy trí tuệ, sáng tạo, tay nghề thành thạo, thúc đẩy chất lượng, năng suất công việc, hiệu quả kinh tế, khuyến khích tiếp cận tri thức và công nghệ
Xây dựng chính sách thưởng đối với từng đối tượng Ngoài việc thưởng thường xuyên theo Luật Thi đua, Khen thưởng, cần lựa chọn các hình thức thưởng và đưa các
Trang 6mức thưởng hợp lý như: thưởng do có sáng kiến mang lại hiệu quả cao
Trong quá trình kiến tập tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục
thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội, do thời gian không nhiều, quá trình nghiên cứu chưa thật sự kỹ càng, nhận thức về chuyên môn chưa nhiều, do vậy bài khóa luận của tôi không tránh khỏi những sai sót Vì vậy tối rất mong nhận được được sự đóng góp, lời khuyên trân thành từ phía lãnh đạo, cán bộ trong cơ quan đặc biệt là thầy cô trong khoa để bài viết của tôi được hoàn thiện hơn
Trang 7MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT ix
DANH MỤC BẢNG x
DANH MỤC HỘP xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu chung: 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể: 2
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Đối tượng khảo sát 3
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4.1 Phạm vi về nội dung 3
1.4.2 Phạm vi không gian 4
1.4.3 Phạm vi về thời gian 4
PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ VIÊN CHỨC 5
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN 5
2.1.1 Một số khái niệm có liên quan đến chất lượng cán bộ, viên chức 5
2.1.2 Phân loại cán bộ, viên chức 10
2.1.3 Vai trò của việc nâng cao chất lượng viên chức 12
2.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức 13
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, viên chức 22
2.2 Cơ sở thực tiễn 25
Trang 82.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới 25
2.2.2 Kinh nghiệm của môt số địa phương về nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức ngành Giáo dục 28
2.2.3 Bài học kinh nghiệm cho nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức ngành 30
PHẦN 3: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 32
3.1.1 Đặc điểm tự nhiên 32
3.1.2 Đặc điểm kinh tế xã hội 33
3.1.3 Đặc điểm giới thiệu về Trung tâm GDNN-GDTX huyện Thường Tín 34
3.2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 36
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 36
3.2.2 Phương pháp thu thập dữ liệu 36
3.2.3 Phương pháp tổng hợp và xử lý thông tin: 38
3.2.4 Phương pháp phân tích thông tin 38
3.2.5 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu 38
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 40
4.1 THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC CỦA TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP-GIÁO DỤC THƯỜNG XUYÊN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 40
4.1.1 Về số lượng cán bộ, viên chức theo đơn vị công tác, độ tuổi và giới tính 40
4.1.2 Thực trạng chất lượng cán bộ viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên 43
4.1.3 Đánh giá kỹ năng làm việc của cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 47
4.1.4 Các giải pháp đã triển khai để nâng cao chất lượng CBVC của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 54
4.2 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP- GIÁO DỤ THƯỜNG XUYÊN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 56
Trang 94.3 CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG CÁN BỘ, VIÊN CHỨC
TRUNG TÂM GIÁO DỤC NGHỀ NGHIỆP-GIÁO DỤC THƯỜNG
XUYÊN HUYỆN THƯỜNG TÍN, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 61
4.3.1 Các căn cứ đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 61
4.3.2 Giải pháp nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-giáo dục Thường Xuyên huyện Thường Tín 64
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 79
5.1 KẾT LUẬN 79
5.2 KIẾN NGHỊ 80
5.2.1 Đối với chính phủ và bộ Giáo dục 80
5.2.2 Đối với UBND, các Sở, Ban, Ngành thành phố Hà Nội và UBND Huyện Thường Tín 81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 84
Trang 10DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Từ viết tắt Nghĩa tiếng Việt
CNH, HĐH Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
GDNN-GDTX Giáo dục nghề nghiệp- Giáo dục thường xuyên
Trang 11nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 42 giai đoạn 2018-2020 42 Bảng 4.4 Trình độ chuyên môn của CBVC Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-
giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 44 Bảng 4.5 Trình độ tin học của CBVC của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-
Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 46 Bảng 4.6 Khả năng đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ của CBVC Trung tâm Giáo dục
nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 48 Bảng 4.7 Kết quả tự đánh giá một số kỹ năng cần thiết trong công việc của
CBVC Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín 49 Bảng 4.8 Kết quả đánh giá của lãnh đạo đối với CBVC về mức độ hoàn thành
nhiệm vụ được giao 50 Bảng 4.9 Kết quả đánh giá của người học đối với CBVC về thái độ phục vụ 52 Bảng 4.10 Dự kiến nhu cầu nhân lực Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-giáo dục
Thường Xuyên huyện Thường Tín trong thời gian tới 54 Bảng 4.11 Ý kiến, đánh giá của CBVC về công tác đào tạo, bồi dưỡng 55
Trang 12DANH MỤC HỘP
Hộp 1: Ý kiến của ban lãnh đạo 59
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Với sự phát triển của đất nước hiện nay và trong tổng thể các yếu tố cần thiết cho sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia nói chung và từng địa phương nói riêng thì nhân tố con người luôn được xác định là yếu tố cơ bản, quan trọng, có tính chất quyết định và giữ vai trò chi phối các yếu tố khác Điều này luôn được khẳng định và chứng minh bởi quá trình xây dựng và phát triển của nhiều quốc gia Đối với bát kì một quốc gia nào, muốn phát triển giàu mạnh, vững bền thì yếu tố con người là vô cùng cần thiết, cần phải tìm người giỏi và giáo dục người giỏi để họ có thể đảm nhận được những trọng trách thúc đẩy sự phát triển của nước nhà Ngày nay, sự giàu mạnh của một quốc gia không còn phụ thuộc quá nhiều ở diện tích lớn hay nhỏ, dân số đông hay ít và tài nguyên có phong phú, đa dạng hay không, dù đây là những nguồn lực rất quan trọng Cái được quan tâm nhiều nhất chính là yếu
tố con người và quan tâm xem là con người hay nguồn nhân lực được chuẩn bị, đầu
tư và khai thác như thế nào
Ngày nay, trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta, chất lượng nhân lực ngày càng chiếm một vị trí quan trọng Nếu như trước đây chúng ta luôn
tự hào rằng Việt Nam có cơ cấu dân số trẻ, nguồn lao động dồi dào thì giờ đây chúng ta đang phải đối mặt với thực tế là dân số đang bước sang giai đoạn già hóa nguồn lực chưa cân đối ở các ngành nghề, các vị trí và chưa tương đồng về chất lượng và số lượng Đặc biệt, chúng ta đang phải đối mặt với tình trạng thiếu nhân lực có trình độ chuyên môn, kỹ thuật cao Đối với ngành giáo dục, tình trạng này cũng không phải là ngoại lệ Chính vì vậy việc nâng cao chất lượng của nhân lực các ngành nói chung và của các CBVC trong ngành giáo dục nói riêng là yêu cầu cấp thiết đặt ra để mỗi tổ chức có thể khẳng định mình, đứng vững và ngày càng tiến xa hơn
Cũng giống như bất kỳ tổ chức nào, một trung tâm giáo dục muốn tồn tại và phát triển luôn phải tận dụng triệt để, kết hợp hài hòa các nguồn lực của đơn vị
Trang 14mình Các yếu tố như: trang thiết bị giáo dục, cơ sở vật chất, vốn đầu tư v.v rất quan trọng, nhưng một yếu tố mang tính quyết định, chi phối các nguồn lực đó chính là nguồn nhân lực, là sức mạnh, trình độ, tâm huyết của các cán bộ viên chức ngành Giáo dục
Huyện Thường Tín nằm ở cửa ngõ phía nam thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố khoảng 20km, nằm dọc theo quốc lộ 1A Trong những năm qua tình hình Kinh tế-Xã hội của huyện đang trên đà phát triển trong đó chất lượng đội ngũ cán
bộ, viên chức Ngành giáo dục nói chung Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên nói riêng đã được từng bước nâng cao Tuy nhiên, trên thực tế, vấn đề xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ viên chức đã và đang đặt nhiều vấn đề mới, cần tiếp tục nghiên cứu Trước yêu cầu của công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, đội ngũ cán bộ viên chức nói riêng khắc phục cho được những hạn chế, yếu kém của đội ngũ cán
bộ viên chức còn tồn tại Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên
là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Với những lý do trên, tôi lựa chọn đề tài “Thực trạng nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp –Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội” làm khóa luận tốt nghiệp của mình
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung:
Đánh giá thực trạng chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, từ đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín trong thời gian tới
Trang 15tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục Thường Xuyên huyện Thường Tín;
-Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-giáo dục Thường Xuyên huyện Thường Tín trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các vấn đề lý luận và thực tiễn về nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục Thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
1.3.2 Đối tượng khảo sát
Cán bộ, viên chức trong các tổ chuyên môn và các đơn vị trực thuộc Trung tâm và các vấn đề có liên quan đến nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục Thường xuyên huyện thường Tín)
1.3.3 Câu hỏi nghiên cứu
Hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn về năng lực quản lý của cán bộ viên chức
của Trung tâm bao gồm những vấn đề, nội dung gì để từ đó làm cơ sở khoa học cho phân tích, đánh giá chất lượng cán bộ viên chức Trung tâm GDNN-GDTX huyện Thường Tín
Thực trạng chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm GDNN-GDTX huyện Thường Tín những năm qua như thế nào?
Yếu tố nào ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm GDTX huyện Thường Tín?
Những giải pháp để nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức Trung tâm GDNN-GDTX huyện Thường Tín?
1.4 PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.4.1 Phạm vi về nội dung
Đề tài tập trung nghiên cứu nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín Tập trung nghiên cứu lý luận, thực trạng về chất lượng cán bộ, viên chức; các yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng cán bộ, viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo
Trang 16dục thường xuyên huyện Thường Tín và các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cán bộ viên chức của Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín trong thời gian tới
1.4.2 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu trong phạm vi Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín, thành phố Hà Nội
1.4.3 Phạm vi về thời gian
-Thời gian nghiên cứu của đề tài: 2020
-Thời gian thực hiện đề tài: Từ tháng 9/2020 đến tháng 12/2020
Trang 17PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƯỢNG
Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10; Quốc hội ban hành Luật cán bộ, công chức Theo khoản 1 điều 4 của luật cán bộ, công chức năm
2008 quy định ‘‘Cán bộ là công dân Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm kỳ trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, ở tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (sau đây gọi chung là cấp tỉnh), ở huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là cấp huyện), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước’’
Cán bộ xã, phường, thị trấn (sau đây được gọi chung là cấp xã) là công dân
Trang 18Việt Nam, được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ, chức danh theo nhiệm
kỳ trong Thường trực hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, Bí thư, Phó bí thư Đảng
ủy, người đứng đầu các tổ chức chính trị- xã hội; Công chức cấp xã là công dân Việt Nam được tuyển dụng giữ một chức danh chuyên môn, nghiệp vụ thuộc Uỷ ban nhân dân cấp xã, trong biên chế và được hưởng lương theo ngân sách nhà nước’’
Qua khái niệm, chúng ta có thể thấy một số đặc điểm của cán bộ dưới góc độ sau:
Chế độ bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm cán bộ:
Cán bộ là những người được bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm giữ chức vụ chức danh theo nhiệm kỳ đối với các cơ quan, tổ chức, đơn vị cấp Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện Riêng đối với cán bộ cấp xã thì được bầu cử, không có phê chuẩn hay bổ nhiệm
Tuy nhiên, bầu cử, phê chuẩn, bổ nhiệm còn phụ thuộc vào việc đó sẽ là cán
bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, các tổ chức, chính trị- xã hội hay thuộc Nhà nước bởi bầu cử, phê chuẩn hay bổ nhiệm
Điều 23 Luật cán bộ công chức 2008 quy định:’’Việc bổ nhiệm chức vụ, chức danh cán bộ trong cơ quan Đảng Cộng sản Việt Nam, tổ chức chính trị- xã hội được thực hiện theo quy định của điều lệ và pháp luật có liên quan’’ Theo đó,
Đảng viên có quyền ứng cử, đề cử, bầu các chức danh, chức vụ trong cơ quan lãnh đạo của Đảng như Tổng Bí thư
ủy như: Bí thư, các Phó Bí thư Tỉnh ủy, Huyện ủy
Thời gian công tác của cán bộ:
Cán bộ công tác theo nhiệm kỳ Nhiệm kỳ là thời hạn giữ chức danh, chức
vụ Thời hạn đó được quy định ra trong các văn bản chính thức Ví dụ: Khoản 3
Trang 19Điều 5 Luật Kiểm toán Nhà nước quy định năm 2005 quy định: Nhiệm kỳ của Tổng Kiểm Toán nhà nước là 7 năm, có thể bầu lại nhưng không quá 2 nhiệm kỳ
Chế độ lao động:
Cán bộ được hưởng biên chế và hưởng lương từ Ngân sách Nhà nước Theo
điều 12 luật Cán bộ công chức thì: ‘‘Đảng và Nhà nước đảm bảo tiền lương tương xứng với nhiệm vụ, quyền hạn được giao, phù hợp với điều kiện kinh tế- xã hội của đất nước Cán bộ công chức làm việc ở miền núi, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng
xa, vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế- xã hội đặc biệt khó khăn hoặc trong các ngành, nghề môi trường độc hại, nguy hiểm được hưởng phụ cấp và chính sách ưu đãi theo quy định của pháp luật Và được hưởng tiền lương làm thêm
giờ, tiền làm đêm, công tác phí và các chế độ khác theo quy định của Pháp luật” 2.1.1.2 Viên chức
Theo luật viên chức 2010 số 58/2010/QH12 ngày 01 tháng 01 năm 2012(
điều 2): ‘‘Viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật’’
Từ định nghĩa trên, viên chức bao gồm những đặc điểm sau đây:
Thứ nhất, phải là công dân Việt Nam
Thứ hai, về chế độ tuyển dụng: Viên chức phải là người được tuyển dụng theo vị trí việc làm Theo đó, căn cứ đầu tiên để tuyển dụng viên chức là vị trí việc làm Ngoài ra, Điều 20 Luật Viên chức năm 2010 quy định cụ thể hơn về chế độ tuyển dụng như sau: “Việc tuyển dụng viên chức phải căn cứ vào nhu cầu công việc, vị trí việc làm, tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp và quỹ tiền lương của đơn vị
sự nghiệp công lập”
Vị trí việc làm được hiểu là ”công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập” Vị trí việc làm có thể có một hoặc nhiều công việc, có tính thường xuyên, liên tục chứ không bao gồm những công việc thời
vụ, tạm thời Để được tuyển dụng vào vị trí việc làm thì phải thông qua một trong
Trang 20hai phương thức tuyển dụng Viên chức: thi tuyển hoặc xét tuyển (Điều 23 Luật Viên chức năm 2010)
Thứ ba, về nơi làm việc: Viên chức làm việc tại các Đơn vị sự nghiệp công lập Đơn vị sự nghiệp Công lập theo Khoản 1 Điều 9 của Luật Viên chức năm 2010 được hiểu là “tổ chức do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội thành lập theo quy định của pháp luật, có tư cách pháp nhân, cung cấp dịch vụ công, phục vụ quản lý nhà nước”
*Nghiã vụ của viên chức:
- Chấp hành đường lối, chủ chương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam
và pháp luật của Nhà nước;
- Có ý thức tổ chức kỷ luật và trách nhiệm trong hoạt động nghề nghiệp; thực
hiện đúng các quy định, nội quy, quy chế làm việc của đơn vị sự nghiệp công lập;
- Bảo vệ bí mật nhà nước; giữ gìn và bảo vệ của công, sử dụng hiệu quả tiết
kiệm tài sản được giao;
- Tu dưỡng, rèn luyện đạo đức nghề nghiệp, thực hiện quy tắc ứng xử của viên
cái đơn nhất, cái tính độc lập của nó
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam: “Chất lượng là một phạm trù triết học biểu thị những thuộc tính bản chất của sự vật, chỉ rõ nó là cái gì, tính ổn định tương đối của sự vật và phân biệt nó với sự vật khác Chất lượng là đặc tính khách quan của sự vật, biểu thị ra bên ngoài qua các thuộc tính Chất lượng của sự vật, hiện tượng biểu thị trình độ phát triển của nó, chất lượng càng cao thì mức độ phát triển của sự vật càng lớn”
Chất lượng của cán bộ, viên chức được tạo nên bởi nhiều nhân tố Chất
Trang 21lượng của cán bộ, viên chức được cấu thành từ chất lượng của mỗi người cán bộ, viên chức Đó là trình độ chuyên môn, phẩm chất chính trị, kinh nghiệm hoạt động thực tiễn, năng lực lãnh đạo, quản lý, năng lực tổ chức và điều hành
Chất lượng của mỗi người cán bộ, viên chức nói chung trước hết được biểu hiện ở bản lĩnh chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, trình độ chuyên môn, kiến thức văn hóa và giao tiếp, kinh nghiệm và năng lực lãnh đạo, quản lý, tổ chức, điều hành bộ máy và năng lực tổ chức thực tiễn, đồng thời được biểu hiện ở hiệu quả hoạt động lãnh đạo, quản lý, ở uy tín của họ trước tập thể và nhân dân
Tiêu chí để đánh giá chất lượng CBVC rất đa dạng: có thể là tỷ lệ công việc được giải quyết đảm bảo đúng thời gian, có thể là sự đo lường về mức độ thỏa mãn của người dân khi trực tiếp được CBVC hướng dẫn, giải quyết công việc,
Nâng cao chất lượng CBVC là tổng thể các hình thức, phương pháp nhằm hoàn thiện từng CBVC đáp ứng đòi hỏi về nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế -
xã hội Chất lượng CBVC còn phản ánh tác phong, thái độ, ý thức làm việc của mỗi CBVC
Như vậy, các yếu tố cấu thành chất lượng đội ngũ CBVC không chỉ bao gồm một mặt, một khía cạnh nào đó, mà nó bao gồm cả một hệ thống, được kết cấu như một chỉnh thể hoàn thiện từ chất lượng của từng cán bộ (đây là yếu tố cơ bản nhất, tiên quyết nhất) cho đến cơ cấu số lượng nam nữ, độ tuổi, thành phần của đội ngũ cùng với việc bồi dưỡng, giáo dục, phân công quản lý kiểm tra giám sát và thực hiện nghiêm các nguyên tắc tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền nhân dân
Để nâng cao chất lượng của đội ngũ CBVC, cần phải giải quyết tốt mối quan
hệ giữa chất lượng với số lượng CBVC Chỉ khi nào hai mặt này quan hệ hài hòa, tác động hữu cơ với nhau thì mới tạo nên sức mạnh đồng bộ của cả đội ngũ Trong thực tế chúng ta cần phải chống lại hai khuynh hướng:
Khuynh hướng thứ nhất, là chạy theo số lượng, ít chú trọng đến chất lượng dẫn đến cán bộ nhiều về số lượng nhưng hoạt động không hiệu quả;
Khuynh hướng thứ hai, cầu toàn về chất lượng nhưng không quan tâm đến số lượng Khuynh hướng này là một nguyên nhaanh quan trọng làm cho tuổi đời bình
Trang 22quân của đội ngũ CBVC ngày càng cao, hẫng hụt về thế hệ
Trong giai đoạn hiện nay thì cần hơn hết là phải coi trọng chất lượng của CBVC trên cơ sở đảm bảo số lượng hợp lí
Để đánh giá đúng thực trạng và xác định các giải pháp nâng cao chất lượng đội ngũ CBVC Ngành Giáo dục cần phải xác định rõ những tiêu chí đánh giá chất lượng đội ngũ CBVC cũng như hiểu rõ những yếu tố tác động đến chất lượng đội ngũ CBVC của Ngành
2.1.2 Phân loại cán bộ, viên chức
2.1.2.1 Phân loại cán bộ
Ngày 9/6/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2015/NĐ-CP nhằm
cụ thể hóa Luật Cán bộ công chức, viên chức trong đó có những quy định về trình
tự thủ tục đánh giá công chức và viên chức
Việc phân loại cán bộ dựa trên các căn cứ: kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao; thời gian, chất lượng, hiệu quả tham mưu, đề xuất đối với cấp trên về lĩnh vực hay cơ quan, đơn vị phụ trách; tinh thần học tập nâng cao trình độ Theo đó cán bộ được phân loại theo 4 mức:
- Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:
Cán bộ đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:
• Luôn gương mẫu chấp hành tốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng
và pháp luật của Nhà nước;
• Có phẩm chất chính trị, đạo đức tốt; có lối sống, tác phong, lề lối làm việc chuẩn mực, lành mạnh;
- Hoàn thành tốt nhiệm vụ
Cán bộ đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ:
• Các tiêu chí quy định tại Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 11 Nghị định này;
• Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực phụ trách hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao;
- Hoàn thành nhiệm vụ
Trang 23Cán bộ đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực:
• Các tiêu chí quy định tại Khoản 1, 2, 3 và 4 Điều 11 Nghị định này;
• Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực được giao phụ trách hoàn thành các nhiệm vụ được giao;
- Không hoàn thành nhiệm vụ
Cán bộ có một trong các tiêu chí sau đây thì phân loại đánh giá ở mức không hoàn thành nhiệm vụ:
• Không thực hiện hoặc vi phạm đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng hoặc pháp luật của Nhà nước bị cấp có thẩm quyền nghiêm khắc phê bình hoặc xử
lý kỷ luật theo quy định;
• Vi phạm kỷ luật, kỷ cương hoặc quy chế làm việc của cơ quan, tổ chức, đơn vị;
2.1.2.2 Phân loại viên chức
Theo quy định thì viên chức là công dân Việt Nam được tuyển dụng theo vị trí việc làm, làm việc tại đơn vị sự nghiệp công lập theo chế độ hợp đồng làm việc, hưởng lương từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật
Viên chức được phân loại theo vị trí việc làm hoặc được phân loại theo chức danh nghề nghiệp
Trong đó, vị trí việc làm là công việc hoặc nhiệm vụ gắn với chức danh nghề nghiệp hoặc chức vụ quản lý tương ứng, là căn cứ xác định số lượng người làm việc, cơ cấu viên chức để thực hiện việc tuyển dụng, sử dụng và quản lý viên chức trong đơn vị sự nghiệp công lập
Nguyên tắc, phương pháp xác định vị trí việc làm, thẩm quyền, trình tự, thủ tục quyết định số lượng vị trí làm trong đơn vị sự nghiệp công lập thực hiện theo quy định của Chính phủ
Theo đó, theo quy định tại Điều 3 Nghị định 29/2012/NĐ-CP ngày 12/4/2012 của Chính phủ thì viên chức được phân loại như sau:
Theo vị trí việc làm, viên chức gồm:
Trang 24- Viên chức quản lý bao gồm những người được bổ nhiệm giữ chức vụ quản lý
có thời hạn, chịu trách nhiệm điều hành, tổ chức thực hiện một hoặc một số công việc trong đơn vị sự nghiệp công lập nhưng không phải là công chức và được hưởng phụ cấp chức vụ quản lý
- Viên chức không giữ chức vụ quản lý bao gồm những người chỉ thực hiện chuyên môn nghiệp vụ theo chức danh nghề nghiệp trong đơn vị sự nghiệp công lập
Theo chức danh nghề nghiệp, viên chức được phân loại trong từng lĩnh vực hoạt động nghề nghiệp với các cấp độ từ cao xuống thấp:
- Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng I
- Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng II
- Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng III
- Viên chức giữ chức danh nghề nghiệp hạng IV
2.1.3 Vai trò của việc nâng cao chất lượng viên chức
Đội ngũ CBVC là một bộ phận của nguồn nhân lực khu vực công – yếu tố cấu thành quan trọng của nguồn nhân lực xã hội mà những đóng góp của họ luôn có vai trò đặc biệt to lớn trong toàn bộ thành tựu phát triển chung về KT – XH của quốc gia và địa phương Khẳng định vai trò của đội ngũ này trong toàn bộ sự nghiệp Cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Cán bộ là cái gốc của mọi công việc” Quan điểm này tiếp tục được nhấn mạnh trong Nghị quyết Hội nghị lần
thứ 3 Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII: “Cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của Cách mạng, gắn liền với vận mệnh của Đảng, của đất nước và chế
độ, là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng”
Thật vậy, từ khi ra đời đến nay, Đảng ta luôn không ngừng quan tâm đến việc xây dựng và rèn luyện nên các thế hệ cán bộ kế tiếp nhau nhằm đảm đương và hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trong các thời kỳ Cách mạng Đây là lực lượng
ưu tú của dân tộc, của Đảng, Nhà nước và cả hệ thống chính trị nước ta
Để đảm bảo nâng cao hơn nữa hiệu quả quản lý Nhà nước, công tác đào tạo, bồi dưỡng đã giúp cho đội ngũ cán bộ, viên chức phải ngày càng được nâng cao trình độ để nắm vững chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước Đây cũng là
Trang 25một yêu cầu rất cần thiết trong việc nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, viên chức hiện nay
Cán bộ, viên chức có vai trò là truyền bá kiến thức giúp những mầm non của đất nước có kiến thức, hiểu biết để đưa đất nước phát triển hơn trong tương lai và cũng là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng nhân dân đồng thời trực tiếp bảo đảm tuân thủ nội quy, quy định tại cơ sở, trang bị kiến thức cho người học hiểu thêm về quyền tự do dân chủ, quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân Do đó, Đảng ta xác định đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ, viên chức cơ sở có phẩm chất, đạo đức và năng lực ngang tầm sự nghiệp đổi mới mang ý nghĩa như sự đầu tư cho hạ tầng cơ sở trong công tác cán bộ
Tóm lại, CBVC có vai trò đặc biệt quan trọng góp phần quyết định đến sự thành công hay thất bại của quá trình phát triển KT – XH, sự nghiệp CNH, HĐH và công cuộc đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo Vì vậy, giáo dục, rèn luyện, bồi dưỡng để nâng cao hơn nữa bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức Cách mạng, trình độ, năng lực chuyên môn và khả năng hoạt động thực tiễn cho CBVC là công việc hết sức quan trọng và cần thiết hiện nay
2.1.4 Nội dung nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức
Tại hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ ba (khóa VIII) Đảng
ta đã xác định mục tiêu xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của thời kỳ công
nghiệp hóa , hiện đại hóa: ‘‘Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức các cấp từ Trung ương đến cơ sở, đặc biệt là cán bộ đứng đầu, có phẩm chất và năng lực, có bản lĩnh trính trị vững vàng trên cơ sở lập trường giai cấp công nhân, đủ về số lượng, đồng
bộ về cơ cấu, đảm bảo sự chuyển tiếp liên tục và vững vàng giữa các thế hệ cán bộ nhằm thực hiện thắng lợi nhiệm vụ công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước, giữ vững độc lập tự chủ, đi lên chủ ngĩa xã hội’’.Gắn với định hướng đó của Đảng,
ngành giáo dục cũng đưa ra những yêu cầu cho đội ngũ trong nghành, trong đó tập trung vào một số tiêu chí cơ bản sau:
Thứ nhất, về số lượng
Để đáp ứng yêu cầu và nhiệm vụ, tổ chức bộ máy ngành giáo dục và xuất phát
từ đối tượng, phạm vi thực hiện chính sách giáo dục Nếu không đảm bảo đủ số
Trang 26lượng, khi quy mô Ngành mở rộng sẽ gặp rất nhiều khó khăn Số lượng đội ngũ CBVC phải được xác định dựa trên đặc điểm, nhiệm vụ của Ngành.Theo đó, số lượng đội ngũ CBVC phải thật sự “tinh”,“gọn’’và hiệu quả, đáp ứng được với khối lượng công việc ngày càng nhiều của ngành Giáo dục đặt ra
Để thực hiện tốt công cuộc hiện đại hóa ngành giáo dục và chung tay thực hiện các mục tiêu chính trị, kinh tế, xã hội trong thời kỳ mới, đội ngũ CBVC ngành Giáo dục phải đáp ứng các tiêu chuẩn sau:
* Về trình độ văn hóa và chuyên môn, nghiệp vụ
Trình độ chuyên môn là mức độ đạt được về một ngành, một nghề nào đó Đó
là toàn bộ những kiến thức trực tiếp phục vụ cho công việc chuyên môn của người CBVC
Đây là tiêu chí cơ bản nhất để đánh giá chất lượng CBVC Ở Việt Nam, trình độ chuyên môn thường được đánh giá qua bằng cấp
a, Trình độ học vấn và đào tạo chuyên ngành:
Trình độ học vấn là cơ sở để cán bộ, viên chức có điều kiện tiếp xúc với những nội dung cách dạy mới và có điều kiện tốt hơn để thực thi công việc quản lý của chính quyền ở cơ sở, đòi hỏi sâu về chuyên môn Do vậy, nếu người cán bộ,
Trang 27viên chức của trường chỉ dừng lại ở mức trình độ học vấn là cao đẳng sở hoặc trung cấp sẽ gây ra những khó khăn cho nhà trường cũng như việc truyền tải kiến thức
cho học sinh
Thực hiện theo Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/1/2008 của BCH Trung ương Đảng tại Hội nghị lần thứ sáu BCH Trung ương khóa X về: “Tiếp tục xây dựng giai cấp công nhân Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước’’.Trong những năm qua, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, công chức viên chức ngành Giáo dục luôn được quan tâm, chú trọng và đạt những kết quả đáng khích lệ.Tuy nhiên, công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho CBVC còn một số bất cập như: đào tạo, bồi dưỡng chưa gắn kết chặt chẽ với công tác quy hoạch và sử dụng, chưa quan tâm đúng mức đến đào tạo theo chức danh, đào tạo, bồi dưỡng trước khi bổ nhiệm; công tác đào tạo một bộ phận CBVC vừa học vừa làm nên thời gian học tập trung không nhiều, nội dung được đào tạo chủ yếu nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ Đây là một tiêu chí quan trọng trong công tác đánh giá hoàn thành nhiệm vụ được giao hàng năm Khi trình độ học vấn, trình độ chuyên môn nghiệp vụ chưa đáp ứng được đòi hỏi của nhu cầu cuộc sống, trong giải quyết công việc thì việc tiếp thu các kiến thức mới sẽ bị hạn chế, những ý tưởng trong công tác truyền bá kiến thức cho người học dẫn đến việc thực hiện, áp dụng kiến thức đi vào cuộc sống cũng sẽ bị hạn chế, gặp nhiều khó khăn nên việc truyền đạt sẽ dẫn đến thiếu sót
hoặc thậm chí có những lúc còn gây hiểu sai thì hậu quả thật khôn lường
b, Kinh nghiệm thực tiễn, kỹ năng và phương pháp làm việc
Kinh nghiệm và kỹ năng được thể hiện thông qua nhiều mặt như: Thâm niên công tác (qua thời gian làm việc, tích lũy kinh nghiệm, kỹ năng xử lý nhanh, linh hoạt các tình huống để giải quyết tốt công việc được giao) Để tiếp tục thực hiện tốt bồi dưỡng, đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn của CBVC đã chú trọng đào tạo, bồi dưỡng CBVC trẻ Đặc biệt là quan tâm lựa chọn, bồi dưỡng, đào tạo chuyên sâu cán bộ chuyên môn giỏi trên từng lĩnh vực của ngành Làm tốt công tác tuyển dụng, bố trí, sử dụng CBVC cho phù hợp nhằm phát huy và khai thác mọi tiềm năng, năng lực, sở trường của từng cá nhân trong thực thi nhiệm vụ được giao
Trang 28*Phẩm chất chính trị, ý thức tổ chức kỷ luật
Phẩm chất chính trị:
Ý thức giác ngộ chính trị, phẩm chất đạo đức của CBVC được quan tâm chú trọng hàng đầu, nhằm mục đích giác ngộ giai cấp, bản lĩnh chính trị vững vàng cho CBVC; xây dựng lực lượng có ý thức công dân, yêu nước, yêu chủ nghĩa xã hội, tin tưởng vào đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, nội quy, kỷ luật của cơ quan, thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí
Người cán bộ muốn xác lập được uy tín của mình trước nhân dân, trước hết
đó phải là người có phẩm chất đạo đức tốt xây dựng các tiêu chuẩn đạo đức đức của người cán bộ và hình thành ở họ các phẩm chất đạo đức tương ứng với vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của đội ngũ cán bộ là việc làm cần thiết và cấp bách Trong bối cảnh nền kinh tế thị trường đang có sự chuyển biến nhanh chóng và xã hội xuất hiện nhiều vấn đề hết sức phức tạp, trong đó phải kể đến trình độ dân trí ngày một nâng cao, và đòi hỏi của xã hội với đội ngũ cán bộ ngày một cao hơn
Thời gian gần đây, công tác đào tạo, bồi dưỡng lý luận chính trị ngày càng được quan tâm, nhất là đối với cán bộ trẻ Nhìn chung đội ngũ CBVC hiện nay, nhất
là lãnh đạo chủ chốt, có bản lĩnh chính trị vững vàng, năng động và sáng tạo, hăng hái thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước
*Ý thức tổ chức, kỷ luật
Thực hiện nguyên tắc thi hành công vụ, hoạt động nghề nghiệp, nghĩa vụ của cán bộ, công chức viên chức; về đạo đức, văn hóa giao tiếp và những việc cán bộ, công chức viên chức không được làm, thực hiện nghiêm túc Chỉ thị số 05/2008/CT-TTg ngày 31 tháng 1 năm 2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc “nâng cao hiệu quả sử dụng thời giờ làm việc của cán bộ, công chức viên chức Nhà nước”; Nghị định số 34/2011/NĐ-CP ngày 17 tháng 5 năm 2011 của Chính phủ quy định về xử
lý kỷ luật đối với công chức Rà soát, sửa đổi bổ sung các quy chế, quy định bảo đảm phù hợp với điều kiện cụ thể của cơ quan, đơn vị và tuân thủ đúng theo các quy định pháp luật hiện hành Quan tâm khích lệ, động viên cán bộ, công chức viên chức phát huy ý thức trách nhiệm trong thực hiện nhiệm vụ được giao Cung cấp số điện thoại đường dây nóng để tiếp nhận phản ánh của quần chúng nhân dân, của cán
Trang 29bộ, Đảng viên và của các cơ quan, đơn vị, địa phương về vi phạm của cán bộ, công chức trong chấp hành kỷ luật, kỷ cương hành chính Kịp thời động viên, khen thưởng những tập thể, cá nhân gương mẫu, có thành tích trong việc thực hiện tốt các quy định Đồng thời xử lý nghiêm những trường hợp vi phạm, gắn với việc xem xét, đánh giá, xếp loại hàng nằm đối với mỗi cán bộ, công chức thuộc thẩm quyền quản
lý theo quy định
Tăng cường các biện pháp quán triệt, giáo dục, quản lý, giám sát chặt chẽ thái độ ứng xử của CBVC đối với tổ chức công dân, việc thực thi công vụ của CBVC
Thời gian qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng trong việc triển khai thực hiện việc tiếp tục học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc kiểm điểm tự phê bình và phê bình theo tinh thần Nghị quyết Hội nghị Trung ương
4, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”, bước đầu đã mang lại những kết quả quan trọng Các cấp ủy, tổ chức Đảng và cán bộ, Đảng viên đã tập trung khắc phục những hạn chế, khuyết điểm, từng bước sửa đổi tác phong, lề lối làm việc; kỷ luật kỷ cương hành chính Nhà nước, trong Đảng, tinh thần trách nhiệm đối với công việc có nhiều chuyển biến; công tác chỉ đạo, điều hành quyết liệt hơn; đấu tranh tự phê bình và phê bình thẳng thắn, mang tính xây dựng hơn; tinh thần đoàn kết, thống nhất trong Đảng được nâng lên; đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý đã chủ động phối hợp tốt hơn trong công tác, góp phần củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các cấp ủy, tổ chức Đảng
Tuy nhiên, vẫn còn tình trạng một bộ phận CBVC thiếu gương mẫu, vi phạm
kỷ luật, uống rượu bia trong giờ làm việc, giờ nghỉ trưa, vi phạm trật tự an toàn giao thông, ảnh hưởng đến uy tín cá nhân, cơ quan, đơn vị Một số cấp ủy huyện thực hiện không đúng quy định của Đảng về công tác quản lý, sử dụng tiền, tài sản ủy quyền,
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: “Chất lượng CBVC là tổng hợp những phẩm chất giá trị về chính trị, đạo đức, trình độ, năng lực và kết quả hoàn thành nhiệm vụ được phân công của mỗi CBVC trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ
Trang 30được giao”
Chất lượng CBVC quyết định sự tồn tại, phát triển của bộ máy quản lý hành chính Nhà nước, việc nâng cao hiệu lực hiệu quả quản lý Nhà nước là nhân tố quan trọng, nó vừa là mục tiêu vừa là động lực để phát triển kinh tế - xã hội
Nâng cao chất lượng CBVC là làm tăng lên về mặt chất lượng nguồn nhân lực, bao gồm: Thể lực, trí tuệ, kiến thức, kỹ năng và kinh nghiệm làm việc Nâng cao chất lượng là tạo ra, là làm tăng lên những năng lực mới trong từng người lao động Tổ chức muốn phát triển tốt thì cần phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Điều này sẽ giúp cho tổ chức đó nhanh chóng tiến tới các mục tiêu trong tương lai
và hoàn thành sứ mệnh của mình hiệu quả
Vậy tổng quan lại chất lượng CBVC là tập hợp các yếu tố về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng, kinh nghiệm trong quản lý, thái độ chính trị, đạo đức, lối sống, tình trạng sức khỏe của mỗi CBVC nhằm thực thi nhiệm vụ công vụ của một cơ quan, đơn vị do Nhà nước giao
và giải quyết thành công những nhiệm vụ lý luận và thực tiễn
Kỹ năng nghề nghiệp là tiêu chí khá quan trọng đánh giá chất lượng CBVC, phản ánh tính chuyên nghiệp của CBVC, người đánh giá thường sử dụng các tiêu chí sau:
+Kỹ năng giao tiếp: Là sự vận dụng các kiến thức, kinh nghiệm vào quá trình giao tiếp và sử dụng các phương tiện giao tiếp (ngôn ngữ và phi ngôn ngữ) để tác động đến đối tượng, tổ chức và điều khiển quá trình giao tiếp nhằm đạt được mục đích giao tiếp đề ra
+Kỹ năng hoạt động nhóm: là khả năng tương tác, đồng thuận của CBVC trong quá trình thực thi nhiệm vụ Hoạt động trong các cơ quan nhà nước không phải hoạt động riêng lẻ của từng CBVC, từng đơn vị, từng ngành, từng địa
Trang 31phương mà là sự phối kết hợp trong hành động giữa tất cả các chủ thể trên
Đơn vị nào muốn nhân viên phát huy tối đa khả năng của họ thì cách tốt nhất
để đạt được điều này không phải là chú trọng đến nhân viên như những cá nhân mà như những thành viên của các nhóm, có khả năng giải quyết hiệu quả các công việc quan trọng
Để tạo ra một nhóm đoàn kết, cùng hướng đến một mục tiêu chung của tổ chức, nhà quản lý cần phải giải tỏa được những mối lo lắng, quan tâm của nhân viên Việc một quyết định nào đó không được tất cả nhân viên nhất trí là điều khó tránh khỏi nhưng quan trọng là không nên để những bất đồng như vậy trở thành những nhận thức tiêu cực kéo dài, làm ảnh hưởng đến hiệu quả làm việc chung của nhóm Mỗi thành viên của nhóm cần phải chịu trách nhiệm về kết quả chung khi thực hiện một quyết định nào đó của nhóm ngay cả khi họ không phải là người ủng
hộ cho quyết định ấy
Như vậy, yêu cầu đối với đội ngũ CBVC Trung tâm GDNN-GDTX trong điều kiện hiện nay là vừa phải có phẩm chất chính trị, đạo đức, vừa có năng lực chuyên môn và tổ chức điều hành Thực tế cho thấy, nếu đội ngũ CBVC ngành tài giỏi thì mọi chủ trương đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước đưa vào cuộc sống được thuận lợi và đạt hiệu quả cao Ngược lại, nếu đội ngũ CBVC ngành có phẩm chất chính trị đạo đức yếu kém sẽ gây ra độc đoán, chuyên quyền, tiêu cực, khiến cho tài sản Nhà nước bị thất thoát, lòng tin của người dân bị giảm sút , kinh tế đình trệ và tình hình xã hội bị rối loạn Do vậy, Đảng và Nhà nước nói chung và các cấp cấp quản lí ngành Giáo dục nói riêng cần tạo mọi điều kiện thuận lợi để đội ngũ CBVC ngành Giáo dục phát huy khả năng phục vụ, cống hiến nhiều cho đất nước, đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển trong thời kỳ mới
*Có kiến thức về tin học, ngoại ngữ
Chúng ta phải khẩn trương và hoàn thiện ngay, trang bị và đào tạo ngay cho cán bộ, viên chức về chỉ tiêu này Có thể chỉ tiêu về ngoại ngữ chúng ta đào tạo sau
vì bây giờ nhu cầu về ngoại ngữ chưa thực sự cần thiết lắm trong lúc này, nhưng nhất thiết phải đào tạo ngay để người cán bộ, viên chức có thể sử dụng máy vi tính
Trang 32một cách thành thạo, hoàn thành báo cáo hoặc xử lý các văn bản thông thường hàng ngày trên máy vi tính là hết sức cấn thiết và quan trọng Bởi phần lớn cán bộ, viên chức Việt Nam nói chung và cán bộ, viên chức Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục thường xuyên huyện Thường Tín nói riêng chưa được đào tạo bài bản, không được theo học các khóa học nghiệp vụ hay các kỹ năng chuyên sâu, chuyên nghiệp Bên cạch đó, cán bộ, viên chức không chịu khó mày mò nghiên cứu, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại phục vụ cho công việc Cho nên, việc nâng cao năng lực về trình độ tin học là việc làm quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết trong lúc này nhằm đáp ứng yêu cầu đòi hỏi đối với công việc truyền bá kiến thức cho người học và thực hiện theo “Thông tư số 11/2014/TT-BNV của Bộ Nội Vụ ban hành ngày 9/10/2014, một trong những tiêu chuẩn về đào tạo, bồi dưỡng bên cạnh bằng tốt nghiệp đại học trở lên, chứng chỉ ngoại ngữ với trình độ tương đương bậc 3/6 khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam thì chứng chỉ tin học với trình độ đạt chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin cơ bản theo quy định tại Thông tư số 03/2014/TT-BTTTT ngày 11/3/2014 của Bộ Thông tin và Truyền thông quy định Chuẩn kỹ năng sử dụng công nghệ thông tin là điều kiện cần đối với cán bộ, công chức chuyên ngành hành chính làm việc trong các cơ quan, tổ chức của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội ở trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện và đơn vị sự nghiệp công lập”
Đào tạo theo nghĩa chung nhất là quá trình tác động có hệ thống đến con người nhằm làm cho con người đó lĩnh hội và nắm vững những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo đạt được năng lực theo những tiêu chuẩn nhất định, để chuẩn bị cho người đó thích nghi với cuộc sống, có khả năng nhận sự phân công lao động xã hội nhất định Công tác đào tạo bồi dưỡng là con đường cơ bản để nâng cao kiến thức, sự hiểu biết toàn diện: nhận thức về lý luận chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, trình độ
về tin học, ngoại ngữ, kỹ năng nghề nghiệp nhằm giúp cho đội ngũ cán bộ, viên chức Trung tâm hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao
Bồi dưỡng là giai đoạn tiếp theo sau đào tạo, là hoạt động hướng vào mục tiêu liên tục bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn, kỹ năng nghề nghiệp, nâng cao năng lực nói chung cho những người đã được đào tạo sau một thời
Trang 33gian công tác nhất định
Trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, viên chức, bồi dưỡng cập nhật, trang bị thêm, trang bị mới về kiến thức, kỹ năng, thái độ thực thi nhiệm vụ, công vụ; giúp cho người cán bộ, viên chức ngày càng hoàn thành công việc được giao có chất lượng, hiệu quả hơn
Sử dụng cán bộ, viên chức Trung tâm GDNN-GDTX: việc bố trí, xắp xếp, sử dụng cán bộ viên chức đúng người, đúng việc, đúng với năng lực, trình độ của cán
bộ, viên chức rất quan trọng quyết định yếu tố thành công trong giải quyết công việc làm phát huy hết giá trị thực của bản thân người cán bộ, viên chức, thông qua người CBVC mà mọi đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước được truyền đạt đến người học một cách thấu đáo, rõ ràng nhờ những người cán bộ gương mẫu, tận tuỵ trong công việc hết lòng phục vụ người học lấy người học làm chủ thể hành động, là đối tượng phục vụ chứ không phải lấy danh nghĩa giáo viên
có quyền hách dịch, sách nhiễu gây khó khăn, cho người học
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách nền giáo dục, do vậy bồi dưỡng kiến thức về phương pháp dạy và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ cho CBVC là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
*Có sức khỏe thể lực
Phát triển thể lực để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đề án tổng thể
“Phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam” giai đoạn 2011-2030 (Đề án 641) nhằm
“phát triển thể lực, tầm vóc người Việt Nam trong 20 năm tới để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; từng bước nâng cao chất lượng giống nòi và tăng tuổi thọ của người Việt Nam”
Sức khỏe là nền tảng quan trọng cho mọi hoạt động Con người nói chung và CBVC nói riêng đều mong muốn có sức khỏe để làm việc Sức khỏe của CBVC là một tiêu chí quan trọng đánh giá chất lượng CBVC Sức khỏe là trạng thái thoải mái
Trang 34về thể chất, tinh thần và xã hội, là tổng hòa nhiều yếu tố tạo nên Hiện nay, sức khỏe được chia làm 3 loại: loại A là loại có thể lực tốt, loại B là trung bình, loại C là yếu Sức khỏe là yêu cầu bắt buộc khi tuyển dụng của CBVC đồng thời là yếu tố cần được duy trì trong suốt thời gian công tác của CBVC
Đầu tư các môn thể dục để nâng tầm vóc phát triển tố chất nhanh, mạnh qua các môn mang tính đại chúng và có hiệu quả giáo dục cao như chạy, bơi, đá cầu, cầu lông, tennis, bóng chuyền, bóng rổ, bóng đá, mà còn phản ánh rõ một lối sống khỏe mạnh, được rèn luyện TDTT thường xuyên Tập luyện và ăn uống đúng cách là phương pháp giúp khỏe mạnh, hay trong các buổi tập luyện để tăng sức bền Những năm gần đây, tầm quan trọng của thể thao ngày càng được đề cao trong các công sở Đây là tín hiệu đáng mừng, là kết quả của việc nhận thức được ích lợi của thể thao trong việc phát triển thể lực và tầm vóc, đảm bảo phục vụ tốt, hoàn thành nhiệm vụ được giao
Trong điều kiện hiện nay, với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, chính sách pháp luật của nhà nước luôn có sự điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi để kịp thời điều chỉnh các quan hệ xã hội mới phát sinh một cách kịp thời, đảm bảo cho sự nghiệp cải cách kinh tế, cải cách nền hành chính nhà nước, do vậy bồi dưỡng kiến thức về phương pháp dạy và nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng thực thi công vụ cho CBVC là vấn đề quan trọng và mang tính cấp thiết
2.1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới chất lượng cán bộ, viên chức
2.1.5.1 Chế độ chính sách
Chế độ, chính sách là nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng CBVC Do con người tạo ra, nhưng đồng thời chính sách lại tác động mạnh mẽ đến hoạt động của con người Chính sách có thể mở đường, là động lực thúc đẩy tính tích cực, khả năng sáng tạo, nhiệt tình, trách nhiệm của mỗi con người, nhưng cũng có thể kiềm hãm những hoạt động, làm thui chột tài năng, sáng tạo của họ Chính sách đối với CBVC còn góp phần ổn định, phát triển và tiến bộ xã hội, bảo đảm cho mọi người sống trong bình đẳng, phát triển hài hòa; là nơi tạo điều kiện, cơ hội bình đẳng cho mọi cán bộ có thể phát huy hết năng lực sáng tạo của mình
Trang 352.1.5.2 Năng lực bản thân của của cán bộ viên chức
Mỗi cán bộ, viên chức cần nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm với công việc Học và làm theo Bác không phải là bằng những điều cao siêu, to lớn, mà cần bắt đầu từ những lời nói, việc làm, bằng thái độ, cách ứng xử trong xử lý và giải quyết công việc hằng ngày Đó là sự tự ý thức về trách nhiệm của mình trong công việc chung, là việc cố gắng, nỗ lực hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ ở cương vị công tác Mỗi người cần thấm nhuần, khắc sâu lời Bác dạy: Cán bộ, đảng viên “là người đày tớ trung thành và tận tụy của nhân dân”; “phục vụ nhân dân là phục tùng chân lý”; “làm công bộc cho dân là một việc làm cao thượng”
Học tập ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ người học cần xuất phát từ tinh thần
tự giác, sự thôi thúc của con tim, từ danh dự và lương tâm của chính bản thân mỗi người Làm việc với một niềm hăng say, phấn khởi, tin tưởng, hạnh phúc, với mong muốn được cống hiến, đóng góp một phần nhỏ bé vào sự phát triển của cơ quan, đơn vị, tổ chức mà mình là thành viên, rộng hơn là của xã hội, đất nước, chứ không phải vì danh lợi, chạy theo thành tích Cần nhận thức rõ rằng, trở thành một cán bộ, viên chức, một đảng viên là niềm vinh dự, tự hào, nhưng cũng là trách nhiệm, nghĩa
vụ to lớn Vinh dự, trách nhiệm đó đòi hỏi mỗi người cần cố gắng, phấn đấu, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức cách mạng, năng lực chuyên môn để hoàn thành tốt nhiệm
vụ được tổ chức phân công, giao phó
2.1.5.3 Quy hoạch bố trí và sử dụng cán bộ viên chức
Quy hoạch CBVC là dự kiến sắp xếp CBVC theo các vị trí trong một thời gian nhất định, làm cơ sở cho việc xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, bố trí, đề bạt hoặc ứng cử các chức danh lãnh đạo, quản lý Công tác quy hoạch và xây dựng chỉ tiêu biên chế là công việc thường xuyên, quan trọng, được thực hiện hàng năm Quy hoạch tốt, phù hợp với thực tế tạo tiền đề cho sự phát triển sau này
Sau khi tuyển chọn được đội ngũ CBVC đáp ứng đầy đủ yêu cầu cần thiết thì việc sắp xếp, bố trí, quy hoạch, bổ nhiệm cũng ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng đội ngũ CBVC Thực tế cho thấy, nếu làm tốt công tác này sẽ tạo môi trường thuận lợi cho CBVC phát huy được trình độ, năng lực, sở trường của mình Như
Trang 36vậy, để phát huy hiệu quả sử dụng đội ngũ CBVC trong bộ máy hành chính quyền, cần tiếp tục đổi mới và hoàn thiện chính sách sử dụng CBVC
Hiện nay có tình trạng, cán bộ trẻ, cán bộ giỏi hầu như không muốn chọn cấp
cơ sở là nơi gắn bó cống hiến lâu dài Bên cạnh đó nguồn cán bộ ở trung tâm hạn hẹp, một số CBVC không đủ tiêu chuẩn vẫn đưa vào quy hoạch, có nơi do nể nang,
rà soát nhưng chưa mạnh dạn đưa những người không đủ tiêu chuẩn ra khỏi quy hoạch và chưa bổ sung kịp thời những người trẻ, sức phấn đấu tốt vào quy hoạch Một số chế độ chính sách của Đảng và Nhà nước có thay đổi điều chỉnh nhưng chưa tương ứng với công sức của cán bộ bỏ ra trong quá trình thực thi nhiệm vụ; huyện
có chế độ hỗ trợ khi đi học nhưng mức trợ cấp không theo kịp mức tăng giá hiện nay Do vậy cần sử dụng đồng bộ các chính sách đãi ngộ về vật chất và tinh thần nhằm khuyến khích cán bộ, viên chức đem hết khả năng, năng lực của mình công hiến cho xã hội
2.1.5.3 Công tác tuyển dụng
Tuyển dụng là một trong những nội dung quan trọng, quyết định chất lượng, ảnh hưởng tới việc sử dụng CBVC về sau Mục đích của việc tuyển dụng là tìm được những người đủ tài, đủ sức và phẩm chất để thực hiện công việc Tuyển dụng
là khâu tiền đề quan trọng để xây dựng và phát triển đội ngũ CBVC nhà nước trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu trong thời kỳ hội nhập và phát triển Nếu công tác tuyển dụng làm không tốt sẽ dẫn đến tình trạng “vào được mà không ra được”, người được tuyển dụng làm việc kém hiệu quả, ảnh hưởng tới chất lượng công tác, làm cho bộ máy vừa thừa, lại vừa thiếu Nhà nước phải tốn nhiều tiền hơn cho việc đào tạo, bồi dưỡng hoặc phải tiến hành các đợt tinh giảm biên chế vừa mất thời gian, công sức, lại tốn kém tiền bạc
Việc tuyển dụng CBVC phải thực sự xuất phát từ nhu cầu công việc, vì việc tìm người thay vì người để sắp xếp, bố trí việc Để làm được điều này phải kết hợp đồng bộ cùng với các giải pháp khác, như các cơ quan Nhà nước phải xây dựng được hệ thống danh mục vị trí công việc và cơ cấu nghạch viên chức của cơ quan,
tổ chức mình, từ đó mới có cơ sở để tuyển dụng đúng người, đúng việc, đúng số lượng, đảm bảo cơ cấu hợp lý
Trang 372.1.5.4 Đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ viên chức
Đào tạo, bồi dưỡng chính là quá trình tạo những cơ hội học tập cho CBVC nhằm trang bị, cập nhật những kiến thức, kỹ năng và thái độ, giúp thực hiện tốt hơn công việc được giao Việc đào tạo, bồi dưỡng có ba mục tiêu chính: Trang bị, bổ sung, cập nhật những kiến thức, kỹ năng, thái độ chuyên môn nghề nghiệp cần thiết
để nâng cao hiệu quả công việc, tăng năng suất lao động Tạo điều kiện, làm giảm thời gian làm quen với vị trí công việc mới trong các trường hợp đề bạt, luân chuyển, thuyên chuyển, biệt phái Trang bị những kiến thức, kỹ năng cần thiết để CBVC đáp ứng được các tiêu chuẩn của ngạch, đáp ứng các yêu cầu tương lai về nguồn nhân lực của tổ chức
2.1.5.5 Môi trường làm việc
Môi trường làm việc là một khái niệm rộng bao gồm tất cả những gì có liên quan, ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động và sự phát triển, nâng cao năng lực công tác của mỗi cá nhân, CBVC (bao gồm môi trường bên trong và môi trường bên ngoài) Vì vậy, việc xây dựng một môi trường làm việc lý tưởng, chuyên nghiệp cho CBVC là rất quan trọng, cần thiết nhằm nâng cao chất lượng và năng suất làm việc của CBVC; quyết định hiệu quả hoạt động của từng cơ quan, đơn vị và là nguồn động lực góp phần quan trọng trong sự phát triển, cho nên môi trường làm việc là một trong những nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến chất lượng công việc, năng suất lao động của nhân viên trong một cơ quan, đơn vị
2.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Kinh nghiệm một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Một trong những bí quyết của quốc gia này nằm ở chiến lược phát triển nhân
sự xuất sắc Thu hút nhân tài, nâng cao chất lượng nhân sự không chỉ trong khu vực kinh tế tư nhân mà trong cả khối cơ quan Nhà nước để đáp ứng khả năng cạnh tranh ở quy mô toàn cầu là mục tiêu mà Chính phủ Hàn Quốc đặt ra và mục tiêu ấy đã thành hiện thực
a) Cải thiện ngoại ngữ
Thông qua các chính sách thay đổi giáo dục từ mầm non, Chính phủ Hàn Quốc đã đưa ra tiêu chuẩn tiếng Anh quốc tế vào chương trình đào tạo nhằm nâng
Trang 38cao trình độ ngoại ngữ cho các công dân tương lai
Trong hoạt động tuyển dụng, hầu hết các ứng viên khi nộp hồ sơ đều phải chứng minh được năng lực tiếng Anh giao tiếp và học thuật của mình qua chứng chỉ TOEIC hoặc TOEFL
Ở vòng tiếp theo, các ứng viên sẽ tham gia phỏng vấn trực tiếp và họ phải thể hiện được khả năng tư duy, tranh luận, thuyết phục, trình bày ý tưởng trước các chuyên gia bằng tiếng Anh Nhờ làm cách này, mặt bằng chung về ngoại ngữ của nguồn nhân lực Hàn Quốc tăng đáng kể
b) Linh hoạt và dạng hóa đối tượng tuyển dụng
Ngoài việc tuyển chọn những sinh viên mới tốt nghiệp theo kiểu truyền thống, các doanh nghiệp và cơ quan Chính phủ cũng chào đón những người lao động trung niên, phụ nữ, chuyên gia, lao động nước ngoài và du học sinh tại Hàn Quốc Mục đích là tạo ra sự đa dạng về văn hóa và học hỏi kinh nghiệm từ nhiều đối tượng khác nhau (Phan Hồng Giang, 2016)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nền kinh tế đứng thứ 3 thế giới với diện tích 378.000 km2, là một quốc gia coi trọng con người, luôn đặt giáo dục con người lên hàng đầu Từ thời kỳ Thiên Hoàng Minh Trị, tư tưởng này đã được xem trọng Bởi xem trọng con người, xem trọng người tài sẽ là đòn bẩy giúp cho đất nước có thể phát triển bền vững Nhật Bản trong những thập kỷ qua đã khẳng định mình là quốc gia vững mạnh trên tất cả mọi mặt, bởi họ luôn lấy hiền tài làm trọng để phát huy những thế mạnh khác Cách giáo dục của họ đã tạo dựng nguồn nhân lực sự cần cù, lòng kiền trì, bền bỉ, kỷ luật lao động nghiêm, trung thành tận tụy với công việc và gắn bó sống còn với tổ chức mà họ đang làm việc
Để đảm bảo thường xuyên nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội, Chính phủ Nhật khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành hệ thống giáo dục hay đào tạo nghề trong các công ty, doanh nghiệp Cùng với việc tăng cường giáo dục – đào tạo (nhất là đào tạo nghề), Chính phủ có chính sách ưu đãi đối với lực lượng lao động có trình độ chuyên môn giỏi, tay nghề cao, đồng thời khích lệ hoạt động sáng tạo của người lao động thích ứng với mọi điều kiện Về sử dụng và quản lý nguồn nhân lực, Nhật thực hiện chế độ lên lương và tăng thưởng theo thâm niên Như vậy, phương thức đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của Nhật Bản là phát huy cao
Trang 39độ tính chủ động sáng tạo của người lao động, tạo điều kiện thuận lợi cho người lao động có khả năng thích ứng nhanh với điều kiện làm việc luôn thay đổi và nhạy bén trong việc làm chủ công nghệ và các hình thức lao động mới (Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng, 2013)
2.2.1.2 Kinh nghiệm của Trung quốc
Trung Quốc với dân số 1,4 tỷ người, diện tích tự nhiên 9.597 km2, hiện đang
là nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới Trung Quốc đặt mục tiêu trở thành nước hiện đại và phát triển kinh tế Chính phủ và nhân dân Trung Quốc một mặt nhấn mạnh yếu tố tự lực tự cường, mặt khác không ngừng tìm tòi áp dụng các công nghệ
và các phương pháp quản lý tiên tiến của nước khác, trong đó phải kể đến sự nhấn mạnh về phát triển nguồn nhân lực Từ sau giải phóng (1949), Trung Quốc thực hiện chính sách đầu tư mạnh cho phát triển giáo dục Ưu tiên giáo dục – đào tạo trong nước, đầu tư xây dựng mở rộng, cải tạo, nâng cấp nội dung chương trình; ưu tiên cho việc cập nhật tri thức mới, công nghệ mới, mời chuyên gia, Bên cạnh
đó, Chính phủ Trung Quốc chú trọng việc gửi lưu học sinh theo học tại các nước phát triển như Mỹ, Đức, Anh, Pháp Từ năm 1979 đến 1983, Trung Quốc đã gửi 11.700 sinh viên đi học ở nước ngoài, bằng số sinh viên gửi ra nước ngoài từ 1949 đến 1978 Từ năm 1979 đến 1987, hơn 40.000 sinh viên Trung Quốc ra nước ngoài học tập ở 73 nước, đồng thời cũng trong thời kỳ đó, hơn 18.000 sinh viên tốt nghiệp trở về nước làm việc Trung Quốc một mặt vẫn gửi lưu học sinh ra nước ngoài học tập, mặt khác cải cách nền giáo dục đại học theo các phương hướng: đa dạng hóa các cấp đào tạo và các hình thức trường lớp, giao cho các trường đại học và các trường tổng hợp nhiệm vụ lập thêm các chi nhánh đào tạo, các khóa đào tạo ngắn hạn, các khóa đặc biệt đào tạo cán bộ kỹ thuật, , thành lập các trường trung học dạy nghề và tăng số lượng sinh viên các loại, tăng cường đào tạo sau đại học
Như vậy, đến nay Trung Quốc đã trở thành nền kinh tế đứng thứ hai trên thế giới, sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế đã chứng minh một hướng đi đúng trong phát triển nguồn nhân lực để phục vụ quá trình phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Đó là tăng trưởng kinh tế gắn với giáo dục đào tạo (Cảnh Chí Hoàng và Trần Vĩnh Hoàng, 2013)
Trang 402.2.2 Kinh nghiệm của môt số địa phương về nâng cao chất lượng cán bộ, viên chức ngành Giáo dục
2.2.2.1 Kinh nghiệm của Trung tâm giáo dục nghề nghiệp-Giáo dục Thường Xuyên huyện Hoằng Hóa tỉnh Thanh Hóa
Để từng bước nâng cao chất lượng giảng dạy, một trong những giải pháp được lãnh đạo Trung tâm tập trung chỉ đạo thực hiện đó là chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ, giáo viên có chuyên môn, luôn tâm huyết, tận tụy, có trách nhiệm với
sự nghiệp trồng người và đến nay Trung tâm đã có 18 giáo viên giỏi cấp tỉnh (chiếm
tỷ lệ 70%) Cùng với đó, hàng năm, Trung tâm luôn chú trọng đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực; ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học, chuyển
từ việc truyền thụ kiến thức sang cung cấp thông tin và hướng dẫn tự học, tự nghiên cứu cho học sinh; học nghề đi đôi với thực hành; thường xuyên đổi mới công tác kiểm tra, đánh giá chất lượng dạy và học theo Thông tư số 30/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo Đồng thời chủ động sắp xếp vị trí việc làm của của cán bộ, giáo viên phù hợp với thực tiễn; khuyến khích cán bộ, giáo viên viết sáng kiến kinh nghiệm, áp dụng vào quá trình giảng dạy; đồng thời tăng cường thao giảng, dự giờ, đánh giá chất lượng giảng dạy, từ đó có sự điều chỉnh, bổ sung các phương phápgiảng dạy phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục Kết quả, năm học 2018 - 2019, tỷ
lệ giáo viên có giờ dạy giỏi cấp trung tâm 18/26 giáo viên, đạt 69,2%; 100% giáo viên tham gia bồi dưỡng thường xuyên đạt yêu cầu; có 5 sáng kiến kinh nghiệm xếp loại cấp huyện và đã gửi về hội đồng sáng kiến kinh nghiệm cấp tỉnh Về cơ sở vật chất, đến nay Trung tâm đã được Nhà nước đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị giảng dạy tương đối đồng bộ, đảm bảo tốt nhất các điều kiện dạy, học và thực hành cho học sinh, với tổng kinh phí đầu tư gần 6,5 tỷ đồng (trong đó gần 1,5
tỷ đồng từ nguồn vốn Chương trình mục tiêu quốc gia)
Mặc dù cơ sở vất, đội ngũ cán bộ, giáo viên cơ bản đáp ứng yêu cầu học tập của học sinh, nhưng có thời điểm hoạt động của Trung tâm vẫn gặp rất khó khăn, nhất là số lượng học sinh ít Trong đó, giai đoạn từ năm học 2012 - 2013 đến năm học 2017 - 2018, số lượng học sinh giảm sâu, mỗi khóa chỉ từ 4 đến 5 lớp, với tổng