Để tổng kết kinh nghiệm vμ phát triển những thử nghiệm thμnh công trên địa bμn 2 tỉnh Cao Bằng vμ Bắc Cạn, cán bộ hợp phần nông nghiệp của Dự án phối hợp với một số chuyên gia có kinh n
Trang 3Mục lục
Lời nói đầu
giám sát vμ đánh gia
III Tổng kết vμ phổ biến kỹ thuật mới thμnh công giai
đoạn 2000-2003
A Các kỹ thuật về trồng trọt
1 Thử nghiệm giống lúa đoàn kêt nguyên chủng và áp dụng biện pháp kỹ thuật cấy lúa 1 rảnh
2 Thử nghiệm bón phân cân đối cho lúa Đoàn kết
3 Thử nghiệm Giống lúa lai Q 63 / Nhị ưu 63 tại Cao Bằng
4 Thử nghiệm giống lúa lai 2 dòng Bồi tạp sơn thanh và Bồi tạp 49 tại Bắc Kạn
5 Thử nghiệm giống lúa Nhị ưu 838 tại Bắc Kạn
6 Thử nghiệm về lúa chụi hạn CH5, CH135 và CH185 tại Cao Bằng
7 Thử nghiệm lúa cạn LC 931 tại Bắc Kạn
8 Thử nghiệm giống ngô HQ2000
9 Thử nghiệm bón phân cho ngô
10 Thử nghiệm giống ngô ĐK888 và ĐK999
11 Thử nghiệm giống đậu tương VX 93, DT99 Và DT12
12 Thử nghiệm giống đậu tương DT 84 trên đất ruộng một vụ
13 Thử nghiệm bón phân cho đậu tương
14 Giống đậu xanh T135
15 Thử nghiệm về giống lạc
16 Thử nghiệm về bón phân và vôi cho lạc
17 Thử nghiệm giống khoai lang KB1, KB2 và KL5 tại cao bằng
18 Thử nghiệm về giống sắn KM60 và KM94 tại cao bằng
B các kỹ thuật về chăn nuôi
19 Thử nghiệm giống lợn Móng Cái
20 Thử nghiệm nuôi gà Tam Hoàng dòng 882
21 Thử nghiệm nuôi gà Lương Phượng
22 Thử nghiệm sử dụng thức ăn đậm đặc cho gà
23 Thử nghiệm nâng cao tỷ lệ nuôi sống gà con
24 Thử nghiệm nuôi vịt đẻ trứng Khaki campbell tại Bắc Kạn
25 Thử nghiệm nuôi cá ruộng
Trang 4Lời nói đầu
Dự án phát triển nông thôn Cao Bằng - Bắc Kạn (Bộ NN&PTNT Việt Nam cộng tác với Uỷ ban Châu Âu) với thời hạn 5 năm, bắt đầu hoạt động tại 2 tỉnh cao Bằng Bắc Kạn
từ tháng 2 năm 1999 vμ kết thúc vμo cuối tháng 12 năm 2004 Mục tiêu chung của Dự
án: lμ nâng cao mức sống vμ tính bền vững về môi trường cho các hộ nghèo ở vùng miền núi phía Bắc Việt Nam trên cơ sở đảm bảo cho các hộ nghèo có khả năng tăng năng suất cây trồng vật nuôi, tăng nguồn thu phụ vμ cơ hội tiếp cận thị trường, đảm bảo cung cấp nước sinh hoạt vμ bảo vệ đất thông qua phục hồi rừng ở những nơi cần thiết
Để đạt được mục tiêu trên, hoạt động khuyến nông cùng các hoạt động khác của
dự án đã chính thức hoạt động từ tháng 1 năm 2000 tại các huyện điểm của ở 2 tỉnh Cao Bằng vμ Bắc Kạn Đến năm 2003 đã mở rộng hoạt động sang các huyện không trọng
điểm khác Các hoạt động bao gồm:hoạt động thử nghiệm trồng trọt, chăn nuôi, đμo tạo khuyến nông viên, thú y viên thôn bản, mở các lớp IPM, cung cấp tủ thuốc thú y thôn bản, xây dựng các thôn an toμn dịch bệnh vμ nhiều hoạt động khác ở các cấp Kết quả thực hiện đã lμm lμm thay đổi rõ nét đời sống vμ nhận thức của người dân cũng như phương pháp lμm việc của cán bộ khuyến nông các cấp
Tính đến cuối tháng 9 năm 2004, dự án phát triển nông Cao Bằng Bắc Cạn đã phối hợp hỗ trợ 5 huyện ở Bắc Cạn vμ 7 huyện ở Cao Bằng để thực hiện các thủ nghiệm vμ trình diễn trồng trọt vμ chăn nuôi Thử nghiệm vμ trình diễn được thực hiện dưa trên nhu cầu của người dân vμ phát triển của tiến bộ kỹ thuật mới Các thủ nghiệm về giống, phân bón, kỹ thuật canh tác, thức ăn chăn nuôi, thú y đã được nông dân ở 2 tỉnh hưởng ứng vμ phát triển Theo số liệu mới nhất cho biết trong giai đoạn 2000-2004 ở 2 tỉnh đã
có 1123 loại hình thủ nghiệm với 9987 lượt hộ tham gia, trong đó khoảng 40-50% lμ các thủ nghiệm thμnh công vμ được các hộ nông dân tự phát triển Kết quả các thủ nghiệm
đã góp phần không nhỏ vμo xoá đói giảm nghèo vμ cải thiện đời sống người dân
Để tổng kết kinh nghiệm vμ phát triển những thử nghiệm thμnh công trên địa bμn 2 tỉnh Cao Bằng vμ Bắc Cạn, cán bộ hợp phần nông nghiệp của Dự án phối hợp với một
số chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực nμy đã biên soạn cuốn “Phổ biến kỹ thuật mới trong thực nghiệm vμ triển khai trong phát triển Nông nghiệp Nông Thôn- Kết quả vμ bμi học kinh nghiệm tại 2 tỉnh Cao Bằng vμ Bắc Kạn, giai đoạn 2000 -2003”
Cuốn sách được biên soạn chủ yếu dựa vμo kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt
động phối hợp, hỗ trợ của Dự án Hy vọng rằng cuốn sách sẽ lμ tμi liệu tham khảo tốt cho các nhμ quản lý, cán bộ lμm việc trong lĩnh vực phát triển Nông thôn ở các cấp vμ
bμ con nông dân Tuy nhiên, do được biên soạn lần đầu, chắc chắn cuốn sách còn nhiều thiếu sót về nội dung vμ hình thức mong bạn đọc đóng góp cho cuốn sách được hoμn chỉnh hơn
Dự án phát triển nông thôn Cao Bằng- Bắc Kạn
Trang 5áp dụng nhưng chưa mở rộng đến vùng sâu, vùng xa Những tiến bộ này cần phải được thử nghiệm để tìm ra sự thích hợp với các điều kiện mới với sự tham gia đóng góp ý kiến của người dân Nếu các thử nghiệm đó thành công sẽ được đem ra trình diễn để mở rộng Mục tiêu của chương trình thử nghiệm, trình diễn như sau:
- Các chương trình thử nghiệm phải phù hợp với điều kiện kinh tế - xã hội của các hộ nghèo, những kỹ thuật có thể phát triển là những kỹ thuật có hiệu quả mà người nông dân có thể chấp nhận được
- Chỉ tiến hành thử nghiệm các tiến bộ kỹ thuật có yêu cầu đầu tư thấp từ bên ngoài, do khả năng đầu tư của các hộ nghèo còn hạn chế và hệ thống cung ứng vật tư nông nghiệp chưa đầy đủ, thiếu khả năng cung ứng đến xã, thôn
- Các thử nghiệm do nông dân trực tiếp thực hiện, đánh giá kết quả và phải có quy mô nhỏ, không phải đầu tư thêm trừ các công thức thử nghiệm người dân chưa có sẵn như giống vật nuôi, cây trồng …
- Thử nghiệm sẽ tiến hành ngay tại các thôn bản Các thử nghiệm thành công sẽ đưa vào trình diễn và tại đó những công tác viên tham gia chương trình thử nghiệm sẽ có trách nhiệm chỉ cho các nông dân khác những điều họ chứng kiến là có hiệu quả
- Thông qua các thử nghiệm, tiến hành đào tạo cán bộ khuyến nông, vì đây là cơ sở để cán bộ hiểu về nhu cầu cũng như cách tiếp cận với nông dân Sự tham gia của cán bộ khuyến nông trong các cuộc thử nghiệm sẽ tăng cường thêm mối quan hệ với cộng
đồng và tạo điều kiện cho họ trong việc tuyên truyền các kỹ thuật mới và những thành công của các hoạt động thử nghiệm
- Nâng cao trình độ sản xuất của người nông dân
2 Phương pháp tiếp cận
2.1 Phương pháp lựa chọn địa bàn hoạt động
Việc lựa chọn địa bàn hoạt động dựa trên một số tiêu chí như sau:
a- Đối với huyện và xã:
- Huyện và xã phải có tỷ lệ hộ đói nghèo cao
- Đa dạng về dân số, và phải có ít nhất một dân tộc thiểu số
- Phải có các điều kiện đất đai, khí hậu, sinh thái đa dạng
- Có đường giao thông thuận tiện cho xe mô tô và xe bốn bánh để tạo điều kiện cho triển khai các hoạt động của dự án
- Có nguồn lực đủ hoàn thành các hoạt động của dự án
Trang 6- Không có nhiều các hoạt động khuyến nông lớn do các nhà tài trợ khác nhau tiến hành
b- Đối với thôn bản:
- Ưu tiên cho các thôn bản có từ 2 dân tộc thiểu số trở lên như (dân tộc H'mông, Dao, Lôlô)
- Phải đại diện cho vùng sinh thái của xã
- Có tỷ lệ đói nghèo cao trong xã
- Mỗi xã chọn từ 5 - 6 thôn bản Danh sách các thôn bản được lựa chọn cần có sự thống nhất giữa Phòng Nông nghiệp & PTNT huyện và Ban quản lý dự án
2.2 Xây dựng hệ thống tổ chức từ huyện đến x∙, thôn bản
a- Tổ dự án huyện:
Thành phần: Gồm có trưởng hoặc phó phòng Nông nghiệp và PTNT huyện làm tổ trưởng 2 - 3 cán bộ kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi thú y, lâm nghiệp làm uỷ viên, 1 cán bộ làm kế toán
Chức năng nhiệm vụ của tổ:
Tổ chức xây dựng kế hoạch và lựa chọn các thử nghiệm, trình diễn có sự tham gia của người dân
Phối hợp với cán bộ dự án xây dựng kế hoạch hoạt động và kế hoạch ngân sách cho từng năm, kế hoạch tổ chức hoạt động của dự án
Xây dựng nội quy, quy chế hoạt động, lịch sinh hoạt và phân công trách nhiệm cho từng thành viên của nhóm
Đề xuất các biện pháp có tính khả thi để thực hiện có hiệu quả dự án
b- Ban quản lý dự án cấp xã:
Tổ dự án HuyệnThuộc Phòng NN & PTNT
Ban quản lý dự án Xã
Gồm 2 - 3 thành viên
Ban quản lý dự án Thôn
Nhóm trồng trọt
Nhóm chăn nuôi Nhóm lâm
nghiệp
Trang 7- Thành phần: Gồm có Chủ tịch hoặc phó chủ tịch xã làm trưởng ban Cán bộ khuyến nông xã hoặc cán bộ phụ trách nông lâm nghiệp, cán bộ ban chăn nuôi hoặc cán bộ thú y xã và cán bộ phụ nữ hoặc đoàn thể làm uỷ viên
- Chức năng và nhiệm vụ: Tổ chức triển khai thực hiện, đánh giá kết quả các hoạt động của dự án ở xã, thôn bản Tổ chức xây dựng kế hoạch phát triển thôn bản trên cơ sở phối hợp chặt chẽ giữa cán bộ khuyến nông huyện, xã, thôn bản Tổ chức các cuộc họp giao ban tháng để đánh giá hoạt động của tháng đó đồng thời xây dựng kế hoạch cho tháng tiếp theo, viết báo cáo lên tổ dự án huyện
c- Ban quản lý dự án Thôn:
Thành phần: Gồm có trưởng thôn làm trưởng ban Hội trưởng hội nông dân hoặc phụ
nữ, khuyến nông viên, thú y viên thôn bản làm uỷ viên
Chức năng, nhiệm vụ: Chủ trì các cuộc họp để bàn xây dựng kế hoạch phát triển
thôn bản, áp dụng và mở rộng các kỹ thuật mới vào sản xuất
Trực tiếp đôn đốc, kiểm tra, giám sát, đánh giá kết quả hoạt động của dự án tại thôn bản
Hướng dẫn nông dân hoàn thành các biểu mẫu theo dõi, đánh giá thử nghiệm
Tổ chức họp giao ban một tháng một lần và có trách nhiệm báo cáo thường xuyên với xã, huyện về tình hình thực hiện các hoạt động tại thôn bản
d- Nhóm hộ nông dân tham gia làm thủ nghiệm hoặc mô hình trình diễn:
Phân nhóm theo loại hình kỹ thuật: trồng trọt, chăn nuôi thú y và lâm nghiệp
Mỗi nhóm có một trưởng nhóm được nhóm bầu lên và một khuyến nông viên có trách nhiệm tổ chức thực hiện các thử nghiệm hoặc mô hình trình diễn
Hướng dẫn kỹ thuật cho nông dân, kiểm tra việc chuẩn bị, thực hiện các nội dung công việc và điền vào các mẫu biểu theo dõi
Tổ chức họp nhóm ít nhất một tháng một lần để thảo luận, trao đổi về các thử nghiệm, trình diễn và các vấn đề khác
3 Phương pháp tổ chức, triển khai, giám sát và đánh giá thử nghiệm/trình diễn
3.1 Lập kế hoạch thôn bản:
Hình 1: Xây dựng kế hoạch thôn bản
Trang 8Hàng năm các thôn bản triển khai dự án đều tổ chức cuộc họp xây dựng kế hoạch phát triển thôn bản Kế hoạch phát triển thôn bản được xây dựng trên cơ sở có sự tham gia, bàn bạc của toàn thể các thành viên trong thôn, dựa trên tình hình thực tế của thôn bản Trong quá trình xây dựng, người dân thôn bản sẽ bàn bạc thảo luận những thuận lợi, khó khăn chủ yếu của thôn, đề xuất các hoạt động cần thiết tiến hành trong năm, cũng như các giải pháp để thực hiện Đây là cơ sở để xây dựng các kế hoạch tiếp theo
3.2 Lựa chọn thử nghiệm và hộ nông dân
Cơ sở để tiến hành một thử nghiệm và trình diễn tại hiện trường:
Thử nghiệm và trình diễn phải được xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của nông dân, từ những khó khăn trở ngại mắc phải trong quá trình sản xuất hàng ngày và được đề nghị trong kế hoạch thôn bản
Mô hình trình diễn có thể dựa trên kết quả thử nghiệm ở một số vùng có điều kiện tương tự và đạt kết quả tốt
Một số nguyên tắc cơ bản khi lựa chọn thử nghiệm:
Thử nghiệm được tiến hành trên ô mẫu nhỏ, phải dễ làm, dễ áp dụng, dễ nhân rộng
và hạn chế rủi ro
Phải là các thử nghiệm có đầu tư thấp, đầu tư cho thử nghiệm hoặc trình diễn chỉ mang tính hỗ trợ và phải phù hợp với điều kiện của dân
Thử nghiệm phải đơn giản, đảm bảo nguyên tắc chỉ thay đổi một yếu tố còn các yếu
tố khác phải giữ nguyên và phải có lô đối chứng để so sánh khi đánh giá kết quả
Chọn hộ tham gia làm thử nghiệm:
Các hộ được chọn phải nằm trong các thôn được chọn thực hiện dự án và có đủ các tiêu chuẩn sau:
- Phải tự nguyện và thực sự có nhu cầu tham gia thử nghiệm mới
- Nhiệt tình, có tinh thần trách nhiệm và sẵn sàng phổ biến kiến thức cho người khác
- Ưu tiên cho các hộ thuộc diện nghèo đói, khuyến khích vai trò của phụ nữ
Khi chọn hộ tham gia làm thử nghiệm cần có sự tham gia ý kiến của các hộ nông dân khác trong thôn bản
3.3 Tập huấn và xây dựng kế hoạch thực hiện
Trước khi tiến hành thử nghiệm hoặc trình diễn, cán bộ khuyến nông cùng nông dân tham gia thử nghiệm thảo luận về kế hoạch, phân công rõ trách nhiệm cho các bên có liên quan, để họ hiểu rõ công việc và trách nhiệm của họ
Quá trình tập huấn phải làm rõ những vấn đề như: thời gian tiến hành từng công việc,
kế hoạch chuẩn bị vật tư, lao động, và các dụng cụ khác
Cần thống nhất nội dung công việc, chỉ tiêu theo dõi và người theo dõi Khi cần sẽ
ký hợp đồng thực hiện giữa cán bộ khuyến nông và nông dân tham gia thử nghiệm, trình diễn
Cần thiết phải trao đổi để người dân hiểu rằng đây không phải là thử nghiệm của cán
bộ khuyến nông mà chính là thử nghiệm của họ, để giúp đỡ họ có thể so sánh lựa chọn kỹ thuật cho phù hợp với điều kiện mà họ có
Cán bộ khuyến nông cùng các hộ nông dân thiết kế ô thử nghiệm/trình diễn sau khi
đã chuẩn bị đầy đủ vật tư nguồn lực Quá trình thiết kế cần chú ý:
Trang 9Thiết kế phải dựa vào tên của thử nghiệm Thiết kế của thử nghiệm càng đơn giản càng dễ thực hiện Thiết lập hệ thống biển báo và mẫu ghi chép sổ sách cụ thể, rõ ràng dựa trên nội dung của thử nghiệm
Hình 2: Tập huấn kỹ thuật trước khi triển khai thử nghiệm
3.4 Phương pháp triển khai thử nghiệm
vụ gieo trồng và chăm sóc tại các công thức thử nghiệm và đối chứng như nhau
Diện tích mỗi công thức thử nghiệm là 180m2 tại Cao Bằng và 250 m2 tại Bắc Kạn Công thức thử nghiệm và đối chứng tại mỗi hộ được bố trí trên cùng đám ruộng đồng đều
về tính chất đất Giữa các công thức được ngăn bởi 1 khoảng cách rộng 30-40 cm
Dự án hỗ trợ toàn bộ chi phí về giống cho các thử nghiệm về giống và phân bón cho các thử nghiệm về phân bón Ngoài ra, dự án tổ chức tập huấn kỹ thuật cho người dân,
đào tạo khuyến nông viên thôn bản để giám sát và hướng dẫn thực hiện quy trình kỹ thuật
Người dân có trách nhiệm đầu tư phân chuồng, giống địa phương cho các ô đối chứng Người dân đảm nhận tất cả các khâu công việc từ làm đất, gieo trồng, chăm sóc và thu hoạch theo đúng quy trình kỹ thuật
• Chăn nuôi:
áp dụng phương pháp phân lô so sánh Mỗi thử nghiệm được bố trí làm hai lô, lô thử nghiệm và lô đối chứng Đảm bảo đồng đều về các yếu tố chỉ khác nhau ở yếu tố thử nghiệm
Trang 10Các thử nghiệm đều triển khai với quy mô nhỏ, phù hợp với khả năng thực hiện của người dân Thử nghiệm về chăn nuôi lợn nái Móng Cái có quy mô là 1 lợn nái Móng Cái/hộ, thử nghiệm về gia cầm từ 10 – 15 con/hộ
Để đảm bảo tính bền vững của thử nghiệm, việc hỗ trợ chỉ mang tính thúc đẩy, và phải có sự đóng góp của người dân Có như vậy mới gắn trách nhiệm của người dân vào hoạt động thử nghiệm Mỗi thử nghiệm đều có bố trí một lô đối chứng, toàn bộ chi phí của lô đối chứng đều do người dân Ngoài ra dự án còn tổ chức tập huấn về kỹ thuật cho tất cả các hộ tham gia làm thử nghiệm, cử cán bộ khuyến nông giúp đỡ khi cần thiết
3.5 Tổ chức theo dõi giám sát và đánh giá kết quả
Việc triển khai thực hiện phải tuân theo thiết kế đã được xây dựng trước Trong quá trình thực hiện cán bộ khuyến nông cần phải nắm bắt được các vấn đề mấu chốt và kích thích sự sáng tạo của người dân để họ tự suy nghĩ và đề ra cách giải quyết khó khăn mắc phải trong quá trình thực hiện
Đảm bảo việc ghi chép sổ sách đầy đủ theo mẫu đã được thống nhất Ngoài ra cần ghi chép những vấn đề bất thường phát sinh, kể cả tình hình thời tiết để làm sở cứ đánh giá kết quả thử nghiệm sau này
Cán bộ khuyến nông cần thường xuyên theo dõi, giám sát quá trình thực hiện thử nghiệm, cùng nông dân bàn bạc, phân tích, đánh giá kết quả của từng thời kỳ là cơ sở để
có kết luận chính xác khi kết thúc thử nghiệm hoặc trình diễn
Các chỉ tiêu theo dõi chính bao gồm tình hình sinh trưởng phát triển của cây trồng, con gia súc, kết quả năng suất, hạch toán kinh tế (thu-chi) Các hộ được hướng dẫn phương pháp ghi chép sổ sách, diễn biến của thử nghiệm, theo dõi các chỉ tiêu và tính toán hiệu quả kinh tế của thử nghiệm đó
Hình 3: Khuyến nông viên cùng người dân kiểm tra đồng ruộng và đánh giá hoạt
động hàng tháng
3.6 Hội thảo đầu bờ, tham quan chéo
Đây là một hoạt động quan trọng, giúp cho công tác đánh giá sự thành công của thử nghiệm, là tiền đề cho việc triển khai mở rộng Các hội thảo đầu bờ hoặc tham quan chéo
Trang 11được các ban quản lý dự án thôn bản tổ chức, các cán bộ khuyến nông chỉ mang tính hỗ trợ
Ban quản lý thôn bản cùng bàn bạc với nông dân chọn thời điểm thích hợp để tổ chức hội thảo đầu bờ Thời điểm này tuỳ thuộc vào tính chất của từng loại thử nghiệm, ví
dụ như nếu thử nghiệm về cây lúa, ngô, lạc thì nên tiến hành vào thời điểm thu hoạch, nếu thử nghiệm về chăn nuôi vịt đẻ trứng Khaki Campbell nên tiến hành sau khi vịt đẻ được một thời gian …
Thành viên tham gia hội thảo bao gồm đại diện các hộ tham gia thử nghiệm và các
hộ chưa tham gia ở cùng thôn hoặc các thôn bản lân cận, trong đó có một số nông dân của các thôn bản chưa được dự án hỗ trợ
Số lượng nông dân tham gia hội thảo khoảng 30 người Khuyến khích sự tham gia của phụ nữ, vì đây chính là lực lượng quan trọng trong sản xuất nông nghiệp
Xây dựng nội dung và kế hoạch cụ thể cho từng buổi hội thảo hoặc tham quan Trong đó lựa chọn một số nông dân thực hiện tốt thử nghiệm báo cáo lại kết quả thử nghiệm, trình diễn Cần tạo ra một sự trao đổi cởi mở giữa những người tham dự, để mọi người tự rút ra các kết luận đánh giá về kết quả của thử nghiệm
Hình 4: Hội thảo đầu bờ về áp dụng IPM trên lúa
3.7 Tổng kết đánh giá và xây dựng kế hoạch phát triển
Khi thử nghiệm hoặc trình diễn kết thúc, tiến hành tổ chức tổng kết đánh giá kết quả của thử nghiệm, đồng thời xây dựng kế hoạch phát triển tiếp theo
Đại diện nông dân tham gia thử nghiệm bảo cáo về quá trình thực hiện, những thuận lợi và khó khăn, kết quả đạt được Các cán bộ khuyến nông và các hộ nông dân tham gia thảo luận, đánh giá mức độ thành công của thử nghiệm và tìm những biện pháp cần để thử nghiệm thành công
Hội nghị tổng kết cũng đưa ra khả năng mở rộng của thử nghiệm, xây dựng các kế hoạch triển khai mở rộng trong năm tiếp theo
Trang 12Phần II
Kết quả đạt được giai đoạn 2000-2003
Trong thời gian từ 2000 -2003, Dự án Phát Triển Nông Thôn Cao Bằng - Bắc Kạn
đã tiến hành các thử nghiệm về kỹ thuật Trồng trọt và Chăn nuôi cho đồng bào các dân tộc của 2 tỉnh
Các thử nghiệm về Trồng trọt chủ yếu đưa các giống cây trồng có năng suất, chất lượng tốt, phù hợp với điều kiện thời tiết khí hậu của địa phương Đồng thời giới thiệu các biện pháp kỹ thuật canh tác, phân bón và bảo vệ thực vật đối với từng loại giống cây trồng Các thử nghiệm về Chăn nuôi chủ yếu là đưa các giống vật nuôi như gà, vịt, lợn, cá là những giống cho năng suất và chất lượng thịt cao Đồng thời với việc đưa các giống mới vào sản xuất, một số thử nghiệm về các biện pháp kỹ thuật chăn nuôi như bổ xung thức ăn
và thú y cũng được thực hiện Sau đây là tổng hợp các kết quả thành công của thử nghiệm:
1 Tổng hợp số lượt hộ tham gia các mô hình thử nghiệm
0 500 1000 1500 2000 2500
Trang 132 Tæng hîp sè hé thö nghiÖm theo huyÖn, tØnh
B¶ng 1: B¶ng tæng hîp sè l−îng c¸c lo¹i thö nghiÖm thµnh c«ng vµ sè hé tham gia
t¹i c¸c huyÖn ®iÓm
HuyÖn, tØnh
Tæng sè lo¹i m« h×nh thö nghiÖm thµnh c«ng
Trang 143 Tæng hîp sè hé thö nghiÖm theo c¸c lo¹i m« h×nh
B¶ng 2: Tæng hîp sè hé tham gia c¸c lo¹i h×nh thö nghiÖm, tr×nh diÔn
Khoai lang: -gièng
Trang 152 Nhận xét kết quả thử nghiệm và trình diễn
- Với tổng số lượt hộ tham gia thử nghiệm về trồng trọt ở hai tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn trong 3 năm từ 2001 -2003 là 6510 lượt hộ, trong đó năm 2001 có 747 lượt hộ, năm 2002 có 3012 lượt hộ và năm 2003 có 2751 lượt hộ Các thử nghiệm về chăn nuôi ở cả 2 tỉnh với tổng số lượt hộ là 1816 hộ, trong đó năm 2001 có 272 lượt hộ (chủ yếu là ở Cao Bằng), năm 2002 có 741 lượt hộ, năm 2003 có 803 lượt hộ
- Các thử nghiệm về trồng trọt chủ yếu là thử nghiệm về giống các loại cây trồng,
đồng thời kết hợp với các biện pháp bón phân và canh tác cho các loại đối tượng cây trồng chính như: Lúa, ngô, đỗ tương, đậu xanh, khoai tây, khoai lang, sắn, mía Các thử nghiệm về chăn nuôi là đưa các giống mới vào thử nghiệm, đồng thời áp dụng các biện pháp chăm sóc cũng như phòng bệnh cho các vật nuôi
- Hầu hết các mô hình thử nghiệm đều cho kết quả năng suất cao hơn so với đối chứng Nhiều thử nghiệm đã được tiếp tục nhân rộng về diện tích và số hộ áp dụng
- Việc lựa chọn các loại thử nghiệm đã xuất phát từ nhu cầu thực tiễn của sản xuất và nguyện vọng của dân nên được họ hưởng ứng rất nhiệt tình Các thử nghiệm và trình diễn này đã thực sự mang lại lợi ích thiết thực cho người dân, góp phần vào xóa đói giảm nghèo và phát triển kinh tế xã hội của các địa phương
- Tổng số các loại thử nghiệm thành công về trồng trọt tại Cao Bằng là 43 và tại Bắc Kạn là 28 Số loại thử nghiệm thành công về chăn nuôi tại Cao Bằng là 17 và tại Bắc Kạn là 12 Trong số các loại thử nghiệm trên có 18 về trồng trọt và 7 về chăn nuôi đã được đánh giá rất thành công Kết quả cụ thể của 25 thử nghiệm này sẽ
được trình bày chi tiết ở phần sau
Trang 16Phần III
Tổng kết vμ phổ biến kỹ thuật mới thμnh công
giai đoạn 2000-2003
A Các kỹ thuật về trồng trọt
1 Thử nghiệm giống lúa đoμn kêt nguyên chủng vμ áp dụng
biện pháp kỹ thuật cấy lúa 1 dảnh
1 Lý do và mục đích
Giống lúa Đoàn kết đã được sử dụng lâu đời tại các địa phương của hai tỉnh Bắc Kạn và Cao Bằng Hiện nay, phần lớn giống lúa Đoàn kết địa phương đã bị thoái hóa, lẫn tạp nhiều, năng suất thấp và chất lượng giảm sút Ví dụ: tại xã Nà Sác, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, năng suất giống lúa Đoàn kết địa phương chỉ đạt 15-25 tạ/ha
Thử nghiệm giống lúa Đoàn kết nguyên chủng nhằm mục đích giúp nông dân từng bước thay thế các giống Đoàn kết địa phương đã bị thoái hóa và năng suất thấp Thông qua thử nghiệm này sẽ tăng năng suất lúa và nâng cao nhận thức của người dân về sử dụng giống tốt
Trong thử nghiệm về giống lúa Đoàn kết nguyên chủng, kỹ thuật cấy lúa 1 đảnh cũng được giới thiệu nhằm giảm bớt các chi phí về giống, nhân nhanh giống tốt cho sản xuất và tiết kiệm các chi phí khác
2 Đặc điểm kỹ thuật của giống lúa Đoàn kết nguyên chủng
- Giống lúa Đoàn kết nguyên chủng là giống lúa được phục tráng từ giống lúa Đoàn kết địa phương Đây là giống lúa có phản ứng trung tính với ánh sáng ngày ngắn Thời gian sinh trưởng trung bình 145- 160 ngày, thích nghi với điều kiện sản xuất
vụ mùa trung ở các tỉnh miền núi phía Bắc Lúa Đoàn kết nguyên chủng có hạt to mẩy, màu sắc hạt màu sáng Chất lượng gạo ngon, độ dẻo khá và độ đục của hạt thấp
- Giống lúa Đoàn kết nguyên chủng thường cho năng suất cao hơn so với các giống lúa Đoàn kết địa phương Khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh cao, thích hợp với các chân ruộng vàn cao, và vàn thấp ở điều kiện miền núi Chịu chua khá
và có khả năng chống chụi một số lọai sâu bệnh
- Lúa Đoàn kết có khả năng đẻ nhánh cao Đặc biệt khi cấy mạ non, và cấy 1 dảnh lúa đẻ nhánh mạnh, số đảnh hữu hiệu/khóm không thua kém gì khi cấy nhiều dảnh
Số hạt chắc/bông của lúa cấy 1 dảnh cao Nếu được chăm sóc đầy đủ sẽ cho thu hoạch cao và tiết kiệm được giống
3 Địa điểm và qui mô
Thử nghiệm giống lúa Đoàn kết nguyên chủng được thực hiện ở cả 2 tỉnh Cao Bằng
và Bắc Kạn trong 2 năm 2001 và 2002 Tại Cao Bằng, thử nghiệm đã được thực hiện tại xã
Trang 17Lương Thông và Cần Yên, huyện Thông Nông và xã Nà Sắc, huyện Hà Quảng với tổng số
40 hộ tham gia Tại Bắc Kạn thử nghiệm được thực hiện tại các Xã Hữu Thác, huyện Na Rì và xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn với tổng số 53 hộ tham gia
4 Quy trình kỹ thuật
- Lượng giống thử nghiệm là 10 kg giống lúa đoàn kết nguyên chủng/1000 m2 Riêng đối với công thức thử nghiệm cấy lúa Đoàn kết 1 dảnh tại Bắc Kạn lượng giống thử nghiệm là 4 kg/ 1000 m2
- Thời vụ cấy vào từ 15/ 4 -15/5
- Mật độ cấy 45-50 khóm/m2 (20cm x 10-15 cm) Cấy thẳng hàng theo hướng đông tây
- Phân bón như nhau đối với công thức thử nghiệm và đối chứng Lượng bón cho
1000 m2 là 800-1000 kg phân chuồng, 15 kg urê, 30-35 kg lân và 10 kg kali Bón lót toàn bộ phân chuồng và P, bón thúc đẻ 1/2 lượng N và 1/3 lượng K, bón đón
đòng số phân N và kali còn lại
- Chăm sóc: Làm cỏ đợt 1 khi lúa hồi xanh bén rễ kết hợp bón thúc đợt 1, đợt 2 sau
đợt 1 từ 15-20 ngày Đảm bảo đủ nước trong suốt quá trình sinh trưởng của cây Trong giai đoạn lúa đẻ nhánh để nước nông 2-3cm để kích thích đẻ nhánh khỏe
Hình 1: Kỹ thuật cấy lúa 1 dảnh giống lúa Đoàn kết nguyên chủng
5 Kết quả
• Đánh giá về các chỉ tiêu sinh trưởng của cây lúa:
- Hầu hết các hộ thực hiện thử nghiệm đã nhận thấy giống lúa nguyên chủng sinh trưởng tốt, lúa trỗ đều 60% số hộ cho rằng lúa nguyên chủng bông dài hơn, hạt mẩy và sáng hơn Khả năng chống đổ tốt hơn
- Về kỹ thuật cấy lúa 1 dảnh, do được cấy mạ non nên khả năng đẻ nhánh và số nhánh hữu hiệu của lúa Đoàn kết nguyên chủng cao hơn đối chứng rõ rệt Kỹ thuật canh tác này dễ làm và phù hợp với trình độ của người dân
Trang 18• Kết quả năng suất của các mô hình thử nghiệm:
Bảng 1: Năng suất lúa Đoàn kết nguyên chủng thử nghiệm tại một số xã điểm
Năng suất (tạ/ha)
đánh giá
Giống
đối chứng
Giông nguyên chủng
Năng suất trung bình của giống nguyên chủng tại tất cả các điểm thử nghiệm là 42,3 tạ/ha, của giống địa phương chỉ là 33,1 tạ/ha Kết quả so sánh thể hiện ở đồ thị sau:
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Giống đối chứng Giống nguyên Chủng
Đồ thị1: So sánh năng suất lúa Đoàn kết nguyên chủng với lúa Đoàn kết địa phương
thử nghiệm tại Cao Bằng và Bắc Cạn
Trang 19Hình 2: Mô hình thử nghiệm lúa Đoàn kết nguyên chủng tại Cao Bằng
Hình 3: Kết quả thử nghiệm lúa Đoàn kết nguyên chủng cấy 1 cấy dảnh tại Na Rì
Đối với thử nghiệm cấy lúa Đoàn kết nguyên chủng cấy 1 dảnh, theo kết quả đánh giá thống kê 20 hộ làm thử nghiệm tại xã Hữu Thác, Na Rì, năng suất các ô thử nghiệm cấy lúa Đoàn kết 1 dảnh cho năng suất cao hơn đối chứng 10-25% Hầu hết các ruộng thử nghiệm đều đạt năng suất 50-55 tạ/ha, trong khi đó đối chứng chỉ đạt 40-48 tạ/ha Kết quả năng suất tăng khi cấy 1 dảnh là do số hạt/bông và tỷ lệ hạt chắc tăng, sâu bệnh phá hoại ít hơn so với lúa cấy nhiều dảnh
Trang 20Hình 4: Kiểm tra ruộng lúa Đoàn kêt và chọn giống cho vụ sau
• Hiệu quả kinh tế:
Bảng 2 : Hiệu quả kinh tế của thử nghiệm giống lúa Đoàn kết nguyên chủng tại
- Lãi thuần (thu – chi) của thử nghiệm giống Đoàn kết nguyên chủng cao hơn rõ rệt
so với cấy giống địa phương Tại xã Thượng Quan kết quả thử nghiệm tại 10 hộ cho thấy lãi thuần của thử nghiệm cấy lúa Đoàn kết nguyên chủng là 4.600.000đ/ha, còn đối chứng chỉ đạt 3.640.000 đ/ha Thử nghiệm ở các địa phương khác cũng cho kết quả tương tự
- Đối với thử nghiệm lúa Đoàn kết nguyên chủng cấy 1 dảnh, do tiết kiệm được lượng giống đầu tư ban đầu và năng suất cao hơn nên hiệu quả kinh tế thu được cũng cao hơn Lãi thuần của các ruộng thử nghiệm cao hơn đối chứng 720.000-1.600.000 đ/ha Ví dụ, tại xã Hữu Thác-Na Rì, hạch toán kinh tế thu-chi ở ô thử nghiệm là 4.400.000 đ/ha , còn ô đối chứng là 3.080.000đ/ha
6 Bài học kinh nghiệm
Trang 21- 80% hộ thực hiện thử nghiệm cho nhận thấy thông qua làm thử nghiệm đã nâng cao
được nhận thức của mình trong sử dụng giống, biết cách lựa chọn giống tốt cho vụ sau
- Quy trình kỹ thuật phù hợp với trình độ của người dân Các hướng dẫn kỹ thuật đầy
đủ và sự kiểm tra giám sát kịp thời
- Cần tập huấn kỹ thuật trước khi tiến hành thử nghiêm cho tất cả các hộ tham gia
- Chọn ruộng thử nghiệm phải đảm bảo yêu cầu kỹ thuật, như ruộng thử nghiệm phải
đảm bảo đủ nước tưới và đất không quá xấu thì kết quả thử nghiệm mới được đảm bảo
2 bón phân cân đối cho lúa Đoμn kết
1 Lý do và mục đích
Bón phân là một trong những biện pháp quan trọng để tăng năng suất cây trồng và bảo vệ độ màu mỡ của đất Thực tế sản xuất cho thấy nhiều người dân ở Cao Bằng và Bắc Kạn chưa có nhận thức đầy đủ về tầm quan trọng của biện pháp này Mặt khác, phần lớn nông dân chưa biết cách bón phân đúng kỹ thuật Việc bón phân còn tùy tiện và phụ thuộc vào kinh nghiệm và khả năng tài chính của mỗi gia đình
Lúa Đoàn kết là loại lúa chiếm tỷ lệ diện tích lớn trong vùng, có khả năng cho năng suất cao, khả năng chống chịu và thích nghi điều kiện ngoại cảnh tốt, nhưng yêu cầu
về phân bón cũng rất cao Đến nay người dân chưa chú ý nhiều về việc bón phân đầy đủ nên năng suất lúa Đoàn kết còn thấp Mặt khác việc bón phân tùy tiện là điều kiện để sâu bệnh hại phát triển
Mục đích của thử nghiệm này là nhằm giới thiệu cho người dân phương pháp bón phân cân đối cho lúa Đoàn kết để tăng năng suất và sản lượng lúa Thông qua việc thực hiện các mô hình thử nghiệm người dân sẽ biết cách bón phân cân đối, bón đúng kỹ thuật, biết cách sử dụng các loại phân khác nhau để bón cho lúa Đoàn kết
2 Đặc điểm kỹ thuật của thử nghiệm
Lúa Đoàn kết là giống lúa ưa thâm canh Để đạt được năng suất cao, yêu cầu phải bón đầy đủ lượng phân bón và cân đối giữa các loại phân như đạm (N), lân (P), ka li (K)
N rất cần thiết cho quá trình sinh trưởng Bón đủ N cây sinh trưởng tốt, lá xanh, năng suất
Trang 22cao P cần thiết cho sự sinh trưởng đặc biệt sự phát triển rễ, đẻ nhánh của lúa Bón P đặc biệt quan trọng cho lúa trên đất chua dốc tụ và lầy thụt K cần thiết cho quá trình trao đổi chất của cây, tăng sức chống chụi sâu bệnh Bón đủ K sẽ thuận lợi quá trình làm đòng và trỗ bông, hạt lúa có màu sáng, chắc và mẩy hơn
3 Địa điểm và qui mô
- Tại tỉnh Cao Bằng, thử nghiệm được thực hiện tại các xã: Đình Phong, Nội Thôn huyện Trùng khánh (277 hộ), Nà Sác huyện Hà Quảng (28 hộ), Thắng Lợi, huyện Hạ Lang (142 hộ), Lương Thông, huyện Thông Nông (199 hộ)
- Tại tỉnh Bắc Kan, thử nghiệm được thực hiện tại các xã: Hữu Thác và Lương Thành, huyện Na Rì (218 hộ), Thượng Quan, huyện Ngân Sơn (24 hộ) và Phúc Lộc, huyện Ba Bể (5 hộ)
0 100 200 300 400
- Lượng phân bón cho mỗi công thức được trình bày ở bảng sau:
Bảng 3 : Công thức bón phân cho lúa Đoàn kết
Trang 23Hình 5: Lượng phân bón cho lúa /1000 m 2
- Phương pháp bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng, lân và 1/4 lượng N Bón thúc đợt 1 sau cấy 15 ngày với 2/3 lượng đạm và 1/3 lượng ka li, kết hợp với làm cỏ sục bùn Bón thúc đợt 2 sau cấy 50-70 ngày với toàn bộ lượng phân bón còn lại
Hình 6: Bón phân cho lúa Đoàn kết
5 Kết quả
• Tình hình sinh trưởng và phát triển của cây lúa :
Cây lúa sinh trưởng và phát triển tốt hơn so với đối chứng Lúa được bón lót phân lân bén rễ hồi xanh nhanh hơn Tổng số nhánh và số nhánh hữu hiệu cũng cao hơn Tại xã
Nà Sắc, huyện Hà Quảng, Cao Bằng, các ô thử nghiệm bón phân cân đối đã làm giảm rõ rệt tỷ lệ lúa mắc bệnh đạo ôn, đây là bệnh thường xuyên xảy các năm trước đây do người dân chỉ sử dụng phân đạm Tại xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh, Cao Bằng, 25 hộ làm thử nghiệm đêu cho nhận xét lúa tốt hơn và ít sâu bệnh hơn, hạt lúa chắc hơn
Tại thử nghiệm bón bổ sung thêm ka li cho lúa tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, cây lúa cứng hơn và ít đổ hơn so với đối chứng Cây phát triển tốt, trỗ bông đều và tỷ
lệ hạt chắc cao hơn
Trang 24Tại xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, Bắc Kạn, khi lúa được bón bổ xung thêm
12 kg kali /ha đã cho năng suất bình quân 44 tạ/ha, còn tại các ô đối chứng năng suất chỉ
Nà Sác Lương Thông Thượng Quan
49,2 56,6 50,5 50,6 44,0
• Hiệu quả kinh tế :
Các hộ làm thử nghiệm đã tự hạch toán kinh tế của việc bón phân cân đối cho lúa Mặc dù đầu tư phân bón cao hơn so với đối chứng, nhưng do năng suất tăng cao nên hiệu quả kinh tế đã tăng lên rõ rệt Ví dụ tại xã Nà Sắc, Hà Quảng, Cao Bằng, toàn bộ 10 hộ làm thử nghiệm đều đạt hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng Trung bình thu-chi của các ô
Trang 25thử nghiệm đạt 2.534.750 đ/ha, trong khi đó ở ô đối chứng tổng thu-chi chỉ đạt 1.333.000
đ/ha Tại các địa điểm thử nghiệm khác cũng cho kết quả tương tự
Bảng 5: Hạch toán kinh tế bón phân cân đối cho lúa Đoàn kết tại một sô xã điểm
Tổng thu-chi/ ha (đ)
Thử nghiệm Đối chứng Trùng Khánh, Cao Bằng Ngọc Khê, 2.399.588 1.143.567 Thông Nông, Cao Bằng Lương Thông, 7.425.000 2.277.777
Trùng Khánh, Cao Bằng Đình Phong 6.826.110 5.807.499
Hình 8 : Hội thảo đầu bờ về bón phân cân đối cho lúa Đoàn kết
6 Bài học kinh nghiệm
• Thuận lợi :
- Người dân được hỗ trợ phân bón và thực hiện thử nghiệm ngay trên đồng ruộng của mình nên họ rất phấn khởi khi làm thử nghiệm
- Thử nghiệm dễ làm, phù hợp với trình độ người dân
- Người dân được tập huấn kỹ thuật và có sự kiểm tra thường xuyên của khuyến nông viên nên rất an tâm thực hiện các quy trình kỹ thuật của thử nghiệm
• Khó khăn :
- Các thử nghiệm không tập trung nên việc theo dõi giám sát khó khăn
- Một số hộ bón phân đủ lượng quy định nhưng không đúng thời điểm bón theo quy trình, vì vậy hiệu quả của bón phân chưa cao Nguyên nhân chính là do người dân quên hoặc lẫn lộn một số loại phân trong khi bón
- Tại thời điểm bón thúc lúa gặp hạn nên chưa phát huy hết hiệu quả của phân bón
• Đề Nghị:
Trang 26- Đây là kỹ thuật có khả năng mở rộng cao vì mang lại hiệu quả kinh tế rất rõ rệt Tuy nhiên đối với những hộ nghèo thường không có tiền mua phân bón Cần có chính sách giúp đỡ các hộ này
- Có thể sử dụng một số nguồn phân bón hữu cơ sẵn có tại địa phương
- Cần tiếp tục tập huấn và phát triển các mô hình trình diễn trên diện rộng
nhị ưu 838 tại Cao Bằng
1 Lý do và mục đích
Hiện nay các giống lúa lai Trung Quốc đã và đang được sử dụng rộng rãi ở nhiều vùng của Việt Nam Tuy nhiên khả năng thích nghi trên từng loại đất và điều kiện sinh thái của mỗi giống cũng khác nhau Việc lựa chọn giống tốt, phù hợp với điều kiện địa phương từng vùng là rất cần thiết
Mục tiêu của thử nghiệm này là giới thiệu giống lúa lai Trung Quốc như Nhị ưu 63/Q63, Bồi tạp sơn thanh (BTST) và Nhị ưu 838 tại Cao Bằng Cùng với thử nghiệm về khả năng thích nghi của giống, người dân còn được hướng dẫn các kỹ thuật trồng trọt và bón phân cho các giống mới
2 Đặc điểm kỹ thuật của các giống lúa thử nghiêm
Đây là những giống lúa lai nhập nội từ Trung Quốc Đặc điểm chung của những giống này là có thời gian sinh trưởng tương đối ngắn (110-115 ngày trong vụ mùa và 125-
135 ngày trong vụ xuân) Chiều cao cây trung bình (100-115 cm)
Tiềm năng năng suất cao và phạm vi thích ứng rộng Hạt to và tỷ lệ hạt chắc/bông cao (130-150 hạt) Năng suất có thể đạt 70-85 tạ/ha, nếu thâm canh cao năng suất có thể cao hơn Chất lượng gạo khá
Khả năng chống chịu sâu bệnh khá và chống đổ tốt Chống được bệnh đạo ôn, ít bị bệnh khô vằn và bạc lá
3 Địa điểm và qui mô
Thử nghiệm được thực hiện tại vùng dự án tỉnh Cao Bằng Bao gồm các huyện : Bảo Lạc (2002-2003), Trùng Khánh (2001-2003), Hạ Lang (2002-2003) và Thông Nông
(2001)
Tổng số hộ tham gia thử nghiêm là 391 hộ Trong đó tại huyện Bảo lạc có 21 hộ, huyện Trùng khánh có 117 hộ, huyện Hạ Lang có 246 hộ và huyện Thông Nông có 7 hộ
4 Qui trình thử nghiệm
Thời vụ gieo cấy từ cuối tháng 5 và thu hoạch vào đầu tháng 10 Lượng giống : 4 kg/1000 m2 Lúa được cấy với mật độ trung bình 35-40 khóm/ m2 Ruộng lúa được đảm bảo đủ nước và chăm sóc làm cỏ, bón thúc kịp thời
Lượng phân bón sử dụng cho thử nghiệm là 1000 kg phân chuồng + 18-20 kg N urê + 40 kg phân lân + 12 kg kali / 1000 m2 Phương pháp bón: Bón lót toàn bộ phân chuồng,
Trang 27lân Bón thúc đợt 1 sau cấy 15 ngày với 2/3 lượng đạm và 1/3 lượng ka li, kết hợp với làm
cỏ sục bùn Bón thúc đợt 2 sau cấy 50-70 ngày với toàn bộ lượng phân bón còn lại
Hình 9 : Làm đất chuẩn bị ruộng cấy tại Hạ Lang, Cao Bằng
5 Kết quả thử nghiệm
• Tình hình sinh trưởng và phát triển của cây lúa
Giống lúa thử nghiệm có thời gian sinh trưởng trung bình (120-125 ngày trong điều kiện vụ mùa), ngắn hơn so với các giống lúa địa phương khác Cây lúa sinh trưởng tốt, đẻ nhánh nhiều và lá xanh tươi Khă năng chống đổ tốt, chống chụi sâu bệnh khá đặc biệt là bệnh đạo ôn Tuy nhiên mức độ nhiễm sâu năn ở 1 số địa phương còn cao
Hình 10: Giống lúa Nhị ưu 63 sinh trưởng tốt trên ruộng thử nghiệm
Trang 28
• Năng suất:
- Hầu hết các giống lúa thử nghiệm đều cho năng suất cao hơn giống lúa đối chứng
là lúa Đoàn kết địa phương Giống lúa Nhị ưu 63/Q63 cho kết quả năng suất cao nhất Giống Nhị ưu 838 và BTST cũng cho năng suất cao và được nông dân rất ưa chuộng
- Điển hình về năng suất cao là thử nghiệm lúa Nhị ưu 63 tai xã Đình Phùng, huyện Bảo Lạc Năng suất bình quân của lúa thử nghiệm là 76,2 tạ/ha, năng suất lúa đối chứng chỉ đạt 56,2 tạ/ha
Kết quả đánh giá năng suất thể hiện ở biểu sau:
Bảng 6: kết quả thử nghiệm giống lúa lai tại 1 số địa phương tỉnh Cao Bằng
Năng suất (tạ/ha)
đánh giá
Nhị ưu 63/Q63
BTST Nhị ưu
838
Đoàn kết địa phương
• Hiệu quả kinh tế
- Hiệu quả kinh tế của lúa Nhị ưu 63 cao hơn rõ rệt so với giống BTST và giống lúa
Đoàn kết địa phương Tại xã Đình Phong huyện Trùng Khánh tổng thu - chi/ha của giống lúa Nhị ưu 63 đạt 2.800.000 đ/ha Các giống lúa khác tổng thu-chi chỉ đạt bình quân 2.300.000 đ/ha, riêng giống lúa Đoàn kết địa phương chỉ đạt 1.700.000
đ/ha Tại xã Lăng Hiếu, kết quả thử nghiệm của 12 hộ trên diện tích 4320 m2 đều cho thu hoạch tốt Hiệu quả kinh tế các ô thử nghiệm giống Nhị ưu 63 đạt bình quân 4.479.000 đ/ha Nếu cấy các giống địa phương đã thoái hóa, hiệu quả kinh tế thấp chỉ đạt 2.500.000 đ/ha
- Nhìn chung hiệu quả kinh tế của các thử nghiệm về giống lúa Nhị ưu 63/Q63, Nhị
ưu 838, BTST đều cao hơn đối chứng Việc áp dung các giống lúa này đã làm tăng hiệu quả kinh tế 15-25%.4
Bảng 7: Hiệu quả kinh tế của các giống lúa thử nghiệm tại một số xã điểm
Thu-Chi (đ/ha) Huyện Xã
Nhị ưu 63/Q63
BTST Nhị ưu 838 Đoàn kết
địa phươngTrùng Khánh Đình Phong 2.800.000 2.300.000 2.430.000 1.700.000
Trùng Khánh Ngọc Khê 2.950.000 2.703.000 2.805.000 2.300.000
Trang 29Hình 11: Mô hình thử nghiệm giống lúa Nhị ưu 63 và Bồi tạp sơn thanh
tại Cao Bằng
6 Bài học kinh nghiệm
• Thuận lợi:
- Các giống lúa thử nghiệm đã cho năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn hơn lúa
địa phương và khả năng thích nghi rộng nên được người dân chấp nhận cao
- Các giống lúa này có khả năng chống chịu được một số loại sâu bệnh, giảm bớt các chi phí bảo vệ thực vật
- Các thử nghiệm này phù hợp với trình độ sản xuất của người dân ở địa phương
• Khó khăn:
- Mặc dù thử nghiệm đã thành công nhưng do giá thành giống cao nên ngưòi dân gặp khó khăn trong việc mua giống mới Mặt khác, nhiều người dân vẫn còn e ngại những rủi ro khi đưa giống mới vào sản xuất Việc áp dụng các giống mới này phụ thuộc nhiều vào nguồn giống cung cấp và khả năng tài chính của các gia đình
- Diện tích thử nghiệm ít và không tập trung nên khó kiểm tra giám sát
• Đề nghị:
- Các kỹ thuật này có thể nhân rộng được vì được người dân chấp nhận cao
- Tuy nhiên để có sự áp dụng rộng rãi cần có sự hỗ trợ và giúp đỡ về nguồn giống vì người dân không tự để giống được
- Thời vụ gieo trồng cần gieo xung quanh tiết mang chủng đối với giống nhị ưu 63, các giống khác ngắn ngày hơn có thể gieo muộn 5-7 ngày để lúa trỗ cùng nhau, sẽ hạn chế sự phá hoại của bọ xít và các lọai sâu hại khác
Trang 30
4 Thử nghiệm giống lúa lai 2 dòng tại Bắc Kạn
1 Lý do và mục đích
Các giống lúa lai 2 dòng Bồi tạp sơn thanh (BTST) và Bồi tạp 49 đang được trồng tại nhiều nơi ở Việt Nam Tuy nhiên tại Bắc Kạn việc sử dụng các giống lúa này còn ít, do phần lớn người dân chưa hiểu hết được những đặc tính tốt và cho tiềm năng cho năng suất cao của các giống lúa này
Mục đích của thử nghiệm này là giới thiệu cho nông dân Bắc Kạn giống lúa BTST
và Bồi tạp 49, để từng bước thay thế các giống lúa địa phương đã bị thoái hóa và năng suất thấp Sử dụng giống lúa mới này sẽ nâng cao năng suất và sản lượng lúa, góp phần giải quyết vấn đề an ninh lương thực cho địa phương
2 Đặc điểm kỹ thuật của giống thử nghiêm
Giống BTST và giống bồi tạp 49 là các giống lúa lai 2 dòng từ Trung Quốc Đây là các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn Thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 100-105 ngày và vụ xuân ngày120-125 Chiều cao cây thấp 90-105 cm Đặc tính quan trọng của giống là đẻ khỏe và tập trung, khóm gọn, lá ngắn dày và lá đứng, cứng cấy, kháng được bệnh đạo ôn, nhiễm nhẹ rầy nâu và bệnh khô vằn, bạc lá Lúa có bông to, hạt nhiều, tiềm năng năng suất cao (thâm canh tốt có thể đạt 70-80 tạ/ha) Chất lượng gạo khá: gạo trong, cơm dẻo và ngon
3 Địa điểm và quy mô
• Điạ điểm:
Thử nghiệm đã được triển khai trong 2 năm 2002-2003 tại xã Cốc Đản, Thượng Quan huyện Ngân Sơn, xã Hữu Thác huyện Na Rì và xã Bộc Bố, huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn
• Số hộ tham gia:
Tổng số hộ tham gia thử nghiệm lúa lai 2 dòng tại Bắc Kạn là 303 hộ Trong đó tại huyện Na Rì có 176 hộ, huyện Ngân Sơn có 63 hộ và huyện Ba Bể có 64 hộ
4 Quy trình kỹ thuật
- Lượng giống gieo: 4-5 kg cho 1000 m2
- Thời vụ: Gieo mạ vụ xuân bắt đầu từ 15/2, đối với lúa gieo thẳng thời vụ gieo sẽ muộn hơn (từ 7-15/3) Đối với vụ mùa sớm, thời vụ gieo mạ bắt đầu từ 15/5
- Mật độ cấy là 35-45 khóm/m2 Cấy thẳng hàng theo hướng đông tây
- Phân bón cho mỗi ô thử nghiệm như nhau đối với công thức thử nghiệm và đối chứng Lượng bón cho 1000 m2 là 1000-1200 kg phân chuồng, 15-18 kg N urê, 40
kg lân super và 8-10 kg kali Bón lót toàn bộ phân chuồng và phân lân, bón thúc đẻ 1/2 lượng N urê, bón đón đòng toàn bộ số phân N và kali còn lại
- Chăm sóc: Làm cỏ đợt 1 khi lúa hồi xanh bén rễ kết hợp bón thúc đợt 1, đợt 2 sau
đợt 1 từ 15-20 ngày Đảm bảo đủ nước cho lúa trong suốt thời gian sinh trưởng Trong thời kỳ lúa đẻ nhánh để nước nông 2-3cm để kích thích đẻ nhánh
Trang 315 Kết quả thử nghiệm
• Tình hình sinh trưởng của cây lúa:
Phần lớn các hộ thử nghiệm đều cho rằng lúa lai 2 dòng phát triển tốt và phù hợp với điều kiện đất đai và khí hậu của tỉnh Bắc Kạn Khả năng chống chịu sâu bệnh khá và chống đổ tốt hơn so với đối chứng Đặc biệt là thời gian sinh trưởng ngắn (125 ngày ở vụ xuân và 105 -110 ngày ở vụ mùa), ngắn hơn nhiều so với các giống lúa địa phương Chất lượng gạo ngon không thua kém giống lúa Đoàn kết
77,8 67,0 63.9 68.0
Năng suất lúa lai 2 dòng thử nghiệm đã cao hơn năng suất lúa đối chứng (giống lúa thuần địa phương) 16-32% Đặc biệt thử nghiệm lúa lai 2 dòng tại xã Hữu Thác-Na Rì và xã Thượng Quan-Ngân Sơn đã cho năng suất cao 68-77,8 tạ/ha, giống lúa địa phương chỉ
đạt năng suất 52-61 tạ/ha
Hình 12: Hội thảo đầu bờ về kết quả mô hình sản xuất lúa Bồi tạp sơn thanh tại Bắc Kạn
Trang 32• Hiệu quả kinh tế:
Bảng 9 : Hạch toán kinh tế cho thử nghiệm lúa lai 2 dòng tại Bắc Kạn
Mặc dù chi phí về giống lúa lai cao hơn so với giống lúa địa phương, nhưng do đạt
năng suất cao hơn nên hiệu quả kinh tế của các giống thử nghiệm đã cao hơn rõ rệt so với
giống đối chứng Tại xã Cốc Đản, Ngân Sơn kết quả thử nghiệm của 20 hộ tại 2 thôn cho
kết quả thu-chi đạt trung bình 5.800.000đ/ha, giống đối chứng chỉ đạt 3.920.000 đ/ha Tại
xã Hữu Thác, Na Rì hiệu quả kinh tế thu-chi của lúa thử nghiệm đạt 5.980.000đ/ha, đối
- Đây là các giống lúa có thời gian sinh trưởng ngắn nên người dân dễ chấp nhận
trong chuyển dịch cơ cấu cây trồng
- Dự án đã chú ý tới việc tập huấn kỹ thuật và tổ chức các hội thảo đầu bờ Thông
qua đó người dân hiểu rõ hơn về cách làm cũng như sự cần thiết phải mở rộng diện
tích cấy lúa lai
• Khó khăn:
- Đây là giống lúa lai nên người dân không tự để giống được mà phải mua ở các cơ
sở chuyên sản xuất và kinh doanh giống lúa lai Do giá giống cao nên các hộ nghèo
thường gặp khó khăn trong đầu tư ban đầu
- Sử dụng các giống lúa lai phải gắn liền với việc đầu tư thâm canh cao, yêu cầu kỹ
thuật canh tác cũng cao hơn so với lúa địa phương Đây cũng là trở ngại đối với các
hộ nghèo hoặc chưa có kinh nghiệm sản xuất
- Do thời gian sinh trưởng ngắn, lúa cấy trỗ sớm hơn lúa cấy đại trà và diện tích
giống lúa mới còn ít nên dễ bị sâu bệnh phá hoại trong thời kỳ trỗ bông
• Đề nghị:
- Sự chấp nhận tăng diện tích sản xuất lúa lai 2 dòng của người dân cao Cần có chủ
trương phát triển giống lúa này trên diện rộng,
- Để mở rộng diện tích cấy lúa lai, cần phải chú ý tập huấn kỹ thuật cho người dân
Cần bố trí thời vụ hợp lý để lúa trỗ vào thời gian thích hợp, tránh được sự phá hoại
của bọ xít Cần thiết phải quy hoạch thành những vùng sản xuất tập trung, chọn
ruộng chủ động nước và đất tốt để phát triển lúa lai
- Cần có chính sách hỗ trợ và giúp đỡ các gia đình khó khăn khi tham gia sản xuất
lúa lai Các địa phương cân chủ động nguồn giống cung cấp hàng năm
Trang 335 Thử nghiệm giống lúa Nhị ưu 838 tại Bắc Kạn
1 Lý do và mục đích
Một trong những nguyên nhân năng suất lúa thấp tại Bắc Kạn là ngưòi dân vẫn sử dụng các giống lúa địa phương đã bị thoái hóa Có nhiều giống lúa mới rất có triển vọng nhưng chưa được ứng dụng nhiều Khả năng áp dụng giống mới của người dân địa phương còn hạn chế vì họ chưa có nhiều giống tốt để lựa chọn
Ngoài việc thử nghiệm giống lúa lai 2 dòng Bồi tạp sơn thanh và Bồi tạp 49, cần thiết phải thử nghiệm các giống lúa lai khác nhằm tăng khả năng lựa chọn cho người dân Mục đích của thử nghiệm này là giới thiệu giống lúa lai Nhị ưu 838, góp phần tăng năng suất và sản lượng cây trồng trong khu vực
2 Đặc điểm của giống lúa Nhị ưu 838
- Giống lúa nhị ưu 838 là giống lúa lai của Trung Quốc Thời gian sinh trưởng tương
đối ngắn (135-140 ngày tại vụ xuân và 115-120 ngày vụ mùa)
- Chiều cao cây trung bình 100-110 cm nên chống đổ tốt
- Có khả năng chống bệnh đạo ôn khá, sức kháng các bệnh khác khá
- Tiềm năng năng suất cao 70-75 tạ / ha
- Chất lượng gạo khá, cơm dẻo
3 Địa điểm và quy mô thử nghiệm
Thử nghiệm được thực hiện tại 5 thôn thuộc 2 xã Cốc Đản và Thượng Quan, huyện Ngân Sơn, tỉnh Bắc Kạn Thử nghiệm được thực hiện trong 2 năm: 2002-2003 Tổng số hộ tham gia thử nghiệm là 53 hộ
- Đảm bảo đủ nước trong suốt thời kỳ sinh trưởng của cây
5 Kết quả
• Tình hình sinh trưởng của giống lúa Nhị ưu 838 tại Bắc Kạn:
Tại xã Thượng Quan và Cốc Đản, lúa Nhị ưu 838 thử nghiệm rất thích nghi với
điều kiện đất đai và khí hậu tại địa phương Cây sinh trưởng tốt, đẻ nhánh khỏe, trỗ đều, tỷ
lệ hạt chắc cao và cho năng suất cao Khả năng chống chiụ sâu bệnh nhất là bệnh đạo ôn khá Thời gian sinh truỏng trung bình 115 ngày, ngắn hơn nhiều so với giống lúa Đoàn kết
địa phương (145 ngày)
Tuy nhiên lúa Nhị ưu 838 không thích hợp ở vùng đất chua, nước khe lạnh và điểu kiện chăm sóc kém
Trang 34Hình 13: Giống lúa Nhị ưu 838 sinh trưởng tốt tại Bắc Kạn
• Năng suất:
- Hầu hết các ruộng thử nghiệm giống Nhị ưu 838 đã cho năng suất cao hơn giống
đối chứng 3-16 tạ/ha (5-20%) Tại xã Thượng Quan năng suất thử nghiệm năm
2002 tại 12 hộ thôn Nà Kéo cho năng suất bình quân 49,6 tạ/ha, giống đối chứng chỉ đạt 41,2 tạ/ha Năng suất năng suất thử nghiệm tại 15 hộ của 3 thôn khác là Khuổi Pì, Khuổi Tro và Cò Luông, xã Thượng Quan (2003) đạt bình quân 57 tạ/ha,
đối chứng chỉ đạt 44 tạ/ha Như vậy, bình quân năng suất lúa Nhị ưu 838 tại xã Thượng Quan trong 2 năm (2002-2003) đạt 53,3 tạ/ha, đối chứng là 42,6 tạ/ha
- Tại xã Cốc Đản, kết quả thử nghiệm tại 10 hộ ở thôn Cốc Phya năm 2002 cho năng suất bình quân 66 tạ/ha, đối chứng chỉ đạt 49,6 tạ/ha
Bảng 10: Kết quả năng suất lúa Nhị ưu 838 tại Ngân Sơn, Bắc Kạn
Năng suất (tạ/ha) Xã Số thôn Số hộ theo
dõi Giống đối chứng Giống Nhị ưu 838
0 20 40 60 80
Trang 35Hình 14: Ruộng lúa thử nghiệm trỗ sớm và đều hơn giống địa phương
• Hiệu quả kinh tế:
Giống lúa Nhị ưu 838 đã cho hiệu quả kinh tế cao hơn đối chứng rõ rệt mặc dù chi phí về giống cao hơn Lãi thuần của lúa Nhị ưu 838 đã cao hơn lúa đối chứng từ 638.000 – 1.318.000 đ/ha Thôn Nà Kéo xã Thượng Quan, huyện Ngân Sơn có 11 hộ thử nghiệm đều cho kết quả năng suất và hiệu quả kinh tế cao, trung bình thu-chi của giống thử nghiệm
đạt 3.278.000 đ/ha, của lúa địa phương chỉ đạt 1.960.000 đ/ha
Bảng 11: Hiệu quả kinh tế của các ô thử nghiệm lúa Nhị ưu 838
tại một số thôn điểm ở Ngân Sơn, Bắc Kạn
Thu-chi (đ/ha) Thôn, xã Số hộ làm thử
Nhị ưu 838
Giống địa phương
- Lúa trỗ tập trung nên hạn chế được sâu hại phá hoại trong giai đoạn lúa trỗ
- Thời điểm lúa trỗ gặp điều kiện thời tiết thuận lợi nên tỷ lệ hạt chắc cao
• Khó khăn:
- Một số hộ nghèo không có đủ khả năng tài chính để mua giống và phân bón mặc
dù họ muốn mở rộng diện tích cấy giống lúa này
Trang 36- Nhiều hộ vẫn bảo thủ, sản xuất theo phương thức cũ nên hiệu quả thử nghiệm chưa cao
- Việc lựa chọn đất cho giống lúa mới khắt khe hơn so với giống cũ
- Một số hộ trồng lúa lai trên chân đất chua, xấu, khe nước lạnh nên đã không cho thu hoạch tốt
• Đề nghị:
- Hầu hết các hộ làm thử nghiệm (80%) đã mong muốn tiếp tục áp dụng giống Nhị
ưu 838 ở vụ sau, bởi vì các đặc tính tốt của giống này như thời gian sinh trưởng ngắn, chống chụi sâu bệnh tốt, chất lượng gạo tốt và cơm ngon Các địa phương cần
có chủ trương để phát triển giống lúa này
- Cần tiếp tục hỗ trợ về kỹ thuật và nguồn giống
6 Thử nghiệm về lúa chịu hạn CH5, ch135 vμ ch185
tại Cao Bằng
1 Lý do và mục đích
Đất trồng lúa không chủ động nước chiếm 1 tỷ lệ diện tích đáng kể tại các tỉnh miền núi, trong đó có tỉnh Cao Bằng Thực tế sản xuất cho thấy người dân đang thiếu các giống lúa chịu hạn tốt và thiếu kỹ thuật để tăng năng suất lúa trên vùng đất bấp bênh nước tưới này
Mục đích của thử nghiệm này là giới thiệu cho nông dân các giống lúa chịu hạn mới và kỹ thuật bón phân cho các giống lúa đó để tăng năng suất và sản lượng lúa tại địa phương
2 Đặc điểm kỹ thuật của các giống lúa chịu hạn CH135, CH5 và 185
Đây là các giống lúa có khả năng chịu hạn tốt và có thời gian sinh trưởng ngắn Thời gian sinh trưởng trong vụ mùa là 120-125 ngày, trong vụ đông xuân chính vụ là 150-
170 ngày Khả năng đẻ nhánh trung bình, dạng cây xòe, lá dài nhỏ Bông to dài, hạt nhỏ, phẩm chất gạo tốt Đặc tính quan trọng của các giống này là có thể thâm canh trong điều kiện chủ động nước và chịu được hạn Trong điều kiện hạn vẫn có thể cho năng suất 30-35 tạ/ha, còn khi đủ nước và thâm canh tốt có thể cho năng suất cao 50-70 tạ/ha Đây là những giống lúa vừa có khả năng chịu hạn và vừa ưa thâm canh, rất phù hợp trên đất không chủ động nước
3 Địa điểm và qui mô
• Điạ điểm
Thử nghiệm được thực hiện tại các xã điểm của 5 huyện vùng Dự án: Xã Ngọc
Đông, Cần Yên- huyện Thông Nông ; xã Ngọc Khê, Đình Khánh – huyện Trùng Khánh; xã Minh Long, Thắng Lợi – huyện Hạ Lang; xã Thượng Hà, Cốc Pàng- Bảo Lạc; xã Nội Thôn- Hà Quảng
• Số hộ tham gia thử nghiệm:
Trang 37Tổng số hộ tham gia thử nghiệm là 319 hộ Trong đó thử nghiệm về giống lúa CH185 là 190 hộ, giống CH135 là 89 hộ và giống CH5 là 40 hộ Kết quả thống kê số hộ làm thử nghiệm tại các huyện thể hiện ở bảng sau:
Bảng 12: Số hộ thực hiện thử nghiệm lúa chịu hạn tại các huyện (2001-2003)
- Lượng giống gieo là 10 kg giống/1000 m2
- Thời vụ cấy từ 24/ 4 -25/5
- Mật độ cấy 40-50 khóm/m2 (20cm x 10-15 cm) Cấy 3-4 rảnh/khóm tùy theo đất tốt hoặc xấu (đất tốt cấy thưa hơn để tăng cường sự đẻ nhánh)
- Lượng phân cho diện tích 1000 m2 là 1000-1200 kg phân chuồng, 18-20 kg N urê,
40 kg lân super, 12 kg kali Bón lót toàn bộ phân chuồng và lân +1/2 lượng kali + 1/3 lượng N urê, bón thúc đẻ sau khi lúa bén rễ hồi xanh với 1/3 lượng N urê, bón
đón đòng toàn bộ số phân N và kali còn lại
- Chăm sóc: Làm cỏ đợt 1 khi lúa hồi xanh bén rễ kết hợp bón thúc đợt 1, làm cỏ đợt
• Tình hình sinh trưởng của cây lúa:
Các giống lúa thử nghiệm sinh trưởng phát triển tốt trong điều kiện bị hạn Tại một
số vùng bị hạn nặng nhưng lúa vẫn cho thu hoạch khá ổn định, trong khi đó các giống lúa
Trang 38địa phương cho năng suất rất bấp bênh Các giống lúa chịu hạn đều có thời gian sinh trưởng ngắn (125-130 ngày ở vụ mùa)
Khi được bón phân đầy đủ và cân đối, năng suất các giống lúa chịu hạn tăng rõ rệt Tính chống chụi sâu bệnh và tỷ lệ hạt chắc cao hơn so với đối chứng
Hình 15: Mô hình trình diễn giống lúa chịu hạn CH 5 và CH135 tại Cao Bằng
• Kết quả năng suất:
♦ Thử nghiệm vầ giống:
Bảng 14: Năng suất của các giống lụa chịu hạn thử nghiệm tại Cao Bằng
Năng suất (tạ/ha) Huyện Số xã Số thôn Số hộ
đánh giá
Đ/C (Đoàn kết)
Giống CH5
Giống CH135
Giống CH185
Trang 39- Đặc biệt, giống lúa CH135 trong điều kiện thâm canh tốt tại huyện Hạ Lang năm
2002 đã đạt trên 50 tạ/ha Nếu cấy các giống lúa truyền thống địa phương năng suất
chỉ đạt 37 tạ/ha
- Các giống lúa CH5 và CH185 cũng cho năng suất cao và ổn định Giống lúa
CH185 thử nghiệm tại Xã Đình Phong, huyện Trùng Khánh đã cho năng suất 44.8
tạ/ha, cao hơn giống địa phương 7,4 tạ/ha
♦ Thử nghiệm về phân bón cho các giống lúa chịu hạn
- Thử nghiệm bón phân cho lúa chịu hạn cho kết quả về năng suất cao hơn đối chứng
20-38% Theo kết quả trong báo cáo năm 2002 của dự án (Mis report 2002), giống
CH5 khi bón phân cân đối đạt năng suất 40,8 tạ/ha, đối chứng bón phân theo truyền
thống chỉ đạt 29,5 tạ/ha Giống CH135 được bón phân cân đối đạt năng suất 68,8
tạ/ha, tăng 3,8 tạ/ha so với đối chứng Giống CH185 bón phân cân đối đạt năng
suất 78,3 tăng so với đối chứng 25,3 tạ/ha
Bảng 15: Năng suất của các giống lúa chịu hạn trong thử nghiệm bón phân cân đối
Năng suất (tạ/ha) Giống lúa Số hộ đánh giá
Bón phân cân đối Đối chứng
• Hiệu quả kinh tế:
- Thử nghiệm các giống lúa chịu hạn trên đất không chủ động nước đã cho năng suất
ổn định và hiệu quả kinh tế đã tăng lên rõ rệt so với các giống lúa địa phương Tại
xã Thượng Hà, huyện Bảo Lạc, lần đầu tiên thử nghiệm giống lúa CH 185 đã cho
kết quả hiệu quả kinh tế cao với tổng thu-chi đạt bình quân 2.600.000 đ/ha
- Hiệu quả kinh tế đã tăng lên rõ rệt khi các giống lúa chịu hạn được bón phân đầy
đủ Kết quả thử nghiệm bón phân cho lúa CH5 tại xã Đình Phong, Trùng Khánh đã
cho tổng thu- tổng chi cao hơn so với đối chứng là 74% (Thu-chi của công thức bón
phân là 2.038.000đ/ha, của công thưc đối chứng là 1.160.000 đ/ha) Thử nghiệm
bón phân cho giống CH185 tại Trùng Khánh đã cho lãi 3.232.000 đ/ha, của đối
chứng chỉ đạt 2.988.972 đ/ha Thử nghiệm trên các giống khác cũng cho kết quả
tương tự như trên
6 Bài học kinh nghiệm
• Thuận lợi:
- Diện tích đất không chủ động nước tại địa phương là rất lớn nên thử nghiệm giống
lúa chịu hạn đã góp phần giải quyết những khó khăn về giống cho vùng đất khó
khăn này Người dân hưởng ứng rất nhiệt tình trong việc thực hiện thử nghiệm
- Dự án đã có sự chuẩn bị kỹ về nguồn giống và tổ chức tập huấn kỹ thuật trước khi
thử nghiệm Người dân rất tin tưởng khi làm thử nghiệm
Trang 40- Việc phối hợp thử nghiệm về giống với thử nghiêm bón phân cân đối cho lúa chịu hạn đã làm tăng hiệu quả của việc đầu tư và lợi nhuận cho người sản xuất
• Khó khăn:
- Bố trí thời vụ gieo cấy của các giống lúa này chưa thực sự phù hợp cho nhiều vùng Nhiều hộ do cấy lúa quá sớm hoặc quá muộn nên lúa bị bọ xít phá hoại mạnh trong giai đoạn trỗ
- Nhiều người dân bảo thủ hoặc ỷ lại vào khả năng chịu hạn của giống nên không chú ý tới việc đảm bảo nước tưới cho lúa nhất là giai đoạn trỗ, ảnh hưởng nhiều tới năng suất lúa
• Đề nghị:
- Đây là những giống tốt có khă năng nhân rộng cao Tuy nhiên cần thử nghiệm tiếp
và khẳng định giống thích hợp nhất cho từng vùng
- Chú ý điều chỉnh thời vụ để lúa trỗ đồng loạt vì phần lớn đất cấy lúa chịu hạn không tập trung và gần rừng nên lúa bị bọ xít phá hoại nhiều vào thời điểm lúa trỗ
7 thử nghiệm Lúa cạn LC 931 tại Bắc Kạn
1 Lý do và mục đích
Nhu cầu về giống lúa chịu hạn của nông dân Bắc Kạn là rất lớn, vì có rất nhiều diện tích trồng lúa trên đất không chủ động nước tưới Tại nhiều địa phương người dân vẫn sử dụng các giống lúa cạn địa phương nên năng suất thấp
Mục đích của thử nghiệm này là giới thiệu cho nông dân giống lúa cạn LC931, để từng bước thay thế các giống lúa cạn địa phương đã bị thoái hóa và năng suất thấp Sử dụng giống lúa cạn LC931 sẽ nâng cao năng suất lúa, góp phần giải quyết vấn đề lương thực cho đồng bào các dân tộc vùng cao của tỉnh, nơi có rất ít diện tích canh tác lúa nước
2 Đặc điểm kỹ thuật của giống lúa LC139
Giống lúa LC931 là giống lúa có khả năng chịu hạn tốt, có thể gieo trồng ở những vùng đất cao không có tưới hoặc trên đất ruộng bậc thang không chủ động nước Thời gian sinh trưởng của giống ngắn (110-125 ngày) Chiều cao cây trung bình 85-120cm, khả năng đẻ nhánh trung bình, chống chụi sâu bệnh hại như bệnh đạo ôn, đốm nâu, bạc lá, khô vằn ở mức độ trung bình và khá Hạt gạo dài, chất lượng gạo ngon
3 Địa điểm và qui mô
Thử nghiệm được thực hiện vào năm 2003, tại huyện Ba Bể Các thôn làm thử nghiệm gồm: Thôn Vằng Quan và thôn Nhật Vẹn, xã Phúc Lộc; thôn Nà Rẫy và thôn Khau Đấng xã Bộc Bố
Tổng số hộ thực hiện thử nghiệm là 20 hộ, được chia đều cho 4 thôn làm thử nghiệm