Dưới đây là các tài liệu chính đã được nghiên cứu rà soát: y Tóm tắt Đề xuất dự án “Hồ trữ lũ và cung cấp nước ngọt Trà Sư – Tri Tôn” do Công ty tư vấn của Trường Đại học Thủy lợi chi nh
Trang 1Hồ trữ lũ và cấp nước ngọt Trà Sư – Tri Tôn, tỉnh An Giang
Nghiên cứu khả thi
Chương trình Quản lý tổng hợp Vùng ven biển (ICMP)
Trang 3Tra Su – Tri Ton Reservoir for Flood Storage and Fresh Water Supply in An Giang Province
Feasibility Study
Integrated Coastal Management Programme (ICMP)
Tác giả:
TS Thorsten Albers (von Lieberman GmbH, CHLB Đức)
TS Johannes Wölcke (UNIQUE, CHLB Đức)
Maximilian Roth (UNIQUE, CHLB Đức)
TS Miriam Vorlaufer (UNIQUE, CHLB Đức)
TS Anke Reichhuber (UNIQUE, CHLB Đức)
Christina Pieper (UNIQUE, CHLB Đức)
TS Đặng Thanh Lâm (Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam)
Tháng 7/2018
Trang 4Mục lục
Danh mục bảng biểu i
Danh mục hình vẽ ii
Nguồn biểu đồ và hình ảnh iii
Danh mục thuật ngữ viết tắt iv
1 Tóm tắt 1
2 Giới thiệu 2
3 Mô tả nhiệm vụ tư vấn 3
3.1 Khởi động nghiên cứu khả thi 3
3.2 Nghiên cứu tài liệu hiện có 3
3.3 Chuyến khảo sát thực địa lần thứ nhất, tháng 1/2018 4
3.4 Báo cáo công tác 4
3.5 Đánh giá khả thi 10
Trang 54 Mô tả vùng dự án 11
4.1 Địa hình 11
4.2 Thủy văn 11
4.3 Địa chất và thổ nhưỡng 13
4.3.1 Các thông số địa kỹ thuật 13
4.3.2 Đặc điểm địa hóa 14
5 Mô tả dự án đề xuất 15
6 Đánh giá khả thi dự án đề xuất 17
6.1 Tính khả thi về kỹ thuật 17
6.1.1 Tổng quan về thủy văn 17
6.1.2 Vị trí và kích thước 18
6.1.3 Đánh giá lượng bốc hơi 21
6.1.4 Đánh giá lượng thấm ngấm 22
Trang 66.1.6 Lưu lượng xả 23
6.1.7 Mô hình thủy văn 25
6.1.8 Tóm tắt các hạng mục công trình 27
6.1.9 Các yếu tố địa kỹ thuật và công trình 29
6.1.10 Bảo vệ mái dốc 34
6.1.11 Tính toán tải trọng (vd: cho giao thông) 37
6.2 Tính khả thi về thể chế 37
6.2.1 Các chủ thể và bên liên quan 37
6.2.2 Các luật và quy định liên quan 40
6.2.3 Các phương án tăng cường thể chế 41
6.3 Tính khả khi về môi trường 41
6.3.1 Các chất ô nhiễm đất 41
6.3.2 Quá trình a-xít hóa đất và quản lý đất 42
6.3.3 Đa dạng sinh học 43
6.3.4 Rừng tràm Trà Sư 45
6.4 Tính khả thi về kinh tế xã hội 46
6.5 Tính khả thi về kinh tế 52
6.6 Các biện pháp bảo vệ môi trường và xã hội 55
6.7 Yêu cầu nâng cao năng lực 58
6.7.1 Các phương án phát triển năng lực 59
7 Các kết quả và khuyến nghị chính 61
8 Kết luận 63
9 Danh mục tài liệu tham khảo 64
Trang 7DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1: Thông số đất trong vùng dự án 13
Bảng 2: Các đặc điểm của hai kịch bản BĐKH 18
Bảng 3: Dung tích hồ theo các phương án thiết kế khác nhau 20
Bảng 4: Lưu lượng tối đa qua các cống trong trường hợp xả lũ 24
Bảng 5: Các thông số chính của hồ chứa đề xuất 27
Bảng 6: Tham số của các lớp đất vùng dự án 29
Bảng 7: Các yếu tố riêng về tác động hoặc ảnh hưởng của tác động 29
Bảng 8: Các yếu tố chống chịu riêng đối với nền đất 30
Bảng 9: Các yếu tố riêng đối với tham số đất 30
Bảng 10: Tính toán địa kỹ thuật về sụt lún và sụp đổ nền móng 32
Bảng 11: Kết quả tính toán xác định trạng thái giới hạn 33
Bảng 12: Tóm tắt về các bên liên quan 38
Bảng 13: Tổng quan về các luật và quy định liên quan 40
Bảng 14: Tổng quan về các dịch vụ hệ sinh thái của đất ngập nước 45
Bảng 15: Quy mô hồ chứa (Phương án 4) 47
Bảng 16: Chi phí xây dựng 47
Bảng 17: Lịch canh tác lúa hai vụ 48
Bảng 18: Chi phí và thu nhập từ hệ thống canh tác lúa hai vụ 48
Bảng 19: Tổng quan về quy mô của các mô hình sinh kế thay thế (kịch bản 6 năm) 52
Bảng 20: Tổng quan về dòng tiền của các mô hình sinh kế thay thế 52
Bảng 21: Tổng dòng tiền của các mô hình sinh kế 52
Bảng 22: Tóm tắt kết quả phân tích kinh tế 54
Bảng 23: Đánh giá các biện pháp bảo vệ an toàn môi trường và xã hội (Dựa trên Tiêu chuẩn môi trường xã hội của Ngân hàng thế giới) 56
Bảng 24: Phân tích năng lực của các bên liên quan ở trung ương/khu vực cũng như cấp tỉnh theo phương pháp SWOT 58
Bảng 25: Tổng quan các phương án phát triển năng lực trực tiếp 59
Trang 8DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1: Vùng dự án và hồ chứa đề xuất 2
Hình 2: Cửa lấy nước (trái) và đập cao su (phải) 7
Hình 3: Đê bao phía Đông (trái) và đê bao phía Tây (phải) 8
Hình 4: Kênh chính ở huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang 9
Hình 5: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam, và vùng dự án 11
Hình 6: Mực nước vào mùa lũ tại Trạm Xuân Tô 12
Hình 7: Hướng dòng chảy lũ ở Đồng bằng sông Cửu Long trong mùa lũ năm 2000 13
Hình 8: Hồ chứa dự kiến và vị trí các cống 1-6 16
Hình 9: Phạm vi hồ chứa dự kiến trên nền ảnh vệ tinh 16
Hình 10: Chế độ vận hành giản lược 17
Hình 11: Hồ chứa không bao gồm rừng tràm Trà Sư 19
Hình 12: Sơ đồ hồ chứa với các hạng mục thiết kế 19
Hình 13: Phương án thiết kế có thêm phần diện tích phía nam rừng tràm Trà Sư 20
Hình 14: Lượng bốc hơi tính cho lòng hồ có bao gồm phần phía nam rừng tràm Trà Sư 21
Hình 15: Công suất bơm cần thiết để bù đắp lượng bốc hơi 21
Hình 16: Lượng thấm ngấm và công suất bơm cần thiết để bù thấm 22
Hình 17: Lưu lượng lấy nước qua cống có chiều rộng 40m tính cho các mực nước khác nhau trên kênh Vĩnh Tế 23
Hình 18: Lưu lượng xả qua các cống 24
Hình 19: Bể hấp thụ tạo bước nhảy thủy lực 25
Hình 20: Mực nước và tình hình sử dụng nước với các phương án khác nhau 26
Hình 21: Mặt cắt điển hình của đê bao phía tây 30
Hình 22: Biểu đồ ứng suất dưới đê bao 31
Hình 23: Trượt cung tròn khi vượt quá trạng thái giới hạn 33
Hình 24: Khả năng trượt dốc với độ dốc tối đa 19,9° 34
Hình 25: Trít vữa hoàn toàn (trái) và trít vữa một phần (phải) 35
Hình 26: Xếp đá (trên); Đổ đá (giữa); và Rọ đá (dưới) 35
Hình 27: Tường ván gỗ 36
Hình 28: Bó cừ (trái) và bó cừ nhét thêm đá (phải) 36
Hình 29: Kích thước giả định của các phương tiện giao thông khác nhau 37
Hình 30: Những thay đổi về sinh thái theo chu kỳ lũ 44
Hình 31: Vườn nổi ở Bangladesh (Nguồn: Rahman) 49
Hình 32: Nuôi cá trong hồ sen 51
Hình 33: Sự nhạy cảm của tỷ suất hoàn vốn nội bộ IRR với phần diện tích lòng hồ dành cho sản xuất nông nghiệp 53
Hình 34: Độ nhạy cảm của IRR theo tần suất hạn hán 54
Trang 9Hình 25: Bundesanstalt für Wasserbau (BAW)
Hình 26: Bundesanstalt für Wasserbau (BAW)
Trang 10DANH MỤC THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
DoNRE
DWR
Sở Tài nguyên và Môi trường Tổng cục Thủy lợi
SIWRP Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam
SIWRR Viện Khoa học thủy lợi miền Nam
Trang 13Nghiên cứu khả thi của GIZ về “Hồ trữ lũ và cấp nước
ngọt Trà Sư – Tri Tôn, tỉnh An Giang” trình bày kết
quả đánh giá kỹ thuật về công trình trữ nước ngọt ở
Đồng bằng sông Cửu Long, Việt Nam
Ý tưởng về hồ chứa do tỉnh An Giang đề xuất Một
đơn vị tư vấn trong nước đã dự thảo đề cương thiết
kế để tỉnh kêu gọi đầu tư Đề xuất lấy nước ngọt từ
kênh Vĩnh Tế để tích vào hồ vào cuối mùa mưa khi
mực nước kênh còn đủ cao và xả nước phục vụ cấp
ngọt cho các khu vực lân cận vào mùa khô Cách
thức vận hành này đảm bảo hồ có đủ nước ngọt để
cấp nước trong thời kỳ khô hạn cũng như giúp giảm
chi phí bơm nước tại các vùng lân cận Theo đề xuất,
các công trình hiện có như đê bao, kênh mương sẽ
được tận dụng, có xây dựng thêm một số công trình
phụ trợ như cống, trạm bơm và đê bao
Nghiên cứu này đánh giá tính khả thi tổng thể của đề
xuất hồ chứa nêu trên Báo cáo khả thi trình bày các
phát hiện và kết quả đánh giá chính và đưa ra các đề
xuất, khuyến nghị thực hiện và các bước tiếp theo
Giai đoạn đầu của nhiệm vụ tư vấn này bao gồm một
đợt tham vấn và khảo sát thực địa thu thập dữ liệu
vào tháng 1/2018 Công tác đánh giá khả thi được
tiến hành vào tháng 2 và tháng 3/2018, căn cứ vào
các thông tin và dữ liệu đã thu thập được cũng như
các phân tích ban đầu của đơn vị tư vấn Việt Nam
Một số thông tin và dữ liệu được thu thập thông qua
đợt tham vấn lần thứ nhất Rất nhiều nội dung phân
tích và đánh giá, bao gồm các tác động kinh tế - xã
hội, được tiến hành dựa trên bộ sở cứ và dữ liệu tổng
hợp này Sau khi dự thảo báo cáo này được giao nộp,
GIZ tổ chức hội thảo tham vấn lần thứ hai (cũng là
hội thảo cuối cùng) – dự kiến vào tháng 4/2018 Đơn
vị tư vấn sẽ trình bày kết quả nghiên cứu với các bên
liên quan và GIZ Các ý kiến sẽ được tổng hợp, tiếp
thu để hoàn thiện báo cáo cuối cùng
Một phần của nhiệm vụ tư vấn này bao gồm phân
tích cân bằng nước tổng thể trong các điều kiện thủy
văn và thủy lực của vùng Các quá trình thủy văn liên
quan như bốc hơi, mưa và thấm ngấm được tính
toán mô phỏng thông qua một mô hình giản lược
Lấy nước từ kênh Vĩnh Tế được xác định là một vấn
đề cốt lõi Cách thức vận hành chung của hồ cũng
được phân tích trong đó các tác động môi trường
được xem là yếu tố quyết định Thiết kế đề xuất
đã được điều chỉnh theo các kết quả ban đầu, và
phương án tiềm năng nhất đã được nghiên cứu sâu
Hiệu suất thủy lực của các công trình đề xuất cũng
được đánh giá Các tham số địa kỹ thuật, biên độ lún,
khả năng sạt lở chân đê bao và độ dốc tới hạn được
bao được phân tích Tất cả các kết quả này đã được
sử dụng để đưa ra các khuyến nghị thực hiện, bao gồm cả các công trình đào đắp
Nhìn chung, trên quan điểm thủy lực và thủy văn thì điều kiện cân bằng nước tổng thể là phù hợp để vận hành hồ chứa theo như đề xuất Liên quan đến chi phí và lợi ích thì kích thước hồ là một yếu tố quyết định Mặc dù thiết kế ban đầu có thể được xem là hiệu quả về chi phí vì tận dụng được các công trình hiện có, nhưng cũng đòi hỏi phải đào đắp và xây dựng các hạng mục bổ sung
Chúng tôi khuyến nghị tránh nạo vét vì chi phí nạo vét và các chi phí liên quan sẽ làm tăng đáng kể chi phí dự án Ngoài ra, việc nạo vét sẽ khiến quá trình phê duyệt trở nên phức tạp hơn do tiềm ẩn các tác động lớn về môi trường
Chúng tôi cũng khuyến nghị không bao gồm rừng tràm Trà Sư trong phạm vi lòng hồ Tình trạng ngập nước kéo dài sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái rừng tràm Việc điều chỉnh (thu nhỏ) kích thước hồ (do không bao gồm rừng tràm Trà Sư) và giảm độ sâu hồ để tránh nạo vét sẽ làm giảm diện tích và dung tích của hồ và như vậy sẽ hạn chế các lợi ích mang lại của dự án
Theo kết quả tính toán, quá trình bốc hơi sẽ làm tăng đăng kể chi phí bơm nước để duy trì mực nước trong hồ Cần nâng cao trình của hệ thống đê bao
để bù lún Nhưng nguy cơ sụt chân cũng giới hạn chiều cao tối đa của hệ thống đê bao Do đó, không thể tăng dung tích hồ bằng cách nâng cao trình hệ thống đê bao
Cơ chế bồi thường do mất đất đai hoặc ảnh hưởng tới sinh kế, thu nhập của các cộng đồng địa phương
do việc xây dựng hồ chứa là rất quan trọng Nghiên cứu khả thi về thể chế đã cho thấy sự cần thiết phải tăng cường phối hợp liên tỉnh, xuyên biên giới và với cấp trung ương để đảm bảo giảm thiểu các tác động tiêu cực tiềm ẩn và tích hợp dự án hồ chứa này vào các quy hoạch, kế hoạch ở cấp quốc gia, khu vực và cấp tỉnh Cần xây dựng năng lực cho các chủ thể và bên liên quan để thực hiện điều này
Kết quả của phân tích kinh tế cho thấy lợi ích kinh tế của hồ cần được cân nhắc thêm Dự án này chỉ có lợi ích kinh tế với những giả định lạc quan Do đó, tính kinh tế của dự án cần cân nhắc cẩn trọng trong quá trình nghiên cứu tiếp theo Kết quả cho thấy việc lựa chọn và thực hiện các mô hình sinh kế thay thế là yếu tố cốt lõi trong việc công trình có mang lợi ích về kinh tế hay không
1 TÓM TẮT
Trang 14Sản lượng lúa gạo tỉnh An Giang hàng năm đạt hơn
3,6 triệu tấn, trong đó xuất khẩu khoảng 500.000
đến 600.000 tấn Trong những năm gần đây, An
Giang đã ứng dụng công nghệ sản xuất tiên tiến và
trồng các giống lúa có giá trị cao nhằm đáp ứng yêu
cầu sản xuất lúa quy mô lớn Đây được xem là một
nỗ lực làm tăng khả năng cạnh tranh trong quá trình
hội nhập kinh tế quốc tế Do đó, định hướng của An
Giang là phát triển ngành nông nghiệp theo hướng
hiện đại hóa
Tuy nhiên, biến đổi khí hậu và nước biển dâng, tình
hình khô hạn kéo dài và thiếu nguồn nước do xây
dựng hồ chứa ở thượng nguồn đã gây những thiệt
hại nghiêm trọng đến sản xuất nông nghiệp của tỉnh
nói riêng và Đồng bằng sông Cửu Long nói chung
Ví dụ, mặc dù đã có dự báo đầy đủ về tình hình hạn
hán vụ đông – xuân 2015-2016 đồng thời có sự hỗ
trợ kịp thời của chính phủ, thiệt hại về sản lượng lúa
gạo ở Đồng bằng sông Cửu Long vẫn rất lớn
Trước tình hình như vậy, cần kết hợp các giải pháp
phi công trình như chuyển đổi hệ thống cây trồng
hoặc mô hình sản xuất và giải pháp công trình như xây dựng hồ chứa để tăng cường khả năng trữ nước ngọt Dự án hồ trữ lũ và cấp nước ngọt Trà Sư - Tri Tôn đã được đề xuất trong bối cảnh đó Hồ chứa dự kiến nằm ở huyện Tịnh Biên, phía hạ lưu 2 đập cao
su Trà Sư và Tha La (Hình 1) Mục tiêu chính của dự
án đầu tư này bao gồm:
y Kiểm soát lũ từ Campuchia vào vịnh Thái Lan và kiểm soát lũ cho vùng phía nam Quốc lộ 91 nhằm bảo vệ diện tích lúa vụ Hè-Thu và tăng diện tích lúa vụ Thu-Đông trong vùng dự án Mạng lưới công trình thoát lũ Châu Đốc - Tịnh Biên nằm trong hệ thống kiểm soát lũ Tứ giác Long Xuyên sẽ được vận hành chủ động để đáp ứng mục tiêu này
y Trữ lũ và cấp nước ngọt cho sản xuất nông nghiệp
y Thúc đẩy nuôi trồng thủy sản vụ Đông-Xuân và vụ Hè-Thu
y Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, đặc biệt tình trạng hạn hán và xâm nhập mặn kéo dài
2 GIỚI THIỆU
Hình 1: Vùng dự án và hồ chứa đề xuất Figure 1: Project area and proposed reservoir
Trang 153.1 Khởi động nghiên cứu khả thi
Nhiệm vụ tư vấn này được bắt đầu tháng 12 năm
2017, bao gồm việc thành lập nhóm tư vấn, hoàn
thiện kế hoạch thực hiện và xác định vai trò và trách
nhiệm cụ thể của các thanh viên
Các nhiệm vụ trọng tâm của gói tư vấn, đặc biệt là
các nhiệm vụ từ 1 đến 3 (nghiên cứu các tài liệu hiện
có, bao gồm việc tổng hợp các thông tin dữ liệu hiện
có và xác định các thông tin dữ liệu cần bổ sung) đã
được thảo luận kỹ trong giai đoạn này Các nhiệm
vụ của gói tư vấn được lên kế hoạch và thực hiện
theo chuỗi logic Việc nghiên cứu các tài liệu hiện có
bao gồm nội dung rà soát kỹ lưỡng bản đề xuất dự
án để hiểu rõ về dự án này Nhờ trước đây đã từng
thực hiện các nhiệm vụ tư vấn liên quan trong vùng,
nên nhóm tư vấn có hiểu biết tốt về dự án qua đó
kế hoạch thực hiện đã được điều chỉnh một chút để
có thể tiến hành đợt tham vấn đầu tiên và chuyến
khảo sát thực tế thu thập dữ liệu vào cuối tháng 1
năm 2018
Dưới đây là các tài liệu chính đã được nghiên cứu rà
soát:
y Tóm tắt Đề xuất dự án “Hồ trữ lũ và cung cấp
nước ngọt Trà Sư – Tri Tôn” do Công ty tư vấn của
Trường Đại học Thủy lợi (chi nhánh phía Nam) lập
y Bài trình bày về dự án trên của Công ty tư vấn của
Trường Đại học Thủy lợi (chi nhánh phía Nam)
y “Thu thập và đánh giá các thông tin cơ bản về
Chiến lược trữ nước Tứ giác Long Xuyên và vùng
Đồng Tháp Mười ở Đồng bằng sông Cửu Long” do
Koos Neefjes và Lê Anh Tuấn biên soạn, tháng 11
năm 2017
y Nghiên cứu khả thi của Chương trình GIZ/ICMP
“Quản lý nước ở vùng thượng nguồn Đồng bằng
sông Cửu Long”, do Công ty tư vấn UNIQUE thực
hiện năm 2016
y Quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi
vùng Tứ giác Long Xuyên do Bộ NN&PTNT ban
hành ngày 20/12/2017
3.2 Nghiên cứu tài liệu hiện có
Khâu rà soát tài liệu hiện có này dẫn đến một số vấn đề kỹ thuật cần được làm rõ trong đợt tham vấn đầu tiên Ngoài ra, các dữ liệu và tài liệu cần thiết cũng được xác định ở khâu này Nhìn chung, công tác nghiên cứu rà soát các tài liệu kỹ thuật hiện có
do đơn vị tư vấn phía Việt Nam cung cấp được chia thành ba chủ đề:
y Thủy văn
y Thủy lực
y Quản lý đấtTrong phần Tóm tắt đề xuất cũng như bài trình bày
về dự án, có một số điểm không nhất quán về cách tính diện tích hồ, dung tích trữ và mực nước Những tính toán này, bao gồm lớp thông tin cơ bản về độ cao địa hình, cần được xác minh Các file dữ liệu số
về hình học hồ chứa, bao gồm mô hình số địa hình, cũng cần phải xác minh cách tính toán
Hơn nữa, bản Tóm tắt đề xuất cũng đề cập đến các báo cáo kỹ thuật về Quy trình vận hành của hệ thống thủy lợi Tứ giác Long Xuyên Các báo cáo và quy trình vận hành này cùng các tài liệu liên quan như quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất, quản lý nước và thủy lợi, quản lý lũ, nông nghiệp, thủy sản, rừng, giao thông – của Đồng bằng sông Cửu Long, Tứ giác Long Xuyên và các tỉnh liên quan, đặc biệt là An Giang và Kiên Giang – đều đã được nghiên cứu rà soát.Công tác nghiên cứu tài liệu hiện có cũng cho thấy cần thảo luận và đánh giá các mô hình hiện có đã được sử dụng để xây dựng quy trình vận hành hệ thống thủy lợi Tứ giác Long Xuyên (được GIZ hỗ trợ một phần)
Nguồn nước từ kênh Vĩnh Tế để cấp vào hồ chứa
là một yếu tố cốt lõi của dự án theo đó cần lắp đặt một số trạm bơm Ở đây có một vấn đề đặt ra là liệu
có khả thi khi sử dụng công trình đập ngăn để kiểm soát nước đầu vào Trong trường hợp này, cần đánh giá và xác minh chế độ thủy văn cũng như mô hình quản lý vận hành hồ
3 MÔ TẢ NHIỆM VỤ TƯ VẤN
Trang 16Ngoài ra, cần có danh mục chi tiết hơn về các chi
phí xây dựng để đánh giá một cách cụ thể và tin cậy
hơn Trong trường hợp này, các yếu tố địa công trình
như nền móng đập, đê bao và cửa cống đã được xác
định là những hạng mục quan trọng Cần có thông
tin bổ sung chi tiết hơn về công tác khảo sát địa chất
đã thực hiện để có thể tính toán các chi phí xây dựng
một cách chính xác hơn Để có thiết kế kỹ thuật phù
hợp và ước tính chi phí tin cậy, cũng cần thêm thông
tin về nền đất ở vùng dự án
Tóm lại, sau khi nghiên cứu các tài liệu hiện có,
nhóm tư vấn thấy cần làm rõ các vấn đề kỹ thuật
về thủy lực, thủy văn và quản lý đất như đã nêu ở
trên trước khi tiến hành đánh giá các chi phí và lợi
ích của dự án
3.3 Chuyến khảo sát thực địa lần
thứ nhất, tháng 7/2018
Giai đoạn đầu của gói tư vấn bao gồm đợt tham vấn
thứ nhất và khảo sát hiện trường để thu thập dữ
liệu Trong số các nội dung chính, đợt tham vấn lần
này bao gồm đánh giá vị trí dự án và bản thiết kế sơ
bộ và lấy ý kiến các cơ quan, tổ chức và cá nhân liên
quan ở cấp trung ương, cấp vùng và cấp tỉnh Mục
tiêu chính là xác nhận tính hợp thức của các vấn
đề nghiên cứu và lấy ý kiến về kế hoạch thực hiện
nghiên cứu khả thi Một hội thảo nhỏ đã được tổ
chức với các bên liên quan chủ chốt Kế hoạch thực
hiện gói tư vấn đã được hoàn tất với sự phối hợp
chặt chẽ với Chương trình GIZ ICMP Thành phần
tham dự, chương trình và các nội dung chính của
hội thảo được đề cập trong Báo cáo Khởi động
3.4 Báo cáo công tác
Ngày 19/1, một cuộc họp đã được tổ chức tại Tổng
cục Thủy lợi (DWR) của Bộ NN&PTNT tại Hà Nội
với sự tham dự ông Đỗ Văn Thành (Phó Tổng cục
trưởng) và ông Hoàng Anh Tuấn (Phó Vụ trưởng)
cùng một số cán bộ của Tổng cục Nhóm tư vấn
trình bày tổng quan về dự án hồ chứa để mọi người
hiểu rõ về đề xuất này
Sau đó, các thành viên cuộc họp thảo luận những
vấn đề liên quan, trong đó bao gồm yếu tố liên quốc
gia của 2 đập cao su Trà Sư, Tha La và kênh Vĩnh Tế
Như vậy, đề xuất dự án phải phù hợp với các quy
định quốc tế, chẳng hạn như phải thông báo cho Ủy
phải là một phần của bất kỳ quy hoạch, kế hoạch
đã được phê duyệt nào và đề xuất này của tỉnh An Giang là nhằm mục tiêu chính là đảm bảo phát triển kinh tế xã hội bền vững của tỉnh Trong bối cảnh như vậy, sự tham gia của Bộ NN&PTNT trong quá trình quy hoạch là rất cần thiết
Việc xây dựng hồ chứa này sẽ làm thay đổi hệ thống quản lý nước trong vùng Quy trình vận hành hệ thống công trình thủy lợi và các kế hoạch quản lý nước hiện có của tỉnh An Giang và Kiên Giang cũng cần được cập nhật theo
Để đảm bảo tuân thủ tiếp cận liên tỉnh ngay từ giai đoạn chuẩn bị, GIZ/ICMP khuyến nghị mời đầy đủ đại diện các cơ quan liên quan của cả 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang tham dự hội thảo tham vấn lần thứ nhất, cũng như nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang.Các đại biểu cũng chia sẻ rằng trong điều kiện nguồn nước hiện tại thì tỉnh An Giang vẫn đủ nước
dù chưa có hồ chứa Thiếu nước là vấn đề lớn đối với Kiên Giang hơn là An Giang Do đó, rất cần tiến hành phân tích chi phí - lợi ích (CBA) của dự án này Trong phân tích hiệu quả kinh tế, cần xem xét một thực tế
là không phải năm nào tình trạng khô hạn cũng xảy
ra trong khu vực
Bản thiết kế đề xuất trong đó kênh Vĩnh Tế là nguồn cấp nước duy nhất cho hồ - được xem là rủi ro vì trong một số năm mực nước trên kênh Vĩnh Tế có thể xuống rất thấp Thêm nữa, Tứ giác Long Xuyên
có vai trò rất quan trọng trong thoát lũ Như vậy, nên xem xét dời vị trí lấy nước xuống phía hạ lưu 2 đập cao su để đảm bảo hiệu quả kiểm soát lũ Liên quan tới vấn đề này, các đại biểu cũng đề cập đến kế hoạch thay thế 2 đập cao su bằng các cống bê tông Hiện tại, 2 đập cao su được sử dụng để quản lý nước phục vụ sản xuất lúa trong vùng dự án Nếu hồ được xây dựng thì chức năng này sẽ bị hạn chế Ngoài ra,
2 đập cao su có yếu tố quốc tế nên cũng cần cân nhắc kỹ lưỡng về vị trí cửa lấy nước
Kích thước của hồ chứa và nhu cầu nước giả định được xem là quá lớn Các đại biểu khuyến nghị nên thiết kế hồ với 3 hoặc 4 ngăn có thể vận hành riêng
để có thể kiểm soát tốt hơn, đặc biệt là trong trường hợp sự cố
Các đại biểu cũng chỉ ra rằng nền đất trong vùng là đất yếu Do vậy việc đảm bảo nền móng công trình như đê và đê bao là khá phức tạp Khi tính toán địa
kỹ thuật phải tính đến khả năng sạt lở do độ dốc nếu có nạo vét và xây dựng đê bao Hơn nữa, toàn
bộ khu vực đều có lớp đất phèn, hàm chứa những
Trang 17tác động tiềm tàng về môi trường do vậy cần rất cân
nhắc khi quyết định nạo vét Như vậy, dung tích thực
của hồ có thể nhỏ hơn nhiều so với thiết kế hiện tại
Chi phí nạo vét bảo trì kênh mương ở Đồng bằng
sông Cửu Long là rất cao, và đối với hồ chứa cũng
tương tự Đây là yếu tố cần cân nhắc vì lượng bùn cát
tích tụ trong hồ theo ước tính sẽ khá lớn
Cũng phải xem xét các tác động của quá trình xây
dựng các công trình phụ trợ như cống đối với sự di
chuyển của cá và thủy sinh Diễn biến chất lượng
nước cần được nghiên cứu do có sự vận chuyển các
chất gây ô nhiễm trong quá trình xây dựng công trình
Mối liên hệ (về sinh thái, chế độ thủy văn v.v) giữa
hồ chứa và rừng tràm Trà Sư cũng phải được nghiên
cứu đầy đủ
Về ngôn ngữ, thuật ngữ “hồ chứa” được xem là
không đủ tính chính xác đối với dự án này bởi vì dự
án có tính đến việc thiết lập (và duy trì) dòng chảy
qua hồ Tư vấn khuyến nghị nên tìm một thuật ngữ
thỏa đáng hơn
Cũng trong ngày 19/1, một cuộc họp đã được
tổ chức tại Tổng cục phòng, chống thiên tai
(VNDMA) của Bộ NN&PTNT tại Hà Nội Tham dự có
bà Đoàn Thị Tuyết Nga (Giám đốc Vụ KHCN&HTQT)
và ông Tạ Ngọc Tân (Chuyên viên) Nhìn chung, theo
VNDMA thì An Giang được xác định là khu vực có
tiềm năng để trữ nước ngọt Tỉnh An Giang và Kiên
Giang có sự đồng thuận về nhu cầu trữ nước ngọt
trong khu vực Tuy nhiên, vùng dự án lại không phải
là khu vực có tình trạng thiếu nước trầm trọng nhất
và cho đến nay chưa có thiệt hại nghiêm trọng nào
xảy ra tại khu vực này Mối quan tâm của tỉnh An
Giang về trữ nước thực ra là nhắm tới các kịch bản
trong tương lai
Giả định rằng một cơ chế hợp tác giữa An Giang và
Kiên Giang sẽ được xây dựng và thực hiện suôn sẻ,
cũng như Kiên Giang sẽ được hưởng lợi từ hồ chứa
Dự án Tuyến thoát lũ An Giang – Kiên Giang (hiện
là một Tiểu dự án thuộc WB-9 của Ngân hàng Thế
giới) đã được thảo luận nhiều và hiện vẫn đang nhận
được nhiều ý kiến trái chiều Hiện chưa có thông tin
chính thức về tình trạng của Tiểu dự án này (liệu có
thực hiện hay không)
Khái niệm hồ chứa theo đề xuất của dự án này có
sự khác biệt so với khái niệm truyền thống về trữ
nước trong hồ chứa Như vậy, khái niệm và ý tưởng
này cần được giải thích sâu sắc hơn, bao gồm những
minh họa chi tiết về thủy văn, thủy lực Hiểu theo
trong phạm vi lòng hồ được giới hạn bới các công trình phân ranh, và không có sự lưu thông dòng chảy đáng kể qua hồ Trong khi hồ chứa đề xuất lại khác – có dòng chảy qua hồ, với lưu lượng đáng kể
Vì vậy, khuyến nghị nên xem lại tên gọi cũng như bản chất của công trình
Đề xuất cũng phải phù hợp với quy định pháp luật về xây dựng đê điều, cống và đê bao Đối với hồ chứa quy mô lớn, quy trình vận hành là rất quan trọng VNDMA quan tâm đến những vấn đề như cao trình của đê đê bao đê bao trong dự án này vì công tác quản lý nước có mối liên hệ chặt chẽ với lĩnh vực giảm thiểu rủi ro
Ngày 22/1, một cuộc họp đã được tổ chức tại
Viện Quy hoạch thủy lợi miền Nam (SIWRP) tại TP.HCM với sự tham dự của nhóm cán bộ của Viện cùng nhóm tư vấn và Chương trình GIZ/ICMP Các
tư vấn trong nước đã được thông báo về kết quả các cuộc họp tại Bộ NN&PTNT Các đại biểu cho biết hiện chưa có cập nhật chính thức về viễn cảnh của Tiểu dự án tuyến thoát lũ An Giang – Kiên Giang thuộc Dự án WB-9 Điều này cần được làm rõ vì Tiểu
dự án này được lập cho cùng một khu vực và chồng lấp một phần với phạm vi hồ chứa đề xuất Mục đích của hồ chứa đề xuất chỉ giới hạn ở trữ và cấp nước mà không có chức năng kiểm soát lũ Bản đề xuất hiện có dựa trên những đánh giá thủy lực khá đơn giản Các khía cạnh kinh tế - xã hội chưa được phân tích thấu đáo Luận điểm chính trong đề xuất xây dựng hồ chủ yếu dựa trên tính kinh tế và như vậy cần thiết phải phân tích các yếu tố kinh tế một cách sâu sắc và toàn diện Trong đợt khô hạn cực đoan năm 2016, lưu lượng nước quan trắc tại sông Hậu xuống thấp nhất trong 80 năm Hiện tượng cực đoan này được cho là sẽ chỉ lặp lại sau khoảng 100 năm Điều này phải được xem xét khi phân tích chi phí – lợi ích của hồ
Cũng vào ngày 22/1, một cuộc họp với Công ty TNHH Tư vấn Trường đại học Thuỷ lợi (TLUC)
được tổ chức tại TP.HCM với sự tham dự của ông Phạm Cao Tuyến (Giám đốc) và cộng sự Đây là một đơn vị chuyên ngành đã cố vấn giúp UBND tỉnh An Giang lập thiết kế hồ chứa TLUC trình bày bản đề xuất (nội dung như đã cung cấp cho GIZ trước đó),
có bổ sung thêm 2 trang trình chiếu về mực nước trong kênh Vĩnh Tế
Sau phần trình bày, các bên đã thảo luận một số câu hỏi mở Bản thiết kế thủy lực cơ bản giả định một
Trang 18liệu về dung tích cho thấy sự thiếu nhất quán trong
tính toán dung tích trữ tối đa của hồ Điều này khẳng
định một thực tế là ý tưởng về dự án này vẫn đang
ở giai đoạn sơ khởi và do vậy vẫn còn một số vấn đề
còn bỏ ngỏ
Ngày 23/1, một cuộc họp với Sở NN&PTNT tỉnh
An Giang đã được tổ chức tại TP Long Xuyên với sự
tham dự của Giám đốc Sở, Chi Cục trưởng Thuỷ lợi,
đại diện các huyện liên quan, Công ty TLUC, và GIZ/
ICMP Buổi họp bắt đầu với phần trình bày của Công
ty tư vấn TLUC TLUC đã phối hợp với tỉnh An Giang
xây dựng bản đề xuất và thiết kế ban đầu này mà
không có nguồn tài trợ nào Đây có thể coi là bản
dự thảo đầu tiên trong đó cần xem xét chỉnh sửa
lại nhiều nội dung như tên gọi, vùng dự án cụ thể
(huyện Tịnh Biên chứ không phải Tri Tôn như hiện
đề cập), ranh giới và dung tích chính xác, độ sâu/cao
trình của các hạng mục cũng như cách thức quản lý
đất đai và các mô hình sinh kế khác nhau
Sau phần trình bày, Giám đốc Sở NN&PTNT đã nhấn
mạnh tầm quan trọng của việc quản lý nước và cấp
nước cho tỉnh An Giang Trong một hội thảo vào
tháng 9/2017 với đại diện của Đại sứ quán Hà Lan,
GIZ, cùng 2 tỉnh An Giang và Kiên Giang, đây được
xác định là những thách thức cần được ưu tiên giải
quyết theo đó các đại biểu đã nhất trí cần nghiên cứu
hai phương án thí điểm chung cho Đồng bằng sông
Cửu Long là: (i) các hồ chứa quy mô lớn có diện tích
từ 2.000 đến 10.000 ha; và, (ii) các hồ chứa quy mô
nhỏ Nghiên cứu khả thi các hồ chứa quy mô nhỏ sẽ
do IUCN thực hiện và việc nghiên cứu đề xuất các hồ
chứa quy mô lớn đã được giao cho Sở NN&PTNT An
Giang tiến hành Theo kế hoạch, đến năm 2019, sau
khi các nghiên cứu khả thi hoàn thành, Bộ NN&PTNT
sẽ quyết định lựa chọn một phương án để triển khai
Về thể chế, dự án hồ chứa phải được lồng ghép
vào kế hoạch phát triển của tỉnh do có ảnh hưởng
đến sử dụng đất trong khu vực Khi xảy ra các hiện
tượng cực đoan thì phạm vi thậm chí còn mở rộng
hơn Như trong đợt khô hạn cực đoan năm 2016,
Việt Nam đã phải đề nghị Trung Quốc xả các đập
ở thượng nguồn để hỗ trợ đưa nước về sông Hậu
Kiên Giang được xem là tỉnh hưởng lợi từ dự án hồ
chứa này trong trường hợp xảy ra các hiện tượng
cực đoan tương tự Trong phạm vi vùng Tứ giác Long
Xuyên, Chương trình GIZ/ICMP đã và đang hỗ trợ
thúc đẩy hợp tác giữa 2 tỉnh An Giang – Kiên Giang,
và dự án hồ chứa này nếu được thực hiện thì cũng
cần góp phần tăng cường quá trình hợp tác liên tỉnh
này trong đó những lợi ích mà dự án mang lại cho
Các đại biểu cũng thảo luận về cách thức vận hành đập cao su Trà Sư và Tha La, và những hàm ý xuyên biên giới của hai công trình này Trong vài năm qua, Chương trình GIZ/ICMP đã và đang hỗ trợ thúc đẩy hợp tác giữa 2 tỉnh láng giềng của Việt Nam và Campuchia về vấn đề này Đã hình thành được cơ chế chia sẻ thông tin về vận hành đập cũng như tình hình mùa vụ nhằm giảm thiểu các tác động, thiệt hại hoặc mâu thuẫn có thể nảy sinh Thêm nữa, 2 đập cao su này cũng thuộc Tiểu dự án Tuyến thoát lũ An Giang – Kiên Giang của Dự án WB-9 vì vậy mối liên
hệ với dự án hồ chứa cần được làm rõ
Về thông số kỹ thuật, các đập cao su này có cao trình 3,8m So với yêu cầu của dự án hồ chứa thì cao trình này là chưa đủ Trong nghiên cứu khả thi này, dựa trên các thông tin thu được, nhóm tư vấn giả định rằng cả hai đập cao su này sẽ được thay thế bằng cống bê-tông như đã nêu trong phần Tóm tắt Dự án đầu tư này đã được phê duyệt và hiện nay đang tiến hành đấu thầu, dự kiến bắt đầu triển khai cuối năm
2018 Chi phí xây dựng không được đề cập trong Báo cáo này vì được huy động từ các nguồn kinh phí khác nhau và cũng chưa có con số chính xác Như đã đề cập, vẫn chưa có thông tin xác thực về Tiểu dự án Tuyến thoát lũ thuộc Dự án WB-9 Đây
là vấn đề cần làm rõ vì tiểu dự án này và dự án hồ chứa có sự chồng lấp về không gian Có thông tin không chính thống rằng tiểu dự án này đã bị loại bỏ
do không đảm bảo tiêu chí chi phí - lợi ích Nếu đúng vậy, thì điều này củng cố yêu cầu phải tiến hành phân tích chi phí – lợi ích của dự án hồ chứa một cách sâu sắc trong nghiên cứu khả thi này Hồ chứa này hiện
có 2 chức năng chính là trữ và cấp nước ngọt Tuy nhiên, cần cân nhắc liệu có thể bổ sung nhiệm vụ cắt đỉnh lũ vào quy trình vận hành hồ không? Tóm lại, Sở NN&PTNT tỉnh An Giang đã xác định 3 vấn đề cốt lõi cần làm sáng tỏ trong nghiên cứu khả thi này, đó là:
Các giải pháp kỹ thuật
Các mô hình sinh kế
Ảnh hưởng tới tình hình quản lý nước trong vùngCác đại biểu cũng đề cập khả năng kênh Vĩnh Tế không cấp đủ nước để tích vào hồ Do đó, chế độ thủy văn và quy trình vận hành cống là những yếu
tố quan trọng và cần được tối ưu hóa bằng các mô hình hiện có Cũng cần xem xét liệu có các nguồn lấy nước bổ sung chẳng hạn qua các cống phía Đông của hồ
Trang 19Nghiên cứu Khả thi cũng cần xem xét các yếu tố địa
chất công trình chẳng hạn như độ lún do nâng cao
đê bao hay khả năng sụt đê bao do độ dốc khi mực
nước dâng cao cũng như công tác quản lý đất trong
nạo vét Do thời gian ngập nước kéo dài tới 7 tháng,
độ dốc cần được kiểm tra kỹ và thường xuyên Nhìn
chung, đê bao cần cao nhất có thể để đảm bảo dung
tích tối đa của hồ, nhưng tích một lượng nước lớn
như vậy cũng hàm chứa những rủi ro như đã đề cập
Điều kiện địa chất trong vùng dự án cũng không đồng
nhất Đặc biệt, ở phần phía tây còn thiếu thông tin
về nền đất Khả năng chịu tải của đường giao thông
trên mặt đê bao cũng cần được nghiên cứu Trong
trường hợp này, giả định là đê bao sẽ phải chịu tải
trọng lớn hơn do giao thông ngày càng gia tăng
Việc nạo vét được lường trước là sẽ có những tác
động lớn vì sẽ làm giảm chất lượng đất phục vụ nông
nghiệp qua đó ảnh hưởng đến sinh kế người dân và
hiện chưa có phương án để bù đắp Thêm nữa, nạo
vét cần được sự cho phép của Thủ tướng Chính phủ
Do vậy, chủ trương của Sở NN&PTNT là tránh nạo
vét và nâng cao trình đê bao đến mức tối đa Nghiên
cứu khả thi cần đánh giá và đưa ra cao trình giới hạn
của đê bao
Một vấn đề quan trọng nữa là sự tương tác giữa hồ
chứa và rừng tràm Trà Sư Do Sở NN&PTNT phụ
trách quản lý nước trong phạm vi rừng tràm nên sự
phối hợp hồ-rừng là khả thi Nếu có hồ chứa, cần
phải xây dựng kế hoạch vận hành quản lý nước chi
tiết riêng cho rừng tràm theo đó quy trình vận hành
các cống phải hỗ trợ hoặc tạo điều kiện thuận lợi
cho công tác quản lý nước trong phạm vi rừng Cần
hạn chế xói lở rừng do dòng chảy lớn khi mở cống Vấn đề cuối cùng nhưng cũng rất quan trọng là làm thế nào để kiểm soát và quản lý chất lượng nước từ rừng tràm khi là một phần của hồ chứa – đây vẫn là một câu hỏi mở
Sở NN&PTNT An Giang đề xuất các mô hình sinh
kế khác nhau có thể áp dụng trong trường hợp xây dựng hồ, bao gồm:
Trong mùa lũ (khi hồ ngập nước) dân địa phương được một công ty tư nhân thuê nhân công trồng trọt, canh tác trong khu vực Có thể trồng sen kết hợp du lịch sinh thái hoặc nuôi trồng thủy sản
Vào mùa khô, dân địa phương duy trì các hoạt động sinh kế như trước đây
Bàn giao việc vận hành hồ chứa cho một công ty (của nhà nước) quản lý hệ thống thủy lợi Nông dân địa phương nhận đền bù từ công ty đó.Việc vận hành và duy tu hồ chứa có thể được bàn giao cho một công ty thuộc sở hữu nhà nước, công
ty tư nhân hoặc có thể kết hợp cả hai Cần cân nhắc
bổ sung nhu cầu thiết bị giám sát vào trong tính toán chi phí
Trong đề xuất này, nuôi trồng thuỷ sản và trồng sen được khuyến nghị là một giải pháp sinh kế thay thế trong thời kỳ hồ tích nước Cần kiểm tra chất lượng nước có đạt tiêu chuẩn cho mục đích này không Giao thông thủy cũng cần được xem xét trong Nghiên cứu khả thi Không rõ liệu đây có phải là vấn
đề lớn trong khu vực dự án không
Hình 2: Cửa lấy nước (trái) và đập cao su (phải)
Trang 20Ngày 24/1, trong chuyến thực địa đến vùng dự án
tại huyện Tịnh Biên, nhóm tư vấn đã thị sát khu vực
cửa lấy nước gồm đập cao sư (Hình 2) Sau đó, đoàn
cứu khả thi, cần kiểm tra xem liệu chất lượng đất trong khu vực hồ chứa có phù hợp với các mô hình sinh kế thay thế không Cần có dữ liệu bổ sung về chất lượng đất Chỉ một vụ sản xuất thất bại thì lợi ích của hồ chứa này sẽ bị đặt dấu hỏi Vì vậy, phân tích chi phí – lợi ích là rất quan trọng Các mô hình sinh kế thay thế cho người dân địa phương là những tiêu chí quan trọng để đánh giá đề xuất này Chính sách đền bù cho người dân cũng vậy
Khi đánh giá tính khả thi về kỹ thuật, tình trạng thất thoát nước do thấm ngấm và bốc hơi không được phép bỏ qua Các yếu tố kỹ thuật chi tiết như thiết kế
đê cần phải rõ ràng vì có ảnh hưởng lớn đến chi phí
và lợi ích của hồ chứa Lượng nước bơm vào hồ cũng cần tính toán chính xác hơn vì sẽ ảnh hưởng đến kết quả phân tích chi phí - lợi ích
Vị trí và kích thước chính xác của hồ chứa cần được làm rõ vì có ảnh hưởng lớn đến khu vực / diện tích cũng như số dân chịu ảnh hưởng Cũng cần làm ai
là những đối tượng được hưởng lợi từ hồ chứa Việc kết hợp các mô hình sinh kế phù hợp là rất cần thiết cho sự thành công của dự án
Ngoài phân tích chi phí - lợi ích, cần Đánh giá Môi trường Chiến lược (SEA) vì hồ chứa sẽ có tác động đến đa dạng sinh học của rừng tràm Trà Sư
Sở NN&PTNT Kiên Giang nhận thấy khả năng hồ chứa có thể mang lại lợi ích cho tỉnh Kiên Giang, nên
có mối quan tâm, ủng hộ nào đó với đề xuất dự án
Hình 3: Đê bao phía Đông (trái) và đê bao phía Tây (phải)
cũng khảo sát các đê bao hiện có ở phía Đông và phía Tây của hồ chứa dự kiến (Hình 3)
Tại vị trí cực Nam của hồ chứa, khi đối chiếu với bản
đồ dự án, đoàn nhận thấy phần phía Bắc của rừng
tràm Trà Sư nằm trong khu vực đề xuất của hồ chứa
Thực tế này không nhất quán với tài liệu thuyết minh
dự án và cần được làm rõ Nhìn chung, đê bao phía
Đông đủ cao và mái dốc được phủ bê-tông Các
đoạn có độ dốc lớn cần kiểm tra mức độ ổn định
về địa kỹ thuật Có một con kênh lớn chảy vào khu
vực dự án từ hướng Đông Ở đây, cần phải kiểm tra
kỹ thiết kế của công trình cống dự kiến Đê bao phía
Tây chưa đủ cao trình cũng như độ ổn định Nền đất
chủ yếu là sét mềm Dọc theo con lộ, nhiều đoạn đê
bao bị lún có thể nhận thấy bằng mắt thường
Ngày 25/1, tại Rạch Giá nhóm tư vấn đã họp tham
vấn với Sở NN&PTNT tỉnh Kiên Giang với sự tham
dự của Phó Giám đốc Sở NN&PTNT, Chi cục trưởng
Chi cục Thủy lợi, Trưởng phòng Quản lý Nước của
Sở TN&MT và Phó Giám đốc Đài khí tượng thủy văn
tỉnh Kiên Giang Theo ý kiến đại biểu, cần xem xét
liệu hồ chứa có phù hợp với các quy định hiện hành
không Lượng nước kênh Vĩnh Tế ở phía thượng lưu
cần được tính toán và lồng ghép vào bản kế hoạch
quản lý vận hành nhất quán của hồ chứa Cần xác
định rõ các tác động tới hạ du và có giải pháp ngăn
ngừa, giảm thiểu các tác động tiêu cực
Quy hoạch tuyến thoát lũ An Giang - Kiên Giang
phần nào mâu thuẫn với kế hoạch xây dựng hồ chứa
này Vì vậy, cần làm rõ hiện trạng Tiểu dự án này của
Dự án WB-9 của Ngân hàng Thế giới Trong Nghiên
Trang 21này Mâu thuẫn lợi ích giữa hai tỉnh phải được làm rõ
trong Báo cáo khả thi này Cần xem xét các tác động
có thể của hồ chứa (cả tiêu cực hoặc tích cực) đối với
tình trạng xâm nhập mặn tại Kiên Giang
Trong chuyến khảo sát thực địa ngày 25/1 tại
huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang, đoàn đã đi thăm
một số kênh chính nối với khu vực hồ chứa (Hình 4)
Khoảng cách tới hồ chứa khoảng 37 km và các thành
viên đoàn đều có suy nghĩ rằng những tác động của
hồ chứa đến khu vực này của tỉnh Kiên Giang là khá
hồ xả nước có thể đe dọa an toàn đến hệ thống đê bao thấp của người dân Các tác động cục bộ này cần được đề cập trong Báo cáo khả thi Việc đền bù cho người dân trong phạm vi lòng hồ là một vấn đề rất quan trọng Các nguồn kinh phí để duy tu, bảo dưỡng hệ thống đê bao nội đồng và xung quanh hồ chứa cần được bao gồm trong phân tích chi phí – lợi ích bởi vì sau 7 tháng ngập lũ các công trình hạ tầng này sẽ bị xuống cấp đáng kể
Chi cục Kiểm lâm cũng đồng quan điểm loại trừ rừng tràm Trà Sư khỏi dự án Những biến động về chế độ thủy văn sẽ tác động tiêu cực đến rừng Mặt khác, khi có hồ, rừng có thể được hưởng lợi từ nguồn nước
bổ sung này nếu hồ được vận hành phù hợp và như vậy sẽ phụ thuộc vào việc đơn vị nào sẽ vận hành hồ Trong những năm có mực nước lũ thấp, chỉ từ 1-2
m, thì cần bơm thêm rất nhiều nước để tích vào hồ Việc bơm nước này cần phải được tính đến trong phân tích chi phí - lợi ích của Báo cáo khả thi Quy trình vận hành hồ phải rõ ràng, bao gồm dung tích trữ, nhu cầu nước, sử dụng nước v.v Các đại biểu nhìn chung nhất trí rằng vị trí đề xuất của hồ là khả thi vì chi phí xây dựng có thể được giảm thiểu nhờ
hệ thống đê bao hiện có Tuy nhiên, Báo cáo khả thi
có thể vẫn cân nhắc và đề xuất các địa điểm khác
Sự đồng thuận của người dân địa phương là vấn đề tối quan trọng Cần có một nghiên cứu toàn diện về các khía cạnh kinh tế xã hội và các mô hình sinh kế khác nhau Các thay đổi về sinh kế phải được xem xét trong Nghiên cứu khả thi Du lịch sinh thái có thể được coi là một đồng lợi ích (cho các bên), nhưng mức độ được cho là hạn chế Các chi phí và lợi ích liên quan cần được nghiên cứu hoặc trong Nghiên cứu khả thi này khi có thể, hoặc cần được khuyến nghị tiếp tục nghiên cứu chi tiết hơn trong giai đoạn xây dựng dự án Việc nghiên cứu này sẽ cung cấp
“bằng chứng” cho các cơ quan địa phương khi thảo luận và thương thuyết với các hộ dân liên quan
Hình 4: Kênh chính ở huyện Hòn Đất, tỉnh
Kiên Giang
Ngày 26/1, một hội thảo nhỏ đã được tổ chức tại
Nhà khách UBND tỉnh An Giang ở TP Long Xuyên
Sau phần trình bày chung của nhóm tư vấn trong
nước và quốc tế về đề cương dự án và các phát hiện,
kết quả tham vấn lần đầu, các đại biểu đã thảo luận
về bài trình bày và các nội dung liên quan
Đại biểu cho biết, dự án thay thế 2 đập cao su Trà Sư
– Tha La bằng các cống bê-tông được cho là sẽ bắt
đầu trong năm 2018 Lượng điện tiêu thụ để bơm 50
triệu m³ nước cần phải được tính đến
Nguyên Chủ tịch UBND tỉnh An Giang kiến nghị
không đưa rừng tràm Trà Sư thuộc vào vùng hồ
chứa vì sẽ làm thay đổi hệ sinh thái Ông bày tỏ quan
điểm ủng hộ đề xuất, nhưng cũng yêu cầu cần điều
tra thêm
Phó Giám đốc Sở TN&MT cũng bày tỏ đồng tình và
coi mục đích cấp nước là rất quan trọng, nhưng cần
làm rõ những đối tượng nào sẽ được hưởng lợi từ
Trang 22Các yếu tố giới và dân tộc thiểu số cũng cần được
xem xét trong Nghiên cứu khả thi này Nếu hồ chứa
bị ngập nước trong vòng 6 hoặc 7 tháng với mực
nước đến 5 m, phải lường trước nguy cơ đuối nước
với trẻ em
Một cuộc họp với GIZ ICMP cũng đã được tổ chức để
nhóm tư vấn trong nước và quốc tế báo cáo tóm tắt
lại tiến độ thực hiện, các kết quả đã đạt được, cũng
như nhất trí về kế hoạch tiếp theo
Hai cuộc tham vấn dự kiến với Ban 10 (CPO-10,
thuộc Ban quản lý các dự án thuỷ lợi, Bộ NN&PTNT)
tại Cần Thơ và với Tiến sĩ Andrew Wyatt của IUCN
Việt Nam tại TP.HCM sẽ do nhóm tư vấn trong nước
thực hiện trước khi tiến hành đánh giá sâu, và các
chuyên gia tư vấn quốc tế tham gia thông qua skype
3.5 Đánh giá khả thi
Sau khi tham vấn, bước tiếp theo là đánh giá các
yếu tố khả thi Trên cơ sở các thông tin và số liệu
thu thập được qua công tác tham vấn và khảo sát
thực địa, nhóm tư vấn tiến hành các phân tích khả thi khác nhau, bao gồm cả phân tích các tác động kinh tế xã hội
Ngày 22/3/2018, nhóm đã thảo luận với Tiến sĩ Andrew Wyatt của IUCN thông qua Skype về đề cương chung và các mục tiêu chính của báo cáo Ý kiến của ông Wyatt về thay đổi sinh kế và các vấn đề môi trường đã được tiếp thu trong nghiên cứu này.Sau khi dự thảo Báo cáo khả thi được giao nộp, GIZ/ICMP sẽ gửi cho các bên liên quan Sau đó, sẽ tổ chức hội thảo tham vấn lần cuối dự kiến vào tháng 4/2018 Các nhận xét và khuyến nghị sẽ được trình bày và thảo luận tại hội thảo
Sau hội thảo, nhóm tư vấn sẽ hoàn thiện báo cáo cuối cùng dự kiến vào tháng 5/2018 Báo cáo sẽ bao gồm các nội dung theo như cấu trúc đã được nhất trí trước đó, cũng như sau khi tiếp thu các ý kiến đóng góp tại hội thảo sau cùng
Trang 23Sông Cửu Long là một trong những hệ thống sông
lớn nhất thế giới với chiều dài 4.200 km và diện tích
lưu vực là 795.000 km2 Ở Việt Nam, sông Cửu Long
bao trùm một diện tích khoảng 40.500 km2 Đồng
bằng sông Cửu Long bắt đầu tại Phnom Penh ở
4 MÔ TẢ VÙNG DỰ ÁN
Đồng bằng sông Cửu Long
Hình 5: Bản đồ Đồng bằng sông Cửu Long tại Việt Nam, và vùng dự án
4.1 Địa hình
Vùng dự án là một phần của Tứ giác Long Xuyên
Địa hình dao động từ 0,5 m đến 1,8 m so với mực
nước biển, với độ dốc nhỏ hơn 1% Vùng dự án là
một phần của khu vực trữ lũ của Tứ giác Long Xuyên
4.2 Thủy văn
Nhiệt độ trung bình hàng năm dao động từ 26,5 đến
27,3°C, nhiệt độ hàng tháng từ 25,0 đến 28,5°C Độ
ẩm trung bình hàng năm nằm trong khoảng từ 82,2
đến 85,7% Khí hậu, nhìn chung, đặc trưng bởi hai
mùa gió: gió tây nam từ tháng 5 đến tháng 10 và
gió đông bắc từ tháng 11 đến tháng 4 Lượng mưa
Campuchia, nơi con sông này chia thành hai nhánh – sông Tiền và sông Hậu Sông Hậu chảy qua các tỉnh An Giang, Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh và Sóc Trăng (Hình 5)
mm, Long Xuyên 1.511 mm và Châu Đốc 1.306 mm Mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Lượng mưa từ tháng
7 đến tháng 10 chiếm 60% và lượng mưa từ tháng
8 đến tháng 10 chiếm 50% tổng lượng mưa hàng năm Mức độ bốc hơi cao nhất từ 180-220 mm xảy
ra trong tháng 3, tháng 4 và tháng 5 Mức độ bốc hơi giảm xuống còn 100-150 mm khi mùa mưa bắt đầu
Tứ giác Long Xuyên chịu ảnh hưởng (ở mức độ hạn chế) bởi chu kỳ thủy triều của cả Biển Đông và Vịnh Thái Lan Biên độ bán nhật triều của Biển Đông dao động từ 3,5 đến 4,0 m ở vùng cửa sông Triều Biển Đông xâm nhập sâu vào sông Hậu và lan tỏa rộng khắp hệ thống kênh rạch Thủy triều của Vịnh Thái Lan có chế độ hỗn hợp bán nhật triều với biên độ từ
80 đến 100 cm
Trang 24Lưu lượng trung bình của sông Tiền và sông Hậu
quan sát ở Tân Châu và Châu Đốc khoảng 387 tỷ m3
mỗi năm và phân bố không đều trong năm Thông
thường, vào mùa lũ sớm (tháng 7 đến tháng 8), mực
nước lũ ở Châu Đốc duy trì ở mức từ 2,5 đến 3,0 m
đến cuối tháng 7 Tứ giác Long Xuyên chịu ảnh hưởng
bởi mực nước lũ ở sông Hậu và lũ từ Campuchia Vào
tháng 8, mực nước ở Châu Đốc là từ 3,0 đến 3,5 m và
hầu hết các cánh đồng lúa ở An Giang đều ngập sâu
khoảng 2,0 m Đến cuối tháng 8, mực nước ở Châu
Đốc có thể tiếp tục tăng Lũ từ Campuchia có thể gây
ngập lụt nghiêm trọng cho Tứ giác Long Xuyên, đặc
biệt ở vùng phía Bắc kênh Mặc Cần Dưng, mực nước
sâu từ 2,0 đến 2,5 m, ở một số vị trí sâu từ 3,0 đến
4,0 m (Hình 7)
Từ tháng 9 đến tháng 10 là giữa mùa lũ Vào thời điểm
đó, lũ đạt đỉnh, thông thường mực nước ở Châu Đốc
là 4,0 m và toàn bộ đồng ruộng chìm trong nước
Lưu lượng dòng chảy có thể lên tới 25.500 m3/s Từ
tháng 11 đến tháng 12, lũ bắt đầu giảm và mực nước
ở các con sông chính cũng giảm theo Tổng cộng, phần lớn tỉnh An Giang bị ngập sâu từ 3,0 đến 4,0 m
từ tháng 8 đến cuối tháng 12
Vào tháng 12, khi mực nước giảm nhanh và ít mưa, mùa khô bắt đầu Mực nước trung bình thấp nhất xảy ra vào nửa cuối tháng 4 Lưu lượng dòng chảy đạt tối thiểu là 2.340m3 /s
Hình 6 minh họa mực nước trong mùa lũ tại trạm Xuân Tô và mực nước ở kênh Vĩnh Tế để có thể tích vào hồ Mức và thời điểm lũ thay đổi qua các năm
và do đó ảnh hưởng đến hoạt động của hồ chứa dự kiến
Nước ngầm ở đồng bằng sông Cửu Long khá dồi dào
và được sử dụng cho một số mục đích: nông nghiệp, sinh hoạt và công nghiệp Tuy nhiên, việc khai thác không bền vững đã dẫn đến suy giảm mực nước ngầm, nhất là vào mùa khô ở một số khu vực (như
Cù Lao Dung)
Hình 6: Mực nước vào mùa lũ tại Trạm Xuân Tô
Trang 254.3 Địa chất và thổ nhưỡng
4.3.1 Các thông số địa kỹ thuật
Nhìn chung, đất trong khu vực hồ chứa có hệ số thấm rất nhỏ và do đó có khả năng giữ nước Bảng 1 tóm tắt các thông số đặc trưng quan trọng của đất được trích dẫn từ bản Tóm tắt đề xuất dự án và được đánh giá dựa trên kết quả nghiên cứu các tài liệu hiện có
Bảng 1: Thông số đất trong vùng dự án
Mô tả cơ yếu đến rất yếuHỗn hợp sét hữu Sét giàu hữu cơ yếu đến rất yếu cứng và trung bìnhSét cứng đến rất Đất cát pha sét độ cứng trung bình
Phân loại theo DIN 18196 OT / (OU) OT TL / TM / (UL / UM) ST / ST*
Phân loại theo DIN 18301 BB 1 / BO 1 BB 1 / BO 1 BB 3 / BB 4 BN 1 / BN 2
Trang 26Sử dụng các thông số thổ nhưỡng này cùng kích
thước của các đê bao dự kiến để ước tính biên độ
lún công trình theo đó biên độ lún ước tính vào
khoảng vài chục cm và sẽ ảnh hưởng đến các công
trình xây dựng và chi phí xây dựng cũng như dung
tích tối đa của hồ chứa
4.3.2 Đặc điểm địa hóa
Ở miền Nam Việt Nam, khoảng 1,6 triệu ha đất (47%)
ở Tứ giác Long Xuyên, Đồng Tháp Mười, phía Tây
sông Hậu, và một phần lớn bán đảo Cà Mau chủ yếu
là đất phèn, với hàm lượng sun-phít sắt cao và rất
nhạy cảm với những biến động của mực nước ngầm
và lưu lượng dòng chảy của sông (Tuan & wyseure,
2016) Đất phèn được chia thành hai phân nhóm:
đất phèn tiềm tàng và đất phèn hoạt động Đất phèn
hoạt động tập trung chủ yếu ở các vùng có điều kiện
thoát nước kém Trên các vành đai ven biển, đất
phèn nhiễm mặn rất phổ biến (Truong 2002) Đặc
điểm chính của loại đất này là khả năng phát triển
tính axit cao khi tiếp xúc với ô-xy (hashimoTo, 2001)
Đất phèn tiềm tàng chiếm diện tích 613,000ha, đặc
biệt ở các khu vực tiêu thoát nước 72% diện tích
này là sản xuất lúa nước và 5% sử dụng cho các mục
đích nông nghiệp khác Nguyên nhân khiến không
khí (ô-xy) xâm nhập vào đất có thể do khai thác nước
ngầm, đào đắp các hệ thống thoát nước hoặc các
quá trình thu nước Những can thiệp này gây nên những biến đổi lớn về môi trường và kinh tế - xã hội,
và là nguyên nhân của các vấn đề môi trường hiện nay
Từ khoảng năm 1996, quá trình xâm nhập mặn và phèn hóa đất có xu hướng gia tăng cùng các thiệt hại về bão lũ theo đó các chức năng tự nhiên quan trọng của các hệ sinh thái nguyên thủy bao gồm đa dạng sinh học đã mất mát đáng kể (NI và các cộng
sự, 2016) Một nghiên cứu của DENT (1986) đã phát hiện ra rằng đất phèn gây ra các vấn đề nghiêm trọng về hóa học, vật lý và sinh học Đặc biệt, quá trình oxy hóa pyrite tạo ra hợp chất nhôm có độc tính cao và làm đất bị a-xít hoá, do sản sinh sunfua-hydro và sắt Tại các khu vực bị ảnh hưởng, cần có giải pháp kỹ thuật cụ thể để khôi phục đất một cách hiệu quả để phục vụ cây trồng Do đó, điều quan trọng là phát triển và chuyển giao các giải pháp nông nghiệp mới phù hợp với những điều kiện thổ nhưỡng cụ thể Có thể liệt kê những hậu quả từ quá trình phèn hóa đất bao gồm: các khoáng sét có thể
bị phá hủy và các khoáng nhôm bị hòa tan Hơn nữa, đất bị thiếu hụt dinh dưỡng do các quá trình rửa trôi Ngoài ra, độ pH của đất giảm và giải phóng các kim loại nặng Quá trình rửa trôi cũng khiến nước ngầm
và nước mặt bị a-xít hóa
Trang 27Ý tưởng chung của dự án đầu tư này là từ giữa mùa
lũ (khoảng tháng 9 và tháng 10) bắt đầu tích nước
vào hồ chứa cho đến khi mực nước ở sông Hậu và
kênh Vĩnh Tế bắt đầu giảm Thời đoạn này có thể
thay đổi đáng kể tùy điều kiện cụ thể từng năm Quy
trình vận hành này cũng cho phép cắt đỉnh lũ từ
kênh Vĩnh Tế
Tổng diện tích vùng dựnán theo đề xuất ban đầu là
3.050 ha, và được bao quanh bởi hệ thống đê bao
có tổng chiều dài 37.4 km Theo đề cương, lòng hồ
có cao trình từ 0,5 đến 0,8 m Tuy nhiên, các dữ liệu
GIS lại cho thấy cao trình này là là từ 1,1 đến 1,6 m,
và giá trị trung bình là 1,26 m Theo đề xuất, sẽ tiến
hành nạo vét để hạ cao trình lòng hồ xuống 0,00
m Giả định với mực nước 4,5m thì tổng dung tích
hồ chứa là 137,25 triệu m³ [= 3,050 ha • 10,000 m²/
ha • (4,5 m - 0,0 m)] Lượng nước trong kênh không
được tính vào tổng dung tích này Vào mùa khô, cần
bơm bổ sung 50 triệu m³ nước từ kênh Vĩnh Tế để
làm đầy hồ cũng như bù đắp cho các lượng nước đã
cấp đi hoặc do thất thoát, và do đó làm tăng dung
tích toàn phần của hồ tính cho toàn bộ thời gian Để
thực hiện điều này, cần lắp đặt các trạm bơm và cửa
cống tại kênh Vĩnh Tế trong đó bao gồm thay thế 2
đập cao su Các trạm bơm có công suất 2 m³/giây và
cần bơm trong khoảng 48 ngày để đạt được dung
tích nêu trên Khoảng 30.000 ha lúa dự kiến sẽ được
hưởng lợi từ hồ này
5 MÔ TẢ DỰ ÁN ĐỀ XUẤT
Trong công tác quản lý nước, việc vận hành các cống này thế nào sẽ đóng vai trò rất quan trọng Hình 8 minh họa vị trí dự kiến của 6 cống này trong bản thiết kế ban đầu Theo đề xuất, tất cả các cống (bao gồm các cống hạ lưu 3-6) sẽ được mở tại thời điểm
đó, hoặc cũng có thể cần đóng các cống 3-6 để đạt mức nước yêu cầu 4.50 m Điều này phụ thuộc vào năng lực của các cống và dòng chảy qua hồ Lưu lượng tối đa qua các cống 1 và 2 phải được kiểm tra Khi mực nước ở sông Hậu và kênh Vĩnh Tế giảm, tất
cả các cống đều đóng để duy trì mực nước thiết kế Trong khoảng giữa tháng 11 và tháng 2, nếu hồ chưa đạt mực nước thiết kế 4,50 m thì sẽ tiến hành bơm Việc bơm bổ sung này sẽ tùy thuộc vào mực nước ở kênh Vĩnh Tế
Vào mùa khô, dự tính sẽ duy trì mực nước cao càng lâu càng tốt Bơm bổ sung để duy trì mực nước cũng như bù đắp cho lượng nước đã sử dụng (kể cả bốc hơi / thấm ngấm) Khi mực nước trên kênh Vĩnh Tế không còn đủ để bơm, mực nước trong hồ sẽ giảm
do hoạt động cấp nước Khi đó các cống 3-6 sẽ mở
để cấp nước cho các vùng hạ du Hồ chứa phải được vận hành để vẫn giữ được nước khi bắt đầu mùa lũ Trong khoảng thời gian từ 5 đến 7 tháng, mực nước trong hồ cần ở mức 4,50 m hoặc thấp hơn một chút
và trong thời gian này các cánh đồng lúa sẽ bị ngập
và không thể canh tác
Trang 29Căn cứ vào kết quả nghiên cứu các tài liệu hiện có và
đợt tham vấn lần thứ nhất, nhóm tư vấn đã xác định
được các chủ đề chính cần tập trung làm rõ trong
nghiên cứu khả thi Mối liên hệ chặt chẽ giữa một số
chủ đề đòi hỏi cách tiếp cận lặp trong nghiên cứu
Các tính toán thủy lực và thủy văn được thực hiện
sử dụng mô hình do các chuyên gia trong nước xây
dựng Số liệu đầu vào mô hình, dữ liệu địa chất công
trình, đánh giá tác động môi trường bao gồm rừng
tràm Trà Sư cũng như các số liệu phục vụ đánh giá
tình hình kinh tế, xã hội bao gồm các mô hình sinh
kế khác nhau và phân tích chi phí - lợi ích được tổng
hợp và kế thừa từ những nghiên cứu trước đây Tại các cuộc họp tham vấn, các tỉnh liên quan cũng đã đồng ý cung cấp cho nhóm tư vấn những số liệu cập nhật nhất, đặc biệt về sử dụng đất, nông nghiệp/thủy sản và nhân khẩu học
6.1 Tính khả thi về kỹ thuật
6.1.1 Tổng quan về thủy văn Quy trình vận hành hồ - như đề cập ở phần 5 - có thể được mô tả theo sơ đồ giản lược dưới đây
6 ĐÁNH GIÁ KHẢ THI DỰ ÁN ĐỀ XUẤT
4.50
–4.50
–4.50
Hình 10: Chế độ vận hành giản lược
(đỏ = đóng, xanh = mở, gạch chéo = bơm, = mực nước tăng, = mực nước giảm)
Tuy nhiên, cần xem xét các kịch bản lưu lượng khác nhau Bộ TN&MT đã xây dựng kịch bản BĐKH cho Việt Nam Kịch bản này cung cấp tham số đầu vào cho các dự án quản lý nước hiện tại và trong lương lai Thay vì sử dụng các giá trị cố định, những tham
số như lưu lượng sông suối, nước biển dâng, xâm nhập mặn hay lượng mưa cần được tính toán với các giá trị tối thiểu và tối đa (Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long, 2013) Bảng 2 cung cấp các tham số chính của kịch bản BĐKH phát thải trung bình và cao cho giai đoạn 2050 và 2100
Trong vận hành hồ, việc lấy nước từ kênh Vĩnh Tế
qua các cống 1 và 2 là hoạt động trọng yếu Cần lưu
ý là lũ sớm từ Campuchia có thể mang theo nhiều
phân bón và thuốc trừ sâu do vậy không khuyến
nghị tích lũ sớm này vào hồ nếu không tiến hành
phân tích chất lượng nước Đây có thể là yếu tố hạn
chế lượng nước tích cho hồ nhưng hiện có thể bỏ
qua Hình 6 cho thấy mực nước trong mùa lũ ở kênh
Vĩnh Tế Mực nước và hình thái thời gian thay đổi
theo từng năm và do đó ảnh hưởng đến lượng nước
cần bơm vào hồ Trong phần tính toán dưới đây, tư
vấn giả định rằng lượng nước trong kênh Vĩnh Tế đủ
để tích vào hồ từ tháng 8 đến tháng 11
Trang 30Bảng 2: Các đặc điểm của hai kịch bản BĐKH Kịch bản phát thải trung bình Kịch bản phát thải cao
Tăng lưu lượng dòng
Tăng lượng mưa trong
Lưu lượng dòng chảy
mùa khô
+/- 5 % (cao hơn hoặc thấp hơn)
5 % cao hơn
15 % thấp hơn 10 – 30 %Thấp hơn 30 – 60 %Thấp hơn
Giảm lượng mưa trong
mùa khô 0 – 10 % ít hơn 5 – 15 % ít hơn 10 – 20 % ít hơn 20 – 40 % ít hơn
Nguồn: Kế hoạch Đồng bằng sông Cửu Long 2013
6.1.2 Vị trí và kích thước
Theo đề xuất ban đầu, lòng hồ bao gồm cả rừng
tràm Trà Sư Tuy nhiên, tư vấn khuyến nghị không
nên đưa rừng tràm Trà Sư vào khu vực lòng hồ vì
các vấn đề về sinh thái Tình trạng ngập nước kéo
dài nhiều khả năng sẽ gây hại nghiêm trọng cho khu
rừng này Nếu không bao gồm rừng tràm Trà Sư thì
diện tích lòng hồ giảm xuống còn 2.175 ha Theo
đó, tổng chiều dài đê bao là 20,94 km Diện tích hồ
sẽ giảm khoảng 29%, và dung tích sẽ là 97,875 triệu
m³ [= 2.175 ha · (4,50 m – 0,00 m)] thay vì là 137,25
triệu m³ như đề xuất Hình 11 thể hiện phần lòng hồ
không bao gồm rừng tràm và Hình 12 thể hiện sơ đồ
hồ chứa với các hạng mục thiết kế
Thêm nữa, nạo vét được xem là có nguy cơ cao
về sinh thái (như kích hoạt các chất ô nhiễm, vận
chuyển khối lượng lớn) cũng như đòi hỏi chi phí cao (chi phí nạo vét và các chi phí liên quan) nên cần tránh phương án này Nếu không nạo vét, tổng dung tích hồ sẽ giảm xuống chỉ còn 70,470 triệu m³ [= 2.175 ha · (4,50 m – 1,26 m)] Diện tích lúa được cho
là sẽ hưởng lợi từ nước hồ chứa cũng sẽ giảm theo
và xuống còn khoảng (0.51 · 30.000 ha = 15.300 ha).Theo một phương án thiết kế khác trong đó sử dụng phần diện tích phía nam của rừng tràm Trà Sư để làm lòng hồ thì hồ sẽ có tổng diện tích là 3.040 ha (Hình 13) Phương án này đòi hỏi phải xây dựng công trình phụ trợ như cầu thủy lực (kênh tự chảy hay đường ống áp lực) từ khu vực phía bắc xuống phía nam rừng tràm Trà Sư Như vậy, chi phí sẽ cao hơn nhưng giúp tăng diện tích hồ, và mang lại những lợi ích khác
Trang 31Hình 11: Hồ chứa không bao gồm rừng tràm Trà Sư
Hình 12: Sơ đồ hồ chứa với các hạng mục thiết kế
Trang 32Hình 13: Phương án thiết kế có thêm phần diện tích phía nam rừng tràm Trà Sư
Như trình bày ở phần trên, về cơ bản có 4 phương án thiết kế:
1 Thiết kế ban đầu, có bao gồm rừng tràm Trà Sư, diện tích hồ 3.050 ha, có nạo vét
2 Thiết kế ban đầu, có bao gồm rừng tràm Trà Sư, diện tích hồ 3.050 ha, không nạo vét
3 Thiết kế điều chỉnh, không bao gồm rừng tràm Trà Sư, diện tích hồ 2.175 ha, có nạo vét
4 Thiết kế điều chỉnh, không bao gồm rừng tràm Trà Sư, diện tích hồ 2.175 ha, không nạo vét
Phương án thiết kế bổ sung (5) có bao gồm phần diện tích phía nam của rừng tràm Trà Sư, diện tích hồ sẽ là 3.040 ha, và có diện tích tương đương với diện tích của thiết kế ban đầu Các phương án thiết kế khác nhau
sẽ có dung tích tối đa khác nhau như chỉ ra trong Bảng 3
Bảng 3: Dung tích hồ theo các phương án thiết kế khác nhau
Thiết kế ban đầu, không bao gồm rừng tràm Trà Sư 70,470 x 10 6 m³ 97,875 x 10 6 m³
Thiết kế ban đầu, không bao gồm rừng Trà Sư, thêm
6 m³ 136,800 x 10 6 m³
Khi tích nước, do tốc độ dòng chảy trong hồ thấp nên bùn cát sẽ dần lắng đọng dưới đáy hồ Theo RENAUD
&KUENZER (2012), tổng hàm lượng bùn cát lơ lửng của sông Cửu Long và các kênh rạch trong mùa lũ vào khoảng 100-200 mg/l Giả định rằng lượng bùn cát gần lòng sông không được vận chuyển vào lòng hồ (do có các công trình bẫy bùn chẳng hạn) thì biên độ bùn cát tích tụ sẽ vào khoảng 0,01 m và như vậy có thể bỏ qua
Trang 33Hình 14: Lượng bốc hơi tính cho lòng hồ có bao gồm phần phía nam rừng tràm Trà Sư
Sự chênh lệch giữa lượng bốc hơi và lượng mưa cho thấy nhu cầu bơm bổ sung nếu muốn duy trì một mực nước nhất định Công suất bơm sẽ phụ thuộc vào diện tích hồ Hình 15 cho thấy nếu muốn duy trì mực nước như vậy thì bắt buộc phải bơm, và hoạch định các chi phí liên quan Nếu vì lý do tài chính hoặc do thiếu nước từ kênh Vĩnh Tế mà không thể bơm nước vào hồ thì mực nước trong hồ sẽ giảm như mức đã chỉ ra trong Hình 14
6.1.3 Đánh giá lượng bốc hơi
Lượng bốc hơi được tính toán theo Penman (LECHER et al., 2015) Chi tiết tính toán và các giả định cần thiết được trình bày trong phần Phụ lục Hình 14 cho thấy kết quả tính toán lượng bốc hơi theo mm/tháng, và lượng mưa tại khu vực dự án
Trang 346.1.4 Đánh giá lượng thấm ngấm
Nhìn chung, các thông số thổ nhưỡng trong vùng dự án cho thấy hệ số thấm ngấm rất nhỏ và do vậy nền đất
ở đây phù hợp để xây hồ Tuy nhiên, lượng thấm ngấm đã được tính toán theo công thức Darcy nhằm xác thực giả định chung
Lưu lượng thấm ngấm Q = v · A với vận tốc thấm v = kf · I
Hình 16: Lượng thấm ngấm và công suất bơm cần thiết để bù thấm
Lượng nước đầu vào
Lượng nước đầu vào từ kênh Vĩnh Tế là yếu tố trọng yếu đảm bảo tính khả thi của hồ Mặc dù
có thể và cần bơm bổ sung, nhưng nên giảm thiểu chi phí bơm Mục tiêu chung là tăng lượng cấp do tự chảy nhiều nhất có thể thông qua các cống dự kiến dọc kênh Vĩnh Tế
Dòng chảy qua cống được tính toán theo công thức Toricelli:
𝑄𝑄 = µ ∗ 𝑠𝑠 ∗ 𝑏𝑏𝑔𝑔∗ √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅
Trong đó:
hR = mực nước trên kênh Vĩnh Tế
µ = 0,6 (hệ số thực nghiệm, giá trị điển hình cho cửa mép thẳng)
𝑠𝑠 = biên độ mở [m]
𝑏𝑏𝑔𝑔= bề rộng cửa cống
Hình 17 cho thấy lượng lấy nước thông qua cống bê-tông sẽ thay thế cho đập cao su Tổng cộng
có 2 cống bê-tông như vậy dự kiến được xây dựng tại vị trí của 2 đập cao su hiện tại Chiều rộng của các cống này dự kiến là 40m, cao trình đáy 1,5 m
Ngay cả với kịch bản đỉnh lũ thấp khoảng 2m (Hình 6), thì dòng tự chảy qua các cống dự kiến với chiều rộng 40 m và cao trình đáy 1.5 m – cũng là đủ phục vụ mục đích lấy nước UNIQUE | Feasibility Study Tra Su – Tri Ton Reservoir 28
Assessment of infiltration
Generally, the characteristic soil parameters in the project area show very small permeability
coefficients and thus the subsoil is suitable to retain water in the reservoir However, infiltration
according to Darcy’s filter law is calculated to verify the general assumption
The infiltration rate is Q = v · A with a filter velocity v = kf · I
The according kf value is considered to be 1 · 10-8 m/s for clay
The hydraulic gradient I is defined as I = z / ls whereas ls is the distance from the bottom of
reservoir to ground water layer and z is the water depth in the reservoir
Based on the calculation, infiltration is up to 0,015 m³/m² and month depending on the water
level in the reservoir Higher water levels increase the infiltration rate (Figure 16)
If the water level in the reservoir should be kept in balance, additional pumping is required
Required pumping rates are indicated in Figure 16 In comparison to the effects of evaporation,
loss of water due to infiltration can be neglected
Figure 16: Infiltration rates and required pumping to balance infiltration
Water inlet
The water inlet from the Vinh Te canal is essential for the feasibility of the proposed reservoir
Although additional pumping is possible and will be required, pumping costs should be
mini-mized The general goal should be to increase gravity flow through the projected sluice gates at
the Vinh Te canal as much as possible
The controlled flow through the sluice gate was calculated according to Toricelli:
𝑄𝑄 = µ ∗ 𝑠𝑠 ∗ 𝑏𝑏𝑔𝑔∗ √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅
whereas:
hR = water level in the Vinh Te canal
µ = 0,6 (empirical coefficient, typical value for sharp-edged weirs)
𝑠𝑠 = opening of sluice gate [m]
6.1.5 Lượng nước đầu vào
Lượng nước đầu vào từ kênh Vĩnh Tế là yếu tố trọng
yếu đảm bảo tính khả thi của hồ Mặc dù có thể và
cần bơm bổ sung, nhưng nên giảm thiểu chi phí
bơm Mục tiêu chung là tăng lượng cấp do tự chảy
nhiều nhất có thể thông qua các cống dự kiến dọc
Ngay cả với kịch bản đỉnh lũ thấp khoảng 2m (Hình 6), thì dòng tự chảy qua các cống dự kiến với chiều rộng 40 m và cao trình đáy 1.5 m – cũng là đủ phục
vụ mục đích lấy nước
Hình 16: Lượng thấm ngấm và công suất bơm cần thiết để bù thấm
Trang 35Hình 17: Lưu lượng lấy nước qua cống có chiều rộng 40m tính cho các mực nước khác nhau trên
kênh Vĩnh Tế6.1.6 Lưu lượng xả
Lượng nước trong hồ được cấp cho các mục đích sử dụng khác nhau ở khu vực lân cận thông qua các cống chính trên hệ thống đê bao trong đó lưu lượng xả tối đa qua các cống 3, 4, 5 và 6 là một thông số quan trọng
Lưu lượng xả cũng được tính toán theo công thức Toricelli:
Lượng nước xả qua 4 cống và tổng lượng xả qua tất cả các cống được hiển thị trong Hình 18 Theo tính toán,
hồ có đủ nước để đảm bảo lưu lượng nước cần thiết cung cấp cho các khu vực lân cận Nhìn chung, có thể giảm bớt chiều rộng của các cửa cống hoặc thậm chí bớt đi một cửa cống, ví dụ như với cống số 5
UNIQUE | Nghiên cứu Khả thi Hồ trữ lũ và cấp nước ngọt Trà Sư – Tri Tôn 28
Hình 17: Lưu lượng lấy nước qua cống có chiều rộng 40m tính cho các mực nước khác nhau
trên kênh Vĩnh Tế
Lưu lượng xả
Lượng nước trong hồ được cấp cho các mục đích sử dụng khác nhau ở khu vực lân cận thông
qua các cống chính trên hệ thống đê bao trong đó lưu lượng xả tối đa qua các cống 3, 4, 5 và 6
là một thông số quan trọng
Lưu lượng xả cũng được tính toán theo công thức Toricelli:
𝑄𝑄 = µ ∗ 𝑠𝑠 ∗ 𝑏𝑏𝑔𝑔∗ √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅
Trong đó:
hR = 4.5 m - mực nước tối đa trong hồ chứa
µ = 0,6 (hệ số thực nghiệm, giá trị điển hình cho cửa mép thẳng)
𝑠𝑠 = biên độ mở [m]
𝑏𝑏𝑔𝑔= bề rộng cửa cống Lượng nước xả qua 4 cống và tổng lượng xả qua tất cả các cống được hiển thị trong Hình 18
Theo tính toán, hồ có đủ nước để đảm bảo lưu lượng nước cần thiết cung cấp cho các khu vực
lân cận Nhìn chung, có thể giảm bớt chiều rộng của các cửa cống hoặc thậm chí bớt đi một
cửa cống, ví dụ như với cống số 5
UNIQUE | Feasibility Study Tra Su – Tri Ton Reservoir 29
𝑏𝑏𝑔𝑔= width of the sluice gate
Figure 17 displays the input through one sluice gate that will replace one of the rubber dams In
total two sluice gates are projected at the location of the two rubber dams Their width was
considered as 40 m Their base was considered to be at an elevation of 1.50 m
Even in case of scenarios with lower peak water levels in the flood season around 2 m (cf Figure
6) gravity flow through the projected sluice gates with a width of 40 m and a base with an
ele-vation of 1.50 m is sufficient
Figure 17: Inlet flow through one sluice gate with the width of 40 m depending on the water
level in the Vinh Te canal
Water discharge
The water volume that is used for fresh water supply must be led from the reservoir to the
surrounding areas via the main sluice gates in the embankments that form the border of the
reservoir Thus, the maximum discharge through the sluice gates 3, 4, 5 and 6 is a key parameter
This controlled discharge is also calculated according to Toricelli:
𝑄𝑄 = µ ∗ 𝑠𝑠 ∗ 𝑏𝑏𝑔𝑔∗ √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅
whereas:
ℎ𝑅𝑅 = 4,5 𝑚𝑚 – maximum water level in the reservoir
µ = 0,6 (empirical coefficient, typical value for sharp-edged weirs)
𝑠𝑠 = opening of sluice gate [m]
𝑏𝑏𝑔𝑔= Width of the sluice gate
Trang 36Hình 18: Lưu lượng xả qua các cống
Trong trường hợp khẩn cấp, như mực nước trong hồ chứa vượt cao trình tối đa 5,5 m thì hồ cần phải xả lũ
Do đó, cần kiểm tra lưu lượng xả qua cống khi mở hoàn toàn Bảng 4 hiển thị lưu lượng tối đa Trong bản thiết
kế ban đầu với diện tích hồ 3.050 ha, khi xả lũ như vậy, mực nước có thể giảm 0,37 m mỗi giờ, và đến 0,51 m mỗi giờ trong trường hợp diện tích hồ là 2.175 ha Năng lực xả lũ của các cống như vậy được xem là thỏa mãn
Bảng 4: Lưu lượng tối đa qua các cống trong trường hợp xả lũ
Theo Toricelli, vận tốc dòng chảy tại cửa ra của các cống được tính theo công thức According to Toricelli the current velocity at the outlet of the sluice gate is 𝑣𝑣 = √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅, and
thus up to 9.4 m/s at an upstream water level of 4.5 m This very high outflow velocities induce massive erosion and scouring and thus require a wide and massive absorption pool
Absorption pools are a constructional measure to dissipate the energy of the water They erate a controlled hydraulic jump from supercritical to subcritical flow By this, the bottom is protected against erosion and scouring is prevented The material has to be resistant against erosion, for example concrete, stones or gabions If an absorption pool is not applied, erosion at the outlet can endanger the stability of the sluice gate
gen-Figure 19: Absorption pool with hydraulic jump
Source: http://docplayer.org/docs-images/51/28145902/images/15-0.png
Hydrological model The results of the previous sections are summarized in a simplified hydrological model It con-siders the following processes according to the previous descriptions:
precipitation,
evaporation,
infiltration,
pumping (considering 6 pumps with an capacity of 2 m³/s each),
filling through sluice gates 1 and 2,
discharge through sluice gates 3, 4, 5 and 6 for fresh water supply
The calculation has been done by several iterations using start values (water level at a certain date, e.g end of dry season) and end values (water level at a certain date) and different bound-ary conditions (basically geometry including dyke heights)
Figure 20 shows the results of the model (water levels, potential fresh water supply) for the various alternatives assuming a constant use of the stored water The reservoir is filled up with gravity flow from the Vinh Te Canal is far as possible, and pumping is used to maintain the water level until the fresh water supply starts
Water levels and according water depths are 1.00 m or higher if the water supply should be possible during the entire dry season If the summer rice crop should be kept, the water level from April to July must be significantly below 1 m During that time no water supply would be possible, and this would significantly limit the function of the reservoir
theo đó vận tốc này có thể đạt 9,4 m/s với mực nước ở thượng nguồn là 4,5 m Vận tốc như vậy là rất cao và có thể gây xói mòn và rửa trôi nghiêm trọng, do đó đòi hỏi phải có công trình bể hấp thụ có kích thước và năng lực đủ lớn
Bể hấp thụ là công trình nhằm làm tiêu tán năng lượng của dòng nước Bể dạng này giúp hạ cấp bước nhảy thủy lực để bảo vệ đáy công trình không bị xói lở và rửa trôi Vật liệu sử dụng phải có khả năng chịu xói mòn, như bê tông, đá hay rọ đá Nếu không có bể hấp thụ, xói mòn ở cửa xả có thể đe dọa sự ổn định của cống
3000
2000
1000
00
Trang 37Hình 19: Bể hấp thụ tạo bước nhảy thủy lực
According to Toricelli the current velocity at the outlet of the sluice gate is 𝑣𝑣 = √2 ∗ 𝑔𝑔 ∗ ℎ𝑅𝑅, and thus up to 9.4 m/s at an upstream water level of 4.5 m This very high outflow velocities induce massive erosion and scouring and thus require a wide and massive absorption pool
Absorption pools are a constructional measure to dissipate the energy of the water They erate a controlled hydraulic jump from supercritical to subcritical flow By this, the bottom is protected against erosion and scouring is prevented The material has to be resistant against erosion, for example concrete, stones or gabions If an absorption pool is not applied, erosion at the outlet can endanger the stability of the sluice gate
gen-Figure 19: Absorption pool with hydraulic jump
pumping (considering 6 pumps with an capacity of 2 m³/s each),
filling through sluice gates 1 and 2,
discharge through sluice gates 3, 4, 5 and 6 for fresh water supply
The calculation has been done by several iterations using start values (water level at a certain date, e.g end of dry season) and end values (water level at a certain date) and different bound- ary conditions (basically geometry including dyke heights)
Figure 20 shows the results of the model (water levels, potential fresh water supply) for the various alternatives assuming a constant use of the stored water The reservoir is filled up with gravity flow from the Vinh Te Canal is far as possible, and pumping is used to maintain the water level until the fresh water supply starts
Water levels and according water depths are 1.00 m or higher if the water supply should be possible during the entire dry season If the summer rice crop should be kept, the water level from April to July must be significantly below 1 m During that time no water supply would be possible, and this would significantly limit the function of the reservoir
6.1.7 Mô hình thủy văn
Những kết quả trình bày trên đây có thể được tóm tắt trong một mô hình thủy văn giản lược, có xét đến các
quá trình sau:
y Lượng mưa
y Lượng bốc hơi
y Lượng thấm ngấm
y Bơm nước (6 bơm, công suất mỗi bơm 2 m³/s)
y Lấy nước qua các cống số 1 và 2
y Xả nước qua các cống số 3, 4, 5 và 6 phục vụ cấp nước
Việc tính toán được thực hiện bằng phương pháp lặp hồi quy sử dụng các giá trị ban đầu (mực nước trong
một ngày nhất định, như cuối mùa khô) và giá trị cuối (mực nước trong một ngày nhất định) và các điều kiện
biên khác nhau (chủ yếu bao gồm địa hình đáy hồ và cao trình đê bao)
Hình 20 hiển thị các kết quả mô hình (mực nước, khả năng cấp nước) đối với các phương án khác nhau với giả
định nước trong hồ được sử dụng liên tục Hồ được tích nước qua tự chảy từ kênh Vĩnh Tế nhiều nhất có thể,
và có bơm bổ sung để duy trì mực nước cho đến khi bắt đầu xả cấp nước
Mực nước và độ sâu hồ cần đảm bảo từ 1,00 m trở lên nếu muốn cấp nước trong suốt mùa khô Nếu muốn
duy trì vụ lúa hè thì mực nước từ tháng 4 đến tháng 7 sẽ phải ở mức dưới 1m Trong thời gian đó hồ không
thể xả cấp nước, và điều này sẽ hạn chế đáng kể chức năng / lợi ích của hồ
Trang 38Hình 20: Mực nước và tình hình sử dụng nước với các phương án khác nhau
5 4 3 2 1 0
0
Nạo vétKhông nạo vét
tháng-3E+007
Trang 396.1.8 Tóm tắt các hạng mục công trình
Bảng 5 hiển thị các thông số chính như kích thước hồ chứa và các biện pháp công trình tương ứng
Bảng 5: Các thông số chính của hồ chứa đề xuất
f Tổng dung tích tối đa m 3 70,470 x 10 6
g Tổng lưu lượng tối đa bơm từ
kênh Vĩnh Tế vào hồ m
3 /s 12
h Diện tích tưới dự kiến ha 15.300
2 Thông số của các hạng mục công trình
1 Đê bao phía tây kênh Trà Sư, đoạn #1: không nâng cấp
tốn chi phí
b Chiều rộng mặt đê bao m 6,00
2 Đê bao phía tây kênh Trà Sư, đoạn #2: xây dựng mới
3 Đê bao phía tây kênh Trà Sư, đoạn #3: nâng cấp