See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/342765474Nghiên cứu đề xuât giải pháp đập ngăn bùn đá tại suối Háng Chú Mù C
Trang 1See discussions, stats, and author profiles for this publication at: https://www.researchgate.net/publication/342765474
Nghiên cứu đề xuât giải pháp đập ngăn bùn đá tại suối Háng Chú Mù Cang Chải tỉnh Yên Bái
Article · May 2020
CITATIONS
0
READS 258
2 authors:
Some of the authors of this publication are also working on these related projects:
Nghiên cứu các giải pháp KHCN để nâng cấp sử chữa cống dưới đê thuộc sông Hồng và sông Thái Bình View project
Nghiên cứu đề xuất ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ trong việc tái sử dụng tro xỉ nhà máy công ty nhôm Đắk Nông phục vụ xây dựng công trình hạ tầng nông thôn trên địa bàn tỉnh Đắk Nông View project
Thao Ba Vu
Vietnam Academy for Water Resources
51PUBLICATIONS 164CITATIONS
SEE PROFILE
Kien Nguyen
Hanoi University of Civil Engineering
28PUBLICATIONS 194CITATIONS
SEE PROFILE
Trang 2NGHIÊN CỨU ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP ĐẬP NGĂN BÙN ĐÁ TẠI SUỐI HÁNG CHÚ MÙ CANG CHẢI TỈNH YÊN BÁI
VŨ BÁ THAO * NGUYỄN TRUNG KIÊN **
Study on structural countermeasure against debris flow at Hang Chu stream in Mu Cang Chai, Yên Bái Province
Abstract: In Vietnam, debris flow is common in mountainous areas ,
causing great damage to people and loss of economy Debris flow is often caused by heavy rainfall or high-intensity rain in valleys, shallow streams and streams with unstable geological conditions, erosion with deposition of distinct rock, soil and steep slope terrain; lack of one of three factors: material resources, steep slope terrain, and water origin that would be difficult or impossible to occur Debris flow erodes the stream bed and stream banks during transportation and adversely affects the infrastructure of the affected areas Structural and non-structural countermeasures are commonly used to prevent damage from debris flow, in many situations structural approaches are necessary to ensure effective disaster prevention However, researching towards structural solutions for preventing debris flow disaster is still limited in Vietnam at present, the technique has not been implemented In the context of this study, the paper proposes the implementation of structural countermeasures in the studied area with focus on the use of sabo dam technology by analyzing the sources, the mechanism of movement and the effect of debris flow on the basin of Háng Chu lake, Mu Cang Chai region, Yên Bái province
Keywords: debris flow, sabo dam, structural countermeasure, field survey
Lũ bùn đá là một dạng lũ miền núi mang theo
nhiều bùn, cát, sỏi, đá và nước, thường xuyên
xảy ra ở khu vực miền núi ở Việt Nam cũng như
nhiều nước trên thế giới Cấu tạo dòng lũ bùn đá
điển hình được thể hiện trên 0 Những hòn đá
kích thước lớn nhất của dòng bùn đá luôn đi
trước Dòng lũ bùn đá có khả năng vận chuyển
đá có kích thước lên đến vài mét, với vận tốc có
*
Viện Thủy công, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Số 3 - Ngõ 95 Chùa Bộc - Đống Đa - Hà Nội
**
Khoa Xây dựng Dân dụng và Công nghiệp, Đại học
Xây dựng
Số 55 Giải Phóng, Đồng Tâm, Hai Bà Trưng, Hà Nội
thể lên đến vài chục m/s, vì vậy lực phá hủy là hết sức khủng khiếp, tác động nặng nề đến khu vực bị ảnh hưởng Hơn nữa, lũ bùn đá gây ra thay đổi hình thái dòng suối và các sườn đồi, núi dọc hai bên bờ suối Lũ bùn đá được ghi nhận gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản cho các khu vực chịu tác động [1][2][3][4] Dòng lũ bùn đá dừng lại ở miệng của khe suối
và khu vực trầm tích (fan area), làm sập nhà cửa, lúa, hoa màu và phá hủy công trình giao thông, thủy lợi Sự xuất hiện của lũ bùn đá thường bất ngờ, nhanh, khó dự báo, cảnh báo
và rất khó phòng tránh, đa phần gây ra hậu quả hết sức nặng nề [5][6]
Trang 3Hình 1 Cấu tạo dòng lũ bùn đá [19]
Vì lý do đó, việc hiểu được ứng xử, cơ chế
phát sinh, hình thành, vận động lũ bùn đá từ đó đề
xuất các giải pháp phòng ngừa có ý nghĩa đặc biệt
quan trọng trong phòng ngừa rủi ro cho khu vực
hạ lưu suối, quản lý lưu vực sông, với mục tiêu
chính là giảm thiệt hại về người và tài sản Để
thực hiện điều đó, từ kinh nghiệm của các quốc
gia trên thế giới, cần phải triển khai phối kết hợp
các giải pháp công trình và phi công trình để
hướng tới mục tiêu phòng ngừa, ứng phó chủ
động trước thiên tai Giải pháp công trình như
kênh dẫn dòng, đập ngăn bùn đá, bể lắng, tường
hướng dòng v.v trong khi đó giải pháp phi công
trình có thể kể đến gồm bản đồ hiểm họa, cảnh
báo và bản đồ di dân, bản đồ sử dụng đất, v.v
Các giải pháp phòng ngừa yêu cầu xem xét đến
các kịch bản thiên tai khác nhau, đó là bài toán của nhiều yếu tố tổng thể như khí tượng thủy văn, thủy lực, phân bố kích thước trầm tích, đá, địa hình và nhiều yếu tố khác [7][8]
Tại Việt Nam, lũ bùn đá, lũ quét, dạng thiên tai
có sức tàn phá nặng nề nhất tại khu vực miền núi phía Bắc, hàng năm đều xảy ra Để phòng tránh lũ bùn đá, các giải pháp công trình [6][9] và phi công trình [10] thường được sử dụng, trong nhiều trường hợp giải pháp công trình là bắt buộc Trong nhóm các giải pháp công trình, việc sử dụng đập ngăn bùn đá là một trong những giải pháp hiệu quả Đó là một dạng đập ngăn, được xây dựng cố định hoặc tạm thời ngang qua dòng suối để giảm tốc độ dòng chảy và giữ lại một phần hoặc toàn bộ trầm tích Đập ngăn bùn đá có thể phân thành hai loại chính là đập kín (Hình 2a) và đập hở (Hình 2b) Đối với đập kín, rất khó có thể duy trì khả năng giữ trầm tích trong nhiều lần lũ lặp lại trừ khi đất đá được thanh thải thường xuyên, trong khi đó đập hở có thể duy trì khả năng giữ bùn đá mà ít phải thanh thải thường xuyên Đập hở có thể phân thành đập lưới hoặc đập khe
Hình 2 Đập ngăn bùn đá
Đập hở được sử dụng phổ biến hơn trong
nỗ lực kiểm soát lũ bùn đá vì bên cạnh các ưu
điểm nêu trên, nó còn góp phần bảo tồn môi
trường tự nhiên dòng chảy cũng như cảnh
quan nhiều nhất có thể [11][12] Một số
nghiên cứu trong nước cũng đề cập đến giải
pháp này [8], tuy nhiên các nghiên cứu này
chưa phân tích cụ thể đến việc hình thành, vận
động từ đó đưa ra các giải pháp phòng, chống
cụ thể
Trong bài báo này, đặc điểm lũ bùn đá ở suối Háng Chú tại trung tâm thị trấn Mù Cang Chải được điều tra, khảo sát, phân tích và luận chứng Trên cơ sở đánh giá các nguy cơ phát sinh lũ bùn đá, nghiên cứu đề xuất bố trí các giải pháp đập ngăn bùn đá
Trang 42 ĐẶC ĐIỂM CHUNG KHU VỰC SUỐI
HÁNG CHÚ
Huyện Mù Cang Chải có cấu trúc địa chất rất
phức tạp, các hoạt động tân kiến tạo phát triển mạnh
mẽ, với 3 đứt gãy lớn, tạo thành hệ thống các đứt
gãy Các vận động địa chất này rất thuận lợi làm
phát sinh sạt lở đất, lũ bùn đá Địa hình huyện Mù
Cang Chải chủ yếu thuộc dạng núi trung bình đến
cao, độ chênh cao từ 200m đến 1200m Độ dốc
sườn tự nhiên 20°-70°, mạng lưới khe suối xuất hiện
nhiều, thung lũng hẹp và dốc, phân cách mạnh Các
lớp vỏ phong hóa dày từ 4.5 m-17.0 m, mức độ
phong hóa từ hoàn toàn đến mạnh, thành phần vỏ
phong hóa chứa nhiều sản phẩm hạt thô, mịn khác
nhau không đồng nhất với đặc tính thấm và thoát
nước cao Đây là những yếu tố rất quan trọng dẫn
đến trượt lở đất đá, lũ bùn đá [13][14]
Thị trấn Mù Cang Chải nằm trọn trong một
thung lũng dài, hẹp, bao quanh bởi các dãy núi
cao và dốc Hệ thống khe suối ở huyện Mù
Cang Chải dày đặc, chủ yếu theo hướng Đông
Nam và đổ vào dòng chính là suối Nậm Kim
Đặc điểm lòng suối là dốc, hẹp, vận tốc lớn tuy
lưu lượng không lớn Đây đều là các nguồn có
khả năng cao phát sinh lũ bùn đá 0 mô tả vị trí
của khu vực nghiên cứu cũng như các đứt gãy
tại khu vực Miền núi phía Bắc
Lưu vực suối Háng Chú nằm ở trung tâm thị
trấn Mù Cang Chải, bắt nguồn từ các dãy núi
cao trên xã Kim Nọi, là chi lưu của suối Nậm
Kim Nguyên nhân chính phát sinh lũ bùn đá là
sự xuất hiện của nhiều hiện tượng sạt trượt nông
ở trên đỉnh cũng như dọc theo dòng suối Háng
Chú Khi có mưa lớn kéo dài, các trận lũ bùn đá xảy ra và vận chuyển một lượng lớn trầm tích
Dòng suối chính chảy từ Kim Nọi xuống theo hướng Đông Nam kéo dài hơn 3 km
Hình 4 thể hiện bản đồ số độ cao (Digital Elevation Model - DEM) của khu vực nghiên cứu Mặt cắt dọc suối được xác định thông qua bản độ địa hình và khảo sát thực địa Mặt cắt dọc suối Háng Chú trình bày trên 0 Chiều dày của lớp trầm tích trên suối ước tính 1.5-3.3m Bảng 1 giới thiệu một số thông số chính của lưu vực
Hình 3 Vị trí và địa hình thị trấn
Mù Cang Chải (bản đồ đới đứt gãy tham khảo Trần Văn Tư và cs [14])
Hình 4 Bản đồ số độ cam (DEM)
khu vực nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm lưu vực suối Háng Chú
Trang 53 CƠ CHẾ PHÁT SINH, VẬN ĐỘNG VÀ
LẮNG ĐỌNG DÒNG LŨ BÙN ĐÁ SUỐI
HÁNG CHÚ
Ngày 03/8/2017, lũ bùn đá xảy ra vào
khoảng 5h sáng đã gây hậu quả nghiêm trọng
về người và tài sản, làm cho 14 người chết và
mất tích, 09 người bị thương; cuốn trôi rất nhiều tài sản, hoa màu của người dân; phá hủy nhiều nhà dân, cầu, đường, sân vận động, trường học và kè Lượng bùn đất đá sạt lở,
hại khoảng trên 724 tỷ đồng [15] (0)
Hình 5 Lũ bùn đá tại Mù Cang Chải [19]
Trong trận lũ bùn đá năm 2017, lũ bùn đá tập
trung dọc theo các nhánh suối khu vực thượng
nguồn và chảy dồn vào suối Háng Chú Bên
cạnh các yếu tố về mặt địa chất, các đặc điểm
địa hình trong khu vực cũng rất thuận lợi để
phát sinh lũ bùn đá Độ dốc bình quân tại khu
vực sinh lũ là trên 15 độ, khu vực nằm trong các
đứt gãy (xem Hình 3) Khối lượng đất đá do
trượt lở vận chuyển theo dòng nước lũ khi xuất
hiện mưa lớn, tập trung, tạo thành lũ bùn đá
Lũ bùn đá được hình thành bởi mưa kéo dài
hoặc mưa cường độ cao kết hợp với sạt trượt tại
đầu nguồn hoặc xói lòng và bờ suối Theo [5],
lũ bùn đá hình thành từ ba nguyên nhân chính là
sạt lở đất, xói mòn lòng dẫn và phá hủy các đập
nhân tạo khi có mưa lớn Hầu hết các trận lũ
bùn đá xuất hiện do xói lở các lớp đá phong hóa
khi xuất hiện các dòng chảy Thực vậy, diễn
biến lũ bùn đá tại lưu vực suối Háng Chú cũng
phù hợp các cơ chế nêu trên Địa chất khu vực
nghiên cứu bao gồm nhiều sườn tích, tàn tích
dày từ 2m đến 5m gồm các loại đất sét pha, sét
pha lẫn dăm mảnh Các lớp đất đá này thường
yếu và rất dễ xói lở dưới tác động của dòng
chảy lưu tốc lớn Nhằm phân tích, đánh giá sự
hình thành, phát triển và tác động của lũ bùn đá, nhóm nghiên cứu đã tiến hành khảo sát tại khu vực suối Háng Chú với sự hỗ trợ của máy bay không người lái UAV Theo quy luật chung của các lưu vực suối có lũ bùn đá, lưu vực suối Háng Chú được chia thành ba khu vực thượng lưu, trung lưu và hạ lưu; tương ứng với khu vực phát sinh, khu vực vận chuyển, và khu trầm tích Thông qua khảo sát thực địa, một số vấn đề được ghi nhận như sau:
- Khu vực phát sinh: có độ dốc dọc lòng suối
trung bình trên 15°, sườn dốc hai bên suối có độ
nên nguồn vật liệu đất đá của lũ bùn đá Từ hình ảnh mái dốc sau lũ (Hình 6), có thể thấy mật độ sỏi và đá cao, cấu trúc rời rạc, vẫn tiềm ẩn nguy
cơ cao sạt lở Hiện tượng sạt lở, nguồn gốc của các trận lũ bùn đá trong lưu vực, xảy ra tại đỉnh Kim Nọi vẫn đang tiếp tục tiếp diễn
Hình 6 Sạt lở tại khu vực thượng lưu
Trang 6- Khu vực vận chuyển: Qua khảo sát thực tế
như ảnh chụp trong Hình 7, trong khu vực vận
chuyển vẫn còn lại vết tích do lũ bùn đá bào
mòn dọc theo hai bên bờ suối Dọc theo ven
suối, sạt lở vẫn còn diễn biến phức tạp, là nguồn
cung dồi dào đất đá, nếu lũ bùn đá xảy lại
Hình 7 Khu vực vận chuyển
- Khu vực trầm tích: 0a là hình ảnh nhìn về
phía hạ lưu được chụp bằng UAV Thung lũng từ
góc dưới đến chính giữa ảnh có chiều ngang hẹp,
phía hạ lưu từ chính giữa bức ảnh đổ lên là địa
hình đồi núi với độ dốc khoảng 6° 0b cho thấy
còn đá rời rạc bồi lắng dưới đáy dòng chảy Điều
này được khẳng định lại trong 0d được chụp ngay
sau thiên tai, một lượng lớn bồi lắng ở thượng lưu
của thung lũng, cát mịn chảy ra là kết quả của quá
trình bồi đắp do mưa trong suốt một thời gian dài
nên chỉ còn lại đá có kích thước lớn hơn Ở giữa
đoạn này, 0c cho thấy có một đoạn hẹp có đá lộ
thiên Vị trí này được nhận định là điểm nghẽn
dòng, giữ lại lượng nước lớn trước khi phá dòng
chảy xuống khu vực cửa suối Ở khu vực hạ lưu
của đoạn này thấy có bồi tích đá lớn trên 1m
Tại điểm hợp lưu của dòng suối Háng Chú
với suối Nậm Kim, lòng suối uốn hình chữ S
Phần thượng nguồn bên ngoài bờ suối tới
đoạn cong hình chữ S bị ngập trong dòng lũ
bùn đá chứa ít bồi lắng, một số nhà cửa phía
trên trường trung học cơ sở đã bị cuốn trôi
Đoạn này có độ dốc khoảng 3°-6° Trong 0,
bồi lắng có chứa các tảng đá lớn tập trung tạm
thời ở phía trên của trường trung học cơ sở
Từ kết quả khảo sát thực địa và phân tích
trên đây, bản sơ họa khu vực sinh lũ, khu vực
vận chuyển, khu vực trầm tích và ảnh hưởng tại suối Háng Chú được xác định và thể hiện trên Hình 10
Hình 8 Khu vực trầm tích
Hình 9 Bồi lắng tập trung phía trên trường THCS
Hình 10 Sơ họa khu vực sinh lũ, khu vực vận chuyển, khu vực trầm tích và ảnh hưởng
tại suối Háng Chú
4 NGUYÊN TẮC BỐ TRI HỆ THỐNG CONG TRINH DẬP NGAN BUN DA
Việc bố trí các giải pháp công trình được dựa trên nguyên tắc chủ yếu là các giải pháp phù hợp tương ứng với khu vực phát sinh, vận động
và trầm lắng của dòng lũ bùn đá Việc bố trí các công trình được lựa chọn theo một số nguyên tắc chính như sau [16] :
Trang 7Hình 11 Sử dụng đồng thời nhiều giải pháp
ứng phó lũ bùn đá [16]
Hình 12 Giải pháp chính tương ứng
với các khu vực
(1) Thượng lưu (khu vực xuất hiện):
Nhằm phòng ngừa sự xuất hiện của lũ bùn đá
cần triển khai các giải pháp nhằm ổn định mái
đồi núi, lòng suối, bờ suối Để thực hiện điều
đó đập ngăn bùn đá dạng kín cần được xây
dựng tại các khu vực có nguy cơ khởi phát lũ
bùn đá Các đập này đồng thời cũng là giải
pháp bảo vệ các khu vực dân cư sinh sống
(2) Trung lưu (Khu vực vận chuyển): Để
thu dòng bùn đá, cần giảm năng lượng của
dòng bùn đá, ổn định lòng, bờ suối Giải pháp
cần làm là xây dựng đập hở hoặc bán hở tại
đoạn dịch chuyển
(3) Hạ lưu (Khu vực lắng – đồng thời bao
gồm Khu vực chịu thiệt hại): Để bảo vệ các
công trình hạ tầng quan trọng như trường học,
đường giao thông, nhà cửa, cần thu bùn đá,
hướng dòng bùn đá bằng cách xây dựng các đê, kênh hướng dòng tại khu vực lắng Việc thu toàn bộ lũ bùn đá trong lưu vực là hết sức khó khăn do địa hình dốc, khó tiếp cận, hoặc không kinh tế, vì vậy phương án tối ưu được đề xuất là: “bảo vệ các khu dân cư, hạ tầng quan trọng thay vì thu giữ toàn bộ dòng bùn đá”
Trên cơ sở các nguyên tắc bố trí công trình nêu trên, các giải pháp công trình tương ứng với từng khu vực dòng lũ được liệt kê trên 0
5 ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP CÔNG TRÌNH PHÒNG, CHỐNG LŨ BÙN ĐÁ SUỐI HÁNG CHÚ
Dựa trên hướng dẫn tại Mục 0 và phân tích tình hình thực tế tại khu vực suối Háng Chú, huyện
Mù Cang Chải tại Mục 0, khi triển khai các giải pháp phòng, chống trong khu vực nghiên cứu cần đảm bảo theo các nguyên tắc sau:
- Mở rộng lòng dẫn thoát lũ tại khu vực hạ lưu chịu ảnh hưởng
- Sử dụng đập ngăn bùn đá kín để giảm độ dốc lòng suối, hạn chế xói lở (nguyên nhân kích hoạt hiện tượng) từ đó kiểm soát hiệu quả vận chuyển dòng bùn đá
- Bên cạnh việc kiểm soát vận chuyển dòng bùn
đá, cần xây dựng đập hở để thu bùn đá, hạn chế vận chuyển đá lớn xuống khu vực chịu tác động
Căn cứ dựa trên hiện trạng khảo sát thực địa, đánh giá về nguồn gốc phát sinh, vận chuyển của dòng bùn đá; căn cứ nguyên tắc bố trí các giải pháp phòng, chống lũ bùn đá [17][18], đề xuất bố trí đập ngăn bùn đá theo thứ tự ưu tiên như trên 0,
cụ thể: tại phía trên của khu vực vận chuyển bố trí
hệ thống đập ngăn bùn đá dạng kín (đập sabo) (H=5m) theo hai giai đoạn Ở khu vực hợp lưu của 2 nhánh suối phía thượng lưu, bố trí đập ngăn bùn đá kín (H=10m) Với việc bố trí hệ thống đập này sẽ giúp giảm độ dốc lòng suối, hạn chế xói lở hai bền sườn dốc, bảo vệ khu vực dân cư xung quanh đồng thời giảm lượng bùn đá có thể được tăng cường khi có lũ bùn đá
Tại khu vực trầm tích, ngay trước khu vực bảo, bố trí hệ thống đập ngăn bùn đá gồm 01
Trang 8đập kín (phía dưới) và một đập hở (phía trên)
Với cách bố trí như thế này, đá lớn sẽ bị ngăn
lại trước khi vận chuyển đến khu vực bị ảnh
hưởng trong khi đó đập kín sẽ ngăn chặn phần
lớn đất đá trôi qua đập hở Bên cạnh việc bố trí
đập ngăn bùn đá, việc gia cố kè dọc hai bên bờ
suối đoạn chạy qua sân vận động cũng như đê
hướng dòng cũng cần thiết triển khai để bảo vệ
khu dân cư cũng như các công trình công cộng
Hình 13 Sơ đồ bố trị đập sabo lưu vực suối
Háng Chú (hình tròn đặc là ký hiệu đập chăn
bùn đá dạng kín, hình tròn rỗng là đập chắn
bùn đá dạng hở, hình tròn màu vàng là đập
xây dựng trong giai đoạn 1, màu đỏ là giai
đoạn 2, tùy vào nguồn kinh phí)
Hình 14 Bố trí đập theo 2 giai đoạn tại
thượng lưu khu vận chuyển
Hình 15 Hệ thống đập hở tại khu ảnh hưởng
và công trình phụ trợ
6 KẾT LUẬN
Bài báo đã trình bày kết quả khảo sát thực địa và nghiên cứu đề xuất bước đầu về các giải pháp công trình phòng, chống lũ bùn đá tại suối Háng Chú thị trấn Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái Với việc sử dụng phương pháp đánh giá của Nhật Bản, bài viết đã phân tích, xác định các khu vực phát sinh, khu vực vận chuyển và khu vực trầm tích của dòng lũ bùn đá Trên cơ sở đó, các giải pháp công trình đã được đề xuất cho toàn bộ lưu vực suối Háng Chú nhằm đảm bảo thực hiện theo ba nguyên lý: phòng tránh phát sinh; giảm năng lượng dòng chảy; và ngăn chặn
và hướng dòng bùn đá nhằm bảo vệ khu vực ảnh hưởng
Các giải pháp công trình đề xuất trong nghiên cứu này chủ yếu dựa trên kết quả khảo sát đánh giá sơ bộ và nguyên tắc bố chí chung
về đập chắn bùn đá Khảo sát và thiết kế chi tiết
có xét đến hiệu quả tổng thể về kinh tế - kỹ thuật – môi trường cần được tiếp tục thực hiện Kết quả nghiên cứu này có thể làm căn cứ tham khảo có giá trị nhất định trong các bước khảo sát, thiết kế công trình phòng, chống và giảm nhẹ thiên tai lũ bùn đá có nguy cơ tái phát sinh tại suối Háng Chú trong tương lai
Lời cám ơn:
Nghiên cứu này thuộc đề tài cấp Bộ NN & PTNT: “Nghiên cứu đề xuất, ứng dụng giải pháp khoa học công nghệ phù hợp trong phòng, chống và giảm thiểu rủi ro lũ quét tại khu vực miền núi phía Bắc”, 2019-2021 Các tác giả trân thành cám ơn TS Akihiko IKEDA, Trung tâm
Kỹ thuật Sabo và Trượt lở Nhật Bản, đã đóng góp các ý kiến quý giá về bố trí công trình đập chắn bùn đá trong nghiên cứu này
TÀI LIỆU THAM KHẢO
[1] Takahashi, T (1991) Debris flow IAHR Monograph Series, Rotterdam: Balkema [2] Hunt, B (1994) Newtonian fluid
Trang 9ĐỊA KỸ THUẬT SỐ 3 - 2020 25
avalanches Journal of Hydraulic Engineering,
ASCE, 120(12), 1350-1363
[3] Huang, X., & García, M H (1997) A
mudflows Journal of hydraulic Engineering,
123(11), 986-994
Kawaike, K., et al (2008a) Numerical and
experimental study on debris-flow deposition
and erosion upstream of a check dam Annual
Journal of Hydraulic Engineering, JSCE, 52,
139-144
[5] Takahashi, T (2000) Initiation of debris
flow of various types of debris flow
Proceedings of the Second International
Conference on Debris-Flow Hazards Mitigation:
Mechanics, Prediction, and Assessment, 15-25
[6] Nakagawa, H., Takahashi, T., Satofuka,
Y., et al (2002) Evaluation of efficiency of
sabo facilities by means of numerical simulation
Engineering, JSCE, 46: 665-670
[7] Brufau, P., Garcia-Navarro, P., Ghilardi,
P., Natale, L., & Savi, F (2000) 1D
mathematical modelling of debris flow Journal
of Hydraulic Research, 38(6), 435-446
[8] Kiên, N T., Hiếu, N T., & Nghĩa, H T
(2019) Nghiên cứu khả năng áp dụng giải pháp
đập hở khung thép ngăn lũ bùn đá tại khu vực
miền núi phía Bắc Việt Nam Tạp Chí Khoa
Học Công Nghệ Xây Dựng (KHCNXD) -
ĐHXD, 13(5V), 28-37
countermeasures for debris flow disasters
International Journal of Erosion Control
Engineering, 1(2), 38-43
[10] Ngo, T T H., Vu, B T., & Nguyen, T
K (2020) Early warning systems for flash
floods and debris flows in Vietnam: A review
In Geotechnics for Sustainable Infrastructure
Singapore
[11] Miyazawa, N., Tanishima, T., Sunada, K., & Oishi, S (2003) Debris-flow capturing effect of grid type steel-made sabo dam using 3D distinct element method In Proceedings of the third international conference on debris flow hazard mitigation, Netherlands (pp 527-538) [12] Hiệp hội Phòng, chống thiên tai Nhật
Solution ID: JBP00026 Steel Slit Dam
[13] Bộ Tài nguyên và Môi trường, Đề án Điều tra, đánh giá và phân vùng cảnh báo nguy
cơ trượt lở đất, đá các vùng miền núi Việt Nam [14] Van Tu, T., Duc, D M., Tung, N M., & Cong, V D (2016) Preliminary assessments of debris flow hazard in relation to geological environment changes in mountainous regions, North Vietnam Vietnam Journal of Earth Sciences, 38(3), 277-286
[15] Ban Chỉ đạo TW về Phòng, chống thiên tai, Tài liệu Thiên tai Việt Nam 2017
extremely repid mass movements, IRAMOS Symposium, 2008
[17] Technical Note No 904:2016, Manual
of Technical Standard for establishing Sabo master plan for debris flow and driftwood, NILIM, MLIT, Japan
[18] Technical Note No 905:2016, Manual
of Technical Standard for designing Sabo facilities against debris flow and driftwood, NILIM, MLIT, Japan
[19] Jakob, Matthias, Hungr, Oldrich, Debris-flow hazards and related phenomena, 2005, Springer Science & Business Media, Chapter
Người phản biện: PGS,TS PHÙNG VĨNH AN