Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời lọc nước biển, nước lợ thành nước ngọt để cấp nước sinh hoạt phục vụ xây dựng nông thôn mới ở xã bãi ngang và hải đảo vùng ven biển B
Trang 1 Thông qua các chương trình tập huấn kỹ thuật, trình độ và ý thức của người chăn nuôi đã được cải thiện rõ rệt Các hộ tham gia mô hình đều phải có ý thức làm tốt vai trò của mình, phải thực hiện chăn nuôi an toàn, kiên quyết không sử dụng chất
cấm để tăng lợi nhuận cho mình Đây chính là nhân tố quan trọng để phát triển một ngành chăn nuôi bền vững
Trang 2Tài liệu tham khảo Tài liệu Tiếng Anh
1 A profile of the South African pork market value chain 2011 Department of Agriculture, Forestry and Fisheries Republic of South Africa Pp 24
2 Barkema, A 2001 The New US Meat Industry, Economic Review from Federal Reserve Bank of Kansas City, Second Quarter 2001, Volume 86
3 Canadian Meat Council and Canada Pork International 2007 Canadian Pork Value Chain Strengthening Our Competitiveness
4 Chea, B, J., S.C Choi, W T Choi In, K Han and K S Sohn 2000a Effects of inclusion levels of dietary vtamins and trace minerals on growth performance and nutrient digestibility in growing pig Asian-Aust J Anim Sci 2000 13: 1440-1444
5 Chea, B, J., S.C Choi In, K Han and K S Sohn, 2000b Effects of inclusion levels
of dietary vtamins and trace minerals on growth performance and pork stability in finishing pigs Asian-Aust J Anim Sci 2000 13: 1445-1449
6 Hurt, C 2011 In the Pork Industry, Choices, pp 9-13, Volume 9, No 14, 2011
7 Hurst D., Clarke L and Lean I.J (2008), Effect of liquyd feeding at different to-feed ratios on the growth performance of growing-finishing pigs Animal, 2: 1297-1302
water-8 IOM (institute of medicine), 199water-8 Antimicrobial resistance: issues and options Washington D.C National Academy Press
9 Lohakare, J D., S H Lee and B J Chae, 2006 Effect of dietary Fat-soluble Vitamins on growth performance and nutrient digestibility in growing Pigs Asian- Aust J Anim Sci, 2006 Vol 19 No.4: 563-567
10 Lawlor P.G., Lynch P.B., Gardiner G.E., Caffrey P.J and J.V O’Doherty (2002), Effect of liquyd feeding weaned pigs on growth performance to harvest J Anim Sci., 80: 1725-1735
11 Myers A.J., Bergstrom J.R., Tokach M.D., Dritz S.S and Nelssen J.L (2014), The effects of diet form and feeder design on the growth performance of finishing pigs Journal of Animal Science, 91(7): 3420-28
12 Mavromichalis, L., J D Hancock, I H Kim, B, W Senne, D H Kropf, G A Kennedy, R, H Hines and K C, 1999 Effects of omitting vitamin and trace minerals premixes and reducing inorganic phosphours addition on growth performance, carcass characteristics and muscle quality in finishing pigs J Anim Sci 77: 2700-
2708
Trang 3916
13 Nguyễn Ngọc Phục, Nguyễn Quế Côi, Phan Xuân Hảo, Nguyễn Hữu Xa, Lê Văn Sáng, Nguyễn Thị Bình và Trần Thị Huyền, (2011) Ảnh hưởng của dạng thức ăn (lỏng và khô) và kiểu chuồng (kín và hở) đến tốc độ sinh trưởng của lợn thịt Tạp chí Khoa học Công nghệ Chăn nuôi- Số 33 Tháng 12/2011, trang 69-79
14 NRC-National Research Council (2012), Nutrient Requyrements of Swine, 11 th ed, National Acadamy Press Washington DC
15 Patience, J F and D Gillis, 1995 Removal of vitamin and trace minerals from finishing diets Annual Res Rep Prairie Swine Center, Inc Saskatchewen, Cananda Pp 29-31
16 Patience, J F and D Gillis, 1996 Impact of pre-slaughter withdrawal of vitamin supplements Annual Res Rep Prairie Swine center, Inc Saskatchewen, Cananda
19 Schrader, L 2001 Coordination in the United States Hog/Pork Industry, http://agecon.lib.umn.edu/cgi-bin/view.pl
20 Steve, W., Martinez, P 1999 Vertical Coordination in the Pork and Broiler Industries, ERS, USDA, Agricultural Economic Report No 777, Washington, April
1999
21 Tổng cục thống kê 2012 Niên giám thống kê 2011 NXB Thống kê, trang 325-327
22 Tian, J Z., J H Lee, J D Kim Y K Han M Park and In K Han, 2001 Effects of different levels of vitamin – mineral premixes on growth perfoermance, nutrient digestibility, carcass characterristics and meat quality of growing-finishing pigs Asian-Aust J anim Sci, 2001 Vol 14 No 4: 515-524
Trang 4Nhóm 6: Mô hình xây dựng cơ sở hạ tầng, bảo vệ môi trường chuyển đổi cơ cấu, liên kết sản xuất NN: 46, 47, 48, 49, 50, 51, 52, 53, 54, 55, 56, 57, 58, 59, 60, 61, 62,
63, 64, 65, 66, 67, 68
Trang 5918
I Thông tin chung
Tên Đề tài: Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời lọc nước biển, nước lợ thành nước ngọt để cấp nước sinh hoạt phục vụ xây dựng nông thôn mới ở xã bãi ngang
và hải đảo vùng ven biển Bắc và Bắc Trung bộ
Thời gian thực hiện:
Cơ quan chủ trì:
Chủ nhiệm đề tài: Vũ Chí Linh
ĐTDĐ: Email:
1 Đặt vấn đề
Nước ngọt là nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống con người Việc cung
cấp đầy đủ nước sạch đảm bảo chất lượng và số lượng luôn là thách thức đối với các
quốc gia Mục tiêu trong Chiến lược Quốc gia về cấp nước sạch và vệ sinh nông thôn theo Quyết định số 104QĐ/TTG ngày 25/08 /2000 của Thủ tướng Chính phủ đặt ra đến
2020 là “tất cả dân cư nông thôn sử dụng nước sạch đạt tiêu chuẩn quốc gia với số lượng
ít nhất 60 lít/người/ngày” Tài nguyên nước mặt phân bố không đều trong lãnh thổ và
biến đổi mạnh theo thời gian, do đó tình trạng thiếu nước ngọt đã và đang xảy ra ở nhiều nơi, nhất là vùng núi cao và đồng bằng ven biển Mặt khác khai thác, sử dụng nước dưới đất không hợp lý đã gây ra sụt lún đất, hạ thấp mực nước ngầm ở một số nơi, nhiễm mặn khá phổ biến ở nhiều vùng ven biển, ảnh hưởng tới tầng chứa nước ngọt Lượng mưa có
thể giảm đáng kể ở Việt Nam trong thập kỷ tới và hơn 12 triệu người sẽ phải chịu tác động của tình trạng thiếu nước ngày càng gia tăng
Các hoạt động nghiên cứu và sử dụng năng lượng mặt trời ở Việt Nam hiện nay thường tập trung vào các lĩnh vực như cung cấp nước nóng dùng trong sinh hoạt và phát điện ở quy mô nhỏ như sấy, nấu ăn, chưng cất nước Đây là những hệ thống nhỏ lẻ, không nối lưới thường được sử dụng trực tiếp ở dạng điện một chiều để thắp sáng, trong một số trường hợp có thể được biến thành điện xoay chiều để sử dụng cho các nhu cầu khác Việc sử dụng trực tiếp năng lượng mặt trời phục vụ sinh hoạt như chưng cất nước mặn thành nước ngọt là thị trường vẫn đang bỏ ngỏ Toàn bộ các khu vực ven biển và hải đảo từ miền Trung trải suốt tới miền Nam là vùng đất có thể sử dụng năng lượng mặt trời để cấp nước sinh hoạt trong điều kiện biến đổi khí hậu, cạn kiệt nguồn nước mặt và nước ngầm
Hơn nữa, việc nghiên cứu chế tạo thành công thiết bị chưng cất nước mặn thành nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời với hiệu quả thiết thực góp phần cải thiện chất lượng nước và phục vụ nhu cầu tối thiểu cho người dân tại địa phương
Trang 6Xuất phát từ nhu cầu cấp bách từ thực tiễn trên cùng với tiềm năng to lớn về nguồn năng lượng mặt trời cho thấy việc cải tiến và nhân rộngsản xuất bộ lọc nước mặn thành nước ngọt là chiến lược trong “Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015” trong công tác cung cấp nước sạch cho người dân vùng ven biển và hải đảo Dự án “Xây dựng mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời lọc nước biển, nước lợ thành nước ngọt để cấp nước sinh hoạt phục vụ xây dựng nông thôn mới ở xã bãi ngang và hải đảo vùng ven biển Bắc và Bắc Trung bộ” xuất phát từ kết quả của đề tài NCKH cấp Bộ: "Nghiên cứu thiết kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành thiết bị tạo nước ngọt từ nước biển bằng năng lượng mặt trời dùng cho sinh hoạt của quân và dân trên đảo" của TS Đỗ Anh Tuấn chủ nhiệm để tài, thực hiện năm 2010-2011 đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn nghiệm thu đạt loại khá Đồng thời, công nghệ cũng đã được Tổng Cục Thủy Lợi – Bộ NN&PTNT công nhận là Tiến bộ kỹ thuật, công nghệ mới theo quyết định số 525/QĐ-TCTL-KHCN ngày 29/7/2014
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng được mô hình ứng dụng năng lượng mặt trời xử lý nước biển, nước lợ thành nước ngọt đạt chất lượng nước sinh hoạt theo Quy chuẩn QCVN02:2009/BYT phục vụ xây dựng nông thôn mới
2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Hoàn thiện được công nghệ thiết kế chế tạo thiết bị chưng cất nước ngọt
2 Xây dựng được 02 mô hình ứng dụng thiết bị lọc nước sử dụng năng lượng mặt trời
xử lý nước biển và nước lợ thành nước ngọt
3 Đào tạo, tập huấn về sử dụng thiết bị
4 Giải pháp nhân rộng mô hình
3 Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được
3.1 Hoàn thiện thiết bị và xây dựng hồ sơ thiết kế chế tạo thiết bị chưng cất nước ngọt
Dự án tiến hành đánh giá hiện trạng công nghệ sản phẩm và lựa chọn cải tiến thiết bị, xây dựng được giải pháp cải tiến hoàn thiện sản phẩm như sau:
- Sử dụng kiểu lấy nước vào mô đun kiểu chảy liên tục nhằm tránh đọng muối, phải thau rửa thường xuyên so với sản phẩm của đề tài
- Kết cấu sử dụng kiểu khung nhôm định hình, tấm hấp thụ bằng vải than hoạt tính nhằm
giảm bớt trọng lượng của mô đun
Trang 7920
- Vẫn giữ các kết cấu khác của sản phẩm đề tài: kích thước mô đun ≈ 1m2, tấm lấy sáng sáng sử dụng tấm kính vô cơ có thể mở nắp để tiện thau rửa
Tiếp đến, dự án hoàn thiện hệ thống bản vẽ thiết kế, chế tạo và thử nghiệm thiết bị với
vật liệu chế tạo làm bằng nhôm (khung, khay chứa và các thanh giằng đỡ) và kính vô cơ (tấm lấy sáng, ngưng tụ) Trên kết quả thử nghiệm, dự án xây dựng hồ sơ thiết kế để
sản xuất hàng loạt và lắp đặt tại các địa điểm đã chọn của dự án Dự án đã sản xuất được
200 bộ thiết bị đạt được các yêu cầu của dự án đề ra (Công suất: 5-7 lít nước
ngọt/m2/ngày đêm; tuổi thọ thiết bị ít nhất 10 năm; Chất lượng nước ngọt sau xử lý đạt Quy chuẩn kỹ thuật Quốc gia về chất lượng nước sinh hoạt QCVN02: 2009/BYT)
Hình 1: Thiết bị được chế tạo và kiểm tra hoàn thiện
Hình 2: Hoàn thiện sản xuất hàng loạt 200 bộ thiết bị 3.2 Xây dựng mô hình chưng cất nước ngọt
Theo đặt hàng của Bộ Nông nghiệp và phát triển Nông thôn, với khuôn khổ kinh phí và
thời gian thực hiện, việc xây dựng mô hình ứng dụng thiết bị lọc nước sử dụng năng lượng mặt trời xử lý nước biển và nước lợ thành nước ngọt cần đạt được các chỉ tiêu như sau: 01 mô hình ở Giao Thủy, Nam Định gồm 50 thiết bị và 01 mô hình ở đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi gồm 150 thiết bị;
3.2.1 Xây dựng mô hình 50 thiết bị tại Giao Xuân, tỉnh Nam Định
Trang 8Mô hình đặt tại xã Giao Xuân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định Dự án đưa nước
sạch về làng ở xã Giao Xuân đã hoàn thành trong năm 2015, về cơ bản đã giải quyết được vấn đề nước sạch của người dân trong xã Tuy nhiên, khu vực bãi ngang phía ngoài
đê – nơi nuôi trồng thủy hải sản mang lại nguồn lợi kinh tế lớn nhất cho người dân trong
xã vẫn chưa có nước ngọt Toàn khu vực bãi ngang thuộc xã Giao Xuân với tổng số hơn
1500 người thường xuyên thường trực tại khoảng 1000 - 1200 chòi trên bãi ngao của
từng hộ dân để trông coi tài sản có điều kiện sinh hoạt hết sức khó khăn Mỗi chòi có từ
1 – 2 người, đều không có điện, nước ăn uống chủ yếu là nước mưa hoặc lấy từ các làng phía trong Đê vận chuyển ra; tuy nhiên, việc lấy nước từ trong đê cũng rất hạn chế do
phải đi vào làng (cách đê khoảng 5-10km) và dùng thuyền chở từ bến ra chòi, với điều
kiện như vậy nên từ 5-7 ngày người dân trên các chòi mới về lấy nước một lần, mỗi lần
từ 40-60 lít phục vụ cả ăn và uống Theo ước tính, mỗi người trên chòi dùng khoảng 8 – 10 lít nước một ngày cả ăn và uống
Vị trí lắp đặt mô hình gần cảng hàng và trại sơ chế ngao, nơi tập trung nhiều người thường xuyên lao động và đi lại qua đây với công suất dự kiến của mô hình đạt được từ 500 – 700 lít nước ngọt/ngày sẽ phần nào giải quyết nhu cầu nước ăn uống của các công nhân trong trại (khoảng 10 – 15 người) và người dân lao động, đi lại qua cảng (khoảng 50 – 70 người) UBND xã Giao Xuân là đơn vị tiếp nhận và quản lý mô hình trên tinh thần giao lại cho doanh nghiệp có cơ sở tại đây vận hành và bảo dưỡng Nước
ngọt từ mô hình được bán cho người dân với giá hợp lý (khoảng từ 5000 – 7000 VNĐ/bình 20l) để trang trải phần nào chi phí vận hành, bảo dưỡng
Công suất hệ thống = (100 modul) x (5 – 7 lít/ngày) = 500 – 700 lít/ngày
Khả năng cấp nước uống = (500 – 700 lít) / (2 lít/người/ngày) = 250 – 350 người/ngày
Trang 9922
Hình 3: Mô hình hoàn thiện Nước sau lọc đạt đủ các tiêu chuẩn nước sạch theo quy định của bộ y tế Nước sau khi được lọc có thể uống trực tiếp được Khu vực lắp đặt mô hình đáp ứng đầy đủ yêu cầu về nguồn nước, cường độ chiếu sáng cũng như hướng hứng nắng mà không bị che khuất đảm bảo thu được lượng nước tốt nhất
Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo đã phối hợp với UBND xã Giao Xuân tổ chức 01
lớp tập huấn kỹ thuật cho người dân và cán bộ địa phương tại địa điểm xây dựng mô hình Số lượng người tham gia là 34 người bao gồm đại diện của hộ trực tiếp sử dụng
mô hình và cán bộ xã Giao Xuân Giảng viên đã truyền đạt đầy đủ kiến thức cả lý thuyết
và thực hành về quy trình vận hành, kỹ thuật bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị lọc nước
biển, nước lợ thành nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời Học viên tham gia khóa đào
tạo đã tiếp nhận, nắm vững và làm chủ được quy trình vận hành, kỹ thuật bảo dưỡng và
sửa chữa thiết bị lọc nước theo đúng yêu cầu kỹ thuật
3.2.1 Xây dựng mô hình 150 thiết bị tại Huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi
Mô hình đặt tại Lý Sơn, huyện đảo duy nhất của Quảng Ngãi, nằm về phía Đông Bắc, cách đất liền 15 hải lý (tính từ cảng Sa Kỳ ra) Do trên đảo Lý Sơn không có nguồn nước
Trang 10mặt tự nhiên từ sông, suối như ở đất liền nên hơn 2 vạn người dân trên huyện đảo phụ thuộc phần lớn vào nguồn nước ngầm Kết quả điều tra cho thấy, trữ lượng nước ngầm của huyện đảo Lý Sơn khoảng 26.000 m3 nước, nhưng đến nay đã khai thác khoảng 22.000 m3 Cùng với đó, việc khoan, đào giếng của người dân chưa được quản lý chặt chẽ nên đang làm cạn kiệt dần nguồn nước này Từ chỗ Lý Sơn chỉ có 132 giếng khoan
và hơn 400 giếng đào, đến nay, sau khi có điện lưới quốc gia, người dân đã ồ ạt đào giếng, nâng tổng số giếng khoan lên hơn 1.000 cái Mật độ giếng khoan hiện nay trên đảo Lý Sơn đã quá dày, cùng với đó là sức nóng của những công trình bê tông hóa khiến nước mưa không thẩm thấu mà chảy xuống cống, thoát ra biển khiến Lý Sơn vốn đã không chủ động được nguồn nước, nay lại mất đi lượng nước ngọt đáng kể Việc khai thác nước ngầm quá mức đã gây nhiễm mặn tầng chứa nước Xung quanh đảo bị nhiễm mặn với diện tích hơn 1,6 km2 tính từ mặt biển vào
Theo đề xuất của huyện, dự án ưu tiên lắp đặt tại các điểm trường học sau đó trên cơ sở kết quả dự án sẽ có phương án nhân rộng mô hình ra các hộ dân và cơ quan trên đảo Nhóm thực hiện dự án đã đi khảo sát tất cả 10 trường bao gồm: 02 trường mầm non (05
cơ sở), 02 trường tiều học (03 cơ sở) và 02 trường trung học cơ sở (02 cơ sở) Trên cơ
sở đánh giá các điều kiện của từng trường dự án đã quyết định lựa chọn 3 trường để lắp đặt mô hình
Trường mầm non An Vĩnh 1 (cơ sở 1): 28 thiết bị;
Trường mầm non An Hải 1 (cơ sở 1): 45 thiết bị;
Trường tiểu học An Vĩnh 1 (cơ sở 1): 70 thiết bị
Mô hình lọc nước lọc nước sau khi đưa vào hoạt động sẽ phần nào giảm bớt những khó khăn về nước sạch của các trường học được lắp đặt UBND huyện Lý Sơn sẽ đứng ra tiếp nhận mô hình và bàn giao lại cho các đơn vị trực tiếp sử dụng, các chi phí cho vận hành, bảo dưỡng sẽ do đơn vị hưởng lợi chi trả
*Hiệu quả cấp nước của mô hình tại Trường mầm non An Vĩnh 1:
Công suất hệ thống = (60 modul) x (5 – 7 lít/ngày) = 300 – 420 lít/ngày
Hiệu quả cấp nước = Công suất hệ thống / Tổng nhu cầu
= (300 – 420 lít/ngày) / (600 lít/ngày) = 50% - 70%
*Hiệu quả cấp nước của mô hình tại Trường mầm non An Hải 1:
Công suất hệ thống = (100 modul) x (5 – 7 lít/ngày) = 500 – 700 lít/ngày
Hiệu quả cấp nước = Công suất hệ thống / Tổng nhu cầu
= (500 – 700 lít/ngày) / (800 lít/ngày) = 62.5% - 70%
*Hiệu quả cấp nước của mô hình tại Trường tiểu học An Vĩnh 1:
Công suất hệ thống = (140 modul) x (5 – 7 lít/ngày) = 700 – 980 lít/ngày
Trang 11924
Hiệu quả cấp nước = Công suất hệ thống / Tổng nhu cầu
= (700 – 980 lít/ngày) / (1300 lít/ngày) = 53.8% - 75.4%
Hình 4: Lắp đặt, vận hành và bàn giao hô hình cho địa phương
Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo đã phối hợp với UBND huyện Lý Sơn tổ chức 01 lớp tập huấn kỹ thuật cho người dân và cán bộ địa phương tại địa điểm xây dựng mô hình Số lượng người tham gia là 64 người bao gồm đại diện của hộ trực tiếp sử dụng
mô hình và cán bộ xã Giao Xuân Thông qua lớp tập huấn kỹ thuật, giảng viên đã truyền đạt đầy đủ kiến thức cả lý thuyết và thực hành về quy trình vận hành, kỹ thuật bảo dưỡng
và sửa chữa thiết bị lọc nước biển, nước lợ thành nước ngọt sử dụng năng lượng mặt
trời Học viên tham gia khóa đào tạo đã tiếp nhận, nắm vững và làm chủ được quy trình
vận hành, kỹ thuật bảo dưỡng và sửa chữa thiết bị lọc nước theo đúng yêu cầu kỹ thuật 3.2.3 Đánh giá sản phẩm và hiệu quả của mô hình trình diễn
Trang 12 Luận giải về các chỉ tiêu kỹ thuật sản phẩm đạt được:
- Về kích thước: Với kích thước thiết bị mà nhóm tác giả lựa chọn, năng suất dự
kiến đạt được từ 6 – 8 lít/m2/ngày thì mỗi ngày thiết bị sẽ sản xuất được từ 12 – 16lít nước chưng cất đảm bảo đủ cung cấp cho một hộ gia đình có từ 4 – 6 người sử dụng để
uống Vậy kích thước thiết bị mà nhóm tác giả lựa chọn là để phù hợp với quy mô hộ gia đình sử dụng
- Về năng suất: thiết bị thuộc đề tài xuất xứ của dự án, qua thử nghiệm thực tế đạt được năng suất từ 6 – 7 lít/m2/ngày; với thiết bị mới này, nhóm tác giả sử dụng vật liệu
mới nhằm tăng năng suất và giảm kích thước, trọng lượng sản phẩm Năng suất dự kiến đạt được từ 6 – 8 lít/m2/ngày sẽ tăng khoảng từ 1 – 2 lít/m2/ngày so với thiết bị cũ
- Về chất lượng nước: từ những kết quả nghiên cứu của đề tài trước nhóm tác giả
nhận định: nước biển trải qua quá trình chưng cất ở nhiệt độ cao nên nước ngọt thu được
đã được loại bỏ hoàn toàn muối và các vi khuẩn gây bệnh Kết quả phân tích nước về hóa học và phiếu xét nghiệm vi sinh cho thấy rằng chất lượng nước đạt tiêu chuẩn theo Quy chuẩn QCVN 01:2009/BYT và tiêu chuẩn 1329/2002/BYT/QĐ Thiết bị mới với nguyên lý chưng cất tương tự và vật liệu chế tạo không độc hại sẽ thu được nước ngọt
với chất lượng tương đương
- Độ bền: thiết bị có sử dụng các vật liệu có độ bền mặn và nhiệt độ cao như: nhôm cao cấp (tuổi thọ từ 30 – 40 năm), tấm kính vô cơ (tuổi thọ trên 10 năm), bấc thấm (tuổi
thọ từ 5 – 10 năm) Ngoài ra, nhờ kết cấu đơn giản, dễ lắp ghép các chi tiết trong thiết
bị có thể dễ dàng thay thế khi có hỏng hóc hoặc xuống cấp
Đánh giá hiệu quả của mô hình trình diễn:
- Đối với mô hình phân tán: Mỗi mô đun có công suất 6 – 8 lít/m2/ngày thì mỗi ngày thiết bị sẽ sản chưng cất được từ 12 – 16lít nước đảm bảo đủ cung cấp cho một hộ gia đình có từ 4 – 6 người sử dụng để uống Theo tính toán của các chuyên gia dinh dưỡng, trung bình một người cần bổ sung 1,5 – 2,5 lít/ngày Như vậy, mỗi ngày một hộ gia đình có nhu cầu dùng hết 6 đến 15 lít nước uống/ngày với giá nước trung bình trên
thị trường là 2500đ/lít thì mỗi gia đình sẽ phải tiêu tốn 15.000 đồng – 37.500đồng Nếu trong 1 năm chỉ có 3 tháng mùa khô phải mua nước thì mỗi hộ sẽ phải bỏ ra chi phí từ 1.350.000 đồng – 3.375.000 đồng Trong vòng 10 năm thì sẽ 13.500.000 đồng đến 33.750.000 đồng Như vậy, xét về mặt kinh tế, các hộ dân hoàn toàn có thể đầu tư được
một thiết bị với giá rẻ, chất lượng cạnh tranh
- Đối với mô hình tập trung: lấy một mô hình là một trường học có 880 người với nhu cầu trung bình là 1,2 lít/ngày thì cả trường sẽ tiêu tốn hết 1.056 lít nước với chi phí
là 2.640.000 đồng Chỉ tính đến việc sử dụng nước trong 3 tháng thì phải trả hết 237.600.000 đồng Trong khi đó, đầu tư 70 thiết bị với giá thành là 315.000.000 đồng
có thể sử dụng trong vòng 10 năm Như vậy, việc sử dụng thiết bị này tại các địa điểm công cộng là hoàn toàn cần thiết và kinh tế
Trang 13926
Việc nhân rộng mô hình theo kiểu phân tán hay tập trung đều mang lại hiệu quả kinh tế cao với chất lượng nước đảm bảo an toàn vệ sinh Việc nhân rộng mô hình cần được triển khai sớm tại các địa bàn đang thiếu nước ngọt trầm trọng và cần quảng bá hiệu quả kinh tế của thiết bị tới các hộ gia đình
3.3 Xây dựng giải pháp nhân rộng mô hình thiết bị chưng cất nước ngọt
Nhu cầu sử dụng nước ngọt đối với người dân – nơi có nguồn nước bị nhiễm mặn nghiêm trọng là vô cùng cần thiết Với công nghệ hiện đại ngày nay, vấn đề lọc nước mặn, nước lợ thành nước ngọt không còn xa lạ Tuy nhiên, với các sản phẩm lọc nước trên thị trường ngày nay, công nghệ cao, chất lượng nước tốt nhưng chi phí cao không phù hợp với mức sống người dân vùng khó khăn Với thiết bị chưng cất nước ngọt sử dụng năng lượng mặt trời, thiết kế cấu tạo đơn giản, dễ dàng lắp đặt, duy trì, bảo dưỡng không phức tạp, lượng nước ngọt tạo ra hằng ngày phù hợp với nhu cầu sử dụng của một hộ gia đình, giá thành hợp lý, phù hợp cho nhân dân vùng nông thôn có điều kiện khó khăn và có khả năng cạnh tranh với thiết bị của nước ngoài Để nhân rộng mô hình sản phẩm, sau khi hoàn thiện, dự án tiến hành nghiên cứu thị trường, nghiên cứu tập quán sinh hoạt của người dân, đánh giá tiềm năng về mặt trời và giảm giá thành sản phẩm mới có thể tiếp cận được người tiêu thụ, lên phương án kinh doanh để mở rộng thị trường
Sản phẩm chưa đạt được mức công nghiệp hóa, chưa tạo được các module dễ tháo lắp, vệ sinh hoặc lắp ráp để người dùng tiếp cận với công nghệ Chưa tạo được mối liên hệ hiệu quả giữa đơn vị ứng dụng và đơn vị sản xuất
Công tác tiếp thị, quảng cáo và tìm kiếm thị trường chưa mạnh Đội ngũ chuyên viên thương mại chưa được chuẩn bị đầy đủ kiến thức về luật pháp, tập quán thương mại các các thị trường nhập khẩu lớn
Do vậy, để nhân rộng mô hình sản xuất, cần nghiên cứu và xây dựng các giải pháp để quảng bá sản phẩm và mở rộng thị trường
3.3.2 Giải pháp nhân rộng mô hình
Trang 143.3.2.1 Liên kết phát triển quy mô thị trường tiêu thụ
Dựa vào nhu cầu cấp thiết của thị trường và khả năng thực hiện thì tính khả thi thực hiện dự án và khả năng ứng dụng sản phẩm vào thực tế của dự án là khá cao Đặc biệt là những địa phương giáp biển khu vực từ Thanh Hóa trở vào (những nơi mà thường xuyên nắng nóng kéo dài - cường độ ánh sáng cao), những nơi do tác nhân ảnh hưởng của sự xâm mặn của nước biển hay do ảnh hưởng của việc khai thác muối của con người
Từ kết quả của dự án được chuyển giao tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định và đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi, nhóm thực hiện dự án sẽ tiến hành hợp tác, liên kết với doanh nghiệp tư nhân có cơ sở vật chất đáp ứng được nhu cầu chế tạo thiết bị để sản xuất hàng loạt đáp ứng nhu cầu của thị trường tiêu thụ tại địa phương và các vùng lân cận
Tại các địa phương có nguồn nguyên vật liệu dễ dàng sẽ đề xuất phương án kỹ thuật và chuyển giao công nghệ để người dân có thể trực tiếp chế tạo và lắp đặt thiết bị, nhóm tác giả chỉ cung cấp một số bộ phận cần thiết của thiết bị chưng cất Nhờ vào đó, giá thành của thiết bị sẽ giảm xuống, góp phần phổ biến công nghệ và phạm vi ứng dụng của sản phẩm
3.3.2.2 Các hình thức quảng bá sản phẩm
Tuyên truyền, phổ biến kết quả triển khai thực hiện dự án bằng các hình thức: Quảng bá sản phẩm qua hội chợ công nghệ trên toàn quốc Tại các hội chợ cần giới thiệu các tính năng ưu việt của thiết bị, có chuyên gia hoặc thiết bị kiểm định chất lượng nước tạo ra, tạo độ tin cậy của sản phẩm, thuyết trình sự cần thiết của thiết bị đối với nhu cầu cấp nước sạch cho cuộc sống con người (đặc biệt đối với các khu vực miền Trung, Tây Nguyên và Nam Bộ - những nơi có lượng bức xạ mặt trời cao và thiếu nước sinh hoạt do xâm nhập mặn) Kết hợp tổ chức Hội nghị giới thiệu sản phẩm mới là một cách cho phép chúng ta giới thiệu sâu hơn về sản phẩm, thu hút được công chúng biết đến sản phẩm mới
Mô tả công nghệ và kết quả ứng dụng trên các tạp chí khoa học công nghệ trong ngành và các tạp chí mang tính phổ biến như Báo nhân dân, báo lao động… và Nông thôn ngày nay là những tạp chí đến với người dân vùng sâu, vùng xa và hải đảo Sản phẩm cần được đưa lên các bản tin Khuyến nông và giải pháp sáng tạo trên đài truyền hình VTV2 sẽ được công chúng biết đến nhiều hơn
Sử dụng Internet thông qua các kênh đại chúng như Youtube, facebook bằng cách quy các video mô tả sản phẩm, kết quả ứng dụng thực tế tại các địa điểm đã lắp đặt để cộng đồng nhận thấy được độ tin cậy và hiệu suất làm việc của thiết bị Đồng thời, đưa hình ảnh thiết bị lên trang đầu trên trang Web của Viện trong thời gian quảng bá sản phẩm mới.Khi truy cập vào Web, người xem có thể bắt gặp hình ảnh của thiết bị đầu tiên
Trang 15928
3.3.2.3 Các giải pháp hỗ trợ khác
a) Giải pháp về nguồn vốn đầu tư:
Hiện tại, đầu tư cho các đơn vị ứng dụng là nguồn ngân sách nhà nước Trong tương lai, cần xã hội hóa các sản phẩm ứng dụng để người dân sử dụng có ý thức giữ gìn và bảo vệ tài sản chung Có thể huy động nguồn vốn từ dân và doanh nghiệp với tỷ
lệ 10-20%
Gần đây, các nhà tài trợ WB, ADB, Jica đã cam kết cho vay tập trung vào nông nghiệp và nông thôn nên có thể tìm kiếm từ các nguồn vốn này để sản xuất nước ngọt một cách tập trung và có quy mô rộng
b) Giải pháp về công nghệ:
Đối với lĩnh vực sản xuất cần liên tục cải tiến về chất lượng sản phẩm, ứng dụng các thành tựu từ nước ngoài để phát triển sản phẩm phù hợp với điều kiện trong nước, giảm giá thành, hệ thống gọn nhẹ và sản xuất thành các module dễ thao tác, lắp ráp… c) Giải pháp về nguồn nhân lực:
Tập trung vào đào tạo công nhân kỹ thuật lành nghề tại chỗ để có thể sản xuất, lắp ráp ngay tại địa phương ứng dụng Tăng cường mở rộng chuyển giao công nghệ cho các địa phương
d) Giải pháp về hoàn thiện cơ chế quản lý
Cần xây dựng đội ngũ quản lý việc marketting sản phẩm và chuyển giao công nghệ nhanh nhẹn, tin cập và chuyên nghiệp
Tăng cường công tác quản lý, kiểm tra tính ứng dụng của sản phẩm nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm và tính cạnh tranh
e) Giải pháp phối hợp các ban ngành
Cần phối hợp với các Sở Nông nghiệp, Sở Khoa học và Công nghệ địa phương
để tuyên truyền, quảng bá sản phẩm, hỗ trợ khảo sát, đánh giá tiềm năng năng lượng mặt trời để sử dụng thiết bị
Để nhân rộng mô hình cần kết hợp mật thiết với các Sở ban ngành và địa phương
để đưa thiết bị vào đời sống Ngoài ra, cần sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng như báo, đài, chương trình VTV, internet để quảng bá sản phẩm
Lấy mục tiêu là các địa phương đang thiếu hụt trầm trọng về nước ngọt và các vùng lân cận địa điểm đã ứng dụng thiết bị nhằm kích thích nhu cầu sử dụng
4 Kết luận
Thiết bị chưng cất nước ngọt bằng năng lượng mặt trời là giải pháp kỹ thuật mới phù hợp với xu hướng phát triển chung của công nghệ chế tạo hiện nay Việc cải tiến thiết kế, chế tạo và lắp đặt mô hình dựa trên các vật liệu sẵn có trên thị trường Việt Nam
Trang 16góp phần đẩy nhanh tiến độ thi công, tăng chủ động công nghệ và giảm chi phí đầu tư Thiết bị chưng cất thể hiện sự sáng tạo ở nguyên lý thiết kế, cấu trúc gọn nhẹ theo từng module do đó dễ dàng lắp đặt, vận chuyển và vệ sinh so với thiết bị chưng cất cũ
Việc ứng dụng thiết bị này ở những nơi nguồn nước mặt bị ô nhiễm hoặc đất bị nhiễm mặn, nhiễm phèn và hải đảo sẽ tạo ra nguồn nước sạch, đảm bảo an toàn vệ sinh
y tế sẽ giúp nâng cao chất lượng cuộc sống, giảm bệnh tật gây ra do sử dụng nguồn nước không sạch để ăn uống Mặt khác, giúp cho người dân và quân sinh sống trên đảo – nơi thiếu thốn nước ngọt sẽ yên tâm, ổn định hơn, thu hút, khuyến khích được nhiều người dân ra sinh sống trên đảo và góp phần ổn định an ninh quốc phòng Giải quyết được vấn
đề nước sạch đối với những vùng ven biển bị ngập mặn, hay do ảnh hưởng của việc khai thác muối tác động xấu đến nguồn nước sinh hoạt
Việc quảng bá sản phẩm cần chú trọng đến hiệu quả kinh tế và chất lượng nước rồi mới đến các tiện ích về lắp đặt, tháo dỡ và vệ sinh thiết bị Khi nắm được nhu cầu của người dân thì cần tiếp cận với chính quyền địa phương nhằm tuyên truyền, quảng
bá sản phẩm Với các hình thức quảng bá sản phẩm truyền thống và các giải pháp hỗ trợ kịp thời được làm khẩn trương và nghiêm túc thì thiết bị mới được ứng dụng trên diện rộng và từng bước đưa ra thị trường trên cơ sở đảm bảo chất lượng và giá thành hợp lý
và sự hỗ trợ các cán Ban ngành
Các giải pháp nhân rộng mô hình mà nhóm tác giả đưa ra đã được Văn phòng điều phối nông thôn mới Trung Ương xác nhận là tài liệu tham khảo thiết thực phục vụ công tác tham mưu của Văn phòng đối với Ban Chỉ đạo Trung Ương các chương trình mục tiêu quốc gia trong công tác chỉ đạo, triển khai thực hiện hiệu quả tiêu chí môi trường nói chung và dự án nói riêng theo văn bản số 321/VPĐV-NV được đính kèm tại phụ lục của báo cáo tổng kết
Tài liệu tham khảo Tài liệu Tiếng Việt
25 Nguyễn Công Vân, Võ Sỹ Huỳnh, Đặng Đình Thống, Lê Danh Liên, Trần Quốc Giám Giáo trình năng lượng mới đại cương NXB Đại học Bách Khoa, 2001
26 ThS Đỗ Anh Tuấn- Viện Thủy điện và NLTT Báo cáo đề tài "Nghiên cứu thiết
kế, chế tạo, lắp đặt và vận hành thiết bị tạo nước ngọt từ nước biển bằng năng lượng mặt trời dùng cho sinh hoạt của quân và dân trên đảo", 2012
Tài liệu Tiếng Anh
Trang 17930
27 M Koilraj Gnanadason, P Senthil Kumar, G.Jemilda, S.Sherin Jasper Effect of Nanofluids in a Modified Vacuum Single Basin Solar Still International Journal
of Scientific & Engineering Research Volume 3, Issue 1, 01/2012
28 Jim Leckie, Gil Masters, Harry Whitehouse, Lily Young More other homes and garbage Sanfrancisco 1981
29 Joel Gordes, Horace McCracken Understanding Solar Stills Vita Technical Paper, No 37: 9/1985
30 Catalog thiết bị Carocell của hãng F.Cubed
Trang 18I Thông tin chung
Tên Đề tài: Xây dựng mô hình cơ sở hạ tầng thủy lợi mặt ruộng kết hợp cơ giới hóa
phục vụ sản xuất nông nghiệp tiên tiến hiệu quả bền vững đạt tiêu chí về thủy lợi tại xã điểm nông thôn mới Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ
Thời gian thực hiện:
Cơ quan chủ trì: Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo
Chủ nhiệm đề tài: Ths Đỗ Xuân Ninh
ĐTDĐ: Email:
1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu nhất định, tăng cả về năng suất và chất lượng sản phẩm Tuy vậy, thực tế sản xuất của người dân, đặc biệt vùng trung du miền núi vẫn còn rất nhiều khó khăn, do chưa được áp dụng các tiến bộ khoa học tiên tiến vào sản xuất, khả năng tiếp cận thị trường còn khó khăn Đất đai ngày càng bị thoái hóa, bạc màu, rửa trôi do sử dụng các biện pháp kỹ thuật canh tác cũ, lạc hậu Cây trồng chưa cho năng suất cao do chưa được quy hoạch, chuyển đổi, chưa áp dụng các biện pháp canh tác hiện đại Việc lựa chọn các loại giống cây trồng chưa phù hợp, hệ thống cơ sở hạ tầng thủy lợi chưa đồng bộ dẫn đến không áp dụng được các kỹ thuật canh tác hiện đại Nhằm bảo đảm an ninh lương thực cho dân số tăng nhanh đồng thời bảo vệ môi trường, có lợi cho con người thì việc canh tác nông nghiệp bền vững được xem là chìa khóa quan trọng, động lực thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước trong tương lai
Ngày 5/01/2012 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 27/QĐ-TTg phê duyệt “Chương trình khoa học và công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới giai đoạn
2011 – 2015” trong đó một trong các nội dung của Chương trình là Xây dựng một số
mô hình trình diễn về nông thôn mới trên cơ sở ứng dụng các thành tựu, giải pháp khoa học và công nghệ
Trong 19 tiêu chí đánh giá xã đạt chuẩn nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020,
bộ tiêu chí về quy hoạch sản xuất và phát triển hạ tầng, giao thông đồng ruộng được đánh giá là bộ chỉ tiêu quan trọng ảnh hưởng trực tiếp đến phát triển kinh tế và thu nhập
hộ dân Khi cơ sở hạ tầng được cải thiện phục vụ sản xuất như đường giao thông nội đồng, hệ thống tưới tiêu hiện đại được trang bị,… người dân có điều kiện để chuyển đổi
cơ cấu cây trồng, áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, từ đó giúp tăng năng suất cây trồng và hiệu quả kinh tế mang lại Khi thu nhập của hộ dân được nâng lên, sẽ là điều kiện tốt để thực hiện các tiêu chí còn lại
Trang 19932
Để có một mô hình mẫu trong việc hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng, nhằm áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất, thực hiện bộ tiêu chí Quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt thực hiện dự án: “Xây dựng mô hình cơ sở hạ tầng thủy lợi mặt ruộng kết hợp cơ giới hóa phục vụ sản xuất nông nghiệp tiên tiến hiệu quả bền vững đạt tiêu chí về thủy lợi tại xã điểm nông thôn mới Tuy Lộc, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ”
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng được mô hình cơ sở hạ tầng thủy lợi giao thông mặt ruộng kết hợp các biện pháp nông nghiệp tiên tiến phục vụ sản xuất nông nghiệp hiệu quả bền vững đạt tiêu chí về thủy lợi trong xây dựng NTM và tăng thu nhập của người dân lên trên 20%, góp phần xóa đói giảm nghèo, Mô hình tổ chức quản lý tưới tiêu khoa học phục vụ phát triển sản xuất lúa bền vững (SRI)
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Ứng dụng công nghệ tưới tiêu hiện đại, tiết kiệm nước và công nghệ canh tác tiên tiến nhằm phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững, bảo vệ môi trường nông thôn, chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng năng suất, hiệu quả sản xuất và chất lượng sản phẩm nông nghiệp
- Xây dựng được 01 mô hình trình diễn về hệ thống thủy lợi đồng bộ, hiện đại phục vụ tưới quy mô xã đáp ứng yêu cầu ứng dụng tiến bộ kỹ thuật nhằm tăng năng suất, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và tiết kiệm nước 15% trở lên với quy mô 20 ha
- Xây dựng được mô hình tổ chức quản lý sản xuất đạt hiệu quả kinh tế tăng trên 20% với quy mô:
+ Mô hình sản xuất lúa giống cấp nông hộ theo RSI quy mô 2ha, mô hình sản xuất lúa thương phẩm theo SRI và cây vụ đông, quy mô 11ha/vụ
+ Mô hình sản xuất rau an toàn chuyên canh theo hướng VIETGAP, quy mô 3 ha/vụ; + Mô hình sản xuất rau giống, quy mô 1000m2/vụ
- Tập huấn chuyển giao công nghệ cho 300 lượt người dân và cán bộ địa phương Giúp nông dân ứng dụng, vận hành thành thạo các công nghệ tưới và các mô hình sản xuất nông nghiệp
- Tăng thu nhập người dân trên 20% của những hộ dân tham gia vào dự án
- Xóa đói giảm nghèo cho những hộ dân tham gia vào dự án
3 Các kết quả chính của nhiệm vụ đã đạt được
3.1 Xây dựng mô hình hệ thống thủy lợi tưới, tiêu hiện đại
Trang 20Từ các các số liệu đầu vào đã điều tra khảo sát về địa hình, địa chất, thủy văn, thổ nhưỡng các loại đất, cao độ địa hình từng khu vực lựa chọn được các khu vực xây dựng các mô hình nông nghiệp:
Hệ thống tưới tràn có khống chế, hệ thống giao thông nội đồng cho mô hình sản xuất lúa và cây vụ đông với quy mô 17 ha (1 khu 10 ha, và 1 khu 7 ha)
Hệ thống tưới phun mưa: hệ thống tưới phun mưa trong nhà màng phục vụ 1000m2 rau
giống và hệ thống tưới phun mưa ngoài nhà màng phục vụ tưới 3ha rau
Nhà màng ươm cây con giống với quy mô 1000m2
Trang 21934
Hình 1 Sơ đồ bố trí các khu sản xuất
3.2 Áp dụng công nghệ tưới tiêu hiện đại vào mô hình tổ chức sản xuất nông nghiệp 3.2.1 Xây dựng mô hình sản xuất lúa bền vững SRI
Trong quá trình thực hiện các hộ dân tham gia sản xuất giống đã thực hiện tốt và đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật trong sản xuất giống lúa thuần theo QCVN 01-54: 2011 BNNPTNT Các cán bộ kỹ thuật Viện nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc đã cùng với cán bộ Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng Quốc gia, theo dõi, đánh giá từng giai đoạn sinh trưởng phát triển của mô hình sản xuất giống Trong xây dựng mô hình
sản xuất lúa giống, theo dõi các chỉ tiêu từ đầu vụ đến cuối vụ là rất cần thiết, diều này quyết định đến chất lượng hạt giống sau này Qua theo dõi trên đồng ruộng chúng tôi
tổng hợp lại bảng số liệu về các chỉ tiêu nông sinh học và các yếu tố cấu thành năng suất lúa HT1 Qua theo dõi ở 3 vụ thực hiện so sánh với tiêu chuẩn giống gốc HT1, các chỉ tiêu đều nằm trong thang chuẩn của giống gốc, như vậy về mặt sinh trưởng và phát triển trên đồng ruộng đều đạt tiêu chuẩn về sản xuất lúa giống
- Kết quả kiểm định đồng ruộng:
Trong quá trình sản xuất lúa giống HT1, Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống & sản
phẩm cây trồng Quốc gia đã tiến hành kiểm định 4 lần/vụ với tổng số cây kiểm tra 1.000 cây/lần Toàn bộ diện tích 6ha/3 vụ sản xuất giống HT1 cấp xác nhận đã được cách không gian và cách ly thời gian đúng theo quy định Quy trình sản xuất đúng theo yêu
cầu của sản xuất giống, lô giống sinh trưởng phát triển tốt Kết quả kiểm định cho thấy: Qua lấy mẫu tại 5 điểm với 200 cây/điểm cho 1 lần kiểm định, ở lần kiểm định đầu tiên
và lần kiểm định thứ 2, thứ 3 lô giống HT1 có cây khác dạng trên tổng số 1.000 cây
kiểm tra Ở lần kiểm định thứ 4 cho kết quả lô ruộng giống đạt tiêu chuẩn độ thuần là 100%, với 0 có cây khác dạng trên 1.000 cây kiểm tra Tổng số cây cỏ dại nguy hại lô
sản xuất giống qua 4 lần kiểm tra/vụ đều <5 cây và không phát hiện cây khác loài nào trong khu sản xuất giống Kết quả kiểm định đồng ruộng 6 ha mô hình sản xuất giống HT1 cấp xác nhận (3 vụ) đều đạt yêu cầu
Sau khi kiểm định trên đồng ruộng, toàn bộ mẫu hạt được kiểm nghiệm trong phòng theo TCVN 8548: 2011 Qua đối chiếu kết quả kiểm định đồng ruộng và kiểm nghiệm
mẫu trong phòng với quy chuẩn quốc gia QCVN 01-54: 2011/BNNPTNT cho thấy: toàn
bộ lượng thóc giống HT1 ở cả 3 vụ sản xuất đều đạt cấp xác nhận 1, đủ tiêu chuẩn gieo
trồng cho vụ tiếp theo
- Năng suất thực thu của giống HT1:
Với năng suất thống kê dự án đã tổ chức gặt ngay tại ruộng (thu hoạch 5 điểm theo đường chéo góc, mỗi điểm 1m2, gặt trên 3 ruộng tốt, trung bình, xấu) bên canh gặt thống
Trang 22kê trong mô hình cán bộ kỹ thuật cũng gặt thống kê lúa HT1 ngoài nô hình (lúa thương
phẩm) kết quả cụ thể qua các vụ như sau:
Bảng 1: Năng suất thực thu giống HT1
- Đánh giá hiệu quả mô hình sản xuất lúa giống HT1 cấp xác nhận:
Mục tiêu của dự án là nâng cao được hiệu quả kinh tế cho người dân, thông qua việc giúp nông dân nâng cao năng lực trong sản xuất giống và cuối cùng để nâng cao được giá trị thặng dư trong sản xuất nông nghiệp, với mô hình sản xuất lúa giống các hộ nông dân tham gia đã tăng thu nhập lên đáng kể
Bảng 2: Hiệu quả kinh kế mô hình sản xuất lúa giống HT1 năm 2016 và 2017
(triệu đồng/ha) Mùa vụ
Trong mô hình
Ngoài mô hình
Trong
mô hình
Ngoài
mô hình Chi phí sản xuất 49.500 42.500 50.000 42.700 49.010 40.750 Tổng thu nhập 60.000 35.700 56.400 31.500 62.400 37.100
Trang 23936
Lãi thuần trên 1 ha của mô hình: sau khi trừ chi phí sản xuất (chưa tính công) thu nhập thuần túy trong vụ xuân 2016÷2017, đạt 46,5÷48,89 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với ngoài mô hình 24÷24,3 triệu đồng/ha/vụ, trong vụ mùa 2016 được 42,4 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với so với lãi thuần thu được ngoài mô hình 23,6 triệu đồng/ha/vụ Tổng lãi thuần thu nhập 1 năm/1 ha trong mô hình là 88,9 triệu đồng, cao hơn so với ngoài mô hình 46,9 triệu đồng/ha/năm
Mô hình sản xuất lúa giống HT1 mang lại thu nhập cho người dân tăng lên 111,7% so
với các hộ trồng lúa HT1 bên ngoài mô hình đạt yêu cầu so với hợp đồng là tăng thu
nhập cho người dân trên 20% cho những hộ tham gia vào dự á
3.2.2 Xây dựng mô hình sản xuất lúa thương phẩm theo SRI và cây vụ đông (11ha) a) Mô hình sản xuất lúa Thiên ưu 8 theo SRI
Dự án đã tổ chức nông dân sản xuất theo cánh đồng mẫu lớn, cùng 1 giống lúa Thiên ưu
8, đồng loạt xuống giống cùng ngày, cùng áp dụng quy trình SRI Trong quá trình thực
hiện các hộ dân tham gia sản xuất đã thực hiện tốt và đầy đủ các yêu cầu kỹ thuật theo đúng quy trình canh tác lúa cải tiến (SRI) trên cây lúa
Kết quả mô hình cho thấy: Về thời gian sinh trưởng của giống lúa Thiên ưu 8 qua các
vụ: Vụ xuân 2016 và vụ xuân 2017 có thời gian sinh trưởng 135-137 ngày, vụ mùa năm
2016 có thời gian sinh trưởng 100 ngày, đây là giống thuộc nhóm giống ngắn ngày, ngắn hơn giống lúa Khang Dân 18 đang cấy đại trà ở địa phương 7-10 ngày Với các giống lúa vụ mùa có thời gian sinh trưởng dưới 110 ngày ở vụ mùa, sẽ là điều kiện tốt để bố trí gieo cấy ở trà mùa sớm, thu hoạch trước 15/9 và như vậy sẽ có thể tiến hành vụ đông thuận lợi Nhờ áp dụng nhiều biện pháp kỹ thuật mà mô hình lúa sinh trưởng tốt, năng
suất đạt cao Thống kê năng suất trong 3 vụ cho kết quả cụ thể như sau:
Bảng 3: Năng suất thực thu giống Thiên ưu 8 (tấn/ha)
Xuân 2016 Mùa 2016 Xuân 2017
Năng suất trung bình đạt được trên diện tích 11 ha của vụ xuân 2016, xuân 2017 là 7,1 tấn/ha, vụ mùa 2016 đạt 7,0 tấn/ha đạt yêu cầu so với chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu trong
7,0-hợp đồng (năng suất lúa vụ xuân đạt trên 6,5 tấn/ha, vụ mùa đạt trên 6 tấn/ha), tổng sản lượng thóc của mô hình đạt được trong 03 vụ là 232,1 tấn, vượt so với mục tiêu ban đầu
đề ra là 209 tấn, năng suất trong mô hình tăng cao hơn so với ngoài mô hình từ 0,9-1,5
tấn/ha
Bảng 4: Đánh giá hiệu quả kinh tế mô hình (1.000 đồng)
Trang 24b) Mô hình sản xuất cây vụ đông (11ha)
Người dân Tuy Lộc sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp nên trong quá trình xây dựng nông thôn mới tại xã đòi hỏi phải nâng cao được giá trị kinh tế trong sản xuất nông nghiệp Bên cạnh các giải pháp về xây dựng mô hình sản xuất các cây trồng có giá trị kinh tế cao dự án còn tập chung vào chuyển đổi cơ cấu cây trồng theo hướng tăng vụ Đây là cách tốt cho nông hộ, vừa đảm bảo an toàn lương thực, vừa tạo được thức ăn chăn nuôi, vừa có sản phẩm bán để có vốn đầu tư cho sản xuất và sinh hoạt Tuy nhiên
việc chuyển đổi cơ cấu vấp phải các dào cản như: thiếu nước tưới, áp lực về công lao động, thị trường tiêu thụ Do đó hướng giải quyết của dự án là: xây dựng hệ thống tưới, tiêu giao thông nội đồng từ đó giải quyết được vấn đề khô hạn thiếu nước ở vụ đông và thuận tiện cho việc vận chuyển vật tư, nông sản Về giải pháp kỹ thuật dùng các giống lúa ngắn ngày cho thu hoạch sớm để dành quỹ thời gian phát triển được thêm
vụ đông, bên cạnh đó lựa chọn các giống cây trồng vụ đông có giá trị kinh tế cao và dễ tiêu thụ Mô hình được thực hiện 2 vụ đông cho kết quả như sau:
* Đánh giá hiệu quả kinh tế cây trồng vụ đông và cơ cấu 3 vụ/năm
Qua rất nhiều các chương trình đề tài dự án và mô hình thực tế về tăng vụ đông tại nhiều địa phương đã khẳng định cây vụ đông đem lại hiệu quả kinh tế cao thậm chí cao hơn
cả 2 vụ Hiệu quả kinh tế cây trồng vụ đông 2015 và 2016 như sau:
Bảng 2.1: Hiệu quả kinh tế mô hình cây vụ Đông tại xã Tuy Lộc (1.000 đồng)
Vụ
Chi phí
2016 Ngô DK6919 Ngô HN88 bí Goldstar
998
bí Goldstar
998
Trang 25bí 40,7- 42,5 triệu đồng/ha/vụ, tiếp theo là ngô nếp đạt 24,6 triệu đồng/ha/vụ và ngô đạt 3,3 triệu đồng/ha/vụ
So sánh hiệu quả kinh tế giữa cơ cấu 3 vụ/năm với cơ cấu 2 vụ lúa:
Bảng 2.2: So sánh cơ cấu 3 vụ với 2 vụ lúa
TT Cơ cấu Tổng lãi thuần (triệu đồng/ha)
Lãi thuần tăng
So sánh hiệu quả kinh tế với đất trồng 2 lúa: Với mức lãi thuần 2 vụ lúa tại vùng sản
xuất là 54,1 triệu đồng/ha/năm thì cơ cấu 3 vụ (2 lúa + 1 ngô đông hoặc 2 lúa + bí đông) cho lãi thuần tăng 47,7-144,5% so với cơ cấu 2 lúa đạt yêu cầu so với chỉ tiêu kỹ thuật yêu cầu trong hợp đồng (tăng thu nhập cho người dân trên 20% cho các hộ tham gia vào
dự án) Như vậy đây là mô hình sản xuất mang lại lợi nhuận cao cho nông dân Với cơ
cấu 2 lúa + ngô tẻ DK6919 thị trường ngô tẻ đầu ra ổn định nên đây là mô hình cho lợi nhuận không cao nhưng rất bền vững, do thị trường đầu ra cho ngô rất ổn định Với cơ
cấu 2 lúa + bí vụ đông hoặc 2 lúa + ngô nếp HN 88 cho lợi nhuận cao, có thể mở rộng
ra đại trà Tuy nhiên khi phát triển rộng mô hình này, cần tính toán nhu cầu thị trường đầu ra cho sản phẩm Đây là sản phẩm ăn tươi nên khi sản xuất trên quy mô lớn, sản
phẩm thu đồng loạt, rất dễ rơi vào tình trạng cung vượt cầu, đặc biệt khi là nông dân sản
xuất hàng loạt không theo quy hoạch hay hợp đồng bao tiêu sản phẩm
3.2.3 Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn
Trang 26Để xây dựng được mô hình sản xuất rau an toàn đạt hiệu quả cao dự án đã thành lập tổ hợp tác trong điều hành sản xuất và tiêu thụ sản phẩm Dưới sự giúp đỡ của Đảng ủy, UBND xã Tuy Lộc, mô hình sản xuất rau an toàn đã thành lập được tổ hợp tác gồm 50
hộ dân tại khu 3 Tổ hợp tác thông qua đại hội đã bầu ra tổ trưởng, tổ phó và các thành viên ban điều hành tham gia điều hành sản xuất và liên kết chuỗi tiêu thụ sản phẩm Tổ hợp tác hoạt động tự chủ dưới sự chỉ đạo của UBND và HTX dịch vụ nông nghiệp Tuy Lộc Tổ hợp tác là đơn vị tiếp nhận, vận hành, duy tu, bảo dưỡng cơ sở vật chất, trang thiết bị dự án hỗ trợ, dưới sự giám sát của UBND xã và các đơn vị chức năng
Sơ đồ hoạt động tổ hợp tác sản xuất rau an toàn tại xã Tuy Lộc
Nội dung sản xuất rau giống trong nhà lưới được thực hiện trong 5 vụ, trong đó 4 vụ
phục vụ sản xuất của dự án, 1 vụ nông dân bán sản phẩm ra ngoài thị trường, mỗi vụ rau giống thời gian kéo dài từ 15-30 ngày Khi cây rau đủ tiêu chuẩn xuất vườn, cán bộ
kỹ thuật hướng dẫn nông dân chuyển cây con ra sản xuất ngoài đồng ruộng sản xuất
a Xây dựng mô hình vườn ươm cây con giống
Dự án đã hỗ trợ nông dân trong việc sản xuất rau giống trong nhà màng diện tích 1.000
m2 có hệ thống tưới phun sương để sản xuất 4 loại rau giống: Dưa chuột Sakura, su hào B40, cải bắp CB26 và bí rau VA308 Với sự tham gia của 4 hộ nông dân, mỗi hộ chuyên
sản xuất một loại rau giống nhất định, mô hình có khả năng sản xuất 120.000 -150.000 cây rau giống/vụ Trong thời gian từ tháng 1/2016 – 1/2017, qua 5 vụ, mô hình đã sản
xuất ra 625.000 cây rau giống đạt tiêu chuẩn xuất vườn Toàn bộ số cây này đã được đưa vào sản xuất rau đại trà của dự án và một phần tiêu thụ tại địa phương Qua theo dõi, đánh giá cho thấy: tất cả 4 loại rau sản xuất trong nhà màng đều có tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn cao, đạt từ giao động từ 85,71% - 96,15%, cao hơn so với sản xuất rau
giống ngoài trời
Bảng 2.3: Sản lượng và tỷ lệ cây đạt tiêu chuẩn xuất vườn của mô hình sản xuất rau
giống trong nhà màng (diện tích 1000 m2) tại xã Tuy Lộc
Nông hộ sản xuất rau
Tổ dịch vụ:
Thu gom, sơ chế
và bán sản phẩm
Trang 27940
Thời vụ Loại giống
SX trong nhà màng1 SX ngoài trời2
Số cây
xuất vườn (cây)3
Tỷ lệ cây
xuất vườn
Số cây xuất vườn (cây)3
chất lượng cây giống tốt hơn và giảm sự sâm nhiễm của sâu bệnh, mà sản xuất ngoài
Trang 28trời không thể Bên cạnh đó, hệ thống tưới phun giúp chủ động và kịp thời cung cấp
nước cho cây con khi cần
Sản xuất giống sạch bệnh là rất quan trọng đối với phát triển mô hình sản xuất rau theo Vietgap ngoài đồng ruộng, rau giống được sản xuất trong nhà màng tương đối sạch sâu
bệnh nên khi đem ra sản xuất ngoài đồng ruộng mức độ sâu bệnh ít hơn là sản xuất ngay
từ đầu ngoài đồng ruộng
Bảng : Mức độ nhiễm sâu, bệnh trên các loại rau trong mô hình sản rau giống
Chú thích: -: không bị nhiễm; +: nhẹ; ++: trung bình; +++: nặng
Hiệu quả kinh tế: Nhờ sản xuất trong nhà màng và áp dụng hệ thống tưới phun mưa tự động mà mô hình vừa có tỷ lệ cây xuất vườn cao lại giảm được chi phí thuốc bảo vệ
thực vật và công lao động, dẫn đến hiệu quả cao hơn đáng kể so với sản xuất ngoài trời Rau bí giống sản xuất trong nhà màng của mô hình cho lãi dòng từ 4,25- 10,01 triệu đồng/1.000m2/vụ, trong khi đó sản xuất ngoài trời chỉ cho lãi từ 2,01-10,8 triệu đồng/1.000m2/vụ Tương tự, các mô hình sản giống su hào, bắp cải và dưa chuột cũng đều cho hiệu quả kinh tế rất cao so với đối chứng Hiệu quả kinh tế đạt cao nhất là mô hình dua chuột cho lãi dòng đạt tới 22,64 triệu đồng/1.000m2/vụ
Tác động xã hội của mô hình: Hiệu quả kinh tế của mô hình sản rau giống trong nhà màng, có áp dụng hệ thống tưới phun mưa tự động là rất cao và rõ ràng nên đã thu hút được nhiều sự quan tâm, học hỏi của nhiều hộ sản xuất rau giống không tham gia mô hình Sau khi được phổ biến kỹ thuật, một số hộ đã tiến hành làm theo và đầu tư xây
dựng nhà màng, hệ thống tưới phun để sản xuất rau giống Điều đó chứng tỏ mô hình
đã có tác động rất tích cực trong việc nâng cao kỹ thuật và thay đổi phương thức sản
xuất rau giống tại xã Tuy Lộc Do vậy, mô hình có khả năng nhân rộng tại địa phương
Trang 29942
b Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn chuyên canh theo hướng VietGAP
Dự án đã xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn chuyên canh theo hướng Vietgap, diện tích 3 ha tại xã Tuy Lộc – huyện Cẩm Khê – tỉnh Phú Thọ với 50 hộ dân tham gia thực
hiện mô hình sản xuất 4 loại rau: Dưa chuột Sakura, su hào B40, cải bắp CB26, bí rau VA308 Qua 4 vụ sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap, năng suất của tất cả các loại rau mô hình đều ổn định và cao hơn so với đối chứng (là những mô hình sản xuất theo
tập quán ở địa phương) Cụ thể, năng suất bí rau đạt trung bình 42,44 tấn/ha, tăng 6,6- 12,2 % so với đối chứng Năng suất su hào cũng đạt ổn định từ 42,25 – 43,5 tấn/ha, tăng 6,57 – 9,7% so với đối chứng Cải bắp áp dụng quy trình sản xuất theo hướng Vietgap này cũng cho năng suất đạt 41,72 – 43,1 tấn/ha, tăng từ 8,9-11,8% so với sản xuất thông thường Tương tự, phương pháp sản xuất này cũng làm tăng 2,75-6,32% năng suất của dưa chuột, so với đối chứng
Năng suất thực thu của các loại rau trong mô hình sản xuất rau an toàn qua các vụ khác nhau (tấn/ha)
1Trung bình năng suất thực thu của các hộ trong mô hình; 2Trung bình của ngoài mô hình
Sự gia tăng năng suất của các loại rau là tổng hòa các ảnh hưởng tích cực giữa việc áp
dụng quy trình kỹ thuật sản xuất hợp lý và công nghệ tưới phun mưa, tạo điều kiện tối
ưu cho cây sinh trưởng – phát triển một cách khỏe mạnh, tăng cường sức chống chịu và
Trang 30giảm sự thiệt hại do sâu bệnh…dẫn đến tăng năng suất Với năng suất của các loại rau
sản xuất theo hướng Vietgap và áp dụng đồng bộ hệ thống tưới tiêu hiện đại, năng suất trung bình đạt trên 40 tấn/ha; sản lượng rau từng loại rau đạt trên 85,4 tấn, tổng sản lượng rau an toàn qua 4 vụ sản xuất liên tục đạt 532,5 tấn Qua theo dõi đánh giá trong các vụ cho thấy: dịch hại chủ yếu trên các loại rau này là các loại sâu ăn lá Ở mô hình
sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap, trong cả 4 vụ sản xuất, thường có mức độ nhiễm và gây hại của sâu ăn lá thấp hơn so với mô hình sản xuất thông thường (đối
chứng) Việc này dẫn đến mô hình sản xuất rau an toàn ít phải sử dụng thuốc bảo vệ
thực vật hơn, làm giảm chi phí đầu tư
Bảng: Mức độ nhiễm sâu ăn lá trên các loại rau trongmô hình sản xuất rau an toàn qua các vụ
xuất rau thông thường Cụ thể, với giá bán ổn định từ 3.000 – 3.300đ/kg, mô hình sản
xuất bí rau an toàn cho lãi từ 38,186-41,66 triệu đồng/ha/vụ, tăng 31-52% so với sản xuất thông thường (25,078 – 31,86 triệu đồng/ha/vụ) Mô hình sản xuất su hào an toàn cũng cho lãi từ 61,294 – 65,377 triệu đồng/ha/vụ Trong khi đó, sản xuất thường thông thường cho lãi thấp hơn từ 30-58%, chỉ đạt 42,5-47,124 triệu đồng/ha/vụ Tương tự, mô hình sản xuất bắp cải an toàn cũng cho lãi từ 52,482- 68,246 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn
so với sản xuất thông thường từ 25,2-31,9% Chênh lệch lãi giữa mô hình sản xuất dưa chuột an toàn và thông thường 25-39 %, sản xuất dưa chuột an toàn cho lãi thuần cao
nhất và đạt tới 83,495 triệu đồng/ha/vụ Như vậy khi thực hiện mô hình sản xuất rau an
Trang 31944
toàn theo hướng VietGap tất cả các loại rau trong mô hình đã làm tăng thu nhập của người dân trên 20% so với canh tác truyền thống
Khi chưa có hệ thống tưới phun sương khu 3 ha trong dự án nông dân sử dụng để sản
xuất ngô, hiệu quả trung bình đạt 3,3 triệu đồng/ha (bảng 3.15), như vậy mô hình sản
xuất rau an toàn đạt lợi nhuận từ 38,186 triệu/ha/vụ (bí) đến 80,422 triệu/ha/vụ (dưa chuột) cao hơn trồng ngô từ 34,886- 77,122 triệu đồng/ha/vụ, tăng >100%
Tác động xã hội của mô hình: Do có hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn nên mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap có những tác động về mặt xã hội rõ rệt Trước hết, qua
mô hình này đã giúp những hộ tham gia tiếp cận và nâng cao kiến thức về kỹ thuật bón phân, tưới nước hợp lý, kỹ thuật phòng trừ dịch hại Từ đó giúp thay đổi tập quán canh tác cũ, nâng cao ý thức về bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng Tiếp đến, mô hình
đã trở thành hình mẫu về cách sản xuất rau an toàn tại địa phương Qua đây, thu hút được người sản xuất không tham gia mô hình đến để học hỏi cách tổ chức và các kỹ thuật sản xuất rau an toàn Do đó, mô hình có khả năng nhân rộng tại xã Tuy Lộc và các địa phương khác
3.3 Đào tạo, tập huấn chuyển giao công nghệ
Trong năm 2015 và 2016 cùng với quá trình xây dựng các hệ thống tưới và triển khai các mô hình nông nghiệp nhóm thực hiện dự án đã đã tổ chức thực hiện 6 lớp tập huấn cho 300 lượt người dân ở các địa điểm thực hiện dự án
Trong đó:
02 lớp tập huấn về quy trình tổ chức, quản lý vận hành, bảo trì hệ thống tưới
04 lớp tập huấn về quy trình canh tác cây trồng,
Sau khi được tập huấn, người nông dân đã nắm được các kiến thức về vận hành, bảo dưỡng hệ thống tưới, lợi ích của cây vụ đông trong sản xuất nông nghiệp, qui trình trồng, chăm sóc, thu hoạch lúa để đạt hiệu quả canh tác cao nhất, quy trình sản xuất rau
an toàn
Kết quả: đã có 300 lượt người nông dân trong khu vực dự án được đào tạo, tập huấn về
sử dụng vaanh hành hệ thống tưới, hoạt động sản xuất lúa hàng hóa và rau an toàn:
- Nhiều kinh nghiệm thực tiễn trong hoạt động sản xuất, bảo quản lúa, rau được chia sẻ trong khóa học
- Khóa học đã giúp bà con nâng cao được ý thức trong hoạt động sản xuất lúa và rau an toàn
- Khóa học giúp bà con có kiến thức khoa học trong hoạt động sản xuất lúa và rau, đặc biệt là là 50 hộ gia đình tham gia trong mô hình sản xuất rau an toàn đã trở thành những
“công nhân nông nghiệp” thực thụ
3.4 Đánh giá chung về kết quả đạt được của dự án
Trang 32Áp dụng khoa học kỹ thuật vào phát triển kinh tế nông thôn là mục tiêu hàng đầu của Chương trình khoa học và Công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới, trong dự án
việc áp dụng đồng bộ các tiến bộ khoa học kỹ thuật là một trong các kết quả đạt được
của dự án, trong đó các tiến bộ kỹ thuật bao gồm công nghệ tưới tiết kiệm nước, quy trình tưới tiết kiệm nước, cơ giới hóa đồng bộ, kỹ thuật canh tác lúa tiên tiến theo SRI,
sản xuất giống lúa cấp xác nhận có chất lượng, kỹ thuật sản xuất rau an toàn theo hướng
Việtgap Các tiến bộ khoa học kỹ thuật được áp dụng góp phần tăng hiệu quả sản xuất,
hiệu quả kinh tế của mô hình thực hiện
a) Hiệu quả về giảm lượng nước tưới khi áp dụng canh tác SRI
Qua 3 năm thực hiện dự án 2015 - 2017 kết quả sử dụng nước sau khi xây dựng mô hình: Vụ xuân tiết kiệm được 20,45% lượng nước tưới và vụ mùa tiết kiệm được 22,78% lượng nước tưới so với canh tác truyền thống trước khi thực hiện dự án
b) Giảm lượng nước tưới cho rau khi áp dụng công nghệ tưới hiện đại:
Hệ thống tưới trong nhà màng là tưới phun sương, phun mưa cấp hạt mịn, được áp dụng cho mô hình vườn ươm rau giống Ưu điểm của kỹ thuật tưới chỉ tổn thất nước do bốc hơi trong quá trình tưới, tiết kiệm khoảng 40-50% so với phương pháp tưới mặt, không gây xói mòn, trôi màu, không phá vỡ kết cấu đất Hệ thống tưới tự động nên có thể tiết
kiệm được nhân công
c) Hiệu quả kinh tế từ mô hình sản xuất:
Mô hình sản xuất lúa giống HT1 cấp nông hộ cho năng suất bình quân đạt 4,97 tấn/ha, toàn bộ lô hạt giống đều đạt tiêu chuẩn theo quy định, với tổng lượng giống đạt cấp xác
nhận là 29,82 tấn Tổng lãi thuần thu nhập 1 năm/1 ha trong mô hình là 88,9 triệu đồng, cao hơn so với ngoài mô hình 46,9 triệu đồng/ha/năm
Mô hình sản xuất lúa theo SRI, năng suất lúa đã tăng từ 0,9-1,5 tấn/ha và tổng lãi thuần thu nhập 1 năm/1 ha trong mô hình là 71,2 triệu đồng, cao hơn so với ngoài mô hình 17,1 triệu đồng/ha/năm
Mô hình sản xuất cây vụ đông và cơ cấu 3 vụ/năm: Mô hình sản xuất cây vụ đông cho
hiệu quả kinh tế rất cao đặc biệt là mô hình sản xuất bí đông lãi thuần đạt >78,2 triệu đồng/ha So sánh cơ cấu 3 vụ (2 lúa + bí vụ đông hoặc ngô đông) với cơ cấu 2 vụ lúa/năm thì cơ cấu 3 vụ/năm cho lãi thuần tăng > 47,7 % so với cơ cấu 2 vụ lúa/năm
Mô hình sản xuất rau giống: Kết quả phân tích, đánh giá hiệu quả kinh tế của mô hình
sản xuất rau giống trong nhà màng tại xã Tuy Lộc qua 5 vụ cho thấy: tất cả các loại rau
giống sản xuất trong nhà màng đều cho hiệu quả kinh tế rất cao, đạt lãi thuần từ 4,2 – 14,01 triệu đồng/1.0002/vụ
Mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap, qua 4 vụ (từ tháng 1/2016 – 4/2017):
Tất cả các loại rau, ở tất cả vụ của mô hình sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap
hiệu quả kinh tế cao hơn từ 9,17 -39,594 triệu đồng/ha/vụ so với sản xuất rau thông
Trang 33946
thường Mô hình sản xuất bí rau an toàn cho lãi từ 38,186-41,66 triệu đồng/ha/vụ, tăng 31-52% so với sản xuất thông thường (25,078 – 31,86 triệu đồng/ha/vụ) Mô hình sản
xuất su hào an toàn cũng cho lãi từ 61,294 – 65,377 triệu đồng/ha/vụ Trong khi đó, sản
xuất thường thông thường cho lãi thấp hơn từ 30-58%, chỉ đạt 42,5-47,124 triệu đồng/ha/vụ Tương tự, mô hình sản xuất bắp cải an toàn cũng cho lãi từ 60,834- 68,246 triệu đồng/ha/vụ, cao hơn so với sản xuất thông thường từ 27,2-31,9% Mô hình dưa chuột an toàn cho lãi thuần cao nhất và đạt tới 83,495 triệu đồng/ha/vụ
d) Hiệu quả về mặt môi trường:
Mô hình lúa SRI bên cạnh việc tăng năng suất cây lúa cũng như nâng cao hiệu quả kinh
tế, SRI còn góp phần bảo vệ môi trường nông thôn cũng như sức khỏe người nông dân
bằng việc giảm bón đạm cho cây lúa; không sử dụng thuốc trừ cỏ và hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu trên ruộng lúa Làm theo SRI ruộng lúa thông thoáng hơn, cứng cây hơn, sâu bệnh ít hơn do đó số lần phun thuốc BVTV giảm 1,6-3 lần so với làm theo tập quán; canh tác lúa SRI còn giúp giảm phát thải khí nhà kính CH4
e) Chuyển gia công nghệ:
Dự án đã tiến hành các hoạt động đào tạo, chuyển giao công nghệ cho địa phương và người dân tham gia trong mô hình bao gồm 02 đợt tập huấn tập trung về quy trình vận hành bảo trì sửa chữa hệ thống tưới và các quy trình canh tác tiên tiến, đồng thời dự án cũng cử cán bộ toàn thời gian tại vùng dự án để theo dõi, giám sát các hoạt động tại mô hình Kết quả của 2 buổi tập huấn tập trung có 300 lượt nông dân tham dự Qua đợt tập
huấn có trên 90% nông dân tham dự có thể hiểu được toàn bộ kiến thức của người hướng
dẫn Qua kết quả khảo sát có thể thấy, việc tiếp thu và ứng dựng tiến bộ khoa học, kỹ thuật của người dân trong sản xuất nông nghiệp đã tăng so với trước khi thực hiện dự án (Trước khi có dự án, 90% người dân được hỏi sản xuất nông nghiệp chủ yếu dựa trên kinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau, chỉ có 10% người dân tìm hiểu qua sách báo, phương
tiện thông tin đại chúng)
4 Kết luận
- Xây dựng được hệ thống tưới tràn khống chế và đường giao thông nội đồng phục vụ tưới cho mô hình canh tác lúa tiên tiến theo SRI quy mô 17ha, tiết kiệm nước 21,6% so
với phương pháp tưới cũ
- Xây dựng hệ thống tưới phun mưa phục vụ cho mô hình sản xuất rau an toàn chuyên canh theo hướng Vietgap quy mô 3ha tưới tiết kiệm nước 43,7% so với phương pháp tưới cũ
- Xây dựng nhà màng và hệ thống tưới phun sương cho mô hình sản xuất rau giống quy
mô 1.000 m2 đảm bảo yêu cầu chất lượng
- Xây dựng mô hình sản xuất lúa giống HT1 quy mô 6ha/ 3 vụ , lợi nhuận trung bình đạt triệu đồng/ha, tăng 96,7% so với sản xuất lúa HT1 ngoài mô hình
Trang 34- Xây dựng mô hình sản xuất lúa thương phẩm theo SRI quy mô 33ha/3 vụ, năng suất lúa vụ xuân và vụ mùa đều đạt trên 7 tấn/ha, tăng 0,9 -1,5 tấn/ha so với sản xuất lúa thiên ưu 8 truyền thống Tăng hiệu quả kinh tế >22,7-41,8 % so với sản xuất đại trà
- Xây dựng mô hình cây vụ đông chuyển đổi từ đất 2 vụ lúa sang 2 vụ lúa + vụ đông, quy mô 22ha/vụ/2 vụ, lợi nhuận trung bình tăng trên 47,7% so với canh tác 2 vụ lúa
- Xây dựng mô hình sản xuất rau an toàn chuyên canh theo hướng VietGap quy mô 12ha/vụ/4 vụ, lợi nhuận tăng (34,886 – 77,112 triệu đồng/ha/vụ) trên 100% so với cơ
cấu cây trồng cũ
- Xây dựng mô hình vườn ươm cây rau giống trong nhà màng, quy mô 0,5ha/5 vụ, dự
án đã sản xuất được 625.000 cây giống các loại khỏe, sạch bệnh đưa ra sản xuất đại trà
và thương mại
- Tập huấn đào tạo, chuyển giao công nghệ cho 300 lượt người dân nắm bắt được quy trình tổ chức vận hành và bảo trì hệ thống tưới, quy trình canh tác lúa tiên tiến theo SRI, quy trình sản xuất lúa giống, quy trình sản xuất cây vụ đông, quy trình sản xuất rau an toàn theo hướng Vietgap
5 Kiến nghị
Chuỗi giá trị như mô hình sản xuất của dự án cần được tiếp tục theo dõi, nghiên cứu thêm để đưa ra giải pháp nhằm phát triển và mở rộng chuỗi Cần có các giải pháp trợ giúp người dân trong việc phát triển qui trình sản xuất quy chuẩn, hệ thống kiểm soát
chất lượng, hệ thống quản lý mới trong điều kiện số hộ tham gia tăng lên, quy mô sản
xuất lớn hơn Bên cạnh đó cần có những hỗ trợ về cơ sở hạ tầng, chính sách về vốn để
tổ hợp tác xã sản xuất hoạt động có hiệu quả hơn trong điều hành tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm
Trang 3532 Nguyễn Tuấn Anh, Nguyễn Thị Kim Dung (2011) Đề tài cấp Nhà nước “Hiện đại hóa thủy lợi phục vụ xây dựng nông thôn mới” Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
33 Võ Đại Chung, Quảng Bình (2016): Hiệu quả từ mô hình canh tác lúa cải tiến SRI, Trung tâm khuyến nông quốc gia
34 Dự án ‘‘Quy hoạch, phát triển vùng rau an toàn cho thành phố Yên Bái tại xã Tuy Lộc thành phố Yên Bái tỉnh Yên Bái”
35 Dự án “Sản xuất giống lúa cho các tỉnh miền núi phía Bắc”
36 Dự án FAO 039 “Xây dựng nhóm hộ sản xuất giống lúa tại các tỉnh miền núi phía Bắc”
37 Dự án “Xây dựng mô hình canh tác lúa cải tiến SRI cho lúa Hương Chiêm tại Yên Bái và Bắc Thơm 7 tại Điện Biên”
38 Đề tài ‘‘Nghiên cứu các biện pháp kỹ thuật chuyển đổi cơ cấu cây trồng từ 2 vụ lúa truyền thống thành 2 vụ lúa + cây vụ đông tại cánh đồng Mường Lò tỉnh Yên Bái’’
39 Đề tài: “Nghiên cứu giải pháp tăng vụ đông trên cánh đồng Mường Thanh” đã được thực hiện và áp dụng rộng tại xã Thanh Chăn huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên (11 xã điểm nông thôn mới của cả nước)
40 Mô hình thí điểm tưới nước cho lúa bằng ống nhựa khép kín tại xã Bình Nguyên, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam
41 Oxfarm Việt Nam (2011) Đơn giảm và hiệu quả SRI và nông nghiệp sáng tạo
42 Hoàng Văn Phụ (2005) Kết quả nghiên cứu kỹ thuật thâm canh lúa SRI (System
of Rice Intensification) vụ xuân 2005 tại Thái Nguyên”, Tạp chí Khoa học & Công nghệ, Đại học Thái Nguyên
43 Hoàng Văn Phụ và Vũ Trí Đồng (2005) “Triển vọng của kỹ thuật thâm canh lúa SRI ((System of Rice Intensification) trong canh tác lúa vùng Trung du Bắc bộ” Hội nghị khoa học công nghệ toàn quốc: Nghiên cứu KH&CGCN phục vụ phát triển nông thôn miền núi phía Bắc giai đoạn 2000-2005
44 Lê Sâm, Nguyễn Văn Lân, Nguyễn Đình Vượng (1997) “Nghiên cứu các giải pháp công nghệ tưới hiện đại tiết kiệm cho các vùng hiếm nước” thuộc đề tài cấp Nhà nước mã số KC.08-09, Viện Khoa học Thủy lợi Miền Nam
45 Lê Sâm (2002) Kỹ thuật tưới tiết kiệm nước, Nhà xuất bản Nông nghiệp, Hà Nội
Trang 3646 Phương Thu (2016) Kết quả mô hình ứng dụng tiến bộ kỹ thuật canh tác lúa cải tiến (SRI) trên giống Bao thai tại huyện Chợ Đồn, Báo cáo sở nông nghiệp Bắc Kạn
47 Đoàn Doãn Tuấn, Trần Việt Dũng (2009) Đề tài cấp Nhà nước: "Nghiên cứu ứng dụng các giải pháp khoa học công nghệ phòng chống hạn hán phục vụ phát triển nông nghiệp bền vững các tỉnh miền núi phía Bắc", Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
48 Đoàn Doãn Tuấn (2005) Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu cấp Bộ “Hiện đại hóa hệ thống thủy lợi nội đồng phục vụ chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi vùng ĐBSH”, Viện Khoa học Thủy lợi Việt Nam
Tài liệu Tiếng Anh
49 Darius mans (2010) More rice for people and more water for planet, ICRISAT project, Hyderabad, India
WWF-50 Dalit Ben-Zoor (2015) The Israel agritech sector
51 Jun Tsurui (2010) Accepting system of rice intensification by farmers in rainfed lowland paddy area of Cambodia, International journal of environmental and rural development, Cambodia
52 Khem Ra Dabal (2014) System of rice intensification: A potential approach to enhance rice productivity and food security, Journal of forest and livelihood
53 Ravindra Krishnamurthy (2014) Vertical farming: Singapore’s solution to feed the local urban population, Permaculture research institute
54 Suphendi Rustiadi (2014) System of Rice intensification and conventional rice farming and its role in the Indramayu regency economy, Bogor Agriculture university
55 Wei Wu (2015) A review of the system of rice intensification in China, plant soil Anthony Hall and James Midgley Social Policy for Development London:SAGE Publications 2004
Trang 37950
I Thông tin chung
Tên Đề tài: Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình làng nghề tre, tầm vông, trúc đan lát theo hướng tập trung kết hợp du lịch sinh thái tại huyện Phước Long, tỉnh
Bạc Liêu phục vụ xây dựng nông thôn mới
Thời gian thực hiện: 6/2015 – 9/2017
Cơ quan chủ trì: Trung tâm Thực nghiệm và Chuyển giao Khoa học – Công nghệ huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu
Chủ nhiệm đề tài: Phan Minh Cảnh
ĐTDĐ: 0918.987887 Email: canh1964@yahoo.com.vn
1 Đặt vấn đề
Theo thống kê, hiện nay tỉnh Bạc Liêu có 8 làng nghề nổi tiếng và mang tính chất truyền thống như làng nghề mộc đã tồn tại trên 80 năm, nghề rèn trên 100 năm, những làng nghề tập trung chủ yếu ở huyện Hồng Dân và Phước Long Tuy nhiên, nhìn chung làng nghề trên địa bàn tỉnh chưa đa dạng về ngành hàng, phát triển chậm, phân tán, quy
mô sản xuất nhỏ
Làng nghề đan lát truyền thống ở ấp Mỹ 1- xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long có truyền thống từ nhiều năm qua, đến nay vẫn được duy trì và phát triển Ngày 22/10/2009 tại huyện Phước Long, UBND huyện tổ chức lễ công nhận làng nghề đan lát truyền thống ở ấp Mỹ 1, xã Vĩnh Phú Đông là làng nghề truyền thống Đây là làng nghề đầu tiên trong tỉnh được công nhận theo Nghị định 66/2006 của Chính phủ về “phát triển các ngành nghề truyền thống địa phương” Sản phẩm của làng nghề luôn được ưa chuộng trên thị trường nhờ tính truyền thống, mang nét đặc trưng riêng của địa phương Người dân ấp Mỹ 1 sống chủ yếu bằng nghề sản xuất nông nghiệp, độc canh cây lúa và kết hợp trồng màu, kết hợp với nghề đan lát truyền thống có từ lâu đời vào lúc nông nhàn, nhằm tăng thu nhập, góp phần xóa đói giảm nghèo
Nguồn nguyên liệu đầu vào của làng nghề chủ yếu là từ tre và trúc Hiện nay, phần lớn nguồn nguyên liệu này được các hộ trồng ngay tại địa phương (cung cấp khoảng 70%) Ngoài ra, để đủ nguyên liệu phục vụ sản xuất, các hộ phải mua thêm nguồn nguyên liệu từ các địa phương khác tại các tỉnh lân cận trong khu vực vùng Đồng bằng sông Cửu Long (khoảng 30% ) Việc mua nguyên liệu từ bên ngoài khiến các hộ gặp nhiều khó khăn, không chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ sản xuất Các hộ phải tự đi thu gom, tìm kiếm nguồn nguyen liệu từ các địa bàn khác nhau nên mất nhiều thời gian, chi phí, khiến giá thành sản phẩm tăng cao
Hiện nay, sản phẩm sản xuất ra của làng nghề chủ yếu là cần xé, còn lại rất ít các sản phẩm khác như ghế nồi, bội gà, rỗ thúng, Vì vậy có thể thấy chủng loại sản phẩm
Trang 38của làng nghề rất đơn điệu, khó cạnh tranh Gần đây, nhiều hộ trong làng nghề đã thử nghiệm sản xuất ra các sản phẩm mới lạ phục vụ khách du lịch, tuy nhiên việc tiêu thụ gặp rất nhiều khó khăn, vì vậy chưa được phỗ biến sản xuất trong làng nghề Các sản phẩm mà các hộ sản xuất ra chủ yếu bán cho thương lái đến thu mua tại hộ (khoảng 75% sản phẩm được tiêu thụ theo phương thức này), còn lại là bán trực tiếp cho các chủ vựa lớn trên địa bàn xã, huyện Việc thu hút khách du lịch đến thăm quan và mua sản phẩm làng nghề hiện vẫn chưa được chú trọng
Năm 2015, Dự án “Ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật để xây dựng mô hình làng nghề tre, tầm vông, trúc đan lát theo hướng tập trung kết hợp du lịch sinh thái tại huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu phục vụ xây dựng nông thôn mới” thuộc “Chương trình Khoa học và Công nghệ phục vụ Xây dựng Nông thôn mới giai đoạn 2011- 2015” được triển khai, Dự án được mong đợi sẽ góp phần hỗ trợ giải quyết một số vấn đề đã nêu trên Dự án tập trung vào 03 nội dung chính, trong đó tập trung vào hỗ trợ chuyển giao khoa học công nghệ để tối ưu hóa sản phẩm; xây dựng vùng nguyên liệu ổn định; hỗ trợ vận hành mô hình làng nghề kết hợp với du lịch Ngoài nội dung trên dự án còn hướng trọng tâm vào việc hỗ trợ thành lập 01 Hợp tác xã làng nghề, thành lập Ban quản lý và phát triển làng nghề và hỗ trợ quỹ phát triển làng nghề để đảm bảo rằng: việc phát triển kinh tế phải đảm bảo gắn liền với bảo vệ và phát triển những giá trị truyền thống của làng nghề
2 Mục tiêu nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Xây dựng được mô hình làng nghề truyền thống sản xuất và quản lý hiện đại tại
xã Vĩnh Phú Đông, huyện Phước Long tỉnh Bạc Liêu, gắn với hoạt động du lịch làng nghề, nâng cao thu nhập cho người dân, bảo tồn và phát huy nghề và văn hóa nghề, tạo điều kiện để đẩy mạnh phát triển các hoạt động phi nông nghiệp và du lịch trên địa bàn, xây dựng mô hình mẫu để rút kinh nghiệm trong việc mở rộng các mô hình tại địa phương
2.2 Mục tiêu cụ thể
- Xây dựng được 01 mô hình làng nghề đan lát một số sản phẩm truyền thống từ tre, tầm vông kết hợp du lịch làng nghề , mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao thu nhập cho người dân trên 15% so với hiện tại
- Hỗ trợ phát triển vùng nguyên liệu với quy mô 30 ha
- Xây dựng quỹ phát triển làng nghề nhằm hỗ trợ vốn sản xuất cho người dân mua nguyên liệu sản xuất
- Xây dựng quy chế tổ chức HTX trong làng nghề và quy chế bảo tồn và phát huy nét đặc trưng của nghề đan lát truyền thống ở địa phương
- Tập huấn chuyển giao kỹ thuật cho 300 lượt người lao động làng nghề
Trang 39tại làng nghề, kết quả đợt khảo sát như sau:
Số hộ nghèo (năm 2015) chiếm 14% Số khẩu bình quân/hộ là 4,3 người/hộ, số LĐ bình quân/hộ: 2,9 lao động/hộ
- Cơ cấu lao động của hộ theo độ tuổi: Từ 18 – 35 tuổi: 21%; Từ 35 – 45 tuổi: 20%;
Từ 45 – 60 tuổi: 22%; Khác: 37%
- Mô hình sản xuất sản phẩm đan lát hiện nay của hộ: Cơ sở tư nhân (Tổ chức sản xuất
và tiêu thụ theo quy mô gia đình) chiếm 93% tổng số hộ làm nghề; còn lại là các hộ
nhận gia công thuê, lấy công làm lãi (7%)
- Hoạt động đan lát là nguồn thu nhập chính của 67% số hộ gia đình làm nghề; và được coi là nghề phụ làm thêm trong lúc nông nhàn của 33% số hộ gia đình Tổng thu nhập bình quân của các hộ đan lát năm 2015 là 30,3 triệu đồng, trong đó thu nhập từ sản xuất
sản phẩm đan lát của hộ năm 2015 là 21,5 triệu đồng (chiếm 71% tổng thu nhập của hộ gia đình)
- Các hộ đan lát làng nghề có từ rất lâu đời, các sản phẩm đan lát của làng nghề được nhiều người biết đến vì: chất lượng tốt, mẫu mã đẹp (49%), giá hợp lý (68%), công tác
* Sản xuất nguyên liệu
Trong số 100 hộ khảo sát, có 45% số hộ đã và đang trồng cây nguyên liệu (tre, trúc) tại địa phương Có 02 phương thức trồng cây nguyên liệu đang được các hộ ở địa phương
áp dụng hiện nay đó là: (1) Trồng rải rác trong vườn, không đầu từ chăm bón (69%);
Trồng thâm canh tập trung (31%) Năm 2015, mức thu nhập bình quân của các hộ trồng nguyên liệu làng nghề ở ấp Mỹ 1 đạt 40,17 triệu đồng/năm, trong đó thu nhập từ sản
xuất sản phẩm đan đát của hộ năm 2015 là 19,02 triệu đồng/hộ/năm (chiếm đến 47,34%
tổng thu nhập của hộ trồng nguyên liệu làng nghề
Theo điều tra, hiện các hộ trồng chủ yếu tre và trúc để làm nguyên liệu đan đát Diện tích vườn trồng tre của hộ bình quân 550 m2/hộ và trồng trúc là 1.078 m2/hộ (trồng theo
bụi trong vườn, không phải trồng trên toàn bộ diện tích khu vườn của hộ) Trong số 100
Trang 40hộ điều tra thì hầu hết các hộ đều trồng trúc, chiếm 96% hộ điều tra Còn lại, có 25% hộ
có trồng tre và 26% hộ nuôi lục bình Nhiều hộ trồng cả 2 hoặc 3 loại nguyên liệu này Các hộ khảo sát cho biết, lí do chính mà hộ áp dụng phương thức trồng nguyên liệu rải rác trong vườn, không đầu từ chăm bón chủ yếu là do: Không có khả năng đầu tư để
trồng thâm canh tập trung (21% hộ trả lời), và Không có đất để trồng thâm canh tập trung (11% hộ trả lời)
Với phương thức trồng cây nguyên liệu áp dụng phương thức trồng nguyên liệu rải rác trong vườn, không đầu từ chăm bón như hiện nay khiến năng suất, chất lượng nguyên
liệu thấp và không đáp ứng đủ nguyên liệu cho hộ để thực hiện đan đát Hiện nay, để có
đủ nguyên liệu cho đan đát, nhiều hộ trong làng nghề phải mua nguyên liệu từ các địa phương khác Với những hạn chế khi trồng cây nguyên liệu áp dụng phương thức trồng nguyên liệu rải rác trong vườn, không đầu từ chăm bón như hiện nay, rất nhiều hộ (84%) mong muốn được chuyển đổi sang hình thức thâm canh tập trung để đảm bảo đủ nguyên
liệu cho đan đát của hộ Chỉ có 6% hộ không mong muốn chuyển đổi sang trồng thâm canh tập trung không, còn lại 10% hộ không có ý kiến
Trường hợp hộ trồng thâm canh tập trung: Đối với các hộ trồng cây nguyên liệu theo hình thức thâm canh tập trung, bình quân 1.000 m2/hộ đối với cây tre; 2.232 m2/hộ đối
với cây trúc và khoảng 1.000 m2/hộ đối với cây lục bình Tuy đang trồng cây nguyên
liệu theo hình thức thâm canh tập trung, nhưng các hộ này hiện cũng đang gặp nhiều khó khăn đó là: Năng suất nguyên liệu thấp, thiếu vốn để đầu tư cho sản xuất, thiếu nguyên liệu, không đáp ứng đủ nguyên liệu cho hộ, chất lượng nguyên liệu thấp, sản
phẩm khó tiêu thụ, chi phí trồng nguyên liệu cao; hiệu quả kinh tế trồng nguyên liệu
thấp
Để phát triển sản xuất cây nguyên liệu tại chỗ theo hình thức thâm canh tập trung, các
hộ mong muốn được nhận các hỗ trợ: Hỗ trợ một phần vật tư (phân bón, thuốc) để đầu
tư để trồng thâm canh tập trung; hỗ trợ giống mới đầu tư để trồng thâm canh tập trung;
hỗ trợ đất để trồng thâm canh tập trung; hỗ trợ vay vốn tín dụng ưu đãi để đầu tư cho
sản xuất; hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh tập trung
* Xử lý nguyên liệu:
Qua khảo sát cho thấy, 100% hộ điều tra có xử lý nguyên liệu (chẻ, vót nan), và 100%
hộ áp dụng công nghệ chẻ, vót nan theo hình thức thủ công bằng tay Không có hộ nào
áp dụng công nghệ chẻ, vót nan bằng máy Lí do mà các hộ áp dụng công nghệ chẻ, vót nan theo hình thức thủ công bằng tay chủ yếu là do: Nhu cầu sử dụng nguyên liệu của
hộ ít nên không đầu tư máy (69% hộ trả lời) và không có tiền để mua máy chẻ, vót nan (44% hộ trả lời)
Khó khăn, hạn chế do áp dụng công nghệ chẻ, vót nan thủ công bằng tay hiện nay mà các hộ cho biết chủ yếu là: Năng suất nguyên liệu thấp, hiệu quả kinh tế thấp, không đáp ứng đủ nguyên liệu cho hộ, chất lượng nguyên liệu thấp Mặc dù gặp nhiều khó khăn,