VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM VIỆN THỔ NHƯỠNG NÔNG HÓA BÁO CÁO THUYẾT MINH BẢN ĐỒ ĐẤT VÙNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG Đề tài: Nghiên cứu xây dựng bản đồ thổ nhưỡng, nông
Trang 1VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN THỔ NHƯỠNG NÔNG HÓA
BÁO CÁO THUYẾT MINH
BẢN ĐỒ ĐẤT VÙNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG
Đề tài: Nghiên cứu xây dựng bản đồ thổ nhưỡng, nông hóa phục vụ thâm canh chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý sử dụng bền vững
tài nguyên đất nông nghiệp tỉnh Hải Dương
- Cơ quan chủ quản: Sở Khoa học và Công nghệ Hải Dương
- Cơ quan thực hiện: Sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hải Dương
- Cơ quan tư vấn: Viện Thổ nhưỡng Nông hóa
- Tư vấn trưởng: TS Trần Minh Tiến
Hải Dương - 2019
Trang 2VIỆN KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VIỆN THỔ NHƢỠNG NÔNG HÓA
BÁO CÁO THUYẾT MINH
BẢN ĐỒ ĐẤT VÙNG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP
Trang 3CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO
DTĐT Diện tích điều tra (diện tích đất sản xuất nông nghiệp)
DTTN Diện tích tự nhiên
ĐBSH Đồng bằng song hồng
ĐGĐĐ Đánh giá đất đai
ĐVĐĐ Đơn vị đất đai
FAO Food and Agriculture Organization
(Tổ chức Nông Lương Liên hiệp quốc) GDP Gross Domestic Product (Tổng sản phẩm quốc nội)
GIS Geographic Information System (Hệ thống Thông tin Địa lý)
ISRIC International Soil and Reference Information Centre
(Trung tâm Thông tin và Tư liệu đất Quốc tế) KCN Khu công nghiệp
HQKT Hiệu quả kinh tế
HTSDĐ Hiện trạng sử dụng đất
PLĐ Phân loại đất
PTNT Phát triển Nông thôn
QH&TKNN Quy hoạch và Thiết kế Nông nghiệp
UBND Ủy ban Nhân dân
UNESCO United Nations Educational, Scientific and Cultural Organization (Tổ
chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc) USDA United States Department of Agriculture (Bộ Nông nghiệp Mỹ)
WRB World Reference Base for Soil Resources
(Cơ sở Tham chiếu Tài nguyên đất Thế giới) WTO World Trade Organization (Tổ chức Thương mại Thế giới)
Trang 4MỤC LỤC
CÁC CHỮ VIẾT TẮT DÙNG TRONG BÁO CÁO 0
MỞ ĐẦU 1
Chương 1 3
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 3
1.1 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2 Nội dung nghiên cứu 3
1.3 Phương pháp nghiên cứu 3
Chương 2 5
TỔNG QUAN VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG 5
2.1 Điều kiện tự nhiên 5
2.1.1 Vị trí địa lý 5
2.1.2 Đặc điểm khí hậu 5
2.1.3 Đặc điểm địa hình 6
2.1.4 Đặc điểm địa chất 6
2.1.5 Đặc điểm sông ngòi 8
2.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội: 9
2.2.1 Dân số và lao động: 9
2.2.2 Giáo d c 9
2.2.3 t 9
2.2.4 Hiện trạng văn hoá, xã hội 10
2.2.5 Thực trạng và định hướng phát triển các ngành 10
2.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội 15
2.3.1 Vị trí địa lý 15
2.3.2 Về tài nguyên thiên nhiên 15
2.3.3 Cơ sở hạ tầng 15
2.3.4 Nguồn nhân lực 15
2.3.5 Những hạn chế của tỉnh Hải Dương trong phát triển sản xuất nông nghiệp 16
2.4 Các quá trình hình thành đất chủ đạo trên địa bàn tỉnh Hải Dương 17
Chương 3 19
KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG 19
Trang 53.1 Tổng quan về phân loại đất 19
3.1.1 Vài nét chung về phân loại đất (PLĐ) 19
3.1.2 Tổng quan về hệ phân loại đất FAO-UNESCO-WRB: 19
3.1.3 Quan điểm và nguyên tắc phân loại của FAO-UNESCO-WRB 20
3.2 Những nghiên cứu về đất trước đây của tỉnh Hải Dương 21
3.3 Kết quả nghiên cứu về đất trồng cây nông nghiệp tỉnh Hải Dương 22
3.3.1 Tài liệu áp d ng và cấp phân vị trong phân loại đất 22
3.3.2 K t quả điều tra, phân tích mẫu đất 23
3.3.3 K t quả về phân loại và xây dựng bản đồ đất 24
3.3.4 Mô tả các loại đất tỉnh Hải Dương: 32
KẾT LUẬN 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO CHÍNH 56
PHỤ LỤC 58
Trang 6MỞ ĐẦU
Cùng với việc dân số gia tăng, sức ép về lương thực đang là vấn đề cấp thiết của mọi địa phương, quốc gia Đất là yếu tố quyết định đến sản xuất lương lực Thực tế đã chứng minh thật khó để có thể sản xuất với số lượng lớn mà không có đất Trong khi đó, đất là tài nguyên hữu hạn, do vậy để đáp ứng được nhu cầu lương thực của con người chúng ta không có cách nào khác ngoài việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất Tiến hành điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai một cách toàn diện là cơ sở để đưa ra các quyết định quy hoạch sử dụng đất một cách hợp lý nhất dựa trên các nghiên cứu và phân tích một cách khoa học, bài bản
Vào những năm 60 - 70 thế kỷ trước, nhiều địa phương trong cả nước đã tiến hành điều tra, đánh giá tài nguyên đất đai nhằm phục vụ cho công tác quy hoạch sản xuất nông nghiệp (NN) Việc có đánh giá quy hoạch sử dụng đất trên các tỷ lệ bản đồ khác nhau và
đã giúp nâng cao hiệu quả sản xuất nông nghiệp nước ta Tuy đã có những quy hoạch trước đây, việc điều tra đánh giá lại tài nguyên đất đai dựa theo các tiêu chuẩn quốc tế và các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội đã thay đổi cùng với quá trình thay đổi kinh tế xã hội của đất nước, từ đó đưa ra những điều chỉnh quy hoạch phù hợp với định hướng phát triển chung của đất nước và của riêng mỗi địa phương là một việc làm cần thiết
Từ những năm 1960, Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) đã tập hợp lực lượng gồm các chuyên gia nghiên cứu đất trên Thế giới để xây dựng phương pháp điều tra đánh giá tài nguyên đất (Soil) và khả năng sử dụng đất đai (Land) toàn cầu và trên cơ sở đó áp dụng cho các khu vực, các nước FAO đã đưa ra các tài liệu hướng dẫn về phân loại đất và đánh giá đất đai v.v Các tài liệu hướng dẫn của FAO được các nước quan tâm thử nghiệm, vận dụng và chấp nhận là phương pháp tốt nhất để đánh giá tiềm năng đất đai làm cơ sở cho quy hoạch sử dụng đất Theo phương pháp đánh giá đất đai của FAO, các yếu tố tự nhiên (Địa hình, đất đai, sông ngòi, khí hậu, thảm thực vật, v.v), kinh tế - xã hội, nhu cầu dinh dưỡng cây trồng, khả năng đầu tư thâm canh, hiệu quả kinh tế các loại hình
sử dụng đất, mức độ ảnh hưởng của môi trường được xem xét dựa trên những luận cứ khoa học và được tiến hành theo từng bước Với kỹ thuật tin học tiên tiến, Hệ thống Thông tin Địa lý (GIS) đã được ứng dụng trong đánh giá đất đai để xử lý thông tin, đưa ra được các thông số cần thiết và chính xác nhằm xây dựng các loại bản đồ về đất
Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (TNNH) là một trong những đơn vị đầu ngành trong việc hành điều tra, đánh giá tài nguyên đất và khả năng sử dụng đất đai theo phương pháp của FAO trong những năm vừa qua Nội dung chính của công tác đánh giá này là xây dựng các bản đồ: đất, hiện trạng sử dụng đất và khả năng thích hợp đất đai cho nhiều địa phương như: Phú Thọ, Bắc Ninh, Hà Nam, Lâm Đồng, Ninh Thuận, Lào Cai, v.v; đồng thời xây dựng các loại bản đồ về định hướng sử dụng đất cho các địa phương trên Các kết quả nghiên cứu trên đã được các địa phương sử dụng như là một tài liệu khoa học có giá trị và đáng tin cậy về tài nguyên đất, phục vụ cho công tác định hướng sử dụng đất đai một cách hợp lý
Từ những cơ sở thực tiễn trên, năm 1999, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã ban hành
Quy trình đánh giá đất đai ph c v nông nghiệp (Tiêu chuẩn Ngành 10 TCN 343-98)
dựa trên cơ sở phương pháp của FAO có chỉnh biên cho phù hợp với điều kiện nước ta
và quy trình này đã được chỉnh sửa để hoàn thiện và phù hợp với điều kiện hiện nay (TCVN 8409:2012 của bộ TN&MT), hướng dẫn các cơ quan chức năng và địa phương
áp dụng để đánh giá tài nguyên đất đai trên phạm vi cả nước
Trang 7Chính vì vậy, việc tiến hành công việc xây dựng, chỉnh lý bản đồ thổ nhưỡng đất
tỉnh Hải Dương tỷ lệ 1/50.000 thuộc đề tài "Nghiên cứu xây dựng bản đồ thổ nhưỡng,
nông hóa ph c v thâm canh, chuyển đổi cơ cấu cây trồng và quản lý sử d ng bền vững tài nguyên đất nông nghiệp tỉnh Hải Dương" là rất cấp thiết góp phần nâng cao hiệu
quả sản xuất nông nghiệp cũng như sử dụng hợp lý quỹ đất của địa phương nhằm duy trì phát triển kinh tế nhưng cũng đảm bảo sự phát triển bền vững cho thế hệ mai sau
Trang 8Chương 1 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xây dựng các loại bản đồ đất dựa trên hệ phân loại đất của FAO-UNESCO theo tỷ lệ 1/50.000, xác định chính xác các tính chất đất, trên cơ sở đó đánh giá chất lượng đất đai
1.2 Nội dung nghiên cứu
1 Xây dựng bản đồ thổ nhưỡng của đất sản xuất nông nghiệp tỉnh Hải Dương dựa trên hệ phân loại đất của FAO-NESCO tỷ lệ 1/50.000
2 Mô tả đặc điểm lý hóa học và phân bố của các đơn vị đất đã được xây dựng
1.3 Phương pháp nghiên cứu
i) Phương pháp thu thập:
- Thu thập tài liệu sơ cấp: Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua quan sát, ghi chép trực tiếp từ địa bàn nghiên cứu, thông qua phỏng vấn lãnh đạo địa phương, cán
bộ chuyên môn và nông hộ
- Sử dụng phương pháp khảo sát phỏng vấn có sự tham gia của cộng đồng (PRA)
- Thu thập dữ liệu thứ cấp: Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ các ban ngành cấp tỉnh, cấp huyện; báo cáo nghiên cứu của cơ quan, viện, trường đại học; bài viết đăng trên báo hoặc tạp chí khoa học chuyên ngành; tài liệu giáo trình hoặc xuất bản khoa học liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ các phương tiện thông tin đại chúng
ii) Phương pháp lấy mẫu đất và mô tả phẫu diện:
- Cách lấy mẫu thổ nhưỡng: Trên cơ sở bản đồ địa hình, bản đồ hiện trạng sử
dụng đất, bản đồ đất cũ, tiến hành khảo sát theo tuyến và khảo sát bổ sung, (i) các phẫu diện chính có phân tích được lấy mẫu đất theo tầng phát sinh, (ii) các phẫu diện chính không phân tích được lấy vào hộp tiêu bản theo các tầng phát sinh Đất cho vào hộp giữ được trạng thái tự nhiên và mang đặc trưng cho tất cả các tầng đất và được bảo quản phục vụ cho việc phân loại đất
Với phẫu diện chính có phân tích: kích thước của phẫu diện cần rộng ≥ 70 cm, dài ≥ 200 cm, sâu ≥ 125 cm nếu chưa gặp tầng cứng rắn, tầng mẫu chất hoặc lớp đá nền (có chụp ảnh hình thái phẫu diện)
Với phẫu diện chính không phân tích: tương tự như phẫu diện chính có phân tích, ngoại trừ chiều dài phẫu diện ≥ 125 cm (không chụp ảnh hình thái phẫu diện, chỉ chụp ảnh cảnh quan)
- Mô tả phẫu diện: Tuân thủ theo Hướng dẫn mô tả phẫu diện đất của FAO
(Guidelines for Soil Description FAO, 1990) và theo TCVN 9487:2012, mô tả chi tiết
về màu sắc các tầng theo Thang màu đất chuẩn Munsell (Standard Soil Colour Chart),
độ dày và độ sâu xuất hiện tầng B (tầng chẩn đoán), mức độ kết von, mức độ glây,
nhiễm mặn, nhiễm phèn…
iii) Phương pháp phân tích mẫu đất:
- Mẫu đất được phân tích tại phòng phân tích của các cơ quan chuyên môn đạt chuẩn Các mẫu đất được xử lý trước khi phân tích trong phòng thí nghiệm theo đúng tiêu chuẩn hiện hành tại Việt Nam
Trang 9- Phân tích mẫu đất theo tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN), tiêu chuẩn ngành (TCN)
và các tiêu chuẩn Quốc gia, cụ thể: Thành phần cấp hạt: Theo TCVN 8562:2010;
Dung trọng: Theo TCVN 6860:2001; Chất hữu cơ (OM,%): Theo TCVN 8941:2011; pH: Theo TCVN 5979:2007, ISO 10390:2005; Nito tổng số: Theo TCVN 6498:1999; Photpho tổng số: Theo TCVN 8940:2011; Kali tổng số: Theo TCVN 4053:1985; Lân
dễ tiêu: Theo TCVN 8942:2011; Kali dễ tiêu: Theo TCVN 8662:2011; Bazơ trao đổi
(Ca++, Mg++, K+, Na+): Theo TCVN 8569:2010; Dung tích hấp thu (CEC) trong đất và
trong sét: Theo TCVN 8568:2010 và TCVN 4620:1988; Độ dẫn điện (EC mS/cm):
Theo TCVN 6650: 2000; SO 4 2- : Theo TCVN 6656: 2000; Cl -: Theo Sổ tay phân tích
(Viện Thổ nhưỡng nông hóa); Al + trao đổi: Theo TCVN 4403:2010
iv) Phương pháp phân loại đất và xây dựng bản đồ đất bản đồ độ phì nhiêu của đất:
- Phương pháp phân loại đất: Áp dụng hệ phân loại đất của
FAO-UNESSCO-WRB theo hướng dẫn mới nhất năm 2014 World reference base for soil resources
2014 - A framework for international classification, correlation and communication
Tên đất chuyển đổi sang tiếng Việt áp dụng Hệ phân loại Việt Nam mới của Đề tài cấp
Bộ “Nghiên cứu xây dựng hệ phân loại đất ph c v xây dựng bản đồ đất tỷ lệ trung
bình và lớn” của Viện Thổ nhưỡng Nông hóa (2005)
- Phương pháp xây dựng bản đồ đất: Chỉnh lý, bổ sung và xây dựng theo TCVN 9487:2012 của Bộ Nông nghiệp và PTNT và Sổ tay Điều tra, Phân loại đất (Viện Quy
hoạch và Thiết kế nông nghiệp)
Kỹ thuật sử dụng:
i) Kỹ thuật xây dựng các loại bản đồ:
Hệ thống bản đồ được xây dựng trên hệ quy chiếu VN 2000 Sử dụng các phần mềm ArcGIS, MapInfo, MicroStation để số hóa và xây dựng các loại bản đồ
Bộ cơ sở dữ liệu về chất lượng đất sản xuất nông nghiệp của tỉnh được chuẩn hóa
và lưu trữ bằng hệ thống thông tin địa lý (GIS)
ii) Kỹ thuật phân tích xử lý số dữ liệu, xử lý phiếu điều tra:
Sử dụng các công cụ và phần mềm chuyên dụng như SPSS, Excel để tổng hợp và xử lý các tài liệu, số liệu có liên quan đến các nội dung nghiên cứu của đề tài
Trang 10Chương 2 TỔNG QUAN VỀ TỈNH HẢI DƯƠNG
2.1 Điều kiện tự nhiên
2.1.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Hải Dương thuộc vùng đồng bằng Bắc Bộ, có tọa độ địa lý 20o14’20” đến
20o41’10 vĩ độ Bắc; lý 106o07’20” đến 106o36’35” kinh độ Đông
- Phía bắc giáp tỉnh Bắc Giang
- Phía đông bắc giáp tỉnh Quảng Ninh
- Phía đông nam giáp thành phố Hải Phòng
- Phía nam giáp tỉnh Thái Bình
- Phía tây nam giáp tỉnh Hưng Yên
- Phía tây bắc giáp tỉnh Bắc Ninh
Tỉnh Hải Dương được tách ra từ tỉnh Hải Hưng (gồm tỉnh Hải Dương và Hưng Yên) từ ngày 01/01/1997 Về đơn vị hành chính, tỉnh Hải Dương bao gồm 01 thành phố đô thị loại II trực thuộc tỉnh (thành phố Hải Dương), 01 thị xã (Chí Linh) và 10 huyện (Bình Giang, Cẩm Giàng, Gia Lộc, Kim Thành, Kinh Môn, Nam Sách, Ninh Giang, Thanh Hà, Thanh Miện, Tứ Kỳ)
Hải Dương được chia làm 2 vùng: Vùng đồi núi và vùng đồng bằng Vùng đồi núi nằm ở phía bắc tỉnh, chiếm 11% diện tích tự nhiên gồm 13 xã thuộc thị xã Chí Linh và 18 xã thuộc huyện Kinh Môn; là vùng đồi núi thấp, phù hợp với việc trồng cây
ăn quả, cây lấy gỗ và cây công nghiệp ngắn ngày Vùng đồng bằng còn lại chiếm 89% diện tích tự nhiên do phù sa sông Thái Bình bồi đắp, đất đai màu mỡ, thích hợp với nhiều loại cây trồng, sản xuất được nhiều vụ trong năm
Điều kiện vị trí thuận lợi để Tỉnh mở rộng giao lưu kinh tế với các tỉnh trong và ngoài Vùng ĐBSH, Vành đai kinh tế ven biển Vịnh Bắc Bộ, hành lang kinh tế Lạng Sơn - Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh, khu vực miền núi phía Bắc và vùng biên giới Việt - Trung, đồng thời tạo cho Tỉnh có vị trí chiến lược về giao thương kinh tế và bảo đảm quốc phòng - an ninh ở khu vực Bắc Bộ
2.1.2 Đặc điểm khí hậu
Khí hậu tỉnh Hải Dương mang đầy đủ tính chất của khí hậu nhiệt đới gió mùa chia làm 4 mùa rõ rệt (xuân, hạ, thu, đông) Lượng mưa trung bình hàng năm 1.300 - 1.700 mm Mùa hè nóng ẩm mưa nhiều nhưng ít có những ngày nhiệt độ quá cao hoặc
có gió lào, mùa đông thường lạnh khô hanh, cuối mùa đông có mưa phùn, ẩm độ không khí cao
Một số đặc trưng về khí hậu của tỉnh Hải Dương như sau:
- Nhiệt độ bình quân năm 2017 là 24,40C, tổng số giờ nắng trong năm là 1.225 giờ
- Lượng bốc hơi hàng năm tỉnh Hải Dương tương đối lớn Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất là tháng 6,7 Đây là thời kỳ nhiều nắng Vào các tháng 8 và 9, lúc này mưa nhiều, độ ẩm cao, lượng bốc hơi giảm xuống Lượng mưa năm 2017 tỉnh Hải Dương là 1.934 mm
Trang 11- Độ ẩm trung bình hàng năm trong khu vực sông Hồng nói chung tỉnh Hải Dương nói riêng có trị số tương đối lớn, độ ẩm trung bình hàng năm tại Hải Dương là 83% Độ ẩm không khí trung bình năm 2017 của tỉnh Hải Dương là 82%
- Hướng gió thịnh hành trên địa bàn của Tỉnh là hướng Đông và Đông Bắc từ tháng 9 đến tháng 4 sang năm sau Trong các tháng mùa hè hướng gió thịnh hành là Nam và Đông Nam Tốc độ gió bình quân trong năm đạt 2,4 m/s tại trạm Hải Dương Với những điều kiện về khí hậu thời tiết như vậy đã tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp của tỉnh Hải Dương, bao gồm cây lương thực, thực phẩm và cây
ăn quả đặc biệt là sản xuất cây rau màu vụ đông
2.1.3 Đặc điểm địa hình
Phần lớn lãnh thổ của tỉnh Hải Dương có địa hình bằng phẳng, trừ thị xã Chí Linh và một phần huyện Kinh Môn có đồi núi Hướng địa hình nghiêng và thấp dần từ Tây Bắc xuống Đông Nam Địa hình Hải Dương được phân thành hai vùng:
- Vùng đồi núi phía Đông Bắc: Đây là rìa của cánh cung Đông Triều Vùng này
có các dãy núi thấp như Dây Diều (618m), Đèo Chê (533m), Núi Dài (509m); trung bình các đồi cao 200-300m Diện tích của vùng này chiếm 10% diện tích tự nhiên của tỉnh Vùng này gồm 3 tiểu vùng: Vùng núi thấp Đông Bắc, vùng đồi bát úp lượn sóng
+ Tiểu vùng địa hình trung bình: Gồm phần Nam huyện Ninh Giang, huyện Thanh Miện; có địa hình tương đối vàn và vàn thấp; độ cao trung bình từ 1,5-2,0m; là tiểu vùng dễ bị úng vào mùa mưa
+ Tiểu vùng thấp trũng: Gồm các huyện Kim Thành, Nam huyện Kinh Môn, phía Đông huyện Nam Sách và huyện Thanh Hà Đây là tiểu vùng có địa hình tương đối vàn thấp và trũng; độ cao trung bình 1,0-1,5m Tiểu vùng này là khu vực bãi triều Tầng đất sâu là sản phẩm phù sa sông Thái Bình nhưng tầng mặt có ảnh hưởng của phù sa sông Hồng Đây là tiểu vùng thấp trũng, có ảnh hưởng của mặn tầng sâu
- Hệ tầng Yên Phụ: Phân bố ở phía Đông Bắc thành phố Hải Dương thuộc huyện Kinh Môn Thành phần gồm cát kết, cát kết dạng Quarzit, đá phiến sét, thấu kính đá vôi, đá phiến Silic, dày trên 400m
- Hệ tầng Lỗ Sơn: Phân bố ở phía Tây Bắc, phía Tây và Dông Bắc huyện Kinh Môn Thành phần là đá vôi, đá vôi Silic, đá vôi delomit, sét vôi, dày trên 400m
Trang 12- Hệ tầng Hạ Long: Phân bố ở xã Minh Tân, huyện Kinh Môn Thành phần chủ yếu là đá vôi, đá vôi Silic, đá vôi dolomit, delomit, dày trên 400m Đây là nguồn vật liệu làm xi măng chủ yếu trong vùng
- Hệ tầng Bãi Cháy: Phân bố ở phía Đông Bắc huyện Kinh Môn và dải hẹp xã Trần Hưng Đạo, thị xã Chí Linh Thành phần là đá phiến Silic, cát kết, bột kết, thấu kính đá vôi Silic; dày trên 200m Đây là nguồn vật liệu làm phụ gia xi măng
- Hệ tầng Sông Hiến: Phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Sao Đỏ, thị xã Chí Linh
và dải hẹp ở xã Minh Tân, huyện Kinh Môn Thành phần chính là đá bột kết, đá phiến sét, cát kết tuf, sạn kết tuf, thấu kính ryolit, keratophyr liên quan đến sự hình thành tạo kaolin và Felspat, dày trên 700m
- Hệ tầng Nà Khuất: Phân bố ở phía Tây Bắc thị trấn Sao Đỏ, thị xã Chí Linh Thành phần gồm cát kết tuf, bột kết, đá phiến sét, cát kết; dày trên 900m
- Hệ tầng Hòn Gai: Phân bố ở trung tâm và phía Nam, Tây Nam, phía Đông Nam thị trấn Sao Đỏ, thị xã Chí Linh Phần thấp là các vỉa than đá xen cát kết, đá phiến sét, sét than Phần cao là cuội kết thạch anh, sạn kết xen cát kết và lớp mỏng đá phiến sét, dày trên 900m
- Hệ tầng Tiên Hưng: Phân bố rộng khắp ở vùng đồng bằng của tỉnh, chỉ phát hiện qua các lỗ khoan sâu Thành phần gồm cát kết, bột kết xen cuội kết gắn kết yếu, dày trên 129m Đây là tầng chứa nước ngầm rất lớn
- Hệ tầng Vĩnh Bảo: Phân bố khá rộng khắp vùng đồng bằng của tỉnh, chỉ phát hiện qua các lỗ khoan sâu Thành phần gồm cuội kết xen cát kết gắn kết yếu; dày trên 220m Đây là tầng lưu thông và chứa nước ngầm có triển vọng nhất trên địa bàn tỉnh
- Hệ tầng Neogen không phân chia: Phân bố ở phía Đông Bắc thị trấn Sao Đỏ, thị
xã Chí Linh Thành phần gồm cuội kết, cát kết, bột kết, dày từ 22,5m đến 200m
- Hệ tầng Lệ Chi: Phân bố ở vùng đồng bằng, chỉ phát hiện qua các lỗ khoan sâu Thành phần gồm cuội, sỏi, cát, sét, dày trên 37m
- Hệ tầng Hà Nội: Phân bố thành dải hẹp lộ ra ở phía Bắc thị trấn Sao Đỏ, thị xã Chí Linh và ở hầu hết vùng đồng bằng chỉ phát hiện qua các lỗ khoan Thành phần gồm cuội, sỏi, sạn, cát; dày 85m Đây là tầng có nguồn nước ngầm lớn
- Hệ tầng Vĩnh Phúc: Phân bố thành dải hẹp lộ ra ở phía Bắc và phía Tây thị trấn Sao Đỏ - Chí Linh, còn phần lớn bị phủ bởi các trầm tích trẻ hơn ở hầu hết vùng đồng bằng trong tỉnh Thành phần gồm cuội, sỏi, cát, sét, dày từ 3,3m đến 55m Đây là tầng chứa nước ngầm khá phong phú
- Hệ tầng Hải Hưng: Phân bố, lộ ra ở hầu hết các huyện đồng bằng và ở 2 thị xã Chí Linh, Kinh Môn Thành phần có sét, cát, bột, dày từ 2m đến 34m Đây là tầng có chứa vật liệu xây dựng
- Hệ tầng Thái Bình: Phân bố ở hầu hết ven các sông, chủ yếu là phần ngoài đê Thành phần gồm cát, sét, bột xen cát; dày từ 0,5m đến 7m
- Các trầm tích Aluvi - Proluvi: Phân bố thành dải hẹp ở phía bắc xã Bắc An - Chí Linh; dày từ 0m tới 3m
2.1.4.2 Về phá hủy đứt gãy:
Trên địa bàn tỉnh Hải Dương phát triển 4 hệ thống đứt gẫy chính:
- Hệ thống đứt gẫy cấp I: Phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, gồm đứt gẫy Sông Lô, Phả Lại - Sao Đỏ, Phố Vạn - Bến Tắm, Hòn Gai - Yên Tử
Trang 13- Hệ thống đứt gẫy cấp II: Phát triển theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, có 2 đứt gẫy chính là Phả Lại - Thanh Hà và Trung Lương
- Hệ thống đứt gẫy cấp III: Phát triển theo phương á vĩ tuyễn, có 7 đứt gẫy (sông Luộc, Đồng Ngọc - Ngọc Sơn, Lôi Xá - Vũ Thượng )
- Hệ thống đứt gẫy nhỏ: Phát triển theo phương á kinh tuyến
Các đứt gẫy nêu trên có ý nghĩa khống chế cấu trúc địa chất, hình thành các bậc địa hình và liên quan đến sự thành tạo khoáng sản nội sinh, nước nóng khoáng và kéo theo các phá huỷ đứt gẫy tân kiến tạo Trong phá huỷ đứt gẫy tân kiến tạo đã xác định được các khối nâng trong Mesozoi ở vùng Chí Linh, khối nâng Kinh Môn - Kim Thành vào Neogen, khối hạ Nam Sách, thành phố Hải Dương trong Neogen - đệ tứ, khối hạ Bình Giang - Ninh Giang Những vùng phát triển các khối nâng, khối hạ đã gây ra nứt đất, lở đất, làm thay đổi một số lòng sông (Đức Chính, Ngọc Châu, Trại Sơn, Thượng Vũ )
2.1.5 Đặc điểm sông ngòi
Là nơi hội tụ của sông Thái Bình, sông Luộc, sông Kinh Thầy, sông Bắc Hưng Hải… tổng số có 14 sông lớn, chiều dài khoảng 500 km và trên 2.000 km sông ngòi nhỏ Các sông chảy qua địa bàn tỉnh đều theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và thuộc phần hạ lưu nên dòng sông thường rộng và không sâu, tốc độ dòng chảy chậm hơn phía thượng lưu Tổng lượng dòng các sông chảy qua tỉnh hàng năm trên 1 tỷ m3 nước
đó đem lại nguồn lợi lớn về kinh tế cho tỉnh Đảm bảo tưới tiêu cho trên 100 nghìn ha đất sản xuất nông nghiệp, ngoài ra hệ thống sông còn là đường giao thông thuỷ rất thuận tiện
- Mạng lưới sông chính: Bao gồm sông Thái Bình, sông Luộc, các sông đều chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam và phân thành nhiều nhánh, tạo thành hệ thống sông ngòi dày đặc, trong đó:
+ Sông Thái Bình được phân làm ba nhánh: Sông Kinh Thầy, sông Gùa và sông Mía Nhánh Kinh Thầy lại phân thành ba nhánh khác là Kinh Thầy, Kinh Môn và sông Rạng Các sông này đều có đặc điểm là lòng rộng, độ dốc mặt nước nhỏ, không đều và luôn biến đổi, cao độ đáy sông có nhiều đoạn đột biến nhất là ở ngã ba phân lưu, đáy sông thấp hơn nhiều so với mực nước biển trung bình
+ Sông Luộc với chiều rộng trung bình từ 150 - 250m, sâu từ 4 - 6m chảy dọc theo ranh giới phía nam của Tỉnh, dòng chảy của sông đã tạo nên nhiều bãi bồi ven sông tương đối rộng Hàng năm sông Luộc chuyển khoảng 10 - 11% lượng nước sông Hồng qua cửa Thái Bình ra biển
- Các sông nội đồng (mương cấp I): Đều chảy theo hướng nghiêng của địa hình
là Tây Bắc - Đông Nam và đều bắt nguồn từ các cống hoặc trạm bơm ở các đê, dòng chảy các sông này đều do con người chủ động Có thể phân các sông nội đồng theo hai khu vực:
+ Các sông thuộc hệ thống Bắc Hưng Hải gồm 2 trục chính là sông Kim Sơn ở phía Bắc chảy từ Xuân Quan đến Hải Dương, sông Cửu An ở phía Nam chảy từ Ngai Xuyên đến Cự Lộc
+ Các sông thuộc tả ngạn sông Thái Bình gồm phần lớn là các kênh đào từ năm
1955 trở lại đây, bắt nguồn từ các cống dưới đê hoặc các trạm bơm tiêu
Trang 142.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội:
2.2.1 Dân số và lao động:
Là một trong những tỉnh có quy mô dân số khá lớn trong vùng ĐBSH và cả nước, năm 2017 toàn Tỉnh có 1.797.228 người; mật độ dân cư cao, trung bình 1.077 người/km2 Phần lớn dân số sống ở nông thôn 1.344.323 người, chiếm 74.79% dân số, giảm 0.54% so với năm 2016 trong đó khoảng hai phần ba sinh sống dựa vào nghề nông; dân số sống ở khu vực đô thị có 452.905 người, chiếm 25,2% dân số, tập trung chủ yếu ở TP Hải Dương và TX Chí Linh
Quy mô dân số của tỉnh tăng chậm, một phần do tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm (năm 2000 là 11,01%, năm 2017 chỉ còn 7.95%), phần khác chủ yếu do giảm dân số
cơ học, hàng năm có một bộ phận dân số trong tuổi lao động di trú đến làm việc, học tập và sinh sống ở Thủ đô Hà Nội và một số thành phố lớn trong Vùng KTTĐ Bắc Bộ:
số lao động từ 15 tuổi trở lên trên địa bàn tỉnh năm 2010 là 1.041.016 người, đến năm
2017 chỉ còn 1.035.331 người trong đó số lao động trong khối ngành nông, lâm, ngư nghiệp là 309.733 người, công nghiệp và xây dựng là 410.133 người, khối ngành dịch
vụ là 292.969 người
Nguồn lao động dồi dào, tỷ lệ người trong tuổi lao động (15- 60) năm 2017 chiếm 57,65% dân số, lao động có sức khỏe, có truyền thống cần cù, hiếu học, khéo léo, tiếp thu nhanh kỹ thuật là vốn quý, lợi thế để đào tạo, huy động vào tham gia phát triển sản xuất, phát triển các ngành, lĩnh vực kinh tế, xã hội ở tỉnh
2.2.2 i o dục
Nền giáo dục hiện tại của Hải Dương được xem là một trong cái nôi đào tạo nhân tài của Việt Nam Nhiều học sinh gốc từ Hải Dương đã đạt giải cao trong các kỳ thi Olympic Quốc tế Trong kỳ thi toán Quốc tế, nổi bật như Đinh Tiến Cường huy chương vàng toán Quốc tế năm 1989 với số điểm tuyệt đối 42/42, hiện tại là giáo sư toán học tại Đại học Paris 6
Trong các kỳ thi Cao đẳng và Đại học, cũng như các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia Hải Dương luôn trong nhóm dẫn đầu của Việt Nam Trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia 2012, Hải Dương đứng thứ 5 cả nước (theo đơn vị tỉnh thành) về tổng số huy chương
Trên địa bàn Hải Dương có các trường Đại học và cao đẳng: Cao đẳng Dược Trung ương Hải Dương, Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, Đại học Sư phạm Kỹ thuật Hưng Yên - Cơ sở 3 Hải Dương, Đại học Kinh tế Quốc dân - Cơ sở Hải Dương
Đến hết năm 2017 trên địa bàn huyện có 609 trường học phổ thông trong đó có:
54 trường phổ thông trung học, 273 trường trung học cơ sở, 284 trường tiểu học và
328 trường mầm non Các cấp các ngành luôn quan tâm tới công tác đầu tư xây dựng
cơ sở vật chất cho trường học
2.2.3 t
Hiện nay, tỉnh Hải Dương có 977 cơ sở y tế trong đó có 24 bệnh viện và 5 phòng khám đa khoa, 265 trạm y tế xã, phường với tổng số 6.470 giường bệnh và 5.094 cán
bộ y tế trên toàn tỉnh, nâng tỉ lệ bác sĩ bình quân lên 0,28%
Bệnh viện và các trạm y tế xã đều được trang bị phương tiện, máy móc và cơ sở
hạ tầng đảm bảo tốt cho công tác khám và chữa bệnh cũng như khâu chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân Tỷ lệ xã phường có bác sỹ năm 2017 là 89,4% (năm 2016
là 87,5%) Công tác tuyên truyền vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng tránh các bệnh xã hội bệnh lây nhiễm cũng được đẩy mạnh đến cấp cơ sở và bước đầu có kết quả đáng
Trang 15kể: năm 2017 toàn tỉnh xảy ra 2 vụ ngộ độc thực phẩm; từ năm 2010 đến năm 2017 trên địa bàn tỉnh không có người chết do ngộ độc thực phẩm Số người nhiễm HIV năm 2017 là 72 người (giảm 37 người so với năm 2015 và giảm 11 người so với năm 2016), số người chết do AIDS là 20 người (giảm 43 người so với năm 2010)
Ở Hải Dương, có nhiều bệnh viện phục vụ nhu cầu của người dân, trong đó một
số bệnh viện lớn như: Bệnh viện Đại học Kỹ thuật Y tế Hải Dương, Bệnh viên đa khoa tỉnh Hải Dương, Bệnh viện Quân y 7, Bệnh viện Nhi Hải Dương, Bệnh viện phụ sản Hải Dương
2.2.4 Hiện trạng văn ho , xã hội
Cùng với sự phát triển về kinh tế, đời sống của người dân ngày càng được nâng cao Tính đến hết năm 2017, 100% hộ dân trong tỉnh sử dụng điện sinh hoạt, 99,7% số
hộ có nước sinh hoạt hợp vệ sinh và 98,1 số hộ có nhà tiêu hợp vệ sinh Tỷ lệ hộ nghèo năm 2017 là 3,5%, trong giai đoạn 2017 - 2020 nước ta đã áp dụng chuẩn nghèo mới theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ với
10 chỉ tiêu đánh giá toàn diện hơn về mọi mặt đời sống của người dân
Sự phát triển kinh tế và nâng cao về mức sống dân cư trên địa bàn tỉnh có thể thấy rõ nét qua mức tăng về thu nhập bình quân đầu người một tháng của Hải Dương: thu nhập bình quân đầu người một tháng toàn tỉnh năm 2017 là 3.375 nghìn đồng ( năm 2016 là 3.152 nghìn đồng ) với mức thu nhập trung bình ở thành thị là 4.099 nghìn đồng, ở nông thôn là 3.022 nghìn đồng Chênh lệch giữa nhóm thu nhập cao nhất và thấp nhất duy trì ổn định từ năm 2010 đến nay là 6,0 lần
Hệ thống thiết chế văn hoá cấp tỉnh, huyện và cơ sở xã, phường từng bước được đầu tư xây dựng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của nhân dân Thiết chế văn hoá tỉnh có Bảo tàng tỉnh, Thư viện tỉnh, Nhà Triển lãm Thông tin, Nhà Văn hoá Trung tâm tỉnh, Nhà hát nhân dân, 02 Đoàn nghệ thuật
Công tác bảo tồn, phục dựng di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, tu bổ, nâng cấp các di tích văn hoá, lịch sử được tích cực tổ chức thực hiện, toàn tỉnh có 235 di tích được xếp hạng trong đó 133 di tích được xếp hạng Quốc gia
Các hoạt động văn hoá nghệ thuật được các cấp, ngành, đơn vị tổ chức, thu hút
sự tham gia, hưởng ứng của đông đảo nhân dân Toàn tỉnh có hơn1.250 thôn, khu dân
cư văn hóa
Hệ thống phát thanh, truyền hình tỉnh được đầu tư trang thiết bị khá hiện đại, 100% số thôn, xã được phủ sóng phát thanh, truyền hình tương tự mặt đất và truyền hình số mặt đất bằng các phương thức khác nhau Tại các thị trấn, thị xã và hầu hết các
xã được xem truyền hình qua mạng viễn thông Mạng truyền hình cáp bắt đầu xây dựng tại TP Hải Dương từ năm 2003 đến nay đang mở rộng ra các thị trấn, thị xã và
về các khu vực nông thôn
2.2.5 Thực trạng và định hướng ph t triển c c ngành
2.2.5.1 Nông nghiệp:
Theo Niên giám thống kê tỉnh Hải Dương năm 2017, diện tích cây lương thực có hạt của Hải Dương là 122.316 ha, trong đó diện tích trồng lúa cả năm là 118.158 ha, diện tích ngô là 4.158 ha, diện tích cây hàng năm là 159.172 ha, diện tích cây lâu năm
là 21.715 ha Năng suất lúa trung bình cả năm 46,18 ta/ha (vụ xuân đạt 65,1 tạ/ha, vụ mùa đạt 46,18 tạ/ha) Năng suất cây hàng năm khác như: ngô đạt 56,05 tạ/ha, rau các loại đạt 223,71 tạ/ha
Trang 16+ Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm của tỉnh năm 2017 đạt 21.715 ha, trong đó, diện tích trồng cây ăn quả đạt 21.177 ha, chiếm 97,52% tổng diện tích cây lâu năm toàn tỉnh, chủ yếu tập trung ở 2 huyện Thanh Hà (6.737 ha) và TX Chí Linh (6.872 ha) Do những năm gần đây giá trị kinh tế của một số cây lâu năm như cây vải, táo, hồng đỏ… không cao nên người dân phá bỏ diện tích một số loại cây trồng trên để chuyển sang trồng các loại cây hàng năm và cây ăn quả khác cho hiệu quả kinh tế cao hơn như: Na, Thanh Long ruột đỏ, Mít, Bưởi, Cam, Ổi
Cơ cấu cây trồng tiếp tục được chuyển dịch theo hướng tích cực, những loại cây truyền thống cho hiệu quả kinh tế thấp như: đỗ, đậu tương, khoai lang, lạc, mía,… được thay thế bằng những cây dễ tiêu thụ như su hào, bắp cải, hành tỏi, cà rốt,…
Cơ cấu trà lúa, giống lúa, phương thức gieo cấy có sự chuyển dịch tích cực, diện tích lúa chất lượng cao, chống chịu bạc lá tốt tiếp tục mở rộng Sản xuất tập trung quy
mô lớn tiếp tục được duy trì và mở rộng
Các chính sách hỗ trợ phát triển giống mới tiếp tục được duy trì tạo động lực thúc đẩy sản xuất, khuyến khích nông dân mạnh dạn mở rộng diện tích cây trồng có giá trị kinh tế cao Tuy nhiên, nhiều sản phẩm sản xuất vẫn mang tính tự phát, chưa có định hướng vùng và sản phẩm, thị trường cụ thể; tiêu thụ nông sản chủ yếu qua các thương lái, ít có hợp đồng bao tiêu sản phẩm từ đầu vụ cho nông dân Ruộng đất tuy đã được dồn ô đổi thửa nhưng vẫn manh mún, phân tán gây khó khăn cho việc cơ giới hóa; tỷ trọng lao động thủ công trên đơn vị diện tích còn cao trong khi giá thuê mướn nhân công cao
2.2.5.2 Lâm nghiệp:
Năm 2107, tỉnh không có dự án trồng rừng phòng hộ, công tác chăm sóc bảo vệ rừng vẫn tiếp tục được giữ vững và phát huy Ước năm 2017 toàn tỉnh có 263 ha diện tích rừng được chăm sóc, so với năm 2016 tăng 213 ha, do toàn bộ diện tích rừng phòng hộ được trồng mới năm 2016 được chuyển sang rừng trồng được chăm sóc năm
2017 Diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh ước đạt 100 ha, do nhà nước không đầu tư kinh phí cho khoanh nuôi tái sinh rừng nên diện tích rừng được khoanh nuôi tái sinh năm 2017 không mở rộng thêm Diện tích rừng được giao khoán bảo vệ ước đạt 6.027 ha
Phong trào trồng cây phân tán của tỉnh luôn được duy trì thường niên với sự tham gia tích cực của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh Năm 2017, toàn tỉnh ước trồng được 400 ngàn cây lâm nghiệp phân tán, giảm 730 nghìn cây so với năm 2016
do quỹ đất trồng cây phân tán giảm và do năm 2016 số lượng cây trồng phân tán đã vượt kế hoạch 30,6% Các cây trồng phân tán chủ yếu là các loại cây như Keo, Hoè, Phi lao, Bạch đàn, Cây trồng phân tán được trồng trên các tuyến kênh mương, đê bao, đình, chùa, trường học và quanh nhà ở, công sở, các khu cụm công nghiệp
Đối với diện tích rừng trồng trên địa bàn thỉnh, do chưa chủ động được nguồn giống có chất lượng tốt nên việc lựa chọn bộ giống cây trồng còn đơn điệu, chủ yếu là trồng cây thông và cây keo Để chủ động đủ số lượng cây giống, UBND tỉnh đã chỉ đạo các đơn vị ươm cây giống tại xã Cộng Hòa, thị xã Chí Linh phục vụ trồng rừng và trồng cây phân tán Tổng số cây ươm giống lâm nghiệp đạt 93 ngàn cây; tăng 4,5% so với cùng kỳ năm 2017 Nguyên nhân số cây phân tán được trồng tăng là do trong năm qua, phong trào trồng cây ở Hải Dương đã được sự hưởng ứng tham gia tích cực của các cấp, các ngành và nhân dân trong tỉnh.Cây phân tán được trồng chủ yếu để tạo bóng mát và cảnh quan trong khu công nghiệp, cơ quan, trường học, ven đường, kênh mương
Trang 17Công tác chăm sóc, bảo vệ diện tích rừng hiện có và tiến hành trồng bổ sung khoanh nuôi, xúc tiến tái sinh phục hồi rừng là vấn đề quan trọng
2.2.5.3 Sản xuất thuỷ sản
Tổng sản lượng thuỷ sản năm 2017 đạt 71.368 tấn (tăng 2.295 tấn so với năm 2016); trong đó, sản lượng cá đạt 70789 tấn, sản lượng tôm đạt 85 tấn, thuỷ sản khác đạt 494 tấn Tôm và thuỷ sản khác sản lượng không đáng kể do diện tích nuôi trồng ít: tổng diện tích nuôi trồng thủy sản toàn tỉnh năm 2017 là 11.191 ha trong đó diện tích nuôi cá là 11.179 ha, diện tích nuôi tôm và các loại thủy sản khác chỉ có 12 ha Sản lượng thuỷ sản nuôi trồng năm 2017 đạt 69.659 tấn
Sản lượng thuỷ sản tăng do tăng về diện tích và năng suất nuôi trồng Hiện nay tỷ
lệ diện tích nuôi thâm canh và bán thâm canh ngày càng nhiều, các cơ sở nuôi trồng thuỷ sản đã tận dụng tối đa diện tích mặt nước, cải tạo mặt nước như nạo vét bùn, xây
bờ và đầu tư các thiết bị cho việc nuôi thả được tốt hơn Hình thức nuôi thủy sản lồng
bè phát triển mạnh, giống cá có năng suất cao được đưa vào nuôi thay thế giống cá truyền thống năng suất thấp đã góp phần làm tăng sản lượng cá
Sản lượng thủy sản khai thác năm 2017 đạt 1.709 tấn (giảm 70 tấn so với năm 2016) Hiện nay, nguồn thuỷ sản khai thác không còn dồi dào như trước do khai thác quá mức, một số mặt nước tự nhiên bị ô nhiễm, năng suất đánh bắt giảm dẫn đến sản lượng thủy sản khai thác giảm
2.2.5.4 Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp
Năm 2017, chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 10,5% so với năm trước, trong đó: công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 12,6%; cung cấp nước, xử lý nước thải, rác thải tăng 10,1%; sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng giảm 1,1%; công nghiệp khai khoáng giảm 12,7%
Ngành sản xuất kim loại, do nhu cầu thị trường tăng đi kèm với đó là việc công
ty Cổ phần thép Hòa Phát đưa vào sử dụng công nghệ lò cao khép kín, chất lượng sản phẩm được nâng cao, thị trường tiêu thụ mở rộng đã góp phần đưa sản xuất của ngành này tăng 22,8%, với các sản phẩm: sắt thép không hợp kim cán phẳng không gia công tăng 25,7%; thép hợp kim cán mỏng có chiều rộng < 600mm đã được dát, phủ, mạ hoặc tráng tăng 5,8%
Tiếp đến là ngành sản xuất các sản phẩm điện tử, thời gian trở lại đây ngành này đang có tốc độ tăng trưởng khá cao, một số công ty lớn trong ngành như: Công ty TNHH điện tử Umc Việt Nam, Công ty TNHH Aiden Việt Nam, Công ty TNHH Công nghiệp Brother Việt Nam đều có lượng sản xuất tăng Đồng thời việc thêm mới hoặc mở rộng một số dự án FDI cũng hứa hẹn thúc đẩy ngành phát triển hơn nữa Các sản phẩm có sản lượng tăng đó là: mạch điện tử tích hợp tăng 34,1%; bộ phận của các linh kiện điện tử khác chưa được phân vào đâu tăng 35,3%; máy kết hợp từ 2 chức năng trở lên: in, fax, coppy tăng 14,4%; micro và các linh kiện của chúng tăng 10,9% Cùng với đó, sản phẩm may mặc, giày dép do có ưu thế về nhân công giá rẻ, thị trường xuất khẩu ổn định đã kéo theo sản lượng sản xuất tăng, trong đó: bộ com-lê, quần áo đồng bộ, áo jacket, váy dài, váy, chân váy, quần dài, quần yếm, quần sooc cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 14,5%; áo sơ mi cho người lớn không dệt kim hoặc đan móc tăng 24,9%; áo phông (T- shirt), áo may ô và các loại áo khác tăng 28,3%; giày dép thể thao có mũ bằng da và có đế ngoài tăng 32,4%
Tương tự, các ngành như sản xuất than cốc, sản xuất sản phẩm bằng plastic, sản xuất thiết bị điện, sản xuất bộ phận và thiết bị cho xe có động cơ cũng có lượng sản
Trang 18xuất ổn định, cụ thể như: than cốc và bán cốc luyện từ than đá tăng 8,7%; bao bì đóng gói khác bằng plastic tăng 9,1%; sản phẩm bằng plastic còn lại chưa được phân vào đâu tăng 35,1%; cáp đồng trục và dây dẫn điện đồng trục khác tăng 16,2%; dây dẫn điện khác dùng cho hiệu điện thế < 1000V tăng 29,7%; bộ dây đánh lửa và bộ dây khác sử dụng cho xe có động cơ tăng 11,1%; bộ phận thiết bị điện khác dùng cho xe
có động cơ tăng 15,2%
Với nhóm các mặt hàng cơ khí, các doanh nghiệp trong ngành đại đa số là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Hiện nay, các doanh nghiệp đang có cơ hội tiếp cận với nguồn vốn vay nhờ các gói tín dụng ưu đãi dành riêng cho doanh nghiệp vừa và nhỏ Đây là một cú hích lớn giúp doanh nghiệp nhỏ và vừa vượt qua khó khăn, ổn định sản xuất, kinh doanh So với năm trước, ngành có nhiều sản phẩm có lượng sản xuất tăng như: cấu kiện kim loại tăng 15,4%; thiết bị dùng cho giàn giáo, ván khuôn vật chống tăng 12,1%; đinh, đinh mũ, ghim dập (trừ ghim dập dạng mảnh) tăng 21,8%; dịch vụ lắp đặt máy móc thiết bị công nghiệp khác chưa được phân vào đâu tăng 15,9% Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi, ngành công nghiệp tỉnh nhà vẫn còn phải đối mặt với nhiều trở ngại, thách thức Trước hết đó là giá nguyên nhiên vật liệu đầu vào tăng mà gần đây nhất là động thái tăng giá điện của EVN Cuối năm, khi doanh nghiệp phải chịu áp lực về đơn hàng và lương, thưởng thì việc tăng giá điện thời điểm này có thể sẽ ảnh hưởng bất lợi cho không ít doanh nghiệp Để thích nghi với việc tăng giá điện, không ít doanh nghiệp đã phải tính toán, cân đối lại chi phí và kế hoạch sản xuất
Bên cạnh đó, kinh tế Việt Nam tuy có phục hồi nhưng còn chậm, tính bền vững chưa cao, các ngành sản xuất tăng trưởng không đồng đều, phụ thuộc khá nhiều vào yếu tố bên ngoài Sản xuất kinh doanh và xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp nội còn nhiều vấn đề; năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh còn thấp; thiếu vốn, thiếu công nghệ và lao động có tay nghề đang là bài toán bức thiết cần giải quyết Một số thị trường xuất khẩu lớn của các doanh nghiệp trong tỉnh như Mỹ, Trung quốc, Nga không đạt được mức phục hồi như kỳ vọng Điều này ảnh hưởng khá nhiều đến hoạt động sản xuất do đây đều là những thị trường xuất khẩu chính của doanh nghiệp
Cùng với đó là việc môi trường đầu tư kinh doanh tuy đã được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều rào cản gây khó khăn cho doanh nghiệp Tình trạng tham nhũng của nhân viên trong các cơ quan nhà nước; cơ chế bảo hộ, chú trọng khu vực nhà nước; thủ tục hành chính phức tạp; chính sách thuế, chính sách một cửa quốc gia, chính sách thanh toán ngoại tệ qua internet không thống nhất… đã tác động không nhỏ tới hoạt động của doanh nghiệp
2.2.5.5 Hạ tầng kinh t - xã hội
+ Tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ tiêu dùng
Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ năm 2017 đạt 47.328 tỷ đồng, tăng 11,37% so với cùng kỳ năm trước trong đó khu vực Nhà nước là 250 tỷ đồng, giảm 1.57%; tập thể là 255 tỷ đồng, tăng 4,08%; cá thể là 30.367 tỷ đồng, tăng 13,86%;
tư nhân là 15.706 tỷ đồng, tăng 7,53%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 750 tỷ đồng, tăng 6,53%
+ Xuất, nhập khẩu hàng hoá
Trang 19Giá trị hàng hóa xuất khẩu hàng hóa năm 2017 ước đạt 5.260 triệu USD, tăng 15,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó, xuất khẩu chủ yếu từ khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài
Một số mặt hàng xuất khẩu cơ bản có giá trị tăng so với cùng kỳ năm trước: máy
vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện +23,1%; dây điện và cáp điện +20,8%; giầy dép các loại +20,0%; hàng dệt may +19,1%; đá quý, kim loại quý tăng 18,5%
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa năm 2017 ước đạt 5.010 triệu USD, tăng 15,5%
bá sản phẩm, dịch vụ tại một số hội chợ trong khu vực
Vận tải
Doanh thu vận tải, kho bãi năm 2017 đạt 7.201 tỷ đồng, tăng 10,21% so với năm 2016; trong đó, vận tải đường bộ đạt 5.007 tỷ đồng, chiếm 69.53% tổng doanh thu ngành vận tải; vận tải đường thủy đạt 1.580 tỷ đồng chiếm 21,94%; Doanh thu kho bãi năm 2017 đạt 614 tỷ đồng
Tính chung cả năm 2017 khối lượng hành khách vận chuyển đạt 27.236 nghìn lượt hành khách, so với cùng kỳ năm trước tăng 10,68%; khối lượng hành khách luân chuyển đạt 1.513 triệu hành khách.km, tăng 10,5%
Khối lượng hàng hóa vận chuyển năm 2017 ước đạt 63.077 nghìn tấn; khối lượng hàng hóa luân chuyển đạt 4.554 triệu tấn/km
Đầu tư, xây dựng
Vốn đầu tư và thu hút đầu tư
Năm 2017, vốn đầu tư phát triển trên địa bàn tỉnh theo giá hiện hành đạt 37.016
tỷ đồng, tăng 16,49% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: vốn nhà nước trên địa bàn đạt 4.684 tỷ đồng, giảm 11,27% so với cùng kỳ năm trước; vốn ngoài nhà nước đạt 21.633 tỷ đồng, tăng 15,01% so với cùng kỳ năm trước; vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 10.699 tỷ đồng, tăng 39,2% so với cùng kỳ năm trước
Thu hút vốn đầu tư trong nước tăng khá, năm 2017 đã thu hút được 49 dự án đầu
tư mới trong nước, với tổng số vốn đăng ký 2.752 tỷ đồng; điều chỉnh cho 46 dự án, với tổng vốn đầu tư tăng thêm 676 tỷ đồng Đẩy mạnh thu hút đầu tư theo hình thức PPP, từ năm 2016 đến nay, UBND tỉnh đã lựa chọn và thông báo công khai rộng rãi 20
dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, với tổng vốn đầu tư khoảng 15.011 tỷ đồng, tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giao thông với 05 dự án theo hình thức hợp đồng BT; 07 dự án theo hình thức hợp đồng BOT; 08 dự án theo hình thức hợp đồng BT kết hợp BOT
Các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài duy trì sản xuất ổn định, trên địa bàn tỉnh hiện có 357 dự án đầu tư nước ngoài, với tổng vốn đăng ký 7.192 triệu USD được cấp phép; tổng lũy kế vốn đầu tư thực hiện ước đạt 4.052 triệu USD; thu hút gần 170 nghìn lao động trực tiếp cùng hàng ngàn lao động gián tiếp khác
Trang 20Xây dựng
Giá trị sản xuất ngành xây dựng (giá 2010) ước đạt 11.165 tỷ đồng, tăng 9,6% so với năm trước Tiếp tục quy hoạch và triển khai một số dự án khu đô thị và khu dân cư, đôn đốc và đẩy nhanh tiến độ xây dựng, nghiệm thu cơ sở đối với các dự án khu dân
cư, khu đô thị Tập trung xây dựng hạ tầng KCN Cẩm Điền - Lương Điền, đôn đốc đẩy nhanh tiến độ Dự án Nhiệt điện BOT Hải Dương và một số dự án khác
Đã phối hợp với tỉnh Quảng Ninh, thành phố Hải Phòng, tỉnh Bắc Ninh lập các
dự án đầu tư về giao thông liên tỉnh như: Dự án xây dựng cầu Dinh, Dự án xây dựng tuyến đường nối đường tỉnh 398B tỉnh Hải Dương với đường tỉnh 345 tỉnh Quảng Ninh, Dự án xây dựng cầu Kênh Vàng và đường hai đầu cầu; phối hợp với một số tỉnh, thành phố tổ chức hội nghị kết nối giao thương, tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh
2.3 Đánh giá chung điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
2.3.1 Vị trí địa lý
Tỉnh Hải Dương nằm ở khu vực trung tâm của Đồng bằng sông Hồng, được xem
là tâm điểm của tam giác kinh tế Bắc Bộ (Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh), có vị trí, vai trò quan trọng về giao lưu kinh tế, thương mại và quốc phòng an ninh ở Vùng đồng bằng sông Hồng Đây là một lợi thế quan trọng của tỉnh về thị trường tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp và là điều kiện để tiếp thu các công nghệ kỹ thuật tiên tiến vào sản xuất nông nghiệp
2.3.2 Về tài nguyên thiên nhiên
- Điều kiện tự nhiên, sinh thái của tỉnh (địa hình của tỉnh khá bằng phẳng, chế độ nhiệt phong phú, vùng đồng bằng phù sa chiếm gần 89% diện tích tự nhiên của tỉnh, nhóm đất này tương đối màu mỡ, đây là một lợi thế phát triển nông nghiệp một cách toàn diện và vững chắc với nhiều loại sản phẩm phong phú như: cây lương thực, cây thực phẩm, cây công nghiệp và cây ăn quả (nhãn, vải, táo, cam, quýt, ; vùng đất đồi núi của tỉnh chiếm 11% diện tích tự nhiên của tỉnh nằm gọn ở Khu vực phía Đông Bắc của tỉnh thuộc Thị xã Chí Linh và huyện Kinh Môn - vùng đất này có thể phát triển nghề rừng, trồng cây ăn quả như dứa, vải, cam, quýt hoặc cây công nghiệp như chè, lạc, có thể phát triển chăn nuôi đại gia súc
- Nền nhiệt cao (tổng tích ôn cả năm khoảng 8.5000C), đảm bảo đủ nhiệt để gieo trồng nhiều loại cây trồng, nuôi nhiều loại vật nuôi khác nhau; có thể gieo trồng nhiều
vụ trong năm và năng suất tự nhiên cao
2.3.3 Cơ sở hạ tầng
Cơ sở hạ tầng phục vụ nông nghiệp được đầu tưu tương đối khá, đảm bảo tưới ổn định cho 95% diện tích đông xuân, 100% xã có đường ô tô đến trung tâm xã, khoảng 76% số thôn, xóm có đường ô tô vào được, 100% số hộ được sử dụng điện Hệ thống
cơ sở chế biến tương đối phát triển Đây là điều kiện thuận lợi để tổ chức sản xuất nông nghiệp hàng hoá theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên địa bàn tỉnh
2.3.4 Nguồn nhân lực
Nguồn lao động của tỉnh Hải Dương khá dồi dào, dân số trong độ tuổi lao động (15 - 60) năm 2014 có 1.074,316 nghìn người chiếm 60,93% dân số, trong đó lao động nông nghiệp 403,575 nghìn người, một bộ phận lao động ở khu vực nông thôn đã được qua đào tạo, tập huấn Hệ thống khuyến nông được tổ chức tốt từ tỉnh đến cơ sở (xã, thôn) và năng lực cán bộ khuyến nông tương đối khá Với nguồn lực của tỉnh như trên
Trang 21đủ điều kiện để đưa tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp và đẩy mạnh sản xuất hàng hoá Tỷ lệ lao động qua đào tạo ngày một tăng, đến năm 2014 tỷ lệ lao động trên địa bàn tỉnh là 45% (trong đó tỷ lệ lao động nông nghiệp qua đào tạo đạt trên 10%)
2.3.5 Những hạn ch của tỉnh Hải Dương trong ph t triển sản xuất nông nghiệp
- Tồn tại lớn nhất của sản xuất nông nghiệp tỉnh Hải Dương vẫn là nền sản xuất nhỏ lẻ, phân tán, manh mún Mặc dù, sau khi dồn ô đổi thửa, số thửa ruộng toàn tỉnh đã giảm 2,17 lần, diện tích bình quân 1 thửa tăng lên 2,1 lần, nhưng ruộng đất toàn tỉnh vẫn còn 1.370.049 thửa nằm trong 364.275 hộ nông dân, bình quân diện tích đất nông nghiệp ở Hải Dương là rất thấp khoảng 430m2/đầu người Điều này là một cản trở rất lớn trong việc tổ chức sản xuất hàng hoá tập trung, đẩy mạnh việc cơ giới hoá và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ vào sản xuất
- Quá trình công nghiệp hoá, đô thị hoá trên địa bàn tỉnh trong những năm gần đây phát triển tương đối mạnh đã làm tăng sức ép đối với quỹ đất phát triển nông nghiệp trong tương lai
- Trong những năm gần đây, hiện tượng người dân khu vực các đô thị, các khu công nghiệp không còn mặn mà với sản xuất nông nghiệp do thu nhập không cao đã dẫn đến hiện tượng bỏ hoang đất sản xuất gây ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động sản xuất nông nghiệp trên địa bàn
- Mặt trái của nền kinh tế thị trường và quá trình hiện đại hoá, công nghiệp hoá,
đô thị hoá đang tác động tiêu cực đến sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn Chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn tăng lên Vấn đề ô nhiễm môi trường không chỉ từ các khu công nghiệp, khu đô thị ảnh hưởng tới, mà ngay việc chăn nuôi, chế biến giết mổ trong khu dân cư cũng gây ô nhiễm nặng, do công tác quy hoạch nông nghiệp nói riêng và quy hoạch phát triển nông thôn nói chung còn thiếu và chưa đồng bộ Tệ nạn xã hội mới xuất hiện, lối sống hưởng thụ, ích kỷ nảy sinh, sự dịch chuyển tự phát lao động từ nông thôn tới các đô thị và các khu công nghiệp chưa được kiểm soát và định hướng, ảnh hưởng xấu tới sự ổn định xã hội nông thôn
- Hậu quả nặng nề của thiên tai, thời tiết (lũ lụt, lốc xoáy, rét đậm, sương muối, ) gây nhiều rủi ro cho sản xuất nông nghiệp và thiệt hại đối với chăn nuôi gia súc, gia cầm; một số dịch bệnh nguy hiểm xuất hiện trên gia súc, gia cầm, cây lúa, hoa màu đã gây không ít khó khăn cho sản xuất nông nghiệp
- Hải Dương là tỉnh sản xuất lúa nước 2vụ/năm, tính thời vụ của cây trồng là hạn chế lớn cho việc tổ chức vùng nguyên liệu cung cấp thường xuyên cho công nghiệp chế biến Vì vậy, công nghiệp chế biến nông sản - thực phẩm chậm phát triển, việc đầu
tư vào công nghiệp chế biến còn hạn chế, mới giới hạn ở một số lĩnh vực nhất định
như chế biến sản xuất gia vị, bánh kẹo, thịt cấp đông, rau quả (hộp, muối), sản lượng
được chế biến chiếm tỷ lệ thấp trong tổng số nông sản hàng hoá sản xuất ra
- Tuy trình độ của người lao động đã được nâng cao một bước, song nhìn chung trình độ kỹ thuật sản xuất nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hoá gắn với thị trường của người dân còn ở mức thấp Việc đưa các giống mới có năng suất cao, chất lượng tốt, các biện pháp canh tác, nuôi dưỡng tiên tiến (trồng cây trong nhà kính, nhà lưới) và biện pháp phòng trừ dịch bệnh, bảo quản sản phẩm sau thu hoạch còn hạn chế Đây là một trở ngại không nhỏ trong sản xuất nông nghiệp hàng hoá
- Kinh tế tập thể chậm phát huy hiệu quả Các HTX dịch vụ nông nghiệp còn mang tính hình thức, hầu hết còn lúng túng trong việc lựa chọn phương án kinh doanh
và cơ chế hạch toán phù hợp với yêu cầu của kinh tế hàng hoá
Trang 22- Các dịch vụ cần thiết cho sản xuất nông nghiệp hàng hoá chưa được tổ chức sắp xếp định hướng phù hợp: dịch vụ vật tư nông nghiệp, hệ thống chợ nông thôn, việc thông tin tiếp thị, xây dựng thương hiệu hàng hoá cần được quan tâm và có giải pháp hữu hiệu hơn trong giai đoạn tới
2.4 Các quá trình hình thành đất chủ đạo trên địa bàn tỉnh Hải Dương
Quá trình feralit hoá
Quá trình tích lũy tương đối Fe, Al còn gọi là quá trình Feralít Quá trình Feralít
là một quá trình phức tạp Đầu tiên các đá và khoáng, nhất là khoáng silicat, phong hóa mạnh thành các khoáng thứ sinh như sét Một phần sét lại có thể tiếp tục bị phá hủy, cho ra các ôxyt Fe, Al, Si đơn giản Đồng thời với sự phá hủy, các chất bazơ và một phần SiO2 cũng bị rửa trôi và dẫn tới tích lũy Fe(OH)3, Al(OH)3 Vì lẽ đó người ta thường dùng tỷ lệ phân tử SiO2/Al2O3, SiO2/Fe2O3và SiO2/R2O3 để đánh giá quá trình Feralit
Trị số này càng thấp thì quá trình Feralit càng mạnh Quá trình này tạo thành đất Feralít, theo V.M Fritland (1964) có những tính chất quan trọng như sau:
- Hàm lượng khoáng nguyên sinh rất thấp, trừ thạch anh và một số khoáng vật bền khác
- Giàu hydrôxýt Fe, Al, Mn, Ti Tỷ lệ SiO2/R2O3 và SiO2/Al2O3 của cấp hạt sét trong đất thấp, thường là SiO2/Al2O3 nhỏ hơn hoặc bằng 2 Trong nhiều trường hợp chứa Al di động, Kaolinít chiếm ưu thế trong cấp hạt sét và có số lượng nhiều hydroxyt Fe, Al và Ti
- Phần khoáng sét có dung tích hấp thu thấp
- Hạt kết tương đối bền
- Trong thành phần mùn axít funvíc trội hơn axít humic, chỉ số H/F < 1
Đây là quá trình rửa trôi các cation kiềm, kiềm thổ và ôxyt silic, đồng thời tích luỹ tương đối các hợp chất ôxyt sắt nhôm Các ion H+ và Al3+ cũng được tích luỹ làm đất trở nên chua Các khoáng thứ sinh chủ yếu hình thành trong quá trình feralit là các khoáng kaolinit, haloizit, gơtit, gipsit và hydroxit sắt nhôm ngậm nước Tỉ lệ SiO2/R2O3 ngày càng giảm, nói cách khác tỉ lệ này tỉ lệ nghịch với cường độ quá trình feralit
Feralit là một quá trình đặc trưng cho đất vùng đồi Quá trình feralit làm cho đất trở nên chua, độ bão hoà kiềm thấp, giàu sắt, nhôm di động Đây là quá trình chủ đạo hình thành các loại đất xám và đất phù sa có tầng biến đổi trên địa bàn tỉnh
Quá trình rửa trôi
Cùng với quá trình xói mòn, quá trình rửa trôi theo chiều sâu xảy ra khá mạnh ở Hải Dương do lượng mưa hàng năm lớn (1.600mm - 2.600mm/năm), tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Bị rửa trôi theo chiều sâu mạnh nhất là các kim loại kiềm, N, chất hữu cơ hoà tan và phần tử keo Thứ tự theo nguy cơ rửa trôi giảm dần là: C>N, K>Ca và Mg>P Ngoài sự rửa trôi các chất dinh dưỡng, còn có sự rửa trôi các loại khoáng sét trong đất dẫn đến sự giảm sút tỷ lệ sét các tầng mặt và tích luỹ sét ở các tầng sâu Quá trình rửa trôi xảy ra phổ biến ở các loại đất dốc (đất xám) và
đất đồng bằng địa hình vàn cao và cao (đất phù sa có tầng biến đổi)
Trang 23Quá trình chua hoá
Quá trình chua hoá xảy ra do rửa trôi mất các nguyên tố kiềm, kiềm thổ và tích luỹ các ion gây phản ứng chua H+, Al3+ và Fe3+ Ion H+ có hàm lượng cao trong đất chua, còn trong đất rất chua thì hàm lượng Al3+
cao hơn Quá trình này xảy ra ở hầu
hết các loại đất ở Hải Dương
Quá trình chuyển hoá tàn tích hữu cơ trong đất và quá trình hình thành mùn
Chuyển hoá tàn tích hữu cơ thành mùn thực hiện ở trong đất với sự tham gia của
vi sinh vật đất, động vật, ôxy của không khí và nước Đây là tổ hợp các quá trình phân huỷ các tàn tích hữu cơ ban đầu, tổng hợp các chất thứ sinh của huyết tương vi sinh vật
và hình thành mùn Như vậy mùn là tổ hợp động phức tạp của các hợp chất hữu cơ hình thành khi phân huỷ và mùn hoá các tàn tích hữu cơ
Quá trình glây hoá
Quá trình này hình thành chủ yếu ở đất quá ẩm thường xuyên hay từng thời kỳ như ruộng lúa nước, đất lầy thụt
Quá trình này làm cho đất có màu sắc đặc biệt: Xanh, xám xanh hay xanh lục nhạt do màu sắc những chất tạo nên bởi Fe++ kết hợp với silic, nhôm và có những vệt
rỉ sắt thường thấy theo đường rễ cây Đất glây thường bị mất cấu trúc, chặt, chứa nhiều chất độc ảnh hưởng xấu đến sinh trưởng phát triển của các loại cây Ở Hải Dương quá trình glây xảy ra phổ biến ở các loại đất thuộc nhóm đất phù sa địa hình vàn đến trũng
và nhóm đất glây
Quá trình bồi tụ phù sa, mẫu chất
Đây là quá trình lắng đọng phù sa do các hệ thống sông, suối mang tới; phân bố theo quy luật phi địa đới Đặc điểm của chúng phụ thuộc chủ yếu vào chế độ hoạt động của các hệ thống sông, suối Đây là quá trình chủ đạo hình thành các loại đất phù
sa thuộc hệ thống sông Thái Bình
Quá trình mặn hoá
Ở Hải Dương, đất mặn phát sinh do bị nước mặn xâm nhập khi thuỷ triều lên và sau đó theo nước mạch mặn ngấm vào đồng rộng Quá trình mặn hóa diễn ra chủ yếu ở đơn vị đất phù sa nhiễm mặn, điển hình
Quá trình phèn hoá
Đất phèn được hình thành do sản phẩm bồi tụ phù sa với vật liệu sinh phèn (xác sinh vật chứa lưu huỳnh: Pyrite) phát triển mạnh ở môi trường đầm mặn, khó thoát nước Xác các động thực vật đặc biệt là thảm thực vật rừng ngập mặn phổ biến là các
họ đước (Rhizophoruceae), họ bàng (Comiretaceae) chứa nhiều lưu huỳnh, trong điều kiện yếm khí thường được tích luỹ lại ở dạng H2S và FeS2, khi gặp điều kiện ôxy hoá sẽ chuyển thành sunfat sắt và axít sunfuric làm cho đất chua và chính H2SO4 lại tác động với khoáng sét tạo thành alumin sunfat tức là muối phèn Quá trình phèn hóa diễn ra chủ yếu ở các đất phù sa và glây nhiễm phèn
Trang 24Chương 3 KẾT QUẢ XÂY DỰNG BẢN ĐỒ ĐẤT NÔNG NGHIỆP TỈNH HẢI DƯƠNG
3.1 Tổng quan về phân loại đất
3.1.1 Vài nét chung về phân loại đất (PLĐ)
Hệ thống phân loại đất vừa mang cở khoa học và thực tiễn, đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng các loại bản đồ đất, xác định chính xác các tính chất đất, trên cơ sở đó đánh giá chất lượng đất đai và quy hoạch sử dụng chúng bền vững, có hiệu quả và bảo vệ môi trường sinh thái, mang tính lý luận vừa có ý nghĩa thực tiễn trong sản xuất
Hiện nay trên Thế giới tồn tại ba khuynh hướng PLĐ chính Hệ thống phân vị của chúng được thể hiện như sau:
* Hệ PLĐ của Liên Bang Nga:
Lớp (Klass) Lớp phụ (Podklass) Nhóm (Gruppa) Nhóm phụ (Podgruppa) Loại (Tip) Loại phụ (Podtip) Họ (Rod) Chủng (Vid) Biến chủng (Raznovidnost) Cấp (Razriez) Dạng (Forma)
* Hệ PLĐ của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA - Soil Taxonomy):
Bộ (Order) Bộ phụ (Suborder) Nhóm lớn (Great Group) Nhóm phụ (Subgroup) Họ (Family) Biểu loại (Serie)
ta
Những năm gần đây, việc ứng dụng hệ PLĐ của FAO-UNESCO-WRB ở VN đã trở nên khá phổ biến; trên cơ sở định lượng các chỉ tiêu về tính chất đất, đặc biệt, đối với từng Nhóm đất chính; nhằm phục vụ chiến lược sử dụng đất đai hợp lý, tạo dựng nền sản xuất nông nghiệp bền vững và bảo vệ môi trường sinh thái
Nhiều kết quả nghiên cứu và ứng dụng về PLĐ đã được tiến hành cho một số địa phương đã góp phần không nhỏ trong công tác quy hoạch cũng như định hướng xử dụng tài nguyên đất một cách hợp lý và hiệu quả
3.1.2 Tổng quan về hệ phân loại đất FAO-UNESCO-WRB:
Bản Dự thảo đầu tiên của hệ PLĐ Thế giới FAO-UNESCO được xây dựng năm
1964 (WSRR, No 12), đã xác định các Đơn vị đất chính, phác thảo Sơ đồ Hệ chú dẫn Bản đồ đất Thế giới gồm 41 Đơn vị đất Trong quá trình dự thảo Hệ Chú dẫn Bản đồ đất Thế giới, các nhà PLĐ của FAO-UNESCO đã kết hợp các phương pháp phân loại của Liên Bang Nga, Tây Âu và Mỹ Sau một thời gian dài nghiên cứu và hoàn thiện, năm 1974, FAO-UNESCO chính thức công bố Bản đồ đất Thế giới tỷ lệ 1:5.000.000 gồm 10 tập Trong đó, Tập 1 nói về Hệ chú dẫn bản đồ với các định nghĩa Tầng chẩn
Trang 25đoán (Diagnostic Horizons), Đặc tính chẩn đoán (Diagnostic Properties) và Tướng (Phases) với các chỉ tiêu được định lượng hóa Các tập khác là Bản đồ đất của các châu lục và khu vực
Đến năm 1988, sau các cuộc Hội nghị Thổ nhưỡng Quốc tế lần thứ 12 tại New Dehli (Ấn Độ) năm 1982 và lần thứ 13 tại Hamburg (CHLB Đức) năm 1986, Hệ Chú dẫn Bản đồ đất Thế giới được bổ sung, chỉnh lý và hoàn thiện, FAO-UNESCO lại ấn hành Bản đồ đất Thế giới có chỉnh lý (Revised Legend) Cho đến nay, Hệ Chú dẫn này
đã được các nhà nghiên cứu về PLĐ của các nước trên Thế giới chấp nhận và ứng dụng Với Hệ Chú dẫn này, cấp phân vị mới dừng ở 2 cấp: Cấp 1 (Nhóm đất chính - Major Soil Grouppings) và cấp 2 (Đơn vị đất - Soil Units), chỉ áp dụng được cho các bản đồ đất tỷ lệ nhỏ (1:1.000.000 và nhỏ hơn)
Đối với bản đồ có tỷ lệ lớn hơn, phải có cấp phân vị thấp hơn nữa Do đó, năm
1991, FAO đã ban hành Hướng dẫn xác định các Đơn vị đất phụ (Guidelines for Distinguishing Soil Subunits in the FAO/UNESCO/ISRIC) Theo tài liệu này, các Đơn
vị đất phụ được phân cấp định lượng và sắp xếp theo luật ưu tiên nhất định trong các Nhóm đất chính
Năm 1994, theo sáng kiến của FAO, Cơ sở tham chiếu quốc tế về Phân loại đất (IRB), do Chương trình Môi trường của Liên hiệp quốc (UNEP) tài trợ, được thành lập
và sau này là Cơ sở tham chiếu về Tài nguyên đất Thế giới (WRB) do Hội Thổ nhưỡng Quốc tế (ISSS), FAO và Trung tâm Thông tin Tư liệu đất Quốc tế (ISRIC) đảm nhận, đã phát triển và hoàn thiện hệ PLĐ của FAO và năm 1994 đã xây dựng được bản thảo (Draft) đầu tiên
Thông qua các Hội nghị Thổ nhưỡng Thế giới, hệ PLĐ của WRB ngày càng hoàn thiện và năm 1998 đã xuất bản tài liệu chính thức Cơ sở tham chiếu về Tài nguyên đất Thế giới (WRB) lưu hành trên toàn Thế giới Theo tài liệu này, đất Thế giới có 30 Nhóm đất chính
Hệ PLĐ của FAO-UNESCO-WRB mang tính định lượng (các chỉ tiêu phân cấp được định lượng hóa), song lại không bỏ qua nguồn gốc phát sinh và quá trình phát triển của lớp phủ thổ nhưỡng Hệ PLĐ của FAO chủ yếu quan tâm đến những tính chất thể hiện ở hình thái phẫu diện Nó được kết hợp hài hòa các khuynh hướng phân loại đất trên Thế giới hiện nay
Cơ sở khoa học của hệ PLĐ FAO-UNESCO-WRB dựa trên các chỉ tiêu phân cấp được định lượng chi tiết, cụ thể:
- Tầng chẩn đoán (Diagnostic Horizons)
- Đặc tính chẩn đoán (Diagnostic Properties)
- Vật liệu chẩn đoán (Diagnostic Materials)
- Tướng (Phases)
3.1.3 Quan điểm và nguyên tắc phân loại của FAO-UNESCO-WRB
3.1.3.1 Quan điểm trong phân loại của FAO-UNESCO-WR
Cơ sở tham chiếu về Tài nguyên đất Thế giới (WRB) và hệ PLĐ UNESCO-WRB không phải là sự thay thế cho hệ PLĐ của các nước mà để sử dụng làm mẫu số chung dùng trong trao đổi thông tin quốc tế Điều này có nghĩa là ở mức phân loại cấp thấp hơn có thể sử dụng cho tính đa dạng của cấp quốc gia, đồng thời ở mức phân loại thấp có thể nhấn mạnh vào những chỉ tiêu của đất quan trọng để sử dụng và cải tạo đất
Trang 26FAO-Việc phân loại đất phải được dựa trên những đặc điểm của chính bản thân đất Vì những đặc điểm này được tạo ra do tác động của các yếu tố hình thành và các quá trình hình thành đất, những biểu hiện trong đặc điểm hình thái và lý, hóa học đất đã bao hàm ý nghĩa phát sinh học
Chính vì vậy, quan điểm chính của FAO-UNESCO-WRB là “Bản thân các y u
tố và các quá trình hình thành đất không được sử d ng như tiêu chuẩn phân loại mà chỉ có những biểu hiện của chúng bằng các đặc điểm hình thái đất c thể và một số chỉ tiêu lý, hóa học mới có giá trị phân biệt”
Một số quan điểm được chú trọng xem xét là “Đất cần phải được xác định bằng
các biểu hiện hình thái hơn là bằng các số liệu phân tích" và “Các đặc tính và vật liệu chẩn đoán đất, n u có thể, cần được mô tả và xác định trên cơ sở nhận bi t thực địa, các k t quả phân tích chỉ nhằm hỗ trợ cho việc xác định loại đất" (WRB-
ISSS/FAO/ISRIC)
3.1.3.2 Nguyên tắc phân loại đất của FAO-UNESCO-WRB:
- Phân loại đất từ cấp phân vị cao xuống cấp phân vị thấp Ở mỗi cấp phân vị, các đất được sắp xếp theo nguyên tắc ưu tiên, nhằm đảm bảo một đất cụ thể chỉ được xếp vào một vị trí trong mỗi cấp phân vị mà thôi
- Việc xác định tên đất được căn cứ vào sự xuất hiện các tiêu chuẩn chẩn đoán trong vòng 0 - 125 cm của cột đất Trường hợp một phẫu diện đất có hai hoặc nhiều tầng chẩn đoán thì tầng B phía trên (trừ tầng B- Cambic) được chọn làm căn cứ phân loại
- Ở cấp phân vị thứ nhất (Nhóm đất chính - Major Soil Groupings), tên đất được xác định dựa trên những đặc trưng được tạo ra do các quá trình thổ nhưỡng cơ bản (Primary Pedogenetic Process)
- Ở cấp phân vị thứ hai (Đơn vị đất - Soil Units), tên đất được xác định dựa trên những đặc điểm đất được tạo ra do tác động của các quá trình hình thành đất thứ cấp trội (Predominant Second Soil Forming Process) Trong một số trường hợp, những đặc điểm đất nào có ảnh hưởng đáng kể đến việc sử dụng đất cũng có thể được đưa ra xem xét (WRB-ISSS/ISRIC/FAO)
- Tên đất của các cấp thấp không được trùng lặp hoặc mâu thuẫn với tên đất ở cấp cao hơn
3.2 Những nghiên cứu về đất trước đây của tỉnh Hải Dương
Nguồn tài liệu về đất chi tiết nhất đã có của tỉnh từ trước là Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Hải Dương Theo các nguồn tài liệu này, đất thuộc tỉnh Hải Dương gồm có năm nhóm đất chính và 10 loại đất sau:
3 Đất phù sa được bồi, trung tính ít chua; ký hiệu Pbe
4 Đất phù sa không được bồi, chua; ký hiệu Pc
5 Đất phù sa glây; ký hiệu Pg
Trang 2710 Đất đỏ vàng bi n đổi do trồng lúa nước; ký hiệu là FL
Ngoài ra còn nguồn tài liệu bản đồ đất miền Bắc Việt Nam 1/500.000 và nguồn tài liệu trong chương trình thực hiện đề tài chuyển đổi danh pháp tên đất VN theo FAO-UNESCO do một nhóm tác giả đã thực hiện
Tuy nhiên, các kết quả nghiên cứu trước đây chưa được đầy đủ, chi tiết và chính xác
để có thể phục vụ cho việc đánh giá chất lượng đất đai một cách toàn diện theo phương pháp tiên tiến của FAO đã và đang được áp dụng khá rộng rãi hiện nay ở nhiều địa phương nước ta cũng như trên Thế giới Do điều kiện máy móc, trang thiết bị kỹ thuật và phương pháp phân tích, các số liệu tính chất đất cũng không đạt được độ chuẩn xác cao như điều kiện hiện nay
Mặt khác việc phân loại đất trước đây chủ yếu dựa vào các yếu tố đá mẹ, đới độ cao, địa hình phân bố, hiện trạng thảm thực vật và hình thái phẫu diện mà chưa gắn kết được các loại đất với các tính chất của các loại đất Đồng thời, các tài liệu, số liệu này đến nay
đã cũ, nhiều tính chất của các loại đất đã bị thay đổi do tác động canh tác của con người, v.v Do vậy, rất khó để có thể đánh giá được chất lượng đất đai một cách chính xác phục vụ cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng hay quy hoạch sử dụng đất một cách hiệu quả
Chính vì vậy, việc tiến hành điều tra, khảo sát, đánh giá chất lượng đất chi tiết, thể hiện trên bản đồ tỷ lệ 1/50.000 cho vùng đất đã và đang sản xuất nông nghiệp là việc làm
vô cùng cần thiết Báo cáo này được tổng hợp từ báo cáo chi tiết của các huyện (ở cấp tỷ
lệ bản đồ thổ nhưỡng 1/25.000) đã được tiến hành điều tra khảo sát và đánh giá chất lượng đất cho vùng đất trồng cây NN, sau đó tổng hợp xuống cấp tỷ lệ bản đồ 1/50.000 cho toàn tỉnh
3.3 Kết quả nghiên cứu về đất trồng cây nông nghiệp tỉnh Hải Dương
3.3.1 Tài liệu p dụng và cấp phân vị trong phân loại đất
Quá trình điều tra, khảo sát, nghiên cứu các đặc điểm đất trồng cây nông nghiệp của tỉnh được tiến hành chi tiết trên từng huyện, sau đó được tổng hợp lại toàn tỉnh, trên cơ sở tuân thủ các tài liệu hướng dẫn sau:
- Chú dẫn bản đồ đất Th giới
(Legend of Soil Map of the World FAO-UNESCO 1988, 1990)
- Hướng dẫn phân chia đơn vị đất ph
(Guidelines for Distinguishing Soil Subunits in the FAO/UNESCO/ISRIC
Revised Legend FAO 1991)
- Hướng dẫn mô tả phẫu diện đất
(Guidelines for Soil Description FAO 1990)
Trang 28- Phương pháp phân tích đất
(Procedures for Soil Analysis ISRIC 1986, 1987, 1995)
(Viện Thổ nhƣỡng Nông hóa, 1998)
- Cơ sở tham chi u Tài nguyên đất Th giới
(World Reference Base for Soil Resources ISSS/ISRIC/FAO 1998)
- Bản Thuy t minh Các loại đất chính của Th giới
(Lecture Notes on the Major Soils of the World World Soil Resources
Reports No.94 FAO 2001)
- Sổ tay điều tra, phân loại đánh giá đất (Hội Khoa học đất Việt Nam, 2000)
- Quy trình đánh giá đất đai ph c v nông nghiệp - 10 TCN 343 - 98
(Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1999)
- Quy phạm điều tra lập bản đồ đất tỷ lệ lớn - 10 TCN 68 - 84
(Bộ Nông nghiệp và PTNT, 1984)
3.3.2 K t quả điều tra, phân tích mẫu đất
Trong quá trình thực hiện đề tài, căn cứ vào địa hình, địa mạo, hiện trạng sử dụng đất, diện tích phân bố các vùng sản xuất NN của tỉnh, v.v đã tiến hành điều tra lấy: + 282 phẫu diện chính có phân tích mẫu đất theo tầng phát sinh;
+ 1.123 phẫu diện chính không phân tích
Ngoài ra, để phân định ranh giới giữa các loại đất, đã tiến hành khoan 1.411 phẫu phụ bổ sung
Đã phân tích 14 chỉ tiêu lý, hóa học đất theo tầng phát sinh của 282 phẫu diện chính có phân tích Kết quả là bộ số liệu của 15.792 chỉ tiêu, trong đó bao gồm:
Trang 29STT Huyện, thị PD chính có
phân tích
PD chính không phân tích Phẫu diện Phụ
3.3.3 K t quả về phân loại và xây dựng bản đồ đất
3.3.3.1 K t quả về phân loại đất
Trong quá trình thực hiện công tác phân loại đất cho các huyện, đã sử dụng 3 cấp phân vị chủ yếu của FAO (Áp dụng theo FAO 88; WRB 98; WRB 2006 và WRB 2014), gồm:
- Nhóm đất chính (Major Soil Groupings),
- Đơn vị đất (Soil Units), và
- Đơn vị đất phụ (Soil Subunits)
Ở cấp tỷ lệ bản đồ 1/50.000 cho toàn tỉnh, căn cứ vào yêu cầu và mức độ chi tiết của bản đồ Nhóm nghiên cứu đã tổng hợp bảng phân loại và chú dẫn bản đồ thổ nhưỡng toàn tỉnh từ các bảng phân loại và chú dẫn bản đồ thổ nhưỡng của các huyện đến cấp phân vị cấp 3
Cách thể hiện tên: Tên đất được viết từ trái qua phải, từ cấp phân vị thấp đến cấp
phân vị cao, dưới dạng liên từ có gạch nối giữa cấp 3 và 2
Ví dụ: Hapli- Salic Fluvisol
Căn cứ vào các đặc tính cơ bản của từng phẫu diện, đối chiếu với các quy định, định nghĩa của FAO-UNESCO-WRB trên cơ sở chú trọng các chỉ tiêu hình thái và tính chất lý, hóa học của đất sử dụng cho công tác phân loại gồm:
- Thành phần cơ giới và sự phân bố của chúng theo độ sâu
- Độ dày tầng đất và màu sắc của tầng đất theo thang màu Munsell
- Độ sâu xuất hiện và độ dày của các tầng chẩn đoán
- Dung tích hấp thu hay khả năng trao đổi cation (CEC)
- Các cation kiềm trao đổi
Trang 302 Gleyic Fluvisols (FLgl): Các FL có đặc tính Gleyic ở 0 - 50 cm từ bề mặt
3 Dystric Fluvisols (FLdy): Các FL có BS < 50% ở 20 - 50 cm từ bề mặt
4 Eutric Fluvisols (FLeu): Các FL có BS > 50% ở 20 - 50 cm từ bề mặt
5 Thionic Fluvisols (FLtio): Các FL có tầng sulfuric hoặc vật liệu sulfidic trong vòng 100 cm
6 Cambic Fluvisols (FLcm): Các FL có tầng cambic trong vòng 100 cm
Areni-; Silti-; Hyperdystri-
3.3.3.2 Một số tầng chẩn đoán và đặc tính chẩn đoán áp d ng để phân loại đất:
Sự khác biệt về cấu tạo có thể do sự tích lũy illuvi của sét,
hoặc do sự phá hủy sét của tầng trên; có thành phần cơ giới thịt pha cát hoặc mịn hơn; phải dày hơn 1/10 độ dày của
các tầng nằm trên nó
hay mịn hơn; tầng đất dày > 30 cm; CEC < 16 meq/100g sét; ECEC < 12 meq/100g sét; khoáng có khả năng phong
Trang 31hóa < 10%; BS < 40%
pha cát; và cấu trúc đất ít nhất là phát triển trung bình và thiếu cấu trúc của đá bản địa ở ít nhất ½ thể tích tầng; và so với tầng nằm dưới, tầng cambic có chroma cao hơn, hue đỏ hơn, hoặc hàm lượng sét cao hơn Không có độ chặt dễ bể điển hình cho tầng fragic; và độ dày > 15 cm và lớp đáy của tầng ở sâu hơn hoặc bằng 25 cm từ bề mặt đất
trong phần đất mịn
sắt, mềm khi ẩm, cứng khi khô; có < 0,6% OC
giới thô; có màu nhạt khi khô và chuyển màu đậm khi ẩm
đã sảy ra đến mức hình thành các đốm lớn hoặc kết von, và sắt ở phần bên trong đốm hoặc kết von phần lớn đã bị phân
hủy; có đốm thô > 15% diện tích bề mặt, có Hue đỏ > 7,5YR và Chroma > 5; hoặc có các kết hạch phân biệt có
đường kính
> 2 cm, bên ngoài được làm giầu sắt và được gắn kết yếu
đến kết cứng, với Hue đỏ hơn hoặc Chroma mạnh hơn so với bên trong
tổng số sét < 0,1, tỷ lệ thịt/sét < 0,4 lần; có cấu trúc đa diện
hoặc hạnh nhân, bề mặt bóng, Value ≤ 5 và Chroma ≤ 4; độ
dày tầng ≥ 30 cm, chuyển lớp giữa các tầng từ từ hoặc không rõ ràng
lại khoảng 0,20% ở độ sâu 125 cm
trong nhiều năm và là bằng chứng của quá trình khử (hoặc
khử và phân ly) của Fe Đất thường có màu xám xanh
trong vòng 0 - 100 cm
Value khô không lớn hơn Value ẩm 1 đơn vị
Chroma ẩm ≥ 5