1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

ĐẶC điểm lâm SÀNG và cận lâm SÀNG của BỆNH PHỔI mô kẽ ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH

140 19 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 140
Dung lượng 2,28 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU (15)
    • 1.1. Tổng quan về bệnh phổi mô kẽ (15)
    • 1.2. Một số nghiên cứu trong và ngoài nước (36)
  • CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (39)
    • 2.1. Thiết kế nghiên cứu (39)
    • 2.2. Đối tượng nghiên cứu (39)
    • 2.3. Liệt kê và định nghĩa các biến số (41)
    • 2.4. Thu thập dữ liệu (49)
    • 2.5. Phân tích và sử lý số liệu (49)
    • 2.6. Kiểm soát sai lệch (50)
    • 2.7. Y đức (50)
  • CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (51)
    • 3.1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm BPMK (51)
    • 3.2. Đặc điểm nguyên nhân của BPMK (69)
    • 3.3. So sách các đặc điểm của nhóm BPMK và nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (71)
    • 3.4. So sách các đặc điểm của nhóm BPMK liên quan tự miễn và nhóm BPMK khác (73)
    • 3.5. Kết quả theo dõi nhóm BPMK sau xuất viện (77)
  • CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN (79)
    • 4.1. Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của BPMK (79)
    • 4.2. Nguyên nhân bệnh phổi mô kẽ (94)
    • 4.4. So sách các đặc điểm của nhóm BPMK liên quan tự miễn và nhóm BPMK khác (101)
  • KẾT LUẬN (104)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (109)

Nội dung

DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT AaDO2 Alveolar-arterial oxygen difference khuynh áp oxy phế nang mao mạch AIP Acute interstitial pneumonia viêm phổi mô kẽ cấp ANA Antinuclear antibo

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thiết kế nghiên cứu

Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu

Đối tượng nghiên cứu

Tất cả bệnh nhân nghi ngờ BPMK điều trị nội trú tại khoa Nội phổi Bệnh viện Chợ

Tất cả bệnh nhân nghi ngờ BPMK điều trị nội trú tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ

Rẫy từ ngày 09/2020 đến ngày 05/2021

Chọn mẫu thuận tiện tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu

Bệnh nhân từ 18 tuổi trở lên đang điều trị tại khoa Nội Phổi, Bệnh viện Chợ Rẫy, được nghi ngờ mắc BPMK dựa vào tiền sử bệnh, khám lâm sàng, kết quả xét nghiệm và đánh giá chức năng hô hấp, và có tổn thương mô kẽ phổi được phát hiện trên phim HRCT ngực.

Bệnh nhân không có khả năng giao tiếp, cung cấp thông tin

Viêm phổi cấp tính do virus hoặc vi khuẩn là nhóm bệnh phổ biến trong lâm sàng, có thể đi kèm với phù phổi cấp và xuất huyết phế nang Ngoài ra, hít sặc hoặc hít độc chất có thể gây tổn thương phổi lan tỏa, làm nặng tình trạng và đòi hỏi chẩn đoán cùng điều trị kịp thời để giảm biến chứng.

Bệnh nhân từ chối thăm gia nghiên cứu

Chúng tôi chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện, cỡ mẫu ước tính tối thiểu là 30

Sơ đồ 2.1 Lưu đồ nghiên cứu

Lao, Ung thư Nhiễm trùng

So sánh Đưa vào lô nghiên cứu

Làm bệnh án mẫu Mục tiêu 1

Không tìm được nguyên nhân

Lâm sàng/CLS nghi ngờ BPMK

Tất cả bệnh nhân điều trị nội trú tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ Rẫy từ 09/2020 đến 05/2021

Hội chẩn chuyên môn khoa nội phổi/ngoại lồng ngực/nội khớp/tim mạch

Mục tiêu 3 và 4 Theo dõi sau xuất viện

Liệt kê và định nghĩa các biến số

Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu

STT Biến số Loại biến Thống kê Định nghĩa giá trị DỊCH TỄ HỌC

1 Tuổi Liên tục Trung bình, độ lệch chuẩn

Năm Được tính từ ngày sinh đến thời điểm nhận vào nghiên cứu

2 Giới Nhị giá Tỷ lệ Nam,nữ

3 Nghề nghiệp Định danh Tỷ lệ Công nhân viên chức Làm nông Kinh doanh tư nhân

Giáo viên Nhân viên y tế Khác

4 Nơi cư ngụ Định danh Tỷ lệ Tên tỉnh/TP

5 Phơi nhiễm Định danh Tỷ lệ Tên yếu tố phơi nhiễm

6 Hút thuốc lá Nhị giá Tỷ lệ Có/không

7 Bệnh phổi trước đây Nhị giá Tỷ lệ Có/không

8 Tiền căn bệnh lý khác Định danh Tỷ lệ Tên bệnh

9 Tiền căn gia đình Định danh Tỷ lệ 1.Bệnh phổi

10 Tiền căn dùng thuốc Định danh Tỷ lệ Tên thuốc

11 Lý do nhập viện Định danh Tỷ lệ Lý do cụ thể

12 BMI Liên tục Định lượng

Tỷ lệ Trung bình, độ lệch chuẩn

13 Thời gian chẩn đoán Định lượng Trung bình, độ lệch chuẩn

14 Ho Nhị giá Tỷ lệ Có/không

15 Khó thở Nhị giá Tỷ lệ Có/không

16 Rale phổi Nhị giá Tỷ lệ Có/không

17 Đau hoặc sưng khớp Nhị giá Tỷ lệ Có/không

18 Sụt cân Nhị giá Tỷ lệ Có/không

19 Phát ban hoặc thay đổi ở da Nhị giá Tỷ lệ Có/không

20 Ợ nóng hoặc trào ngược Nhị giá Tỷ lệ Có/không

21 Khó nuốt Nhị giá Tỷ lệ Có/không

22 Sốt Nhị giá Tỷ lệ Có/không

23 Ngón tay dùi trống Nhị giá Tỷ lệ Có/không

24 Loét miệng Nhị giá Tỷ lệ Có/không

25 Phù chi dưới Nhị giá Tỷ lệ Có/không

26 Bầm tím Nhị giá Tỷ lệ Có/không

27 Khô mắt hoặc miệng Nhị giá Tỷ lệ Có/không

28 Ngón tay dùi trống Nhị giá Tỷ lệ Có/không

29 Đau ngực Nhị giá Tỷ lệ Có/không

30 Loét bàn tay Nhị giá Tỷ lệ Có/không

31 Nhạy cảm ánh sáng Nhị giá Tỷ lệ Có/không

32 Bệnh đồng mắc Định danh Tỷ lệ Tên bệnh

33 Công thức máu toàn phần Định lượng Trung bình, độ lệch chuẩn

34 ERS > 50 mm/1h Nhị giá Tỷ lệ Có/không

35 CRP > 10 mg/L Nhị giá Định lượng

Tỷ lệ Trung bình, độ lệch chuẩn

36 Tìm BK đàm Nhị giá Tỷ lệ Có/không

37 Cấy đàm Nhị giá Định danh

Tỷ lệ Âm tính/ dương tính

38 Cấy máu Nhị giá Định danh

Tỷ lệ Âm tính/dương tính

39 Cấy nước tiểu Định danh Tỷ lệ Tên vi trùng

40 X quang phổi Định danh Tỷ lệ 1 Tổn thương phế nang

41 Siêu âm tim đo PAPs Nhị giá

42 HRCT Định danh Tỷ lệ Mô tả tổn thương

43 Xét nghiệm HIV Nhị giá Tỷ lệ Âm tính/dương tính

44 Tự kháng thể Nhị giá Định danh

Giảm oxy máu PaO2/FiO2

46 DLCO Nhị giá Định danh Định lượng

Trung bình, độ lệch chuẩn

Nhị giá Định lượng Định lượng Định danh Định danh Trung bình, độ lệch chuẩn Trung bình, độ lệch chuẩn

2 Nhỏ hơn 0,7 Định lượng Trung bình, độ lệch chuẩn

48 BAL Nhị giá Định danh

 Nghề nghiệp: bệnh nhân được hỏi và ghi nhận tất cả nghề nghiệp trong hiện tại và quá khứ

 Sốt (theo IMCI): nhiệt độ ở nách ≥ 37,5 0 C

Khó thở là cảm giác chủ quan khó chịu khi thở và là một triệu chứng do tăng công hít thở Đánh giá tình trạng này bắt đầu bằng việc xác định đặc tính của khó thở và mức độ ảnh hưởng để xác định mức độ nghiêm trọng và lựa chọn biện pháp phù hợp.

 Khí máu động mạch: xác định loại và mức độ suy hô hấp [6] o Suy hô hấp giảm oxy dựa vào PaO2:

Đánh giá mức độ nặng của suy hô hấp dựa trên các chỉ số sinh lý: suy hô hấp tăng khi PaCO2 vượt quá 45 mmHg; suy hô hấp có thể là đơn thuần hoặc hỗn hợp khi PaCO2 tăng kèm giảm PaO2; PaO2 < 40 mmHg cho thấy suy hô hấp nặng; AaDO2 > 60 mmHg là bất thường, cho thấy khoảng cách thở giữa khí động và máu động mạch bị tăng lên; hội chứng nguy cấp hô hấp cấp được định nghĩa theo Berlin 2012 [25] và được chia làm các mức độ.

 Chỉ số khối cơ thể (BMI) kg/m 2 : phân độ dựa vào phân độ của WHO [69] o Nhẹ cân < 18,5 kg/m 2 o Bình thường 18,5 – 22,9 kg/m 2 o Thừa cân 23 – 27,5 kg/m 2 o Béo phì > 27,5 kg/m 2

 Phân độ thiếu máu: theo phân độ của WHO [68] o Nam giới:

 Thiếu máu trung bình Hb 80-109 g/l

 Thiếu máu nặng Hb < 80 g/l o Nữ giới không mang thai:

 Thiếu máu trung bình Hb 80-109 g/l

 Tăng bạch cầu ái toan [4] o < 450/àL bỡnh thường o 500 – 1500/àL tăng nhẹ o 1500 – 5000/àL tăng trung bỡnh o ≥ 5000/àL tăng nặng

 Tăng áp động mạch phổi tâm thu trên siêu âm tim [58] o Nhẹ 25- 45 mmHg o Trung bình 46-65 mmHg o Nặng > 65 mmHg

Đọc HRCT ngực: Kết quả HRCT được thực hiện và đọc bởi bác sĩ chuyên khoa chẩn đoán hình ảnh tại Bệnh viện Chợ Rẫy, sau đó được xem lại và thống nhất bởi hai bác sĩ chuyên khoa hô hấp có trên 5 năm kinh nghiệm để đảm bảo sự nhất quán và độ chính xác trong đánh giá hình ảnh.

Chẩn đoán Lao phổi được xác định khi bệnh nhân có kết quả dương tính với bất kỳ xét nghiệm AFB, PCR hoặc nuôi cấy Lao; các trường hợp này được đánh giá bởi bác sĩ chuyên khoa Lao và chẩn đoán tuân thủ theo hướng dẫn của Bộ Y tế [1].

Chẩn đoán BPMK liên quan bệnh mô liên kết được thực hiện khi bệnh nhân có bệnh mô liên kết và sự hiện diện của BPMK trên phim HRCT ngực; bệnh nhân được đánh giá bởi bác sĩ nội khoa chuyên khoa thấp khớp để xác định chẩn đoán các bệnh mô liên kết như viêm da cơ/viêm đa cơ tự miễn, lupus ban đỏ hệ thống, xơ cứng hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp, dựa trên tiêu chuẩn của American College of Rheumatology (ACR) hoặc các tiêu chuẩn cập nhật mới nhất.

Chẩn đoán HP dựa trên tiền sử tiếp xúc với bụi hữu cơ và hình ảnh HRCT điển hình, với bất kỳ sự kết hợp nào của tổn thương mờ kính, nốt trung tâm tiểu thùy, tổn thương dày vách, thể khảm và tổ ong có thể xuất hiện.

Xơ Phổi Nguyên Phát (IPF) là dạng bệnh viêm phổi kẽ phổ biến nhất và là bệnh phổi kẽ nguyên phát gặp nhiều nhất Hút thuốc là yếu tố nguy cơ đáng kể cho IPF Các triệu chứng hô hấp điển hình gồm khó thở khi gắng sức và ho khan; khám lâm sàng có thể phát hiện ran ở hít vào ở đáy phổi và đôi khi có ngón tay dùi trống Dựa theo Hướng dẫn ATS 2018 về IPF, chẩn đoán IPF được thiết lập sau khi loại trừ các BPMK có nguyên nhân và có bằng chứng biểu hiện UIP trên HRCT, hoặc có sự kết hợp giữa biểu hiện trên HRCT và bằng chứng mô học từ mẫu sinh thiết phổi Trong một số trường hợp, khi có biểu hiện nghi ngờ UIP trên HRCT nhưng chưa có sinh thiết, vẫn có thể cân nhắc chẩn đoán IPF Bệnh nhân nghi IPF nên làm theo Bảng 2.2 để được chẩn đoán Đánh giá ban đầu nên tập trung vào xác định nguyên nhân chính của BPMK; nếu chẩn đoán đặc hiệu chưa được thiết lập, cần hội chẩn đa ngành để kết hợp các biểu hiện lâm sàng, HRCT và sinh thiết phổi (nếu có) nhằm xác định hay loại trừ IPF.

Bảng 2.2 Chẩn đoán IPF dựa vào mô bệnh học và HRCT

Nghi ngờ IPF Biểu hiện mô học

UIP IPF IPF IPF (có thể)

Không chẩn đoán IPF Không xác định UIP

IPF (có thể)/không chẩn đoán IPF

 Chẩn đoán các dạng BPMK vô căn (IIP): Dựa vào hướng dẫn của ATS/ERS hướng dẫn đồng thuận đa nghành của IIP [12], [64]

 Tất cả bệnh nhân không tìm được nguyên nhân đều được hội chẩn với trưởng khoa, bác sĩ ngoại lồng ngực và bác sĩ nội khớp

 Hô hấp ký: Phân độ dựa vào tiêu chuẩn của ATS/ERS (2005)

FEV1/(F)VC > 0.70 hoặc LLN: Không có hội chứng tắc nghẽn

FEV1/(F)VC < 0.70: Có hội chứng tắc nghẽn, xác định mức độ tắc nghẽn bằng % của FEV1 so với trị số dự đoán

Bảng 2.3 Phân độ hội chứng tắc nghẽn dựa vào FEV1

% FEV 1 so với trị số dự đoán Mức độ nghẽn tắc

Bảng 2.4 Phân độ giảm DLCO theo ATS/ERS Độ nặng % DLCO so với giá trị dự đoán

Nhẹ > 60% và < LLN* hoặc > 60% và < 80%

* Giới hạn bình thường dưới sử dụng bách phân vị thứ 5 (5 th percentage) của giá trị tham khảo sử dụng

Thu thập dữ liệu

Thu thập số liệu theo bệnh án mẫu (phụ lục 1)

Trong khoảng thời gian từ ngày 03/09/2020 đến 30/05/2021, tất cả bệnh nhân nhập khoa Nội phổi Bệnh viện Chợ Rẫy có đủ tiêu chí như đã nêu sẽ được chọn vào lô nghiên cứu bằng cách phỏng vấn và hỏi bộ câu hỏi CHEST cho BPMK (phụ lục 1) Dữ liệu được ghi nhận gồm tình trạng bệnh, khám lâm sàng, các kết quả cận lâm sàng theo bệnh án mẫu, và được theo dõi cho đến khi bệnh nhân xuất viện, chuyển viện, xin về hay tử vong.

Phân tích và sử lý số liệu

 Nhập và quản lý số liệu bằng phần mềm EPIDATA 3.1; phân tích số liệu bằng phần mềm thống kê STATA 14.0

 Các biến định tính được xử lý dưới dạng tần số và tỷ lệ phần trăm

 Các biến định lượng được sử lý dưới dạng số trung bình và độ lệch chuẩn

Trong phân tích so sánh, các giá trị được xử lý như sau: với biến định tính, dùng phép kiểm chi bình phương (χ²); với biến định tính có ít nhất một giá trị kỳ vọng < 5, dùng kiểm định Fisher; với biến định lượng, dùng phép kiểm Mann-Whitney Các so sánh được xem là có ý nghĩa thống kê khi P ≤ 0,05.

Kiểm soát sai lệch

2.6.1 Kiểm soát sai lệch lựa chọn

 Định nghĩa rõ ràng đối tượng đưa vào nghiên cứu

 Chọn mẫu theo đúng tiêu chí đưa vào và loại ra

2.6.2 Kiểm soát sai lệch thông tin

 Các biến số được định nghĩa rõ ràng và đo lường được

 Thu thập thông tin theo mẫu thu thập số liệu thống nhất (phụ lục 1).

Y đức

Nghiên cứu của chúng tôi đúng theo quy định về mặt y đức, vì:

 Nghiên cứu thực hiện không ngoài mục đích phục vụ y học và khoa học

Trong quá trình tham gia nghiên cứu, bệnh nhân được giải thích rõ mục tiêu nghiên cứu và các bước thực hiện; họ được thông báo đầy đủ về các lợi ích và rủi ro liên quan để có thể đưa ra quyết định tham gia một cách tự nguyện Khi đã nắm rõ thông tin, bệnh nhân đồng ý tham gia nghiên cứu và ký vào phiếu đồng thuận nhằm xác nhận sự đồng ý của mình.

Các thông tin được thu thập dựa trên hồ sơ bệnh án của bệnh nhân Để bảo vệ thông tin bệnh nhân, các dữ liệu nghiên cứu được mã hóa, nhập vào phần mềm quản lý dữ liệu và được cất giữ trong tủ khóa.

 Nghiên cứu không căn thiệp vào quá trình chẩn đoán và điều trị của bệnh nhân mà chỉ theo dõi và ghi nhận.

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm BPMK

*Tỷ lệ BPMK nhập viện tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ Rẫy

Trong khoảng thời gian từ ngày 03/09/2020 đến ngày 30/04/2021, chúng tôi tiến hành lấy mẫu tại Khoa Nội Phổi, Bệnh viện Chợ Rẫy Có 44 ca thỏa tiêu chuẩn được đưa vào lô nghiên cứu Sau quá trình theo dõi, chúng tôi xác định được 14 ca (31,82%) có các nguyên nhân gồm: 7 ca lao, 3 ca PJP, 1 ca lao + PJP, 2 ca nhiễm trùng kéo dài và 1 ca ung thư phổi.

1 ca 30 ca được xác định là BPMK trong tổng số 3382 ca nhập khoa cùng thời gian, chiếm tỷ lệ 0,887%

Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi (n0) Nhận xét: Tuổi trung trong nghiên cứu của chúng tôi là 54,3 ± 16,66 năm, nhỏ nhất là 25 tuổi và lớn nhất là 88 tuổi

Biểu đồ 3.2 Phân bố theo giới tính (n0) Nhận xét: Trong mẫu nghiên cứu, nữ giới mắc BPMK nhiều hơn nam giới (17/13)

Tỷ lệ nam và nữ là 1:1,3

*Phân bố theo địa phương

Biểu đồ 3.3 phân bố theo nơi ở (n0) Nhận xét: trong tổng số 30 ca được nghiên cứu, có 30 ca (60,0%) đến từ các tỉnh Tây Nam Bộ gồm An Giang, Bến Tre, Cà Mau, Đồng Tháp, Kiên Giang, Long An, Tiền Giang, Trà Vinh và Vĩnh Long.

Các tỉnh Đông Nam Bộ có 8 ca (chiếm tỷ lệ 26,7%) gồm Bình Dương, Vũng Tàu,

TP HCM Trong đó TP HCM có 6 ca (chiếm tỷ lệ 20,0%)

Tây Nam Bộ Đông Nam Bộ

Miền Trung và Tây Nguyên

Các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên có 4 ca (chiếm tỷ lệ 13,3%) gồm Bình Định, Lâm Đồng, Khánh Hòa

Có 20 ca sống ở Nông thôn chiếm tỷ lệ 66,7%, 10 ca sống ở Thành thị (gồm: TP HCM, TP Bình Dương, TP Nha Trang, TP Vũng Tàu, TP Đà Lạt) chiếm tỷ lệ 33,3%

*Phân bố theo nhóm nghề nghiệp

Biểu đồ 3.4 Phân bố theo nhóm nghề nghiệp (n0) Nhận xét: Trong 30 ca của mẫu nghiên cứu, có 5 ca (chiếm tỷ lệ 16,7%) là Công

Nhân Viên Chức bao gồm các ngành nghề: công an, công nhân, kế toán, văn phòng

Có 14 ca Làm Nông (chiếm tỷ lệ 46,6%) bao gồm các ngành nghề: nông dân, ngư dân Có 2 ca Nhân Viên Y Tế (chiếm tỷ lệ 6,7%) bao gồm các ngành nghề: Y sĩ, hộ lý Có 5 ca Kinh Doanh Tư Nhân (chiếm tỷ lệ 16,7%) bao gồm các ngành nghề: Buôn bán, thợ cắt tóc Có 3 ca là hưu trí (chiếm tỷ lệ 10,0%)

Giáo ViênLàm NôngNhân Viên Y TếKinh Doanh Tư NhânHưu Trí

Bảng 3.1 Dịch tễ phơi nhiễm (n0)

Yếu tố phơi nhiễm Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Chất đốt sinh khối (biomass) 3 10,0

Nhận xét từ khảo sát trên 30 bệnh nhân cho thấy 15 trường hợp, chiếm 50%, nhận biết phơi nhiễm với ít nhất một yếu tố môi trường Có 3 bệnh nhân ghi nhận phơi nhiễm với đa yếu tố môi trường, trong khi phần còn lại ghi nhận phơi nhiễm không rõ hoặc không xác định.

Tiền căn Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

BPMK Viêm phổi COPD Lao Ung thư phổi

Tiền căn gia đình bệnh phổi 6 20,0

Hen COPD Ung thư phổi

Tiền căn gia đình bệnh khác 1 3,3

Tiền căn dùng thuốc liên quan

Nhận xét từ nghiên cứu cho thấy có 12 ca hút thuốc lá, chiếm 40,0% tổng mẫu Số gói-năm hút thuốc trung bình là 27,1 ± 14,9 gói-năm, với mức tối thiểu 4 gói-năm và tối đa 60 gói-năm Trong 12 ca này, các trường hợp hút thuốc lá hiện tại đều đã ngừng hút.

Có 24 ca có tiền căn bệnh lý khác ngoài phổi chiếm tỷ lệ 80,0% bao gồm: các bệnh tự miễn 10 ca (chiếm tỷ lệ 33,3%), tăng huyết áp 8 ca (chiếm tỷ lệ 26,7%), trào ngược dạ dày thực quản 4 ca (chiếm tỷ lệ 13,3%), bệnh tim thiếu máu cục bộ 3 ca (chiếm tỷ lệ 10,0%), tăng áp động mạch phổi 3 ca (chiếm tỷ lệ 10,0%), đái tháo đường 3 ca (chiếm tỷ lệ 10,0%), suy tim 2 ca (chiếm tỷ lệ 6,7%), thuyên tắc phổi 2 ca (chiếm tỷ lệ 6,7%), viêm gan vi rút B mạn 1 ca (chiếm tỷ lệ 3,3%), hội chứng thận hư 1 ca (chiếm tỷ lệ 3,3%), viêm xoang 1 ca (chiếm tỷ lệ 3,3%)

Trong mẫu nghiên cứu chỉ có 1 ca có tiền căn gia đình măc bệnh lý khác ngoài phổi là tăng huyết áp và đái tháo đường (chiếm tỷ lệ 3,3%)

Bảng 3.3 Lý do nhập viện (n0)

Lý do Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Nhận xét cho thấy khó thở là lý do nhập viện chiếm tỷ lệ cao nhất, 60,0% tổng số ca Tiếp theo là ho, chiếm 23,3%; trong số các ca ho có 1 trường hợp ho đàm lẫn máu, chiếm 3,3% tổng số ca.

Bảng 3.4 Thời gian chẩn đoán (n0)

Chẩn đoán Trung bình ± độ lệch chuẩn (năm)

Giá trị nhỏ nhất (ngày)

Giá trị lớn nhất (năm)

BPMK liên quan bệnh mô liên kết 2,3 ± 2,7 30 11

Nhận xét: Thời gian chẩn đoán được định nghĩa là quãng thời gian từ khi bệnh nhân bắt đầu có triệu chứng hoặc cảm thấy khó chịu đầu tiên cho tới thời điểm được chẩn đoán trong lần nhập viện này Việc xác định khoảng thời gian này giúp làm rõ tốc độ nhận diện và quá trình chẩn đoán ở lần nhập viện hiện tại, từ triệu chứng ban đầu đến chẩn đoán xác định.

Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng (n0)

Triệu chứng Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Phân độ khó thở theo mMRC (n0)

Ho 25 83,3 Đau hoặc sưng khớp 13 43,3

Phát ban hoặc thay đổi ở da 10 33,3 Ợ nóng hoặc trào ngược 9 30,0

Ngón tay dùi trống 4 13,3 Đau ngực 3 10,0

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận chỉ số khối cơ thể trung bình

Trong nghiên cứu gồm 30 mẫu, giá trị BMI trung bình là 22,7 ± 3,3 kg/m², với BMI cao nhất là 36,2 kg/m² và BMI thấp nhất là 18,7 kg/m² Tất cả 30 mẫu đều có ít nhất một triệu chứng lâm sàng được ghi nhận.

Hai bệnh nhân Lê Tuyết Ng và Đỗ Hoàng O được chẩn đoán viêm da cơ tự miễn, thể hiện bằng ban Gottron ở mặt duỗi các khớp bàn ngón tay (hình A) và ban Gottron hoại tử đóng vảy ở mặt duỗi khớp bàn ngón hai tay phải (hình B).

Tên bệnh Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Trào ngược dạ dày thực quản 11 40,7

Tăng áp động mạch phổi 7 25,9

Bệnh tim thiếu máu cục bộ 4 14,8

Thuyên tắc phổi 3 11,1 Đái tháo đường 3 11,1

Hội chứng cushing 3 11,1 Đa hồng cầu 3 11,1

Giảm 2 dòng tế bào máu 1 3,7

Nhận xét: Trong nghiên cứu có 27 bệnh nhân có bệnh đồng mắc chiếm tỷ lệ

90,0%, trong đó 10 ca có 1 bệnh đồng mắc chiếm tỷ lệ 37,0%, 17 ca có từ 2 bệnh đồng mắc trở lên chiếm 63,0%

3.1.3 Đặc điểm cận lâm sàng

Bảng 3.7 Xét nghiệm huyết đồ (n0)

Huyết đồ Trung bình ± độ lệch chuẩn

Nhận xét: Trong mẫu nghiên cứu, có 13 ca tăng số lượng bạch cầu (chiếm tỷ lệ

Trong mẫu khảo sát, có 1 ca giảm số lượng bạch cầu chiếm 3,3% Cụ thể, 5 ca tăng bạch cầu ưa toan trên 500/µL chiếm 16,7%, 3 ca tăng bạch cầu ưa toan ở mức nhẹ (500-1500/µL) chiếm 10,0%, 2 ca tăng bạch cầu ưa toan ở mức trung bình (1500-5000/µL) chiếm 6,7%, và 12 ca giảm số lượng bạch cầu lympho chiếm 40,0%.

Có 17 ca thiếu máu, chiếm 56,7% tổng số bệnh nhân được khảo sát; trong đó 8 ca (26,7%) thiếu máu nhẹ, 8 ca (26,7%) thiếu máu mức độ trung bình và 1 ca (3,3%) thiếu máu mức độ nặng Có 2 ca giảm tiểu cầu (400 × 10^3/µL), chiếm 3,3%.

Bảng 3.8 Xét nghiệm sinh hóa

Xét nghiệm Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Bảng 3.9 Kết quả xét nghiệm sinh hóa (tiếp theo)

Xét nghiệm Trung bình ± độ lệch chuẩn

Bảng 3.10 Xét nghiệm kháng thể tự miễn

Xét nghiệm Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

Nhận xét: Trong nghiên cứu của chúng tôi, không có trường hợp nào được thực hiện đầy đủ các xét nghiệm Kết quả cho thấy một giá trị bất thường có ý nghĩa mà chúng tôi ghi nhận được Ngoài ra bệnh nhân còn được làm các xét nghiệm như IgA (n=1) cho kết quả bình thường, Anti SSB (n), Anti Sm (n), Anti CCP(n).

Anti Cardiolipin IgM (n), Anti Beta 2-Glycoprotein IgM (n) đều cho kết quả âm tính

Trong nghiên cứu này, bệnh nhân được làm các xét nghiệm huyết thanh chẩn đoán gồm PCR lao (n), PCR PJP (n=6), PCR SARS-CoV-2 (n), Anti-HIV (n), CMV (n=2), EBV (n=1) và Influenza A IgM (n=7) Trong đó 1 trường hợp PCR PJP dương tính, chiếm tỷ lệ 16,7% Còn lại đều cho kết quả âm tính.

Bảng 3.11 Kết quả xét nghiệm vi sinh

Xét nghiệm Tần số (ca) Tỷ lệ

Nhận xét: Trong 30 mẫu nghiên cứu thì có 22 ca được làm AFB đàm (chiếm tỷ lệ

Đặc điểm nguyên nhân của BPMK

Bảng 3.21 Phân nhóm nguyên nhân (n0)

Nguyên nhân Tần số (ca) Tỷ lệ (%)

BPMK liên quan bệnh mô liên kết

Viêm đa cơ/viêm da cơ tự miễn

Bệnh mô liên kết hỗn hợp

BPMK có đặc điểm tự miễn 4 13,3

Viêm tiểu phế quản hô hấp-BPMK/Viêm phổi mô kẽ tróc vẩy

Bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan 1 3,3

Viêm phổi mô kẽ do thuốc 1 3,3

Chưa tìm được nguyên nhân 7 23,3

Nhận xét: Trong 30 ca được xác định là BPMK, 23 ca tìm thấy nguyên nhân, chiếm 76,7% tổng số ca Nhóm nguyên nhân có tỷ lệ cao nhất là BPMK liên quan đến bệnh mô liên kết.

13 ca chiếm tỷ lệ 43,3% Bên cạnh đó vẫn còn 7 ca chưa được tìm thấy nguyên nhân chiếm tỷ lệ 23,3%

Bảng 3.22 Liên quan dạng tổn thương HRCT và chẩn đoán nguyên nhân

Không phân loại n (%) CTD-ILD

(100) Chưa tìm được nguyên nhân

Chú thích này làm rõ các thuật ngữ viết tắt trong lĩnh vực bệnh phổi và ILD: CXĐ UIP là chưa xác định UIP; Eosinophilic ILD là bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan; Drug induced ILD là viêm phổi mô kẽ do thuốc; CHP là viêm phổi quá mẫn mạn tính (chronic hypersensitivity pneumonitis) Hiểu đúng các thuật ngữ này giúp nhận diện các dạng tổn thương phổi liên quan đến ILD và UIP, từ đó hỗ trợ chẩn đoán và quản lý điều trị hiệu quả hơn.

So sách các đặc điểm của nhóm BPMK và nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ

Bảng 3.23 Dịch tễ và tiền căn

Bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (n)

Tiền căn bệnh tự miễn n(%) 10(33,3) 2(14,3) 0,282  Tiền căn dùng thuốc liên quan BPMK n(%)

Chú thích: ** Mann Whitney,  Chi bình phương,  Fisher

Nhận xét: Nhóm BPMK gồm 30 ca, nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ

14 ca bao gồm: Lao 7 ca, PJP 3 ca, lao + PJP 1 ca, nhiễm trùng kéo dài 2 ca, ung thư phổi 1 ca

Bảng 3.24 Lâm sàng Triệu chứng BPMK (n0)

Bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (n)

Thời gian chẩn đoán (trung vị) (ngày) 365 14 0,000 **

Thời gian ho (trung vị)

Thời gian khó thở (trung vị) ngày 120 10 0,0003 ** Ợ nóng hoặc trào ngược n(%) 9(30,0) 0 0,040 

Chú thích: ** Mann Whitney,  Chi bình phương,  Fisher

Nhận xét cho thấy BMI của nhóm BPMK cao hơn so với nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (p = 0,1453) Các triệu chứng như ran phổi, khó thở, ho, đau hoặc sưng khớp, sụt cân, phát ban hoặc thay đổi ở da, loét miệng, phù chi dưới, bầm tím, khô mắt hoặc miệng, ngón tay dùi trống và loét bàn tay ở nhóm BPMK có tỷ lệ cao hơn so với nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ, với p lần lượt là 0,307; 0,364; 0,434; 0,159; 0,498; 0,282; 0,161; 0,161; 0,161; 0,290; 0,290 và 1,000 Các triệu chứng nhạy cảm ánh sáng và đau ngực có tỷ lệ thấp hơn ở nhóm BPMK so với nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ với p lần lượt 0,581; 0,647.

Bảng 3.25 Xét nghiệm Xét nghiệm BPMK (n0)

Bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (n)

Chú thích: ** Mann Whitney,  Fisher

Nhận xét cho thấy nhóm BPMK có số lượng bạch cầu và tiểu cầu thấp hơn so với nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ, với p lần lượt là 0,5793 và 0,7054 Lượng Hgb, AST và ALT của nhóm BPMK đều cao hơn so với nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ, với p lần lượt là 0,3133; 0,5525; 0,9497 Tỉ lệ giảm PaO2 ở nhóm BPMK thấp hơn nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ, với p = 0,260.

Bảng 3.26 HRCT Dạng tổn thương BPMK (n0)

Bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ (n)

Chú thích:  Chi bình phương,  Fisher

Nhận xét cho thấy tỷ lệ các dạng tổn thương khác như dãn phế quản, đông đặc, nốt-lưới, khí phế thủng, kén khí, khảm, tổ ong và chồi cây giữa hai nhóm có p lần lượt là 0,349; 0,858; 0,581; 1,000; 1,000; 0,540; 0,096 Tỷ lệ tổn thương thùy trên, thùy giữa và lan tỏa cả 3 thùy giữa hai nhóm có p lần lượt là 0,307; 0,096; 0,052.

So sách các đặc điểm của nhóm BPMK liên quan tự miễn và nhóm BPMK khác

Bảng 3.27 Dịch tễ và tiền căn

Yếu tố BPMK liên quan tự miễn (n)

Dùng thuốc liên quan BPMK n(%) 13(76,5) 4(30,8) 0,012 

Chú thích: ** Mann Whitney,  Chi bình phương,  Fisher

Theo báo cáo, nhóm BPMK liên quan tự miễn có 17 ca: 13 ca BPMK liên quan bệnh mô liên kết và 4 ca BPMK có đặc điểm tự miễn Nhóm bệnh phổi khác có tổn thương mô kẽ gồm 14 ca, bao gồm 7 ca lao, 3 ca PJP, 1 ca lao kết hợp PJP, 2 ca nhiễm trùng kéo dài và 1 ca ung thư phổi.

Nhận xét: So sánh giữa nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết và nhóm BPMK khác cho thấy tỷ lệ nam giới và tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm liên quan bệnh mô liên kết thấp hơn, nhưng các khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,785 và p = 0,547 Đồng thời, tỷ lệ có tiền căn bệnh phổi và tiền căn gia đình có bệnh phổi ở nhóm BPMK liên quan tự miễn cao hơn nhóm BPMK khác, tuy nhiên các giá trị p tương ứng là 0,259 và 0,672 không cho thấy sự khác biệt có ý nghĩa thống kê.

Triệu chứng BPMK liên quan tự miễn (n)

Thời gian chẩn đoán (trung vị) (ngày) 365 120 0,0795 **

BMI (trung bình ± độ lệch chuẩn) 21,5 22,9 0,131 **

Ho n(%) 16(94,1) 9(63,2) 0,138  Đau hoặc sưng khớp n(%) 10(58,8) 3(23,1) 0,050  Chú thích: ** Mann Whitney,  Chi bình phương,  Fisher

Nhận xét cho thấy tỷ lệ các triệu chứng như sụt cân, phát ban hoặc thay đổi ở da, ợ nóng hoặc trào ngược, khó nuốt, loét miệng, phù chi dưới, bầm tím, khô mắt hoặc miệng, đau ngực, loét bàn tay và nhạy cảm ánh sáng ở nhóm BPMK liên quan tự miễn đều cao hơn nhóm BPMK khác, với giá trị p lần lượt là 1,000; 0,440; 0,691; 0,407; 0,052; 0,355; 0,052; 0,113; 1,000; 0,492; 0,492 Ngược lại, tỷ lệ các triệu chứng như sốt và ngón tay dùi trống ở nhóm BPMK liên quan tự miễn đều thấp hơn nhóm BPMK khác, với giá trị p lần lượt là 0,628; 1,000.

Bảng 3.29 Xét nghiệm huyết đồ

Chỉ số BPMK liên quan tự miễn (n)

Nhận xét: Số lượng bạch cầu của nhóm BPMK liên quan tự miễn thấp hơn nhóm

BPMK khác với p = 0,6603, số lượng tiểu cầu, nồng độ Hgb của nhóm BPMK liên quan tự miễn đều cao hơn nhóm BPMK khác với p lần lượt là 0,8670; 0,8505

Bảng 3.30 Xét nghiệm sinh hóa

Xét nghiệm BPMK liên quan tự miễn (n)

Bảng 3.31 Khí máu động mạch

Xét nghiệm BPMK liên quan tự miễn (n)

Chú thích:  Chi bình phương,  Fisher

Dạng HRCT BPMK liên quan tự miễn (n)

Chú thích:  Chi bình phương,  Fisher

Kết quả theo dõi nhóm BPMK sau xuất viện

Biểu đồ 3.5 Theo dõi sau xuất viện Nhận xét: Trong 30 ca BPMK trong nghiên cứu của chúng tôi, có 2 ca đã tử vong trong thời gian nằm viện

Trong 28 ca còn lại có 23 ca được điều trị kháng sinh, 22 ca được điều trị corticoid,

5 ca có điều trị hydrochloroquine, 3 ca được điều trị với cyclophosphamide, 2 ca có điều trị với nintedanid

Trong 28 ca được xuất viện có 4 ca mất theo dõi (1 ca không tái khám và mất liên lạc, 3 ca không thể tái khám vì dịch covid 19) Trong 24 ca còn lại có 2 ca được theo dõi trong 2 tuần, 2 ca được theo dõi 3 tuần, 4 ca được theo dõi 1 tháng, 5 ca được theo dõi 2 tháng, 2 ca được theo dõi 3 tháng, 2 ca được theo dõi 5 tháng, 5 ca được theo dõi 6 tháng, 2 ca được theo dõi 7 tháng, trong đó 13 ca có cải thiện triệu chứng lâm sàng, 11 ca không cải thiên triệu chứng lâm sàng

Sau xuất viện có 3 ca đã tử vong (1 ca tử vong sau xuất viện 3 tuần, 1 ca tử vong sau 6 tháng, 1 ca tử vong sau 7 tháng)

BÀN LUẬN

Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của BPMK

*Tỷ lệ BPMK nhập viện tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ Rẫy

Trong 8 tháng qua, mẫu nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 30 ca BPMK được chẩn đoán trên tổng số 3382 ca nhập khoa Nội Phổi tại Bệnh viện Chợ Rẫy trong cùng thời gian, chiếm tỷ lệ 0,887%.

Tỷ lệ này cao hơn so với kết quả của tác giả Nguyễn Thị Nhân Mỹ tiến hành ở trẻ em trong 2 năm tại BVNĐ2, với 0,17%, và cũng cao hơn so với kết quả của tác giả Trần Thị Thùy Dung thực hiện ở trẻ em trong 6 năm tại BVNĐ1, với 0,07% Nghiên cứu của chúng tôi cũng cho thấy mức tỷ lệ cao hơn so với nghiên cứu tại Pháp của tác giả Duchemann.

B với 97,9/100.000 [23], hay nghiên cứu tại Hy Lạp của tác giả Karakatsani A với 17,3/100.000 [33]

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tuổi trung bình của bệnh nhân là 54,3 ± 16,66 tuổi, nhỏ nhất 25 tuổi và lớn nhất 88 tuổi Kết quả này tương tự với nghiên cứu tại miền Nam Ấn Độ của Valappil A T là 55 tuổi [65], và nghiên cứu đa trung tâm kéo dài 3 năm với 1084 bệnh nhân của Singh S thực hiện tại Ấn Độ cho thấy tuổi trung bình 55,3 tuổi [59] Tuy nhiên, trong nghiên cứu tại Ai Cập của Abouyoussef A thì có tuổi trung bình là 45,4 tuổi, thấp hơn so với nghiên cứu của chúng tôi, sự khác biệt này được cho là do tác giả lấy mẫu từ 8 tuổi trở lên, còn nghiên cứu của chúng tôi chỉ lấy mẫu từ 18 tuổi trở lên [7].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm tuổi từ 51-70 chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,0%, tiếp theo là nhóm 31-50 với 33,3%, nhóm trên 70 chiếm 16,7% và nhóm 18-30 chiếm 10,0% Kết quả này gần tương đương với nghiên cứu của Valappil A T trên 129 bệnh nhân, với tỷ lệ các nhóm tuổi lần lượt là dưới 30 5,4%, 31-50 32,6%, 51-70 47,3% và trên 70 14,6% [65].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nữ giới có xu hướng mắc bệnh cao hơn nam giới với tỷ lệ giới nữ 56,7% và tỷ lệ nam và nữ là 1/1,3 Tỷ lệ này tương tự với một số nghiên cứu thực hiện tại Ấn Độ như nghiên cứu đa trung tâm của tác giả Singh S là 53,8% [59], nghiên cứu của tác giả Dhooria S với 803 bệnh nhân cho tỷ lệ nữ là 50,2% [22], và trong nghiên cứu của tác giả Valappil A T với 129 bệnh nhân cũng cho thấy tỷ lệ giới nữ 64,3% [65] Trong nghiên cứu của tác giả Abouyoussef A với

100 bệnh nhân được thực hiện tại Ai Cập thì cũng cho thấy sự ưu thế của giới nữ mắc BPMK, nhưng tỷ lệ trong nghiên cứu này cao hơn của chúng tôi với 72% là giới nữ

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ là 1/1,3, tương tự một số nghiên cứu ở các nước Châu Á Cụ thể, nghiên cứu tiến cứu của Alhamad E H tại Ả Rập Saudi trên 330 bệnh nhân cho tỷ lệ nam/nữ 1/1,37; nghiên cứu tại Ai Cập của Ahmed S cho 1/1,39 Tuy nhiên, ở một số nghiên cứu tại Châu Âu lại cho thấy sự ưu thế của nam giới: đoàn hệ hồi cứu tại Đan Mạch do Hyldgaard C thực hiện cho tỷ lệ nam/nữ 55%–45% và tỷ lệ mắc giữa nam và nữ là 1,2/1; nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm tại Bỉ trong 4 năm trên 362 bệnh nhân do Thomeer M cho thấy tỷ lệ 1,3/1 Điều này có thể là do sự khác biệt về chủng tộc và nguyên nhân của BPMK giữa Châu Á và Châu Âu.

*Phân bố theo địa phương

Khoảng 20,0% bệnh nhân tham gia nghiên cứu cư trú tại TP Hồ Chí Minh, trong khi 80,0% đến từ các tỉnh thành khác Đáng chú ý, vùng Tây Nam Bộ chiếm tỷ lệ cao nhất với 60,0% bệnh nhân, tương tự như kết quả của Trần Thị Thùy Dung trong nghiên cứu ở trẻ em tại BV Nhi Đồng 1 (BVNĐ1), với 16,9% sống tại TP Hồ Chí Minh và 56,9% đến từ các tỉnh Tây Nam Bộ [3] Nguyên nhân có thể do đặc thù của hai bệnh viện Chợ Rẫy và BV Nhi Đồng 1 là bệnh viện tuyến cuối tiếp nhận bệnh nhân từ nhiều tỉnh thành và nhận chuyển từ tuyến trên.

Trong nghiên cứu này, phần lớn bệnh nhân sống ở vùng nông thôn (66,7%) và 33,3% sống ở thành thị Trong khi đó, một số nghiên cứu của Dhooria S tại Ấn Độ với 803 bệnh nhân cho thấy 72,5% sống ở thành thị, và nghiên cứu của Zubairi A tại Pakistan trên 744 bệnh nhân cho thấy 91,3% sống ở thành thị Sự khác biệt này có thể do mẫu số nhỏ của nghiên cứu của chúng tôi và đặc thù của Bệnh viện Chợ Rẫy là một bệnh viện tuyến cuối tập trung tiếp nhận bệnh từ các tỉnh thành, cũng như bệnh từ tuyến dưới được chuyển lên.

*Phân bố theo nhóm nghề nghiệp

Trong kết quả nghiên cứu của chúng tôi, làm nông chiếm tỷ lệ cao nhất với 46,6%; tiếp theo là công nhân viên chức và kinh doanh tư nhân, mỗi nhóm có tỷ lệ 16,7%, trong khi các ngành nghề khác chiếm 20% Kết quả này khác biệt so với nghiên cứu trước đó của tác giả Dhooria S tại Ấn Độ, theo đó làm nông chỉ chiếm 13,1% và homemaker chiếm tỷ lệ cao nhất với 40,3% [22] Sự khác biệt này có thể được giải thích do phần lớn bệnh nhân tham gia nghiên cứu của chúng tôi sống ở nông thôn (66,7%), so với 27,5% ở nghiên cứu của họ, khiến tỷ lệ làm nông của chúng tôi cao hơn.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 50,0% bệnh nhân có phơi nhiễm với các yếu tố môi trường, trong đó khói là yếu tố cao nhất (20,0%), tiếp theo là thuốc trừ sâu (13,3%), hóa chất (13,3%), chất đốt sinh khối (biomass) (10,0%), nấm (3,3%) và chim (3,3%) Nghiên cứu của Valappil A T tại Ấn Độ cho thấy phơi nhiễm ưu thế ở chất đốt sinh khối (biomass) 18,6%, khói 17,8%, thuốc trừ sâu 3,1%, chim 2,32%, hóa chất 0,77% [65] Ngược lại, nghiên cứu của Alhamad E tại Ả Rập Saudi cho thấy tỷ lệ phơi nhiễm thấp hơn, với chim chiếm 2,1%, thuốc trừ sâu 0,9%, hóa chất và máy tạo ẩm 0,3% [10]; sự khác biệt này có thể được giải thích bởi sự khác nhau về cấu trúc nghề nghiệp, tập quán văn hóa sản xuất và khí hậu môi trường.

Tiền căn hút thuốc lá chiếm tỷ lệ cao nhất trong nghiên cứu của chúng tôi, ở mức 40,0% Kết quả này gần tương đương với nghiên cứu của Valappil A T tại Ấn Độ, cho thấy 32,5% người có tiền căn hút thuốc Một số nghiên cứu khác được thực hiện tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ hút thuốc lá thấp hơn kết quả của chúng tôi, như Singh S với 22,0% và Dhooria S với 13,7%.

Sự khác biệt này có thể bắt nguồn từ cách mẫu nghiên cứu ở Ấn Độ: họ lấy mẫu từ độ tuổi 12 trở lên thay vì 18 tuổi như chúng tôi Sự khác biệt về tỷ lệ hút thuốc lá giữa hai nước có thể phản ánh sự khác nhau về độ tuổi mẫu và cấu trúc dân số, dù chưa có thống kê cụ thể về tỷ lệ hút thuốc lá ở Việt Nam Tuy nhiên, các chỉ số tử vong do thuốc lá của Việt Nam cao hơn Ấn Độ, cho thấy gánh nặng bệnh tật từ thuốc lá tại Việt Nam lớn hơn.

Tiếp theo là tiền sử bệnh lý phổi chiếm 36,7% gồm BPMK (16,7%), viêm phổi (13,3%), COPD (3,3%), ung thư phổi và lao phổi cùng chiếm 3,3% Tuy nhiên, một số nghiên cứu tại Ấn Độ cho thấy tỷ lệ tiền sử mắc bệnh lao cao hơn so với kết quả của chúng tôi, như Singh S (16,2%), Dhooria S (18,4%), và Valappil A T (11,6%) Nguyên nhân có thể là tỷ lệ mắc lao của Ấn Độ cao hơn Việt Nam theo dữ liệu World Bank và có thể do kích thước mẫu nhỏ của nghiên cứu này.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, tiền căn của một số bệnh lý ngoài phổi được ghi nhận, trong đó các bệnh lý mô liên kết chiếm tỷ lệ cao nhất (33,3%), tăng huyết áp 26,7%, và trào ngược dạ dày thực quản 13,3% Nghiên cứu của tác giả Abouyoussef A tại Ai Cập cho thấy trào ngược dạ dày thực quản cao hơn so với chúng tôi ở 58,0%, bệnh mạch máu mô liên kết thấp hơn ở 10,0%, và viêm gan virus C mạn là 4,0% [7].

Nguyên nhân bệnh phổi mô kẽ

Trong 30 ca được xác định là BPMK Thông qua nghiên cứu chúng tôi đã xác định được 6 nhóm nguyên nhân chiếm tỷ lệ 76,7% bao gồm BPMK liên quan bệnh mô liên kết (43,3%), BPMK có đặc điểm tự miễn (IPAF) (13,3%), viêm phổi quá mẫn (10,0%), viêm tiểu phế quản hô hấp-BPMK/viêm phổi mô kẽ tróc vẫy (3,3%), bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan (3,3%) và viêm phổi mô kẽ do thuốc (3,3%) Trong đó chiếm tỷ lệ cao nhất là BPMK liên quan bệnh mô liên kết với 43,3%.trong nghiên cứu tiến cứu đa trung tâm tại Ấn Độ của tác giả Singh S thì họ tìm được 18 nhóm nguyên nhân [59] Trong nghiên cứu hồi cứu với 1945 bệnh nhân của tác giả Guo B tại Trung Quốc thì họ tìm thấy 17 nhóm nguyên nhân [28] Còn tại Châu Âu trong nghiên cứu hồi cứu với 431 bệnh nhân tại Đan Mạch họ tìm thấy được 12 nhóm nguyên nhân [29] Sự khác biệt này có thể do số mẫu và thời gian nghiên cứu chúng tôi nhỏ hơn so với các nghiên cứu trên

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 23,3% trường hợp chưa xác định được nguyên nhân, thấp hơn 49,8% ở nghiên cứu trên trẻ em của Nguyễn Thị Nhân Mỹ và gần tương đương với 21,5% của Trần Thị Thùy Dung; tuy nhiên mức này vẫn cao hơn so với các nghiên cứu ở châu Âu và Ấn Độ, cụ thể 8,5% của Karakatsani A ở Hy Lạp, 9,0% của Thomer M J ở Bỉ, và 0,2% của Singh S cùng 0,9% của Dhooria S tại Ấn Độ Nguyên nhân có thể là do nghiên cứu của chúng tôi chưa thực hiện đầy đủ các xét nghiệm cần thiết để tìm ra nguyên nhân bệnh, do yếu tố chủ quan như sự đồng ý của bệnh nhân và người thân, cũng như các yếu tố khách quan như tình trạng bệnh nhân và thiếu thiết bị.

Trong nghiên cứu của chúng tôi, không phát hiện xơ phổi nguyên phát, mặc dù đây là bệnh lý quan trọng trong nhóm BPMK Tuy nhiên, tổng thể các nghiên cứu trên thế giới cho thấy xơ phổi nguyên phát chiếm một tỷ lệ đáng kể trong nhóm BPMK Nhiều nghiên cứu đến từ Châu Á, điển hình như nghiên cứu tại Ấn Độ của tác giả Singh S với 13,7% [59], hoặc tác giả Guo B thực hiện tại Trung Quốc với 20,3%.

Ở một số nước châu Âu, các nghiên cứu cho thấy xơ phổi nguyên phát là bệnh có tỷ lệ cao nhất trong nhóm các bệnh phổi, với mức dao động từ 19,8% đến 38,6% được ghi nhận trong các nghiên cứu tại Bỉ và các nước châu Âu khác Những dữ liệu này cho thấy xơ phổi nguyên phát chiếm tỷ lệ đáng kể trong các ca bệnh phổi ở khu vực này, dù tỉ lệ có thể dao động giữa các nghiên cứu do khác biệt về phương pháp chẩn đoán, tiêu chuẩn phân loại và mẫu đối tượng nghiên cứu.

Dữ liệu cho thấy xơ phổi nguyên phát (IPF) tại Đức đứng thứ hai với tỷ lệ 32,5% (nguồn 55), so với các ghi nhận từ Tây Ban Nha và Italia Điều này có thể một phần do thời gian nghiên cứu tương đối ngắn và mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ so với các nghiên cứu khác, và cũng có thể do tỷ lệ áp dụng chẩn đoán bằng mô bệnh học trong nghiên cứu của chúng tôi còn ở mức thấp.

*BPMK liên quan mô liên kết

Trong nghiên cứu của chúng tôi, BPMK liên quan bệnh mô liên kết chiếm tỷ lệ cao nhất với 43,3%, mức này vượt xa các nghiên cứu khác, đặc biệt ở Ấn Độ với tỷ lệ từ 12,7% đến 34,9% [22, 59, 65] Ngược lại, dữ liệu từ Châu Âu cho thấy BPMK liên quan bệnh mô liên kết có tỷ lệ thấp hơn, với các nghiên cứu ở Đức, Bỉ và Tây Ban Nha dao động từ 1,8% đến 10,0% [55].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết bao gồm các bệnh sau: viêm đa cơ/viêm da cơ tự miễn (13,3%), lupus ban đỏ hệ thống (13,3%), xơ cứng hệ thống (10,0%) và bệnh mô liên kết hỗn hợp (6,7%) Theo nghiên cứu của Guo B., tỷ lệ cao nhất trong nhóm BPMK liên quan mô liên kết là viêm khớp dạng thấp (6,0%), tiếp theo là viêm da cơ tự miễn (4,6%), hội chứng Sjögren (2,6%), xơ cứng hệ thống (2,5%), viêm mạch máu tự miễn (1,7%), bệnh mô liên kết hỗn hợp (0,8%) và lupus ban đỏ hệ thống (0,2%) [28] Nhìn chung, tỷ lệ các bệnh tự miễn ở đây thấp hơn so với kết quả của chúng tôi và một số bệnh tự miễn như viêm khớp dạng thấp, hội chứng Sjögren và viêm mạch máu tự miễn không được ghi nhận trong nghiên cứu của chúng tôi Ngược lại, theo Valappil A T., bệnh tự miễn chiếm tỷ lệ cao nhất là viêm khớp dạng thấp 14,7%, xơ cứng hệ thống 10,9%, hội chứng Sjögren, lupus ban đỏ hệ thống và bệnh mô liên kết hỗn hợp cùng chiếm 2,3%, và viêm khớp dạng thấp cộng với xơ cứng hệ thống và viêm da cơ/viêm đa cơ tự miễn cùng 0,77% [65] Sự khác biệt này có thể do khác biệt về chủng tộc cũng như quy mô mẫu nhỏ giữa các nghiên cứu.

*BPMK có đặc điểm tự miễn

Trong nghiên cứu của chúng tôi, 13,3% BPMK có đặc điểm tự miễn, cho thấy sự ảnh hưởng của việc áp dụng hướng dẫn ATS/ERS 2018 Điều này khác với nhiều nghiên cứu tại Ấn Độ chưa áp dụng các tiêu chuẩn này để chẩn đoán những bệnh nhân có đặc điểm tự miễn trên lâm sàng và cận lâm sàng mà không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán một bệnh tự miễn cụ thể nào.

Trong một nghiên cứu hồi cứu với 1945 bệnh nhân của tác giả Guo B., BPMK có đặc điểm tự miễn cao hơn của chúng tôi với 17,9% [28] Khác biệt này có thể do thời gian nghiên cứu và mẫu nghiên cứu của chúng tôi nhỏ hơn nhiều so với nghiên cứu trên, và nghiên cứu của họ áp dụng nhiều xét nghiệm chẩn đoán hơn chúng tôi [26].

Trong nghiên cứu của chúng tôi, viêm phổi quá mẫn ghi nhận ở 10,0% trường hợp và xếp vị trí thứ ba trong các nguyên nhân BPMK Ở Ấn Độ, viêm phổi quá mẫn được coi là bệnh lý quan trọng và phổ biến, với tỉ lệ lên tới 47,3% theo nghiên cứu của Singh S [59] Ngược lại, tại Trung Quốc do Gou B báo cáo, viêm phổi quá mẫn chiếm 3,0% [28] Ở châu Âu, mức độ dao động tùy quốc gia, ví dụ Hy Lạp là 2,6% theo Karakatsani A [33], Đức 12,7% và Bỉ 12,0% theo các nghiên cứu [55][63] Sự khác biệt này có thể do khác biệt về kích thước mẫu và cũng phụ thuộc vào môi trường, điều kiện kinh tế - xã hội của từng nước.

*Viêm tiểu phế quản hô hấp-BPMK/Viêm phổi mô kẽ tróc vẫy

Trong nghiên cứu của chúng tôi, ghi nhận một trường hợp (3,3%) viêm tiểu phế quản hô hấp-BPMK/viêm phổi mô kẽ tróc vẫy Tỷ lệ này cao hơn các tác giả tại Ấn Độ, như Dhooria S với 0,5% [22] và Singh S với 0,3% [59], nhưng thấp hơn nghiên cứu của Hyldhaard C thực hiện tại Đan Mạch với 5% [29] Nguyên nhân có thể là khác nhau về tỷ lệ hút thuốc lá giữa các nghiên cứu.

*Bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận tỷ lệ 3,3% bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan Tỷ lệ này cho thấy sự xuất hiện của căn bệnh này trong mẫu nghiên cứu của chúng tôi Tuy nhiên, tỷ lệ bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan thấp trong nhiều nghiên cứu khác nhau và đa số đều thấp hơn tỷ lệ của chúng tôi, như nghiên cứu tại Đan Mạch của Hyldgaard.

C là 1,0% [29], tác giả Karakatsani A tại Hy Lạp là 2,2% [33], tác giả Singh S tại Ấn Độ là 0,3% [59]

*Viêm phổi mô kẽ do thuốc

Trong nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận 1 ca viêm phổi mô kẽ (3,3%) liên quan đến osimertinib ở một bệnh nhân ung thư phổi; osimertinib là một thuốc ức chế tyrosine kinase (TKI) và đã có nhiều báo cáo về viêm phổi mô kẽ ở bệnh nhân dùng Osimertinib, tiêu biểu là tác giả Matsumoto Y tại Nhật Bản [43] và của các tác giả khác.

Ở Hoa Kỳ, Lu H và các nghiên cứu cho thấy viêm phổi mô kẽ do thuốc thường có tỷ lệ thấp Cụ thể, các ước tính từ các tác giả cho thấy Singh S 0,3%; Hyldgaard C 5%; và Karakatsani A 1,8%.

* Liên quan chẩn đoán và dạng tổn thương HRCT

Trong nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết của chúng tôi, 30,8% trường hợp là tổn thương dạng UIP, 23,1% là dạng NSIP kết hợp OP, còn OP, NSIP và dạng không phân loại được đều chiếm 15,4% Trong nghiên cứu của Singh S., 31,8% là UIP, 54,3% là NSIP, 4% là OP, 7,9% là dạng chưa xác định UIP; các dạng như HP, LIP, loạn sừng bẩm sinh với BPMK chiếm 0,7% [59].

Trong nhóm BPMK có đặc điểm tự miễn của chúng tôi có 75,0% là dạng UIP, 25% còn lại là dạng không phân loại được

So sách các đặc điểm của nhóm BPMK liên quan tự miễn và nhóm BPMK khác

Trong phân tích này, tuổi trung vị của nhóm BPMK liên quan tự miễn thấp hơn nhóm BPMK khác và sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê (p = 0,0012) Tỷ lệ nam giới trong nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết thấp hơn nhóm BPMK khác, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,785).

Trong nhóm BPMK liên quan tự miễn, tiền căn bệnh về phổi và tiền căn gia đình có bệnh về phổi cao hơn so với nhóm BPMK khác nhưng không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,259; p = 0,672) Tuy nhiên, tỷ lệ có tiền căn bệnh tự miễn và tỷ lệ dùng thuốc liên quan BPMK ở nhóm BPMK liên quan tự miễn cao hơn so với nhóm BPMK khác và được xem là có ý nghĩa thống kê (p = 0,001; p = 0,012) Tỷ lệ hút thuốc lá ở nhóm BPMK liên quan tự miễn thấp hơn so với nhóm BPMK khác nhưng sự khác biệt này không đạt ý nghĩa thống kê (p = 0,547).

Về triệu chứng lâm sàng, thời gian chẩn đoán của nhóm BPMK liên quan tự miễn dài hơn nhóm BPMK khác, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê (p = 0,0795) BMI của nhóm BPMK liên quan tự miễn thấp hơn nhóm BPMK khác, nhưng cũng không có ý nghĩa thống kê (p = 0,131).

Trong nhóm BPMK liên quan tự miễn, tỷ lệ các triệu chứng như ran phổi, ho, sụt cân, phát ban hoặc thay đổi ở da, ợ nóng hoặc trào ngược, khó nuốt, loét miệng, phù chi dưới, bầm tím, khô mắt hoặc miệng, đau ngực, loét bàn tay và nhạy cảm ánh sáng đều cao hơn so với nhóm BPMK khác; tuy nhiên các khác biệt này đều không đạt ý nghĩa thống kê với các p-value tương ứng là 1,000; 0,138; 1,000; 0,440; 0,691; 0,407; 0,052; 0,355; 0,052; 0,113; 1,000; 0,492; 0,492 Tuy vậy, tỷ lệ đau hoặc sưng khớp ở nhóm BPMK liên quan tự miễn cao hơn nhóm BPMK khác và có ý nghĩa thống kê với p = 0,050 Đối với các triệu chứng như khó thở, sốt và ngón tay dùi trống, tỷ lệ ở nhóm liên quan tự miễn thấp hơn nhóm đối chứng nhưng không đạt ý nghĩa thống kê với các p-value lần lượt là 1,000; 0,628; 1,000.

Ở mức cận lâm sàng huyết học, số lượng bạch cầu, tiểu cầu và nồng độ Hb giữa hai nhóm không có ý nghĩa thống kê (p = 0,6603; p = 0,8670; p = 0,8505) Tuy nhiên, số lượng lympho ở nhóm BPMK liên quan tự miễn thấp hơn so với nhóm BPMK khác và có ý nghĩa thống kê (p = 0,0180) Nguyên nhân có thể là giảm lympho do các bệnh lý tự miễn, đồng thời do sử dụng thuốc độc tế bào và corticoid, tỉ lệ dùng các thuốc này cao hơn ở nhóm BPMK liên quan tự miễn so với nhóm BPMK khác.

Tỷ số neutrophil–lymphocyte (NLR) ở nhóm BPMK liên quan tự miễn cao hơn nhóm BPMK khác và đạt ý nghĩa thống kê với p = 0,0311 Các nghiên cứu khác cũng cho thấy sự tăng NLR đáng kể ở các bệnh lý tự miễn; ví dụ, phân tích gộp của Wang L cho thấy NLR tăng 1,43 lần ở người mắc lupus ban đỏ hệ thống so với người bình thường [67], và nghiên cứu hồi cứu của Ruta cũng ghi nhận sự gia tăng NLR liên quan đến các bệnh tự miễn.

V M cũng cho thấy NLR cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết so với nhóm khỏe mạnh nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê giữa nhóm BPMK liên quan bệnh mô liên kết và nhóm xơ phổi nguyên phát [53]

Kết quả các xét nghiệm sinh hóa như CRP, AST, ALT của nhóm BPMK liên quan tự miễn đều cao hơn không có ý nghĩa thống kê so với nhóm BPMK khác với p lần lượt 0,9475; 0,2672; 0,1067

Về khí máu động mạch thì tỷ lệ giảm PaO2 < 80 mmHg, tỷ lệ ARDS và tỷ lệ tổn thương màng phế nang mao mạch của nhóm BPMK liên quan tự miễn đều thấp hơn nhóm BPMK khác nhưng đều không có ý nghĩa thống kê với p lần lượt 0,119; 0,219; 1,000

Về HRCT, các dạng UIP, probable UIP, NSIP + OP, NSIP và OP ở nhóm BPMK liên quan tự miễn chiếm tỉ lệ cao hơn nhóm BPMK khác, nhưng sự khác biệt này không có ý nghĩa thống kê với các giá trị p lần lượt là 0,092; 0,613; 1,000 và 0,492 Ngược lại, các dạng chưa xác định (UIP, RB-ILD/DIP, CHP và không phân loại được) ở nhóm BPMK liên quan tự miễn có tỉ lệ thấp hơn so với nhóm BPMK khác, nhưng các giá trị p tương ứng vẫn không đạt ý nghĩa thống kê với 0,070; 0,433; 0,433 và 0,242. -**Support Pollinations.AI:** -🌸 **Ad** 🌸Powered by Pollinations.AI free text APIs [Support our mission](https://pollinations.ai/redirect/kofi) to keep AI accessible for everyone.

Ngày đăng: 18/03/2022, 08:11

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
12. American Thoracic Society/European Respiratory Society, (2002), "American Thoracic Society", American Journal of Respiratory and Critical Care Medicine, 165 (2), pp. 277-304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: American Thoracic Society
Tác giả: American Thoracic Society/European Respiratory Society
Năm: 2002
13. American Thoracic Society/European Respiratory Society, (2002), "International multidisciplinary consensus classification of the idiopathic interstitial pneumonias", Am J Respir Crit Care Med, 165 pp. 277-304 Sách, tạp chí
Tiêu đề: International multidisciplinary consensus classification of the idiopathic interstitial pneumonias
Tác giả: American Thoracic Society/European Respiratory Society
Năm: 2002
27. Flaherty K R, King Jr T E, Raghu G, Lynch III J P, et al, (2004), "Idiopathic interstitial pneumonia: what is the effect of a multidisciplinary approach to diagnosis?", American journal of respiratory and critical care medicine, 170 (8), pp. 904-910 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Idiopathic interstitial pneumonia: what is the effect of a multidisciplinary approach to diagnosis
Tác giả: Flaherty K R, King Jr T E, Raghu G, Lynch III J P, et al
Năm: 2004
37. Kropski J A, Pritchett J M, Mason W R, Sivarajan L, et al, (2013), "Bronchoscopic cryobiopsy for the diagnosis of diffuse parenchymal lung disease", PloS one, 8 (11), pp. e78674 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bronchoscopic cryobiopsy for the diagnosis of diffuse parenchymal lung disease
Tác giả: Kropski J A, Pritchett J M, Mason W R, Sivarajan L, et al
Năm: 2013
38. Kundu S, Mitra S, Ganguly J, Mukherjee S, et al, (2014), "Spectrum of diffuse parenchymal lung diseases with special reference to idiopathic pulmonary fibrosis and connective tissue disease: An eastern India experience", Lung India, 31 (4), pp. 354-360 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Spectrum of diffuse parenchymal lung diseases with special reference to idiopathic pulmonary fibrosis and connective tissue disease: An eastern India experience
Tác giả: Kundu S, Mitra S, Ganguly J, Mukherjee S, et al
Năm: 2014
49. Pan L, Liu Y, Sun R, Fan M, et al, (2013), "Comparison of characteristics of connective tissue disease-associated interstitial lung diseases, undifferentiated connective tissue disease-associated interstitial lung diseases, and idiopathic pulmonary fibrosis in Chinese Han population: a retrospective study", Clinical and Developmental Immunology Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of characteristics of connective tissue disease-associated interstitial lung diseases, undifferentiated connective tissue disease-associated interstitial lung diseases, and idiopathic pulmonary fibrosis in Chinese Han population: a retrospective study
Tác giả: Pan L, Liu Y, Sun R, Fan M, et al
Năm: 2013
50. Raghu G, Collard H R, Egan J J, Martinez F J, et al, (2011), "An official ATS/ERS/JRS/ALAT statement: idiopathic pulmonary fibrosis: evidence- based guidelines for diagnosis and management", American journal of respiratory and critical care medicine, 183 (6), pp. 788-824 Sách, tạp chí
Tiêu đề: An official ATS/ERS/JRS/ALAT statement: idiopathic pulmonary fibrosis: evidence-based guidelines for diagnosis and management
Tác giả: Raghu G, Collard H R, Egan J J, Martinez F J, et al
Năm: 2011
61. Tan E M, Cohen A S, Fries J F, Masi A T, et al, (1982), "The 1982 revised criteria for the classification of systemic lupus erythematosus", Arthritis &amp Sách, tạp chí
Tiêu đề: The 1982 revised criteria for the classification of systemic lupus erythematosus
Tác giả: Tan E M, Cohen A S, Fries J F, Masi A T, et al
Năm: 1982
62. Thomeer M, Costabel U, Rizzato G, Poletti V, et al, (2001), "Comparison of registries of interstitial lung diseases in three European countries", European Respiratory Journal, 18 (32 suppl), pp. 114s-118s Sách, tạp chí
Tiêu đề: Comparison of registries of interstitial lung diseases in three European countries
Tác giả: Thomeer M, Costabel U, Rizzato G, Poletti V, et al
Năm: 2001
71. Zubairi A, Ansarie M, (2020), "National Registry of Interstitial Lung Disease from Pakistan", Chest, 158 (4), pp. A2616 Sách, tạp chí
Tiêu đề: National Registry of Interstitial Lung Disease from Pakistan
Tác giả: Zubairi A, Ansarie M
Năm: 2020
26. Fischer A, Antoniou K M, Brown K K, Cadranel J, et al, (2015), "An official European Respiratory Society/American Thoracic Society research statement Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w