DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮTAIP Acute interstitial pneumonia viêm phổi mô kẽ cấp Anti-GMB Antiglomerular basement membrane kháng thể kháng màng đáy cầu thận ARDS Acute respirator
Trang 1-K’ BRIL
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
CỦA BỆNH PHỔI MÔ KẼ NHẬP VIỆN
KHOA NỘI PHỔI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
LUẬN VĂN THẠC SĨ Y HỌC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH - NĂM 2021
Trang 2-K’ BRIL
ĐẶC ĐIỂM LÂM SÀNG VÀ CẬN LÂM SÀNG
CỦA BỆNH PHỔI MÔ KẼ NHẬP VIỆN
KHOA NỘI PHỔI BỆNH VIỆN CHỢ RẪY
CHUYÊN NGÀNH: NỘI KHOA
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiêncứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng đượccông bố ở bất kỳ nơi nào
Tác giả luận văn
Ký tên
K’ Bril
Trang 4DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
AIP Acute interstitial pneumonia viêm phổi mô kẽ cấp
Anti-GMB Antiglomerular basement
membrane
kháng thể kháng màng đáy cầu thận
ARDS Acute respiratory distress
syndrome hội chứng nguy kịch hô hấp cấpATS/ERC American Thoracic
Society/European Respiratory Society
Hội lồng ngực Hoa Kỳ/Hội
hô hấp Châu Âu
BAL Bronchoalveolar lavage dịch rửa phế quản phế nangBOOP Bronchiolitis obliterans with
organizing pneumonia viêm tiểu phế quản tắc nghẽntổ chức hóa
pneumonia
viêm phổi tổ chức hóa vô căn
CTD Connective tissue disease bệnh liên quan mô liên kếtCVD-PF Collagen vascular disease
associated pulmonary fibrosis
bệnh mạch máu mô liên kết liên quan xơ phổi
ERS Erythrocyte sedimentation
DIP Desquamative interstitial
DLCO Diffusing capacity for carbon
monoxide khả năng khuếch tán khí carbon monoxide qua màng
phế nang mao mạchFEV1 Forced expiratory volume in thể tích thở gắng sức trong
Trang 5one second một giâyFiO2 Fraction of inspired oxygen tỷ lệ oxy trong khí hít vàoFVC Forced vital capacity dung tích sống gắng sứcGERD Gastroesophageal reflux
disease
bệnh trào ngược dạ dày thực quản
granulomatosis hội chứng Goodpasture hay u hạt
HP Hypersensitivity pneumonitis viêm phổi quá mẫn
HRCT High resolution computed
tomography
chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
IIP Idiopathic interstitial
pneumonia
viêm phổi mô kẽ vô căn
ILD Interstitial lung disease bệnh phổi mô kẽ
IPAF Interstitial pneumonia with
autoimmune features
bệnh phổi mô kẽ có đặc điểm
tự miễnIPF Idiopathic pulmonary fibrosis xơ hóa phổi nguyên phát
granulomatosis bệnh mô bào LangerhansLIP Lymphoid interstitial
MCTD Mixed connective tissue
disease
bệnh mô liên kết hỗn hợp
NSIP Nonspecific interstitial
pneumonia viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu
RB-ILD Respiratory bronchiolitis and
interstitial lung disease viêm phế quản hô hấp-bệnh phổi mô kẽ
TBLB Transbronchial lung biopsy sinh thiết phổi xuyên phế
quản
cryobiopsy sinh thiết phổi áp lạnh xuyênthànhTBNA Transbronchial needle
aspiration chọc hút bằng kim xuyên phếquản
UIP Usual interstitial pneumonia viêm phổi mô kẽ thông
thườngVATS Video-assisted thoracoscopic
biopsy nội soi sinh thiết trung thất, lồng ngực có hỗ trợ bằng
videoWHO World health organization Tổ chức Y tế Thế Giới
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 1.1 Hình ảnh tổn thương trên X quang ngực gợi ý nguyên nhân BPMK 1
Bảng 1.2 Những tiêu chí cần thiết và quan trọng khi thực hiện HRCT 1
Bảng 1.3 Đề xuất bộ xét nghiệm huyết thanh trong đánh giá bệnh nhân BPMK 1
Bảng 2.1 Biến số nghiên cứu 1
Bảng 2.2 Chẩn đoán IPF dựa vào mô bệnh học và HRCT 1
Bảng 2.3 Phân độ hội chứng tắc nghẽn dựa vào FEV1 1
Bảng 2.4 Phân độ hội chứng hạn chế dựa vào FVC (hoặc VC) 1
Bảng 2.5 Phân độ giảm DLCO theo ATS/ERS 1
Bảng 3.1 Dịch tễ phơi nhiễm 1
Bảng 3.2 Tiền căn 1
Bảng 3.3 Lý do nhập viện 1
Bảng 3.4 Thời gian chẩn đoán 1
Bảng 3.5 Triệu chứng lâm sàng 1
Bảng 3.6 Bệnh đồng mắc 1
Bảng 3.7 Xét nghiệm huyết đồ 1
Bảng 3.8 Xét nghiệm sinh hóa 1
Bảng 3.9 Kết quả xét nghiệm sinh hóa (tiếp theo) 1
Bảng 3.10 Xét nghiệm kháng thể tự miễn 1
Bảng 3.11 Kết quả xét nghiệm vi sinh 1
Bảng 3.12 Kết quả khí máu động mạch 1
Bảng 3.13 khí máu động mạch (tiếp theo) 1
Trang 8Bảng 3.14 Kết quả xét nghiệm tế bào BAL 1
Bảng 3.15 Hình ảnh tổn thương trên X quang ngực thẳng 1
Bảng 3.16 Hình ảnh tổn trên HRCT ngực 1
Bảng 3.17 Hình ảnh tổn thương khác trên HRCT 1
Bảng 3.18 Các dạng tổn thương trên HRCT ngực 1
Bảng 3.19 Kết quả hô hấp ký 1
Bảng 3.20 Kết quả DLCO 1
Bảng 3.21 Phân nhóm nguyên nhân 1
Bảng 3.22 Liên quan dạng tổn thương HRCT và chẩn đoán nguyên nhân BPMK 1
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
SƠ
Sơ đồ 1.1 Phân loại bệnh phổi mô kẽ theo ATS/ERS 1
Sơ đồ 1.2 Lưu đồ chẩn đoán BPMK 1
Sơ đồ 3.1 Lưu đồ theo dõi sau xuất viện 1
BIỂU ĐỒY Biểu đồ 1.1 So sánh chẩn đoán cuối cùng và tỉ lệ không dùng thuốc giữa chẩn đoán trước và sau khi có thảo luận đa chuyên ngành 1
Biểu đồ 3.1 Phân bố theo nhóm tuổi 1
Biểu đồ 3.2 Phân bố theo giới tính 1
Biểu đồ 3.3 Phân bố theo nơi ở 1
Biểu đồ 3.4 Phân bố theo nhóm nghề nghiệp 1
HÌN Hình 1.1 Cơ chế sinh lý bệnh của BPMK 1
Hình 3.1 Ban Gottron 1
Hình 3.2 Hình ảnh học của BPMK trên bệnh nhân thăm gia nghiên cứu 1
Trang 10MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ, HÌNH
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
CÂU HỎI NGHIÊN CỨU MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1
1.1 Tổng quan về bệnh phổi mô kẽ 1
1.2 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước 1
CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 1
2.1 Thiết kế nghiên cứu 1
2.2 Đối tượng nghiên cứu 1
2.3 Liệt kê và định nghĩa các biến số 1
2.4 Thu thập dữ liệu 1
2.5 Phân tích và sử lý số liệu 1
2.6 Kiểm soát sai lệch 1
2.7 Y đức 1
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 1
3.1 Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng và cận lâm sàng của nhóm BPMK 1
3.2 Đặc điểm nguyên nhân của BPMK 1
3.3 Kết quả theo dõi nhóm BPMK sau xuất viện 1
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN 1
4.1 Đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của BPMK 1
4.2 Nguyên nhân bệnh phổi mô kẽ 1
KẾT LUẬN 1
HẠN CHẾ 1
KIẾN NGHỊ 1
Trang 11TÀI LIỆU THAM KHẢO 1
PHỤ LỤC 1: PHIẾU THU THẬP SỐ LIỆU VÀ BẢNG CÂU HỎI CHEST CHOBỆNH PHỔI MÔ KẼ
BỆNH ÁN MẪU MỘT CA BỆNH PHỔI MÔ KẼ
DANH SÁCH BỆNH NHÂN THAM GIA NGHIÊN CỨU
TỜ ĐỒNG THUẬN ĐẠO ĐỨC Y HỌC TRONG NGHIÊN CỨU
Trang 12Một số dạng BPMK có nguy cơ phát triển thành dạng xơ hóa phổi tiến triển, làmsuy giảm chức năng phổi, giảm chất lượng cuộc sống và tử vong sớm [19], nhưdạng xơ phổi nguyên phát (IPF) thì thời gian sống còn trung vị là 3 năm [37].
Trên thế giới số ca mắc và tử vong có xu hướng tăng, theo báo cáo của cơ quannghiên cứu gánh nặng bệnh tật toàn cầu năm 2019 có khoảng 24,9 triệu ca mắc,tăng 118,6% so với năm 1990 và khoảng 169.833 ca tử vong, tăng 166,6% so vớinăm 1990 [41]
Ngày nay dù có nhiều tiến bộ trong xét nghiệm chẩn đoán, các nghiên cứu ápdụng các xét nghiệm như sinh thiết phổi, giúp chẩn đoán xác định bệnh chính xáchơn nhưng việc chẩn đoán BPMK vẫn còn gặp nhiều khó khăn do không thườnggặp, phân loại phức tạp với hơn 200 thực thể bệnh khác nhau [30], triệu chứngkhông đặc hiệu, phần lớn không có tiêu chuẩn chẩn đoán nên rất dễ bị bỏ sót vànhầm lẫn với các bệnh lý khác Theo nghiên cứu tại Paris (Pháp) vào năm 2012 có17% không xác định được nguyên nhân [23], tại Thổ Nhĩ Kỳ 24% không xác địnhđược nguyên nhân [46], Hy Lạp thì có 8,5% không xác định được nguyên nhân[32]
Tại Việt Nam gần đây nhờ sự phát triển của các phương tiện chẩn đoán như chụpcắt lớp vi tính độ phân giải cao (HRCT), các bộ kháng thể mới cũng như các thuốcmới trong điều trị xơ phổi nguyên phát và BPMK xơ hóa tiến triển nên BPMK ngàycàng được quan tâm hơn Tại Việt Nam có hai nghiên cứu được thực hiện ở trẻ em,gồm một của tác giả Nguyễn Thị Nhân Mỹ năm 2014 [5], và một của tác giả Trần
Trang 13Thị Thùy Dung năm 2016 [3] Tuy nhiên, BPMK ở người lớn và trẻ em có sự khácbiệt lớn về thuật ngữ, phân loại và điều trị nhìn chung là do BPMK trẻ em xảy rakhi phổi đang phát triển, nên có sự khác biệt về đáp ứng của hệ thống kháng thể,cytokine, và các yếu tố phát triển, khác biệt về tổn thương mô học trên cùng mộtnguyên nhân gây bệnh, một số dạng BPMK chỉ có ở trẻ em và BPMK ở trẻ em làbệnh hiếm [54].
Trước những thách thức trong chẩn đoán, xác định nguyên nhân của BPMK cũngnhư mức độ quan tâm ngày càng lớn cho nhóm bệnh này ở nước ta câu hỏi đặt ra là:
“đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của BPMK ở người trưởng thành tại Việt Namhiện nay như thế nào?” Do đó chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mô tả những đặcđiểm lâm sàng, cận lâm sàng và cung cấp một cái nhìn tổng quan hơn về bệnh phổi
mô kẽ tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ Rẫy
Trang 14CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh phổi mô kẽ tại khoa Nội Phổi Bệnhviện Chợ Rẫy như thế nào?
Trang 15MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
MỤC TIÊU TỔNG QUÁT
Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân được chẩn đoán bệnh phổi
mô kẽ tại khoa Nội phổi bệnh viện Chợ Rẫy từ 09/2020 đến 05/2021
MỤC TIÊU CỤ THỂ
1 Xác định đặc điểm dịch tễ, lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh phổi mô kẽ
2 Xác định nguyên nhân và tỷ lệ của các loại bệnh phổi mô kẽ
Trang 16CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 Tổng quan về bệnh phổi mô kẽ
1.1.1 Lược sử về bệnh phổi mô kẽ [55].
Những năm cuối thế kỷ 18, tác giả Bennardino R C mô tả một bệnh xảy ra ởnhững người có các triệu chứng mạn tính như ho khan, sụt cân, khó thở, mất nướctrong học thuyết “bệnh ở người làm bốc vác xây dựng, đo lường” Đây là lần đầuBPMK và các biến chứng được đề cập và mô tả
Trong thế kỷ 19, có những bước tiến lớn trong quá trình tìm hiểu về BPMK Mộtvài nhà lâm sàng cùng mô tả một bệnh phổi khó phân loại, đặt tên là bệnh phổi mạn,
và đưa ra một số triệu chứng liên quan đến bệnh như ngón tay dùi trống, tím Trên
mô học ghi nhận có sự xơ hóa, dày thành phế nang Cuối thế kỷ 19, bác sĩ AverillLiebow đặt tên các thuật ngữ y học mới liên quan đến BPMK là viêm phổi kẽthường (UIP), viêm phổi mô kẽ cấp tính (AIP), viêm tiểu phế quản tắc nghẽn kèmviêm phổi tổ chức hóa (BOOP), viêm phổi kẽ Lympho bào (LIP) Hội lồng ngực
Mỹ và Hội hô hấp Châu Âu (ATS/ERS) đưa ra thuật ngữ bệnh phổi kẽ lan tỏa, dựatrên mô học và chụp cộng hưởng từ
Ngày nay các nghiên cứu về bệnh phổi mô kẽ áp dụng nhiều xét nghiệm như sinhthiết phổi, xét nghiệm dịch rửa phế quản phế nang (BAL), xét nghiệm đo khả năngkhuếch tán khí CO qua màng phế nang mao mạch (DLCO), cũng như áp dụng hộichẩn đa chuyên ngành (MDD) giúp chẩn đoán bệnh chính xác hơn Nhiều nghiêncứu hiện nay chủ yếu tập trung vào tác nhân gây bệnh và điều trị bệnh bằng cácthuốc mới
1.1.2 Định nghĩa bệnh phổi mô kẽ
Bệnh phổi mô kẽ là một nhóm các rối loạn không đồng nhất, đặc trưng bệnh lýbởi sự xâm nhập vào tổ chức kẽ phổi của các tế bào, chất lỏng, và/hoặc mô liên kết[45] Bệnh phổi mô kẽ còn được gọi là bệnh nhu mô phổi lan tỏa gồm để chỉ các tổnthương của đường thở, nhu mô phổi, mạch máu và màng phổi [69]
Trang 17Dựa vào thời gian biểu hiện bệnh có thể chia BPMK ra làm 4 nhóm:
Cấp tính (vài ngày đến vài tuần), bất thường thường xảy ra với quá mẫn(hypersensitive) (thuốc, nấm, giun sán), viêm phổi kẽ cấp tính (AIP), viêm phổităng bạch cầu ái toan và viêm phổi quá mẫn (HP) Những yếu tố này có thể bị nhầmlẫn với viêm phổi không điển hình do các hình mờ phế nang lan tỏa trên X quangngực
Bán cấp tính (subacute: vài tuần đến vài tháng) có thể xảy ra ở tất cả các BPMKnhưng được thấy đặc biệt ở bệnh sarcoidosis, BPMK do thuốc, hội chứng xuấthuyết phế nang, viêm phổi tổ chức hóa vô căn (COP) và viêm phổi miễn dịch cấptính là biến chứng của Lupus đỏ hệ thống (SLE) hay viêm đa cơ
Mạn tính (vài tháng đến nhiều năm) bao gồm: IPF, sarcoidosis, bệnh mô bàoLangerhans phổi (PLCH: còn được gọi là u hạt tế bào Langerhans, u hạt bạch cầu áitoan, hoặc bệnh mô bào X), bệnh bụi phổi và bệnh mô liên kết (CTD)
Xuất hiện bất thường từng hồi bao gồm bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan, viêmphổi quá mẫn, COP, viêm mạch, xuất huyết phế nang và hội chứng Churg-Strauss[24]
1.1.3 Dịch tễ học
Tỷ lệ mắc bệnh phổi mô kẽ thay đổi giữa các quốc gia và châu lục như ở TâyBan Nha tỷ lệ mắc là 7,6/100.000/năm [34], Thổ Nhĩ Kỳ cho tỷ lệ mắc là25,8/100.000 [46], ở Mỹ rất khó xác định, nhiều người suy đoán rằng tỷ lệ lưu hành
là đáng kể hơn nhiều so với mô tả trước đây, lý do mà tỷ lệ lưu hành báo cáo có thểrất thấp là do không nhận ra bệnh, BPMK là một chẩn đoán loại trừ cần nhiều xétnghiệm để chẩn đoán và loại trừ Hiện tại, các hướng dẫn và phân loại mới đã giúpviệc chẩn đoán dễ dàng hơn Tỷ lệ mắc ước tính là 30/100.000/năm, tỷ lệ lưu hànhchung là 80,9/100.000/năm ở nam và 67,2/100.000/năm ở nữ, những thống kê nàybắt nguồn từ một trong những nghiên cứu dịch tễ học quan trọng nhất, được thựchiện tại Hạt Bernalillo, bang New Mexico, Hoa Kỳ [20]
Trang 181.1.3.1 Tuổi
Lão hóa có liên quan đến một loạt các thay đổi sinh học Mặc dù BPMK có thểảnh hưởng đến cả người trẻ và người già, lão hóa là một yếu tố nguy cơ đáng kể đốivới bệnh xơ phổi xơ phổi nguyên phát (IPF) là một bệnh phổi kẽ có liên quan đặcbiệt đến sự gia tăng tuổi, bệnh thường biểu hiện ở tuổi 60 đến 70 tuổi [39]
1.1.3.4 Yếu tố gia đình
Các bệnh nhân BPMK được di truyền những mô kẽ phổi xuất phát từ việc truyềnđột biến gen từ cha mẹ hoặc tổ tiên, tiền sử y khoa của gia đình trong quá khứ cungcấp manh mối thiết yếu về bản chất chính xác của BPMK [21], ví dụ như xơ phổigia đình có liên quan đến đột biến gen surfartant protein C và được đặc trưng bởimột số mô hình viêm phổi mô kẽ, bao gồm viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu, viêmphổi mô kẽ tróc vẩy và viêm phổi mô kẽ thường [24]
1.1.3.5 Hút thuốc lá
Khoảng 60-75% bệnh nhân mắc IPF có tiền sử hút thuốc Bệnh mô bàoLangerhan (PLCH), viêm phổi mô kẽ tróc vẩy (DIP), hội chứng Goodpasture, bệnhtích protein phế nang hầu như luôn luôn là những người đã từng hoặc đang hútthuốc [24]
Trang 191.1.3.6 Tiền sử môi trường và nghề nghiệp
Trong viêm phổi quá mẫn các triệu chứng hô hấp, sốt, ớn lạnh và hình ảnh siêu
âm ngực bất thường thường liên quan đến một sở thích (bệnh người nuôi chim bồcâu) hoặc tại nơi làm việc (phổi nhà nông) Các triệu chứng có thể giảm hoặc biếnmất sau khi bệnh nhân rời khỏi vị trí tiếp xúc trong vài ngày, tương tự, các triệuchứng có thể xuất hiện trở lại khi trở lại vị trí phơi nhiễm [24]
1.1.4 Sinh bệnh học [33], [47]
BPMK không phải là một bệnh mà là một nhóm các rối loạn, hầu hết chúng cùngchia sẽ chung sự tái cấu trúc đường thở dẫn đến suy giảm sự trao đổi khí, trước đây,việc tái cấu trúc được nghĩ là do viêm mạn tính, tuy nhiên, những mô hình gần đâychỉ ra tổn thương mô với việc chữa lành tổn thương bất thường, thường dẫn đến xơhóa sợi Việc chữa lành tổn thương và xơ hóa rất phức tạp, bao gồm nhiều quá trình
tế bào và con đường phân tử (ví dụ: sự kết dính của tế bào, di trú, tăng sinh, chếttheo lập trình, các phân tử sinh học ngoại bào (ECM) và tái lập trình kiểu hình) Nhiều dạng BPMK theo sau một vài dạng tổn thương đường dẫn khí nhỏ, nhưsau tình trạng nhiễm virus hay tiếp xúc với bụi hữu cơ, đưa đến tổn thương tế bàobiểu mô và lớp nội mạc của màng cơ bản Trên mô hình xơ hóa bằng bleomycine ởđộng vật, mô hình biến dị rối loạn chức năng của surfactant thì sự chết theo chươngtrình của tế bào biểu mô phế nang được coi là chìa khóa của tổn thương phổi trongBPMK
Nguyên bào sợi đóng vai trò quan trọng trong cấu trúc phổi, đặc trưng bằng sựtăng sản quá mức và sinh ra lượng lớn chất cơ bản như collagen Nguyên bào sợicũng ảnh hưởng đến sự tái cấu trúc thông qua việc sản xuất men protease và chất ứcchế các cytokine và chemokine
Hiện tượng viêm xuất hiện trong hầu hết các thể lâm sàng của BPMK và ngượclại, nhiều dạng BPMK cũng khởi đầu bằng các hiện tượng viêm như nhiễm trùnghay quá mẫn Neutrophil và Lymphocyte hiện diện hằng định trong mẫu dịch rửaphế quản của bệnh nhân BPMK Các chất trung gian phóng thích bởi các tế bào
Trang 20viêm, đặc biệt là interleukin-1 và chất chuyển dạng tăng trưởng β (T cell factor βcatenin – TGF-β), có khả năng làm trung gian kích hoạt tình trạng tái cấu trúc củanguyên bào sợi Hầu hết các loại tế bào viêm, bao gồm Eosinophil và tế bào Mast
có khả năng tác động phối hợp với nguyên bào sợi và các tế bào nhu mô khác Tuynhiên, hiện tượng viêm tại phổi không nhất thiết sẽ đưa đến hậu quả tái cấu trúc sợi.Mặt khác, sự xơ hóa có thể xảy ra mà không kèm hiện tượng viêm Do đó, hiệntượng viêm hiện hữu một cách hằng định nhưng không đóng vai trò trung tâm trongtái cấu trúc sợi tại phổi
Sự chuyển đổi của sự tái cấu trúc mô sợi bao gồm một chuỗi các trình tự gồm sự
bẻ gãy các chất nền và sửa chữa, sự tái biểu mô hóa và sự chết theo chương trìnhcủa nguyên bào sợi và các tế bào viêm
Tái cấu trúc ở đường dẫn khí xa đưa đến sự thiếu oxy Thiếu oxy kéo dài sẽ dẫntới tái cấu trúc mạch và làm tăng áp động mạch phổi, hậu quả là tâm phế mạn Tăngcông thở do giảm sức đàn hồi là tăng tiêu hao năng lượng, kèm theo tác động củachất trung gian của phản ứng viêm, làm cơ thể bị suy mòn Giai đoạn cuối của bệnh
lý là sự thay thế các phần vách phế nang bằng mô sợi giữa các khoang khí, hay còngọi là sự thay đổi tổ ong hóa
Xơ hóa và hư hại tái tạo biểu mô Tổn thương và
hoạt hóa biểu mô
Tổn thương
TB biểu mô chết theo chương trình Yếu tố mô
PAI-1, 2 Cục máu đông
Mất cân bằng MMPs/TIMPs
Hình thành mạch máu Hình thành ổ
nguyên bào sợi Phá vỡ màng đáy
Di trú và tăng sinh
nguyên bào sợi
Trang 21Hình 1.1 Cơ chế sinh lý bệnh của BPMK [24]
1.1.5 Nguyên nhân [13]
1.1.5.1 Nguyên nhân xác định được
Thuốc (ví dụ: bleomycin, amiodarone, nitrofurantoin, methotrexate)
Bệnh mô liên kết (ví dụ: viêm khớp dạng thấp, xơ cứng bì, viêm đa cơ / viêm
da cơ)
Bệnh bụi phổi (ví dụ: bệnh bụi phổi của thợ mỏ than, bệnh bụi phổi silic, bệnhbụi phổi amiăng)
Sự bức xạ
Ung thư biểu mô tế bào lympho
1.1.5.2 Viêm phổi mô kẽ vô căn
Viêm phổi mô kẽ thường (UIP)
Viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP)
Viêm phổi mô kẽ tróc vẩy (DIP)
Viêm tiểu phế quản hô hấp-bệnh phổi mô kẽ (RB-ILD)
Viêm phổi tổ chức hóa vô căn (COP)
Viêm phổi mô kẽ tế bào lympho
Viêm phổi mô kẽ cấp tính (AIP)
1.1.5.3 Bệnh phổi mô kẽ u hạt
Sarcoidosis
Viêm phổi quá mẫn (HP)
1.1.5.4 Bệnh phổi nang
U cơ trơn mạch bạch huyết
Bệnh mô bào Langerhans phổi (LCHP)
Bệnh di truyền (Birt-Hogg-Dubé, bệnh xơ cứng củ)
Bệnh lắng đọng chuỗi nhẹ
Trang 22Sơ đồ 1.1 Phân loại bệnh phổi mô kẽ theo ATS/ERS [14]
Bệnh phổi mô kẽ
ILD biết nguyên nhân
Vd: liên quan thuốc,
bệnh mạch máu mô
liên kết
Viêm phổi mô kẽ
vô căn (IIP)
IIP khác với IPF
Viêm phổi mô kẽ không đặc hiệu (NSIP)
Viêm phổi tổ chức hóa vô căn (COP)
Viêm phổi mô kẽ cấp (AIP) lympho bào (LIP) Viêm phổi mô kẽ
Viêm phổi mô kẽ tróc vẩy (DIP)
viêm tiểu phế quản hô hấp-bệnh phổi mô kẽ (RB- ILD)
Xơ phổi nguyên phát (IPF)
Bệnh phổi mô kẽ
U hạt vd: sarcoidosis
ILD khác Vd: LAM, HX, v.v
Trang 231.1.6 Chẩn đoán
1.1.6.1 Biểu hiện lâm sàng [24], [45]
Hầu hết các triệu chứng của bệnh phổi mô kẽ không đặc hiệu Tuy nhiên, việckhai thác kỹ tiền sử tiếp xúc yếu tố nguy cơ, tiền sử bệnh, các triệu chứng lâm sànggiúp khẳng định chẩn đoán Cần khai thác chi tiết về khoảng thời gian, mức độ nặng
và tiến triển của triệu chứng Các triệu chứng chính của bệnh
Khó thở: thường bắt đầu từ từ, khó thở gắng sức, tăng dần Một số ít trườnghợp có khởi phát cấp tính
Ho: thường là ho khan Có thể ho ra máu trong hội chứng xuất huyết phế nanglan tỏa, bệnh van hai lá
Các triệu chứng hiếm gặp khác như: thở rít, đau ngực
Các triệu chứng ngoài phổi: là biểu hiện quan trọng giúp gợi ý chẩn đoán bệnh
mô liên kết: đau cơ, xương, mệt mỏi, sốt, đau khớp, phù, da nhạy cảm với ánhsáng, khô mắt, khô miệng Tuy nhiên, khi không có các triệu chứng này cũngkhông loại trừ được các bệnh mô liên kết
Khai thác kỹ các yếu tố như: tiền sử nghề nghiệp, bệnh hệ thống, dùng thuốc,
xạ trị, hút thuốc…
Khám bệnh:
Các dấu hiệu tại phổi: ran nổ, ẩm nhỏ hạt ở đáy phổi hai bên
Các dấu hiệu ngoài phổi: là các dấu hiệu căn nguyên gây bệnh như: phùchân, các dấu hiệu bệnh lý tim mạch, các biểu hiện cơ, xương, khớp, da Cóthể thấy các dấu hiệu khác gợi ý suy hô hấp như: tím môi, đầu chi… hoặcngón tay dùi trống
1.1.6.2 Tiếp cận chẩn đoán [14]
Chiến lược chẩn đoán bệnh nhân BPMK dựa vào những cân nhắc liên quan đến
sự biến động của thời gian xảy ra (cấp, bán cấp, mạn), nguyên nhân (biết hay khôngbiết) và bối cảnh bệnh biểu hiện (sự biểu hiện ngoài phổi, bệnh hệ thống)
Trang 24Khi một quá trình BPMK đã được nhận ra trên một bệnh nhân, thì có 3 câu hỏiquan trọng cần được giải quyết trong chẩn đoán.
Gồm có:
1 Bệnh có nguyên nhân rõ ràng hay không?
2 Nếu không xác định được nguyên nhân, thì đó có phải là bệnh xơ hóa phổinguyên phát không (IPF)?
3 Nếu không có nguyên nhân gây bệnh và không phải là IPF, có cần đề nghịphẫu thuật sinh thiết phổi không?
Sau khi một chẩn đoán được thiết lập, mức độ nghiêm trọng và yếu tố thúc đẩycủa bệnh cần được đánh giá và theo dõi Có hoặc không có liệu pháp điều trị Chẩnđoán và mức độ nghiêm trọng/yếu tố thúc đẩy của bệnh là cơ bản cho quyết địnhđiều trị và dự đoán tiên lượng Việc tiếp cận chẩn đoán BPMK có lẽ phải thích nghivới các kịch bản lâm sàng khác nhau để cuối cùng đưa tới chẩn đoán cho từng bệnhnhân
Trang 25Một bệnh sử toàn diện là rất quan trọng cho chẩn đoán BPMK có 4 câu hỏi chínhcần được trả lời: (1) khi nào các triệu chứng hô hấp bắt đầu, (2) làm thế nào bệnhphát triển theo thời gian đến nay, (3) có hoặc đã có bất kỳ phơi nhiễm với tác nhâncăn nguyên đã biết là nguyên nhân gây ra BPMK, và (4) triệu chứng nghiêm trọngbiểu hiện là gì.
Theo trình tự thời gian bệnh có thể được chia thành 4 nhóm: (1) cấp tính, vàingày đến vài tuần (2) bán cấp (subacute), 4 đến 12 tuần (3) mạn, trên 12 tuần (4)từng hồi, tức là giai đoạn có triệu chứng được theo sau giai đoạn không có triệuchứng Ngoài ra, tất cả những phim X quang phổi có sẵn cần được đánh giá để mô
tả bản chất và sự phát triển của mô hình X quang học, đám mờ trên trên phim chụplồng ngực có thể gợi ý tới những chẩn đoán khác tập trung vào viêm phổi tăng bạchcầu ái toan, viêm phổi quá mẫn (HP), viêm mạch máu, hay viêm phổi tổ chức hóa
vô căn
Đánh giá triệu chứng
Khó thở khi gắng sức hoặc lúc nghỉ ngơi là triệu chứng chủ yếu của các BPMK
Nó quan trọng đối với việc đánh giá chính xác mức độ giới hạn vận động và khó thởtheo phương thức gợi nhớ bằng các câu hỏi chuyên biệt: sau khoảng cách nào, saubao nhiêu bước, hay sau bao nhiêu cầu thang hoặc tầng lầu để khó thở xảy ra vàbệnh nhân đã trải qua mức độ khó thở đó trong bao lâu và nó đã phát triển nhanhnhư thế nào hoặc những thay đổi nhiều nhất gần đây là khi nào Mức độ khó thởđược liên kết với mức độ nặng của bệnh và tiên lượng, nó cũng cần thiết để loại trừcác triệu chứng không do hô hấp như một nguyên nhân của giới hạn vận động, vd:đau khớp, đau cơ, hay suy yếu
Ho là triệu chứng thường gặp thứ 2 ở bệnh nhân BPMK đôi khi trở nên thực sựkhó chịu mặc dù ho khan thường gặp trong IPF, ho nói chung là triệu chứng củađường thở và do đó nhiều dấu hiệu của bệnh đường thở trung tâm như làSarcoidosis, viêm phổi quá mẫn (HP), hay viêm phổi tổ chức hóa Sự tăng tiết từviêm phế quản liên quan BPMK, hay giãn phế quản là nguyên nhân tạo ra ho Khò
Trang 26khè là triệu chứng khác liên quan đến đường thở nó thì không thường gặp trongBPMK nhưng có thể xảy ra ở một số thực thể nhất định như là hội chứng Churg-Strauss, HP (vd: phổi người nuôi bồ câu) hay thoái hóa dạng bột tắc nghẽn đườngthở
Đau kiểu màng phổi hay tràn dịch trong bối cảnh của BPMK chỉ ra bệnh mô liênkết (vd: lupus ban đỏ hệ thống hay viêm khớp dạng thấp) hoặc bệnh do thuốc hay
do amiăng khác biệt chẩn đoán bao gồm các biến chứng như nhiễm trùng haythuyên tắc phổi Ho ra máu luôn là một dấu hiệu báo động có thể biểu hiện hộichứng xuất huyết phổi, vd: hội chứng Goodpasture hay u hạt với viêm nhiều mạchmáu (GPA, trước đây gọi là bệnh Wegener) Ngoài ra, nhiễm trùng, ung thư phổi,hay thuyên tắc phổi phải được xem xét Trào ngược dạ dày dày thực quản là mộttriệu chứng khác thường gặp ở bệnh nhân BPMK bị nghi ngờ gây ra hay ít nhất làmtrầm trọng thêm BPMK, do đó việc hỏi bệnh sử và triệu chứng của trào ngược nênđược thực hiện ở tất cả các bệnh nhân BPMK
Những đặc điểm ngoài phổi liên quan bệnh có thể cung cấp những gợi ý quantrọng để chẩn đoán chính xác Do đó, đau khớp và sưng (viêm khớp dạng thấp), xơcứng bì, hiện tượng Raynaud và chứng khó nuốt (xơ cứng hệ thống), bệnh bạchtạng và viêm đại tràng (hội chứng Hermansky- pudlak), viêm xoang u hạt mạn tính(GPA và hội chứng Churg-Strauss), suy thận (Hội chứng Goodpasture), u mỡ mạchmáu cơ thận (bệnh u cơ hạch mạch máu), và bệnh Crohn nên được hỏi kỹ và tìmkiếm
Bước tiếp theo là điều tra toàn diện các nguyên nhân có thể gây ra BPMK
Trang 27xạ trị) Đặc biệt cần quan tâm tới tiền sử gia đình vì nó ngày càng trở nên rõ ràng là
có một nhóm bệnh nhân đáng kể liên quan những bệnh có tính di truyền
Bệnh đồng mắc
Có một số bệnh bắt chước hoặc là liên kết với BPMK: (1) tác nhân truyền nhiễm
như mycobacter, cytomegalovirus, Pneumocystis jiroveci, HIV và nhiễm ký sinh
trùng có thể gây ra một tình trạng giống như BPMK (2) bệnh mô liên kết thườngđược liên kết với BPMK Điều này đặc biệt với trường hợp xơ cứng hệ thống vàviêm khớp dạng thấp (3) viêm mạch máu, vd: GPA, hội chứng Churg-strauss, viêm
đa vi mạch, đều có thể biểu hiện ở phổi dưới dạng BPMK
Thăm khám lâm sàng
Khám lâm sàng, kiểm tra tổng quát có thể tiết lộ những phát hiện có giá trị: dày
da và hoại tử ngọn chi (xơ cứng bì), bạch tạng (hội chứng Hermansky-Pudlak),ngón tay dùi trống (trên 40% ở tất cả BPMK, trên 60% ở IPF), mảng tím xanh hìnhlưới (lupus ban đỏ hệ thống), viêm mạch máu da (hội chứng Churg-Strauss), phù datím tái (viêm da cơ) Sờ nắn có thể tiết lộ hạch to, gan lách to gợi ý thoái hóa dạngbột, nhiễm HIV, hay bệnh mô liên kết
Nghe phổi, âm thổi Velcro đối xứng hai bên thì hít vào được tìm thấy trong hơn90% bệnh nhân IPF và khoảng 60% bệnh nhân có BPMK tự miễn hoặc liên quanbệnh mô liên kết Tiếng này không thường thấy trong HP và hiếm trong thoái hóadạng bột Khò khè và tiếng rít thì hít vào phản ánh viêm phế quản và/hoặc tắc nghẽnphế quản và liên quan với hội chứng Churg-Strauss, HP, không đặc hiệu trong viêmphổi mô kẽ Chứng xanh tím có thể có mặt và nên được xác nhận bằng đo oxy máu,thứ có thể dẽ dàng thực hiện trong phòng khám
1.1.6.3 Cận lâm sàng
Trang 28Do tính chất đa dạng của bệnh lý, không thể tầm soát đồng bộ cùng một lúc tất
cả các xét nghiệm để đánh giá một trường hợp BPMK Theo Malak S., nên thựchiện các xét nghiêm theo trình tự sau [54]
- Bước 1: Các xét nghiệm ban đầu không hoặc ít xâm lấn gồm: X quang ngực,HRCT ngực, huyết đồ, CRP, khí máu động mạch, các huyết thanh chẩn đoánCMV, EBV, đo DLCO…
- Bước 2: Xét nghiệm xâm lấn nội soi rửa phế quản phế nang (BAL) tìm tácnhân hoặc tế bào gợi ý
- Bước 3: Xét nghiệm xâm lấn sinh thiết phổi
a) Các xét nghiệm ban đầu
Hình ảnh học
X quang và/hoặc HRCT ngực các xét nghiệm hình ảnh học nên được thực hiệnthường quy trước khi có các xét nghiệm huyết học khác cần thực hiện tiếp theo
X quang ngực: Thường là điều đầu tiên được thấy trên bệnh nhân BPMK Một
hình ảnh lưới nốt lan tỏa hay kính mờ hoặc cả hai là điều phổ biến nhất được tìmthấy trên phim X quang ngực [14], giúp bước đầu khẳng định tổn thương mô kẽ vàgợi ý một số nguyên nhân X quang giúp đánh giá sự khởi phát, tiến triển, triệuchứng mạn tính và ổn định của bệnh nhân [2]
Bảng 1.1 Hình ảnh tổn thương trên X quang ngực gợi ý nguyên nhân BPMK
[2]
Dấu hiệu trên X quang Các nguyên nhân có thể của BPMK
Tổn thương nổi bật thùy
trên Sarcoidosis, Berilliosis, bệnh u hạt tế bàoLangerhans, xơ nang, Silicosis, viêm cứng cột
sống
Tổn thương chủ yếu vùng
giữa và dưới phổi Lymphagitic Carcinomatosis, viêm phổi tăng bạchcầu ái toan bán cấp, IPF, Asbetosis, Xơ phổi kết
hợp với viêm đa khớp dạng thấp hoặc xơ cứng bì.Hạch to cạnh khí quản và
rốn phổi đối xứng 2 bên
Sarcoidosis, ung thư di căn, LymphomaĐường Kerley B Lymphagitic Carcinomatosis
Thâm nhiễm khu trú ở Viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn
Trang 29ngoại biên trên và giữa
phổi với rốn phổi bình
thường
Thâm nhiễm hai bên tái
phát trên cùng vị trí BOOP, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan mạn, bệnhphổi mô kẽ do thuốc, viêm phổi do xạ trị nhiều lần
HRCT: Giúp khảo sát các lát cát mỏng, dày khoảng 1-2 mm, với các thông số tái
tạo đặc biệt tạo độ phân giải không gian và tương phản hình ảnh rất cao Nhạy cảmhơn X quang trong phát hiện bất thường giải phẩu, giúp xác định độ lan rộng, phân
bố và độ nặng của bệnh Hướng dẫn sinh thiết phổi, HRCT định kỳ giúp ích trongviệc theo dõi tiến triển và độ nặng của bệnh, phân biệt bệnh lý đang hoạt động xơhóa và không hồi phục [30]
Bảng 1.2 Những tiêu chí cần thiết và quan trọng khi thực hiện HRCT
Các điều kiện cần [18], [51] Các điều kiện chọn thêm [18]
Chụp CT không tiêm cản quang
Các kỹ thuật quét
o Tư thế nằm ngửa hít vào tối đa
(quét thể tích)
o Tư thế nằm ngửa hít vào tối đa
(quét thể tích hoặc liên tục)
Độ dày lát cát < 1,5 mm
Trường tái tạo tập trung vào phổi
Các tiêu chí về liều tia cần thực hiện theo
quy định của tiêu chuẩn phóng xạ Châu
Âu
Ghi hình ảnh các lát cắt mỏng vào
CD/DVD để có thể tham khảo sau này
Đường cắt theo mặt phẳng trán và mặt phẳng trước-sau(sagittal) cần được tái tạo nếu là quét thể tích
Tái tạo mặt phẳng trước sau theo kỹ thuật MinIP với độ dày từ 5 đến 8mm
Mặt phẳng ngang/đứngdọc/trước-sau được dựng bằng kỹ thuật MIP có độ dày từ 5 tới 8 mm
Chụp ở thì thở ra để phát hiện hình ảnh bẫy khí trong tiểu thùy
Trang 30Chức năng hô hấp, DLCO, khí máu động mạch
Bệnh nhân BPMK nên được xét nghiệm chức năng phổi toàn diện, bao gồm phântích khí máu động mạch hoặc mao mạch khi nghĩ ngơi và cuối cùng là gắng sức, đophế dung ký và phế thân ký, cũng như đo khả năng khuếch tán khí CO (DLCO) nhưmột chất đánh dấu trong phương pháp nín thở một lần Ngoài ra, đo lường tính đànhồi (compliance) có thể hữu ích trong việc chứng minh sự gia tăng độ cứng củaphổi Kiểm tra chức năng phổi nói chung không thể hỗ trợ chẩn đoán BPMK cụ thể,nhưng chúng cần thiết để đánh giá các giới hạn hô hấp và theo dõi diễn tiến củabệnh
Bất thường chức năng phổi nói chung phản ánh ảnh hưởng của viêm mô kẽ vàsẹo trong một khiếm khuyết thông khí hạn chế và suy giảm trao đổi khí cũng nhưgiảm tính đàn hồi Tắc nghẽn đường thở và khí phế thủng không phải là đặc trưngcủa BPMK, tuy nhiên, có thể có khi hen và COPD cùng tồn tại ở bệnh nhân Hơnthế nữa, một số bệnh như u cơ trơn mạch bạch huyết, bệnh mô bào langerhans,sarcoidosis, và HP có thể có mặt với tắc nghẽn đường thở và hoặc sự siêu căngphồng như một phần cơ sở của quá trình bệnh hoặc liên quan tới viêm phế quản.Khi thấp DLCO không cân xứng với khiếm khuyết thông khí hạn chế nên nghi ngờkhí phế thủng hoặc tăng áp động mạch phổi (PH)
Quá trình theo dõi, sự thay đổi các thông số chức năng phổi được sử dụng rộngrãi và hữu ích cho việc theo dõi bệnh Đặc biệt trong IPF, một mức giảm nhỏ chỉ từ5% -10% của dung tích sống gắng sức trong thời gian quan sát là 6 tháng đã chothấy gia tăng tỷ lệ tử vong Sự thay đổi DLCO và khí máu ít có giá trị dự đoán tiênlượng hơn nhưng những thông số này cũng có thể được sử dụng tốt để hỗ trợ đánhgiá sự phù hợp lâm sàng của những thay đổi gần giới hạn của dung tích sống gắngsức Các chỉ số chức năng phổi được tính toán có thể cũng giúp ích để chứng minhdiễn tiến và tiên lượng của bệnh Chỉ số sinh lý tổng hợp (CPI) là một chỉ số đượctính toán nhằm phản ánh mức độ xơ hóa trên chụp cắt lớp vi tính độ phân giải cao
Trang 31(HRCT) khi có khí phế thũng cùng tồn tại CPI tăng cho thấy sự tiến triển xơ hóa và
có liên quan đến tăng tỷ lệ tử vong [14]
hệ thống (vd: Sarcoidosis, bệnh mô liên kết) hoặc HP thì có thể thực hiện thêm cácxét nghiêm tự kháng thể [14]
Đã có nhiều nỗ lực để tìm kiếm dấu ấn sinh học để theo dõi hoạt động bệnh hoặc
dự đoán tiên lượng trong các BPMK khác nhau Sự thay đổi riêng biệt bên trong củaenzym chuyển đổi angiotensin trong huyết thanh hoặc nồng độ trong huyết thanhcủa thụ thể hòa tan interleukin 2 thì ở một mức độ nào đó hữu ích để theo dõi hoạtđộng bệnh sarcoidosis Hoạt động của lactat dehydrogenase huyết thanh ở một mức
độ nào đó có thể giúp dự đoán tiên lượng trong IPF Dữ liệu có sẵn hạn chế chomức huyết thanh của Krebs Von Der Lugen, glycoprotein trọng lượng phân tử lớnđại diện cho chất nhầy người MUC1, protein surfactant A và D, metalloproteinase,
và CCL-18 Tuy nhiên, không có dấu hiệu sinh học nào được xác nhận đủ để đượckhuyến nghị sử dụng thường quy trong chẩn đoán và theo dõi BPMK [14]
Bảng 1.3 Đề xuất bộ xét nghiệm huyết thanh trong đánh giá bệnh nhân BPMK
[31]
Viêm hệ thống
Tốc độ lắng máu (ERS)
CRP
Trang 32Kháng thể tự miễn
Kháng thể kháng tế bào chất bạch cầu trung tính
c-ANCA, p-ANCA, p-ANCA khác
lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong rất thấp và do đó không phải là một thủ tục chẩn đoán
Trang 33bắt buộc cho tất cả bệnh nhân mắc BPMK Với việc sử dụng BAL, TBLB và/hoặcTBNA (có hướng dẫn siêu âm nội soi), có thể xác định chẩn đoán sarcoidosis,lymphagitis carcinomatosa, viêm phổi tăng bạch cầu ái toan, bệnh tích protein phếnang, Bệnh mô bào Langerhans, viêm phổi mô kẽ lympho bào, nhiễm một số vikhuẩn, virus và nhiễm nấm, do đó tránh các thủ thuật xâm lấn hơn như nội soi sinhthiết trung thất lồng ngực có hỗ trợ bằng video (VATS), hoặc sinh thiết phổi mở(SLB).
Tuy nhiên, đặc biệt ở những bệnh nhân IPF, nội soi phế quản và BAL có khảnăng kích hoạt đợt cấp tính của IPF, do đó chỉ định nội soi phế quản nên được xemxét kỹ lưỡng ở mỗi bệnh nhân [48]
Kết quả của tế bào BAL bị ảnh hưởng bởi tình trạng hút thuốc lá của bệnh nhân,thành phần tế bào của BAL ở người bình thường [43]:
Đại thực bào >85%
Lympho bào 10 – 15%, CD4/CD8 = 0,9% - 2,5%
Neutrophil 1%
Eosinophil 1%
Tế bào biểu mô trụ có lông chuyển 2%
Thành phần tế bào trong BAL trong BPMK: tăng số lượng tế bào có nhân, tăng
tỷ lệ tế bào viêm
c) Các xét nghiệm bước 3
Sinh thiết phổi: Sinh thiết phổi phẫu thuật, ngày nay được ưu tiên thực hiện là
VATS, là thủ thuật chẩn đoán xâm lấn được sử dụng để chẩn đoán IPF, phân tích
mô học từ sinh thiết phổi phẫu thuật không còn là tiêu chuẩn vàng của chẩn đoán vì
rõ ràng là do lỗi lấy mẫu và tính đồng nhất của mô hình bệnh ở bệnh nhân bệnh tiếntriển, xét nghiệm mô học sẽ không cung cấp manh mối chẩn đoán ở nhiều bệnhnhân [50] Đồng thời vấn đề chi phí và có một tỷ lệ rủi ro đáng kẻ trong vòng 90ngày sau thủ thuật
Trang 34Phương pháp phổ biến nhất hiện nay được sử dụng để sinh thiết phổi là kỹ thuậtnội soi phế quản kết hợp sinh thiết xuyên phế quản (TBLB) Kỹ thuật này cần lấyđược mẫu mô phổi với đầy đủ các cấu trúc phế nang, các nhánh tiểu phế quản, mô
kẽ Quan trọng nhất là lấy được tổn thương xơ hóa và mô phổi bình thường đi kèm
Số mẫu bệnh phẩm sinh thiết phổi xuyên phế quản trung bình để có đủ mô chẩnđoán từ 4 - 6 mẫu sinh thiết, với mỗi mẫu mô có đường kính từ 0,3 - 0,5 cm, dài từ0,5 - 1 cm [35] Tuy nhiên kỹ thuật này có một số hạn chế như mẫu mô không dủlớn, nhiễu do mẫu vật đi kèm dẫn tới không có khả năng chẩn đoán, nên sinh thiết
áp lạnh phổi xuyên thành (TBLC) hứa hẹn là phương pháp thay thế thích hợp trong
hỗ trợ chẩn đoán BPMK [17]
Hội chẩn đa chuyên ngành (MDD): hội chẩn liên quan đến bác sĩ phổi, bác sĩ X
quang, và bác sĩ mô bệnh học đã trở thành tiêu chuẩn vàng trong chẩn đoán Điềunày cũng có vẻ là phương pháp phù hợp để chẩn đoán cho đại đa số bệnh nhân mắcBPMK Bởi vì IPF là một nếu không phải là chẩn đoán phân biệt quan trọng nhấttrong hầu hết bệnh nhân mắc BPMK, MDD dường như là phương pháp hứa hẹnnhất để đạt được sự tự tin trong chẩn đoán [27], [50]
Trang 35Biểu đồ 1.1 So sánh chẩn đoán cuối cùng và tỉ lệ không dùng thuốc giữa chẩn
đoán trước và sau khi có thảo luận đa chuyên ngành [15]
Trang 36Sơ đồ 1.2 Lưu đồ chẩn đoán BPMK [14]
Xác nhận kết quả
từ BAL ± TBLB
Chẩn đoán LS chắc chắn
KhôngHRCT
Không
CóVd: Sarcoidosis, ác tính, viêm phổi tăng eosinophil, tích protein phế nang, COP, nhiễm trùng, HP
kẽ không đặc hiệu
Bn có phù hợp Sinh thiết phổi
mở và nó có tác động lên quản
lý Bn?
Sinh thiết phổi mở
MDDMDDMDDMDDChẩn đoán xác
xuất cao nhất
Trang 371.2 Một số nghiên cứu trong và ngoài nước
1.2.1 Trong nước
Theo y văn hiên tại chưa có nghiên cứu nào về BPMK ở người lớn tiến hànhtrong nước, có hai nghiên cứu của hai tác giả lần lượt là Nguyễn Thị Nhân Mỹ tiếnhành tại Bệnh viện Nhi Đồng 2, và Trần Thị Thùy Dung tiến hành tại Bệnh việnNhi Đồng 1, cả hai nghiên cứu này đều tiến hành ở trẻ em
Theo nghiên cứu mô tả hàng loạt ca của tác giả Nguyễn Thị Mỹ Nhân, ở trẻ ≤ 15tuổi, từ tháng 06/2012 đến tháng 06/2014, tiến hành tại khoa Hô Hấp Bệnh viện NhiĐồng 2 có 31 trẻ BPMK chiếm tỷ lệ 0,17% trong tổng số trẻ nhập khoa Hô Hấp [5]
Dịch tễ: tuổi nhũ nhi chiếm 67,8%, tỷ lệ nam nữ 3/1
Nguyên nhân: 51,2% tìm được nguyên nhân có thể, gồm: nhiễm trùng 19,4%;loạn sản phổi 12,9%; bệnh tăng bạch cầu ái toan 12,9%; bệnh phổi hít mạntính/trào ngược dạ dày thực quản 9,7%
Đặc điểm lâm sàng: sốt 87,5%, ho kéo dài 96,8%, khò khè 77,4%, ran phổi vàrút lõm ngực hoặc rút lõm liên sườn 90,3%, suy hô hấp 67,7%
Cận lâm sàng: tăng bạch cầu ái toan 12,9%, X quang phổi hình ảnh tổn thương
mô kẽ và phế nang 58%, phế nang 42% HRCT ngực hình ảnh tổn thương mô
kẽ 100%, hạch 38,7%, xẹp phổi 9,7%, viêm dày thành thực quản phù nề 6,7%,thoát vị phổi 3,2% Khí máu động mạch: 45,5% có PaO2 < 80 mmHg và SaO2
< 95%
Theo nghiên cứu hồi cứu, mô tả hàng loạt ca của tác giả Trần Thị Thùy Dung từtháng 06/2010 đến tháng 06/2016 tại Bệnh viện Nhi Đồng 1 có 65 trường hợpBPMK chiếm tỉ lệ 0,07%, nam/nữ là 1,6/1, 78,5% tìm được nguyên nhân, tỷ lệ nhưsau: nhiễm khuẩn 30,8%; bệnh phổi tăng bạch cầu ái toan 13,8%; bệnh phổi hít mạntính 12,3%; rối loạn chức năng surfactant 7,7%; bệnh do u tân sinh 9,2%; BPMKliên quan bệnh hệ thống 4,6%; 21,5% chưa tìm được nguyên nhân [3]
Trang 381.2.2 Ngoài nước
Theo một nghiên cứu hồi cứu của Lim G I tiến hành tại Hàn Quốc năm 1996trên 100 bệnh nhân BPMK được sinh thiết phổi mở hoặc sinh thiết xuyên phế quản,ghi nhận IPF 51,5%; bệnh mạch máu mô liên kết liên quan đến xơ phổi (CVD-PF)15,2%; HP 9,1%; Tuổi trung bình của 51 trường hợp IPF là 60 ± 11, tuổi trung bìnhcủa 15 trường hợp mắc CVD-PF là 46 ± 17 và 9 trường hợp bị viêm phổi quá mẫn(HP) là 53 ± 8.1 Trong nhóm IPF, CVD-PF và HP, tỷ lệ nam/nữ là bằngnhau Nhưng nữ chiếm ưu thế trong bệnh sarcoidosis và nam chiếm ưu thế trongbệnh viêm phổi quá mẫn Viêm phổi kẽ thường (UIP) là loại bệnh lý phổ biến nhấttrong IPF và CVD-PF Nguyên nhân phổ biến nhất của CVD-PF là viêm khớp dạngthấp Tỷ lệ tử vong chung là 12,1% [38]
Theo nghiên cứu tiến cứu của tác giả Alhamad E H tiến hành từ tháng 01/2008đến tháng 12/2011 tại một bệnh viện của Đại học King Saud, Ả Rập Saudi, ghi nhận
330 trường hợp BPMK, trong đó tuổi trung bình là 55,4 ± 14,9, nữ giới chiếm61,2% Về nguyên nhân phổ biến nhất là CTD-ILD với 34,8%; tiếp theo là IPF với23,3%; sarcoidosis 20,0%; HP 6,3%; không phân loại được 1,8% [10]
Theo nghiên cứu mô tả cắt ngang của tác giả Ducheman B tiến hành từ tháng 1đến tháng 12 năm 2012, tại một quận đa sắc tộc của Paris, Pháp, ghi nhận 1170trường hợp BPMK, tỷ lệ lưu hành: 97,9/100.000 và tỷ lệ mắc mới:19,4/100.000/năm Trong các chẩn đoán phổ biến nhất là sarcoidosis 42,6%; CTD-ILD 16%; IPF 11,6% và BPMK do nghề nghiệp 5%; tương ứng với tỷ lệ lưu hành là30,2/100.000 đối với bệnh sarcoidosis, 12,1/100.000 đối với CTD-ILD và8.2/100.000 đối với IPF Tỷ lệ mắc bệnh viêm phổi kẽ vô căn (IIP), viêm phổi kẽkhông đặc hiệu (NSIP) và các trường hợp đăng ký với mã J84.1 là 16,34/100.000[23]
Theo nghiên cứu tiến cứu của tác giả Dhooria S tiến hành trong 2 năm 2017) tại Ấn Độ ghi nhận 803 trường hợp BPMK trong đó cho thấy tuổi trung bình
(2015-là 50,6 ± 13,8, nữ giới chiếm 50,2%, ho (2015-là triệu chứng phổ biến nhất với 86,1%, tiếp
Trang 39theo là khó thở với 76,1%, sụt cân 30,9%, chán ăn 24,2%, đau khớp 23,9%, mệtmỏi 17,9% Về nguyên nhân chiếm tỷ lệ cao nhất là sarcoidosis 42,2%; tiếp theo làIPF 21,2%; CTD-ILD 12,7% trong đó phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp với2,7%; HP 10,7%; BPMK vô căn không phải IPF 9,2%; viêm phổi mô kẽ do thuốc0,7%; bệnh phổi nghề nghiệp 0,9%; không tìm được nguyên nhân 0,9% [22].
Theo nghiên cứu hồi cứu của tác giả Guo B tiến hành tại Quảng Châu, TrungQuốc từ tháng 01/2012 đến tháng 12/2017 ghi nhân 1945 trường hợp BPMK, trong
đó cho thấy tuổi trung bình là 57,9 ± 13,4, nam giới chiếm 55,5% Triệu chứng phổbiến nhất là ho với 89,4%, tiếp theo là khó thở với 54,7% Về nguyên nhân phổ biếnnhất là IPF 20,3%; tiếp theo là BPMK có đặc điểm tự miễn (IPAF) 17,9%; CTD-ILD 18,3%, trong đó phổ biến nhất là viêm khớp dạng thấp với 6,0%; sarcoidosis6,3%; HP 3,0%; viêm phổi mô kẽ do thuốc 0,7%; bệnh phổi nghề nghiệp 0,7% [28]
Trang 40CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu cắt ngang mô tả tiến cứu
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Chọn tất cả bệnh nhân thỏa tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.4 Tiêu chuẩn chọn mẫu
2.2.4.1 Tiêu chuẩn đưa vào
Bệnh nhân từ đủ 18 tuổi trở lên điều trị tại khoa Nội Phổi Bệnh viện Chợ Rẫy cótổn thương phổi lan tỏa trên phim HRCT ngực
2.2.4.2 Tiêu chí loại trừ
Bệnh nhân không có khả năng giao tiếp, cung cấp thông tin
Các trường hợp viêm phổi cấp tính do virus hoặc vi khuẩn thường gặp, phù phổicấp, xuất huyết phế nang, hít sặc hay hít độc chất gây tổn thương phổi lan tỏa.Các nguyên nhân do lao, ung thư phổi
Bệnh nhân từ chối tham gia nghiên cứu
2.2.5 Cỡ mẫu
Chúng tôi chọn phương pháp lấy mẫu thuận tiện, cỡ mẫu ước tính tối thiểu là 30