1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHUYÊN ĐÊ DẠY HỌC PHƯƠNG PHÁP PHÂN BIỆT TỪ LÁY VỚI TỪ GHÉP

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 124 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở, trở nên bức xúc, được dư luận xã hội quan tâm, thảo luận trao đổi ý kiến, đặc biệt là các nhà nghiên cứu c

Trang 1

TRƯỜNG THCS CAO BÁ QUÁT CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập –Tự do- Hạnh phúc

Đăk Wil, ngày 14 tháng 9 năm 2018 CHUYÊN ĐÊ DẠY HỌC

PHƯƠNG PHÁP PHÂN BIỆT TỪ LÁY VỚI TỪ GHÉP

I Lý do chọn chuyên đề

Ngay từ chương trình lớp 4 và lớp 5 cấp Tiểu học học sinh đã được học

về từ ghép, từ láy và các bước phân biệt hai kiểu loại từ này Lên cấp 2 vào đầu chương trình lớp 6 học sinh lại một lần nữa tìm hiểu về chúng ở mức độ cao hơn Nhưng trong thực tế sử dụng từ ngữ, học sinh,đôi khi cả giáo viên cũng thường lúng túng trong việc phân biệt từ láy với từ ghép

Như chúng ta đều biết, hiện tượng từ ghép bị nhầm lẫn coi là từ láy thường xảy ra Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, Tiếng Việt một trong số những môn học vào loại quan trọng nhất trong chương trình cấp học phổ thông Trong những năm gần đây, vấn đề dạy và học Tiếng Việt ở trường Trung học cơ sở, trở nên bức xúc, được dư luận xã hội quan tâm, thảo luận trao đổi ý kiến, đặc biệt là các nhà nghiên cứu cùng đông đảo giáo viên

và học sinh

1 Sự cần thiết của chuyên đề

Nhìn lại thực trạng của việc dạy học Tiếng Việt trong trường Trung học

cơ sở hiện nay, có thể nhận thấy rằng, nhìn chung chương trình sách giáo khoa còn quá tải, còn thiên về lí thuyết, giới thiệu nội dung khái niệm ngôn ngữ học mà chưa chú trọng đến các kĩ năng thực hành Tiếng Việt Trong khi

đó đội ngũ giáo viên được đào tạo không đồng đều, còn nhiều hạn chế về trình độ Nhiều giáo viên không giám thoát li sách giáo khoa khi đứng trên bục giảng.Bên cạnh đó học sinh cũng không có yêu thích học môn ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng.Điều đó dẫn đến việc dạyvà học môn ngữ văn ở trường Trung học cơ sở có chất lượng chưa cao.Rất nhiều học sinh khi tốt nghiệp mà kĩ năng đọc và viết còn nhiều hạn chế Xuất phát từ việc giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm qua tôi luôn luôn

Trang 2

được nhà trường phân công ôn thi học sinh giỏi cho những khối lớp tôi dạy và kết quả hàng năm tỉ lệ học sinh giỏi tôi ôn luyện thường đạt kết quả khá cao

Vì vậy, tôi xin đưa ra một số phương pháp cụ thể sau đây nhằm giúp cho học sinh phân biệt được từ ghép với từ láy có hình thức ngữ âm giống nhau

2.Mục đích, yêu cầu của chuyên đề

Để học sinh có kĩ năng phân biệt hai kiểu từ loại này, trong quá trình giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi và phụ đạo hoc sinh yếu, tôi đã yêu cầu các

em cần năm vững khái niệm từ láy và từ ghép, cũng như các loại từ láy và các loại từ ghép Từ đó tôi hướng dẫn các em các phương pháp phân biệt chúng

và vận dụng các phương pháp này trong việc phân biệt từ ghép với từ láy có hình thức ngữ âm giống nhau mà các em thường gặp Để phân biệt được từ láy với từ ghép là một điều không hề dễ đối với học sinh bậc Trung học cơ sở

II Thực trạng dạy học phân môn tiếng việt ở bậc THCS

Nhìn lại thực trạng của việc dạy học Tiếng Việt trong trường Trung học cơ sở hiện nay, có thể nhận thấy rằng, nhìn chung chương trình sách giáo khoa còn quá tải, còn thiên về lí thuyết, giới thiệu nội dung khái niệm ngôn ngữ học mà chưa chú trọng đến các kĩ năng thực hành Tiếng Việt Trong khi

đó đội ngũ giáo viên được đào tạo không đồng đều, còn nhiều hạn chế về trình độ Nhiều giáo viên không giám thoát li sách giáo khoa khi đứng trên bục giảng Bên cạnh đó học sinh cũng không có yêu thích học môn ngữ văn nói chung và phân môn Tiếng Việt nói riêng Điều đó dẫn đến việc dạyvà học môn ngữ văn ở trường Trung học cơ sở có chất lượng chưa cao Rất nhiều học sinh khi tốt nghiệp mà kĩ năng đọc và viết còn nhiều hạn chế Xuất phát từ việc giảng dạy bồi dưỡng học sinh giỏi trong những năm qua tôi luôn luôn được nhà trường phân công ôn thi học sinh giỏi cho những khối lớp tôi dạy và kết quả hàng năm tỉ lệ học sinh giỏi tôi ôn luyện thường đạt kết quả khá cao

Vì vậy, tôi xin đưa ra một số biện pháp cụ thể sau đây nhằm giúp cho học sinh phân biệt được từ ghép với từ láy có hình thức ngữ âm giống nhau.Trong

đó học sinh trường Trung học cơ sở Cao Bá quát việc các em nhận diện từ láy với từ ghép là còn rất hạn chế

Trang 3

1.Ưu điểm.

Đa số giáo viên dạy môn ngữ văn tại trường THCS Cao Bá Quát , có tuổi đời còn rất trẻ, nhiệt tình trong công tác dạy học, 100% giáo viên dạy môn ngữ văn đều có trình độ đại học, được sự quan tâm của ban giám hiệu nhà trường, đặc biệt là chuyên môn nhà trường luôn có sự quan tâm đúng mức, tạo mọi điều kiện cho giáo viên có điều kiện thể hiện khả năng chuyên môn của mình vào công tác giảng dạy.

2.Tồn tại

Trường Trung học cơ sở Cao Bá Quát –huyện Cư Jút – tỉnh Đắk Nông , đóng trên địa bàn xã vùng ba biên giới khó khăn, nền kinh tế của xã còn gặp nhiều khó khăn, địa bàn cư trú của học sinh rất rộng , xã có nhiều đồng bào dân tộc ít người sinh sống Chủ yếu là làm nương rẫy, cho nên ít quan tâm đến việc học tập của con em là còn nhiều hạn chế Những yếu tố trên ít nhiều cũng ảnh hưởng đến chất lượng học tập của học sinh trường Trung học cơ sở Cao Bá Quát Trong những năm gần đây tỉ lệ học sinh thi vào lớp 10 hàng năm của nhà trường là tương đối thấp so với các trường trong huyện trong đó môn văn tỉ lệ học sinh làm bài đạt điểm dưới trung bình là khá cao.Việc phân biệt từ láy với từ ghép của học sinh Trung học cơ sở là còn nhiều hạn chế Tôi được biết đây là một đề tài không mới vì đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các bậc thầy thuộc lĩnh vực chuyên môn, nhưng tôi vẫn muốn tìm hiểu và thông qua trải nghiệm trong thực tế giảng dạy, qua trao đổi với một số bạn bè đồng nghiệp có kinh nghiệm để đưa ra một số phương pháp mà theo tôi là tối ưu nhằm để giúp học sinh phân biệt từ láyvới từ ghép cho học sinh Trung học cơ sở nói chung và hoc sinh trường Trung hoc cơ sở Cao Bá Quát nói riêng

III Nội dung và các giải pháp

1.Nội dung

Thông qua chuyên đề dạy học giáo viên giúp học sinh biết cách phân biệt từ láy với từ ghép

2 Các giải pháp.

Trang 4

2.1 Phương pháp thứ nhất

Giáo viên đưa ra một vài ví dụ cho học sinh xác định đó là từ ghép hay

từ láy

Ví dụ 1:

- Ngần ngại, ngất ngây, khát khao…

Học sinh thảo luận và đưa ra kết quả

Qua việc thảo luận của học sinh phần nhiều các em có kết luận ba từ đó đều là từ láy

Sau đó giáo viên kết luận cho học sinh biết ba từ trên không phải là từ láy mà đó là từ ghép dựa vào phương pháp nhận biết thứ nhất, giáo viên cho học sinh ghi vào vở

Nếu một từ phức cho phép có thể đảo được trật tự các thành tố trong từ Thì từ phức đó không phải là từ láy mà là từ ghép

Học sinh lần lượt đảo vị trí của các ví dụ vừa phân tích

Ví dụ 2 :

-Lả lơi đảo được thành lơi lả thì “lả lơi” cũng như “lơi lả” đều là từ ghép đẵng lập

- Thì thầm do đảo được thành “thầm thì” cho nên đó là từ ghép mô phỏng âm thanh chứ không phải là từ láy

- Nhờ áp dụng phương pháp này chúng ta có thể khẳng định rằng các từ dưới đây đều là từ ghép chứ không phải là từ láy như đã thu nhập vào từ điển: Đau đớn, đảo điên, hắt hiu, hờ hững, khát khao, khắt khe, lãi lời, manh mối, ngại ngần, ngào ngạt, ngây ngất, ngấu nghiến, thơ thẩn, tha thiết …

2 2 Phương pháp thứ 2

Giáo viên tiếp tục đưa ra một ví dụ yêu cầu học sinh xác định từ đó là từ láy hay từ ghép

Ví dụ 1:

- Duyên dáng, định đoạt, đình đốn…

Trang 5

Nếu dựa vào phương pháp thứ nhất chúng ta có thể xác định các ví dụ trên là từ ghép hay từ láy không?Chăc chắn rằng học sinh sẽ trả lời là không thể xác định được

Vậy nếu chúng ta không xác định được thì sẽ có cách xác định thứ hai sau đây

Nếu chúng ta phát hiện ra cả hai thành tố trong từ phức đều có nghĩa thì

từ phức ấy chắc chắn phải là từ ghép chứ không thể là từ láy (vì như đã nói trên, từ ghép chỉ có một thành tố gốc có nghĩa mà thôi).Như vậy qua việc tìm hiểu trên học sinh xác định được các từ phức trên cả hai tiếng đều có nghĩa, nên các từ đó phải là từ ghép

Ví dụ 2:

- Xẹp lép: cả “xẹp” và “lép” đều có nghĩa, nên “xẹp lép” là từ ghép Thành thực: cả thành (tức chân thành) và thực đều có nghĩa nên thành thực là từ ghép

- Nhờ áp dụng thao tác phát hiện ra cả hai thành tố trong từ đều có nghĩa, chúng ta có thể khẳng định các từ phức sau đây đều là từ ghép chứ không phải

là từ láy:

Đu đưa, đọa đày, đình đốn , định đoạt, duyên dáng , hài hòa, hãm hại, hàng hóa, hão huyền, hối hận, lấp ló, lỡ cở, lê la, nghi ngờ, vá víu, vân vê, than vãn……

2.3 Phương pháp thứ 3

Tương tự như cách làm ở hai phương pháp trên giáo viên lần lượt đưa ra các ví dụ sau đó cho học sinh xác định các từ đó là từ ghép hay là từ láy, dựa vào hai phương pháp trên Sau khi học sinh xác định xong giáo viên nhận xét

và đưa ra kết luận, sau đó trình bày phương pháp thứ ba cho học sinh hiểu Nếu như chúng ta phát hiện, tìm ra một thành tố X nào đó không rõ nghĩa lắm cùng được xuất hiện trong nhiều từ phức có yếu tố gốc khác nhau thì từ phức này đều là từ ghép.Giáo viên lấy ví dụ minh họa

Ví dụ 1:

Trang 6

- Nếu “rỡ”xuất hiện trong nhiều từ phức như “rạng rỡ”, “rực rỡ” thì chắc chắn phải có nghĩa nào đó và các từ phức “rực rỡ” , “rạng rỡ” phải là từ ghép chứ không thể là từ láy

Sở dĩ như thế là vì “rạng” và “rỡ” là những tiếng có hình thức ngữ âm khác hẳn nhau Giả sử nêu như theo cùng một phương pháp láy âm đầu, rỡ đã

là dạng láy của từ rạng thì không thể cũng là dạng láy của từ rực và ngược lại Điều này đã được thực tế chứng minh: Rỡ là yếu tố đồng nghĩa với rực

và rạng, dạng láy của rỡ là rờ rỡ

Ví dụ 2:

Nếu từ “lóc”đã xuất hiện trong từ phức khóc lóc, lại còn xuất hiện trong

từ phức “lăn lóc”, thì cả khóc lóc và lăn lóc đều là từ ghép chứ không phải là

từ láy

Trong tiếng địa phương miền Nam, lóc có nghĩa là “Uốn mình vọt tới hay lấn tới”, lóc với nghĩa này còn được thể hiện qua tên gọi như cá lóc hoặc cách nói con cá nó lóc đi nhanh quá

Ví dụ 3:

Lác đã xuất hiện trong từ phức khoác lác, lại còn xuất hiện trong từ phức phét lác, vậy khoác lác và phét lác đều là từ ghép

Trong tiếng địa phương miền Nam lác có nghĩa tương tự như khoác (ví dụ: Tính lác lác, nói lác lác…)

Ví dụ 4:

Tương tự như vậy các từ: Rúc ráy, rữa ráy đều là từ ghép chứ không phải

từ láy Ráy vừa đồng nghĩa với rúc, vừa gần nghĩa với rửa

Ngoài ra, trong các trường hợp cả hai thành tố đều không rõ nghĩa thì có thể dựa vào quy luật ngữ âm

Theo các nhà nghiên cứu, quy luật biến thanh và biến vần của các từ láy

là như sau:

Hiện tượng này được coi là sự hòa phối ngữ âm trong từ láy

Các thanh trắc bao giờ cũng chuyển sang thanh bằng cùng âm vực

Điều này có nghĩa là thanh điệu của các tiếng trong từ láy phải cùng âm

Trang 7

Ví dụ 5 :

Âm vực cao: không dấu(thanh bằng), hỏi (thanh trắc), sắc (thanh trắc)

Âm vực thấp:huyền(thanh bằng), ngã (thanh trắc), nặng (thanh trắc)

Ví dụ 6:

Tím tím chuyển thành Tim tím Vạnh vạnh chuyển thành vành vạnh Mởn mởn chuyển thành mơn mởn Chẫn chẫn chuyển thành chần chẫn

2.4 Phương pháp thứ 4

Nếu chúng ta phát hiện ra trong từ phức, các tiếng có thanh điệu không cùng âm vực thì từ phức ấy là từ ghép chứ không phải là từ láy

Ví dụ 1:

Khít khịt: thanh sắc (ở khít) thuộc âm vực cao, thanh nặng (ở khịt) thuộc

âm vực thấp vậy khít khịt là từ ghép chứ không thể là từ láy như xưa nay vẫn quan niệm Đây là hai biến thể ngữ âm được tạo ra theo lối dịch chuyển kiểu như lui và lùi…… Tương tự, dựa vào thanh điệu chúng ta có thể phát hiện ra các trường hợp sau đều là từ ghép chứ không phải là từ láy:

Mít mịt, phứa phựa quáng quàng, quánh quạnh, tí tị, ú ụ, chói lọi, cuống cuồng, dúi dụi, hộc tốc, cộc lốc…

Nếu các từ láy âm có sự khác nhau ở âm chính thì có quy luật là:

Luôn luôn có sự khác nhau giữa những nguyên âm khác dòng và phổ biến nhất là sự luân phiên giữa những cặp nguyên âm có cùng độ mở.(mở miệng khi ta phát âm)

Dòng

Ví dụ 2:

( i) – ( u) : Tủm tỉm, mũm mĩm, hú hí,…

Trang 8

( ô) – ( ê): Ngô nghê, hổn hển, xộc xệch,…

( o) - ( e ): Cò kè, ho he, ngót nghét,…

Những hiện tượng trên đây chiếm 40% tổng số loai láy đôi khác nhau ở

âm chính

Vận dụng quy luật láy âm, chúng ta sẽ xác định được đâu là từ láy, đâu

là từ ghép có cấu tạo ngữ âm giống từ láy

Không phải mọi từ phức có phụ âm đầu giống nhau ở 2 thành tố đều là

từ láy âm.Qua kháo sát tư liệu thực tế chúng tôi thấy để các từ phức ấy có thể

là những từ láy âm thì cần phải có thêm một điều kiện:

Có sự luân phiên của các nguyên âm khác dòng nhưng cùng độ mở, tiếng gốc và tiếng láy

2.5 Phương pháp thứ 5

Nếu một từ phức gồm hai thành tố có phụ âm đầu trùng nhau và chứa nguyên âm khác dòng có cùng độ mở thì đó thường là từ láy Do đó trong các trường hợp phổ biến sau đây có khả năng hơn nhiều là từ ghép vì các nguyên

âm khác dòng không cùng độ mở

Ví dụ 1:

( ê) – ( a ) hể hả, nhuế nhóa, xuề xòa,…

( u ) – (ă ) lục lặc, tung tăng, vùng vằng, trục trặc,…

( i ) – ( a ) rỉ rả, hỉ hả, xí xóa,…

Những trường hợp này có thể là do từ đầu cả hai thành tố trong từ phức vốn có nghĩa có phần ngữ âm giống nhau và được ghép với nhau

Ví dụ 2 :

Hung hăng,vùng vằng…cũng có thể đó là những từ ghép vốn lúc đầu có thành tố không hề có quan hệ ngữ âm gì với nhau, nhưng sau đó do quan hệ đồng hóa ngữ âm chúng trở nên có quan hệ ngữ âm giống nhau khiến có từ ghép có hình thức giống từ láy

2.6 Phương pháp thứ 6

Như chúng ta đã biết từ láy là sản phẩm của phương thức láy, một

Trang 9

trong những phương thức tạo từ của Tiếng Việt Do đó từ láy là những từ thuần Việt Dựa vào đó ta thấy nếu một từ phức (có quan hệ ngữ âm giữa các thành tố đã được xác định là từ Hán Việt thì đó không phải là từ láy trong Tiếng Việt.)

Ví dụ:

Linh tinh, lục tục, liên thiên, lưu luyến là từ Hán Việt nên không phải là

từ láy trong Tiếng Việt

Sau khi giáo viên đã trình bày cho hoac sinh hiểu 6 phương pháp nhận diện từ ghép với từ láy, giáo viên cho sáu ví dụ được áp dụng theo 6 phương pháp đã học để cho học sinh xác định , sau đó giáo viên kết luận

Tiếp tục để cũng cố kiến thức đã học xong, giáo viên cho các em thực hành làm bài tập

2.7Thực hành

Bài tập thực hành

Bài tập 1: Dựa vào các phương pháp đã học em hãy chỉ ra những từ láy

có trong các đoạn văn sau:

Đoạn văn 1

“Đêm qua, lúc nào tỉnh, tôi cũng nghe tiếng nức nở, tức tưởi của em tôi Tôi cứ phải cắn chặt môi để khỏi bật lên tiếng khóc to, nhưng nước mắt cứ tuôn ra như suối, ướt đẩm cả gối và cánh tay áo Sáng nay dậy sớm , tôi khẽ

mở cửa rón rén đi ra vườn, ngồi xuống gốc cây hồng xiêm Chợt thấy động phía sau, tôi quay lại: em tôi đã theo ra từ lúc nào Em lặng lẽ đặt tay lên vai tôi Tôi kéo em ngồi xuống và khẽ vuốt lên mái tóc Chúng tôi cứ ngôi im như vậy Đằng đông trời hửng dần Những bông hoa thược dược đã thoáng hiện trong màn sương sớm và bắt đầu khoe bộ cánh rực rỡ của mình Lũ chim sâu nhảy nhót trên cành và chiêm chiếp kêu Ngoài đường tiếng xe máy, tiếng ô tô

và tiếng nói chuyện của những người đi chợ mỗi lúc một ríu ran Cảnh vật cứ

im như hôm qua, hôm kia thôi mà sao tai họa giáng xuống đầu anh em tôi nặng thế này

(Cuộc chia tay của những con búp bê – Khánh Hoài)

Trang 10

Thông thường thì các em sẽ thống kê những từ sau là từ láy:

Nức nở, tức tưởi, rón rén, lặng lẽ, rực rỡ, nhảy nhót, chiêm chiếp, ríu ran, nặng nề Nhưng sau khi đã tìm hiểu phương pháp nhận diện từ ghép với từ láy giáo viên yêu cầu học sinh dựa vào 6 phương pháp trên để xác định từ láy.

được vị trí

Một yếu tố

có nghĩa

Thanh điệu cùng âm vực

Không phải

từ Hán-Việt

Từ bảng kiểm tra trên học sinh sẽ nhận ra các từ láy sau:

Nức nở, tức tưởi, rón rén, chiêm chiếp, ríu ran Các từ còn lại rực rỡ, nhảy nhót, nặng nề là từ ghép có hình thức giống từ láy

Đoạn văn 2:

“Cái ấn tượng khắc sâu mãi mãi trong lòng một con người” về cái ngày

“hôm nay tôi đi học” ấy, mẹ muốn nhẹ nhàng, cẩn thận và tự nhiên ghi vào lòng con Để rồi bất cứ một ngày nào đó trong đời, khi nhớ lại lòng con lại rạo rực, những cảm xúc bâng khuâng, xao xuyến Ngày mẹ còn nhỏ, mùa hè nhà trường đóng cửa hoàn toàn và ngày khai trường đúng là ngày đầu tiên học trò lớp một đến trường gặp thầy mới, bạn mới Cho nên ấn tượng của mẹ về buổi khai trường đầu tiên ấy rất sâu đậm Mẹ còn nhớ sự nôn nao, hồi hộp khi cùng

bà ngoại đi tới gần ngôi trường và nỗi chơi vơi , hốt hoảng khi cổng trường đóng lại bà ngoại đứng ngoài cánh cổng như đứng ngoài cái thế giới mà mẹ vừa bước vào”

Đoạn văn này cũng như đoạn văn trên học sinh sẽ liệt kê ra những từ sau

là từ láy:

Mãi mãi, nhẹ nhàng, cẩn thận, rạo rực, bâng khuâng, xao xuyến, hoàn toàn, nôn nao, hồi hộp, chơi vơi, hốt hoảng Nhưng sau khi học những phương pháp nhận diện này tôi đã yêu cầu các

em lập bảng kiểm tra như sau:

Ngày đăng: 18/03/2022, 01:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1.Nguyễn Thị Hai: Mối quan hệ giữa các tiếng trong láy đôi/ tính chất ngôn ngữ số 2/1998 Khác
2.Hoàng Văn Hành: Từ điển từ láy tiếng việt nhà xuất bản Hà Nội 1998 3. Lê trung Hoa : Tìm hiểu một số thành tố mất nghĩa trong các từ ghép ngôn ngữ số 2/1998 Khác
4. Nguyễn Thiện Giáp: Từ vựng học tiếng việt, nhà xuất bản giáo dục 1998 Khác
5.Nguyễn Đức Tồn: Những vấn đề dạy và học tiếng việt trong nhà trường, phương pháp dạy và học tiếng việt ở bậc trung học cơ sở Khác
6. Sách giáo khoa ngữ văn 7, sách giáo viên ngữ văn 7,Thiết kế bài giảng ngữ văn 7 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w