1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

ĐỀ CƯƠNG MƠN HỌC: LÝ THUYẾT KẾ TỐN (CHƯƠNG TRÌNH CAO HỌC)

19 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 19
Dung lượng 147,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thay vào đó, người ta đưa ra những đặc trưng rất căn bản của kế toán như sau:  Kế toán là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính;  Thông tin kế toán là thông

Trang 1

ĐỀ CƯƠNG MÔN HỌC: LÝ THUYẾT KẾ TOÁN

(CHƯƠNG TRÌNH CAO HỌC)

CHỦ ĐỀ I TỔNG QUAN CHUNG VỀ KẾ TOÁN

Chủ đề này cung cấp các vấn đề tổng quan chung về kế toán, bao gồm các đặc trưng của kế toán, các khái niệm căn bản trong khoa học kế toán, đối tượng sử dụng thông tin kế toán, yêu cầu cơ bản đối với thông tin kế toán và các loại hình kế toán

Đặc trưng của kế toán

Kế toán có nguồn gốc từ hạch toán, trong quá trình hình thành và phát triển, kế toán được hiểu theo nhiều cách khác nhau từ nhiều cách tiếp cận khoa học này Kế toán có thể xem xét như là một công cụ quản lý, nó cũng

có thể tiếp cận như là một nghề chuyên môn hoặc là một môn khoa học

Về mặt học thuật, kế toán được khái niệm nhiều cách khác nhau, tuy nhiên có thể nói rằng cho đến nay, không một khái niệm nào nêu ra được bản chất và phạm vi của kế toán một cách chính xác Mỗi một khái niệm đưa

ra, mô tả công việc cần thiết kế toán phải làm, nhưng giới hạn về công việc của kế toán không được phân định một cách minh bạch Thay vào đó, người

ta đưa ra những đặc trưng rất căn bản của kế toán như sau:

 Kế toán là quá trình thu nhận, xử lý và cung cấp thông tin kinh tế tài chính;

 Thông tin kế toán là thông tin tiền tệ về các hoạt động kinh tế tài chính diễn ra ở đơn vị kế toán cụ thể;

 Thông tin kế toán cung cấp cho các đối tượng sử dụng, giúp họ ra các quyết định kinh tế hiệu quả liên quan đến đơn vị kế toán

 Sau khi xuất hiện bút toán kép, đánh dấu cho sự ra đời của kế toán hiện đại, một loạt vấn đề kế toán nảy sinh Những vấn đề kế toán này xuất phát chủ yếu từ loại nghiệp vụ kinh tế tài chính mới phát sinh, môi trường kinh doanh thay đổi dẫn đến sự ra đời của khoa học kế toán quản trị, kế toán thuế, kiểm toán…

 Các khái niệm căn bản trong khoa học kế toán Ba khái niệm cơ bản trong khoa học kế toán; khái niệm đơn vị kế toán, khái niệm thước đo

Trang 2

tiền tệ và khái niệm kỳ kế toán Mỗi một khái niệm sẽ được phân tích kỹ lưỡng về hệ quả của nó đến khoa học kế toán

 Đối tượng sử dụng thông tin kế toán Đối tượng sử dụng thông tin kế toán

có thể là người ngoài đơn vị kế toán hoặc có thể là đối tượng bên trong Mỗi một đối tượng sử dụng thông tin kế toán khai thác, sử dụng thông tin

kế toán từ những góc độ khác nhau

 Thông tin kế toán phải đảm bảo được những yêu cầu nhất định: những yêu cầu này là tính hợp lý và tính tin cậy

 Trong lý luận và thực tiễn, tồn tại nhiều loại hình kế toán khác nhau, ví

dụ như kế toán tài chính-kế toán quản trị, kế toán quỹ-kế toán dồn tích,

kế toán vi mô-kế toán vĩ mô…mỗi một loại kế toán có những nét đặc điểm riêng, xuất phát từ những cơ sở lý luận nhất định

Tài liệu tham khảo:

1 Eldon S Hendriken, Michealf.Van Breda (2001), Accounting Theory, Tập

thể dịch: Nguyễn Văn Hiệu, Giang Thị Xuyến, Lê Xuân Trường, Nguyễn Hữu Hiểu, Ngô Thanh Hoàng

2 Lee H.Radebaugh, Sidney J.Gray (1996), International Accounting and Multinational Enterprises, John Wiley & Sons, INC

3 Vernon Kam, Accounting Theory (1989), Accounting Theory, John Wiley

& Sons

4 Các bài báo nói về bản chất của kế toán

Trang 3

CHỦ ĐỀ II CÁC YẾU TỐ BÁO CÁO TÀI CHÍNH

Các yếu tố báo cáo tài chính bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động Chủ đề này xem xét các yếu tố báo cáo tài chính theo những quan điểm khác nhau

I Tài sản

Những vấn đề kế toán liên quan đến tài sản bao gồm; ghi nhận, tính giá và trình bày trên các báo cáo tài chính

Ghi nhận tài sản liên quan khái niệm, các tiêu chuẩn cần thiết để ghi nhận một khoản là tài sản

Tính giá tài sản liên quan đến việc dùng thước đo tiền tệ để xác định trị giá tài sản Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III

Trình bày tài sản trên các báo cáo tài chính là việc xắp xếp các chỉ tiêu liên quan đến tài sản trên Bảng cân đối kế toán Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III

Ghi nhận tài sản được xác nhận theo 2 quan điểm: quan điểm cũ và quan điểm mới

Theo quan điểm trước đây, tài sản là những nguồn lực do đơn vị kế toán

sở hữu, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra, có thể đánh giá được và có thể đem lại lợi ích kinh tế trong tương lai

Những điều kiện cần thiết để ghi nhận tài sản theo quan điểm trước đây bao gồm khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, có thể xác định được giá trị của nó, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và phải thuộc quyền sở hữu của đơn vị kế toán

Theo quan điểm hiện tại, tài sản là những nguồn lực do đơn vị kế toán kiểm soát, có thể thu được lợi ích kinh tế trong tương lai

Những điều kiện cần thiết để ghi nhận tài sản theo quan điểm trước đây bao gồm khả năng thu được lợi ích kinh tế trong tương lai, có thể xác định được giá trị của nó, là kết quả của nghiệp vụ kinh tế đã xảy ra và được đơn

vị kế toán kiểm soát

Điểm khác biệt căn bản khái niệm về tài sản theo quan điểm hiện tại và quan điểm trước đây về tài sản đó là khả năng kiểm soát của đơn vị kế toán đối với tài sản và quyền sở hữu đối với tài sản Quan điểm mới về tài sản nhấn mạnh về bản chất kinh tế của tài sản hơn là tính pháp lý của nó

Trong thực tế, các quốc gia trên thế giới ghi nhận tài sản theo những tiêu chuẩn cơ bản sau: căn cứ vào luật, dựa trên nguyên tắc thận trọng, bản chất kinh tế của giao dịch, sự kiện kinh tế và khả năng xác định giá trị của chúng Những căn cứ này là cơ sở để đảm bảo tính khách quan của thông tin kế toán

Trang 4

II Nợ phải trả

Tương tự như tài sản, những vấn đề kế toán đối với nợ phải trả bao gồm:

ghi nhận, tính giá và trình bày trên báo cáo tài chính

Ghi nhận nợ phải trả liên quan khái niệm, các tiêu chuẩn cần thiết để ghi nhận một khoản là nợ phải trả

Tính giá nợ phải trả liên quan đến việc dùng thước đo tiền tệ để xác định trị giá nợ phải trả Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III

Trình bày nợ trên các báo cáo tài chính liên quan đến việc xắp xếp các chỉ tiêu liên quan đến nợ phải trả trên Bảng cân đối kế toán Vấn đề này được giải quyết trong chuyên đề III

Theo quan điểm trước đây, nợ phải trả là nghĩa vụ pháp lý hiện tại của đơn vị kế toán phát sinh từ những giao dịch và sự kiện đã xảy ra

Những điều kiện cần thiết để ghi nhận một khoản là nợ phải trả theo quan điểm này bao gồm: nghĩa vụ pháp lý hiện tại đơn vị kế toán phải thanh toán,

có thể xác định được giá trị của chúng và là kết quả nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra

Theo quan điểm hiện tại, nợ phải trả là nghĩa vụ hiện tại của đơn vị đơn

kế toán phát sinh từ những giao dich và sự kiện đã xảy ra

Những điều kiện cần thiết để ghi nhận một khoản là nợ phải trả theo quan điểm này bao gồm: nghĩa vụ hiện tại của đơn vị phải thanh toán, có thể xác định giá trị của chúng và là kết quả nghiệp vụ kinh tế tài chính đã xảy ra Điểm khác biệt căn bản về khái niệm nợ phải trả theo quan điểm mới và quan điểm trước đây đó là nghĩa vụ pháp lý hay chỉ là nghĩa vụ nói chung Thực tế, có nhiều khoản không thuộc về nghĩa vụ pháp lý nhưng vẫn được ghi nhận như là khoản nợ phải trả trên báo cáo tài chính của đơn vị kế toán như trích trước chi phí sửa chữa lớn tài sản cố định, trích trước tiền lương nghỉ phép của công nhân trực tiếp sản xuất…

Thực tế, các quốc gia trên thế giới thường căn cứ vào những tiêu chuẩn sau để ghi nhận nợ phải trả trên báo cáo tài chính: căn cứ vào luật, nguyên tắc thận trọng, bản chất kinh tế của nghiệp vụ kinh tế tài chính và khả năng đánh giá các khoản nợ phải trả để đảm bảo tính thích hợp và tính khách quan của thông tin kế toán

III Vốn chủ sở hữu

Vốn chủ sở hữu trong kế toán đơn giản được hiểu là phần chênh lệch giữa

tổng tài sản và nợ phải trả

Tính giá vốn chủ sở hữu được xác định trên cơ sở tính giá tài sản và nợ phải trả

Trình bày vốn chủ sở hữu được giải quyết trong chủ đề III

Trang 5

Chủ sở hữu và chủ nợ đều là các bên cung cấp nguồn vốn của đơn vị kế toán, giữa chủ sở hữu và chủ nợ có điểm khác biệt sau:

IV Thu nhập

Thu nhập là sự tăng lên lợi ích kinh tế trong kỳ kế toán, dưới hình thức

dòng tiền vào tăng lên hoặc sự gia tăng của tài sản khác, hoặc sự giảm các khoản nợ phải trả với kết quả làm tăng vốn chủ sở hữu, khác với các trường hợp làm tăng vốn chủ sở hữu do chủ sở hữu đóng góp

Thuật ngữ thu nhập bao gồm cả doanh thu và thu nhập khác Doanh thu của một đơn vị kế toán đạt được từ hoạt động kinh doanh thông thường, thể hiện sự nỗ lực của đơn vị kế toán trong quá trình hoạt động

Hai (02) vấn đề kế toán đối với doanh thu: ghi nhận và tính giá Ghi nhận doanh thu thể hiện doanh thu được ghi nhận vào thời kỳ kế toán nào Tính giá doanh thu thể hiện số tiền doanh thu được ghi bằng bao nhiêu

Thuật ngữ “xác định” thường được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “tính giá” đối với doanh thu Doanh thu có thể được xác định theo tổng số hoặc có thể xác định theo số lượng ròng Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được xác định bằng tổng giá bán Doanh thu chuyển nhượng cổ phiếu, trái phiếu được xác định theo số chênh lệch giữa giá chuyển nhượng và giá gốc của số nó

Nếu xét mối quan hệ giữa doanh thu và kết quả hoạt động thì vấn đề ghi n: nhận doanh thu quan trọng hơn so với vấn đề xác định

Doanh thu trong kế toán có thể được ghi nhận theo nhiều thời điểm khác nhau của quá trình kinh doanh như khi thu được tiền-hàng, trong quá trình sản xuất, kết thúc quá trình sản xuất, giao hàng cho khách…

Mỗi cách ghi nhận doanh thu khác nhau có ưu, nhược điểm riêng biệt Trong thực tế, doanh thu thường được ghi nhận khi đơn vị kế toán bán hàng cho khách hàng Ưu điểm nổi bật của tiêu chuẩn này là thông tin về doanh thu vừa mang tính khách quan, tính xác thực của tài sản, sự đảm bảo với nguyên tắc phù hợp trong kế toán

a) Thu hồi các khoản nợ phải thu vào một a) Không có thời điểm cụ thể

thời điểm cụ thể

b) Có quyền ưu tiên hơn so với chủ sở b) Có quyền cuối cùng

hữu trong việc giải quyết các khoản nghĩa

vụ khi đơn vị kế toán phá sản

c) Chủ nợ không có quyền sử dụng c) Chủ sở hữu có quyền sử dụng

đơn vị

Trang 6

V Chi phí

Chi phí là sự giảm lợi ích kinh tế của đơn vị kế toán trong kỳ kế toán, dưới hình thực dòng tiền chi ra hoặc sự giảm tài sản, hoặc phát sinh khoản

nợ phải trả, kết quả làm giảm vốn chủ sở hữu, không bao gồm các khoản làm giảm vốn chủ sở hữu do phân phối cho chủ sở hữu

Theo nghĩa hẹp, chi phí chỉ bao gồm các khoản chi phí nhằm tạo ra doanh thu Các khoản thuộc chi phí theo nghĩa hẹp như giá vốn hàng bán, chi phí bán hàng, giá vốn thực tế của chứng khoán chuyển nhượng

Theo nghĩa rộng, chi phí còn bao gồm cả các khoản tổn thất, không liên quan đến doanh thu như tổn thất do hỏa hoạn, thiên tai, mất trộm…

Nếu doanh thu được ghi nhận theo nguyên tắc thực hiện thì chi phí được ghi nhận theo nguyên tắc phát sinh

VI Kết quả hoạt động

Kết quả hoạt động là phần chênh lệch giữa thu nhập và chi phí Tùy theo doanh thu được ghi nhận theo thời điểm nào của quá trình hoạt động kinh doanh mà chi phí được xác định ở mức tương ứng cho phù hợp để loại trừ khỏi doanh thu nhằm xác định kết quả hoạt động

Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí có thể được thực hiện nhiều phương pháp khác nhau: phù hợp theo mối quan hệ nhân-quả, phù hợp theo mức phân bổ giá vốn thực tế và phù hợp theo cách ghi nhận ngay

Sự phù hợp giữa doanh thu và chi phí có thể là phù hợp riêng rẽ hoặc phù hợp định kỳ Tuy nhiên, trong thực tế, kết quả hoạt động được xác định cho từng kỳ kế toán ; do vậy toàn bộ các loại phù hợp được gộp chung là phù hợp định kỳ

Kết quả hoạt động có thể được xác định giữa số vốn chủ sở hữu cuối kỳ

và vốn chủ sở hữu đầu kỳ sau khi đã loại trừ ảnh hưởng của những giao dịch, sự kiện liên quan đến vốn chủ sở hữu không phải là kết quả hoạt động

Tài liệu tham khảo:

1 Baillie, Charlie Parker, Greta Isabella, Lily (2006), Financial

Accounting-An Introduction to Concepts, Methods and Uses, Thomson.

2 Harry I Wolk, Micheal G.Tearney, James L.Dodd (2001), Accounting

Theory, South-Western College Publishing.

3 Jayne Godfey, Allan Hodgson, Scott Holmes (2000), Accounting Theory,

John Wiley & Sons Australia

4 Vernon Kam (1989), Accounting Theory, John Wiley & Sons.

Trang 7

CHỦ ĐỀ III PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN

Hệ thống các phương pháp kế toán là hệ thống phương pháp khoa học được

sử dụng để thu thập, ghi chép, tính toán và tổng hợp thông tin về đối tượng

kế toán nhằm cung cấp các bên sử dụng thông tin kế toán để ra quyết định Các phương pháp kế toán được xây dựng trên cơ sở phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa duy vật biện chứng kết hợp với đặc điểm của đối tượng kế toán

Các phương pháp kế toán bao gồm phương pháp chứng từ kế toán, phương pháp tài khoản kế toán, phương pháp tính giá và phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

I Phương pháp chứng từ kế toán và tài khoản kế toán

Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp kế toán phản ánh các hoạt động kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành theo thời gian và địa điểm phát sinh của chúng vào các bản chứng từ kế toán, phục vụ cho công tác kế toán và công tác quản lý

Hình thức biểu hiện của phương pháp chứng từ kế toán bao gồm hai (02) nội dung Thứ nhất, một hệ thống chứng từ kế toán cần thiết để sao chụp toàn bộ nghiệp vụ kinh tế tài chính phát sinh của từng đơn vị kế toán cụ thể.Thứ hai, chương trình luân chuyển chứng từ kế toán để phục vụ cho công tác kế toán và cho công tác quản lý của đơn vị kế toán

Phương pháp chứng từ kế toán hình thành do đặc tính đa dạng của đối tượng kế toán yêu cầu phải có sự sao chụp lại thông tin ban đầu các nghiệp

vụ kinh tế tài chính phát sinh và hoàn thành, làm cơ sở số liệu cho việc xử lý

và hệ thống hóa thông tin kế toán Sử dụng phương pháp chứng từ kê stoasn đảm bảo phản ánh các đối tượng kế toán theo quan điểm lịch sử của phép duy vật biện chứng

Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán được sử dụng để phân loại đối tượng kế toán một cách cụ thể, ghi chép, phản ánh một cách thường xuyên, liên tục và có hệ thống tình hình hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể đó

Thu nhận thông tin

Xử lý thông tin

Cung cấp thông tin

KT

PP TKKT

PP tính giá

Trang 8

Hình thức biểu hiện của phương pháp tài khoản kế toán bao gồm hai (02) nội dung Thứ nhất, tài khoản kế toán và một hệ thống tài khoản kế toán được sử dụng để phản ánh tình hình hiện có và sự biến động từng đối tượng

kế toán cụ thể Thứ hai, cách ghi chép trên tài khoản kế toán bao gồm cả cách ghi đơn và ghi kép

Phương pháp kế toán được xây dựng trên cở sở tính động và tính tĩnh của đối tượng kế toán, đồng thời phương pháp này phản ánh các đối tượng kế toán trong mối quan hệ biện chứng và theo quan điểm phát triển của phép duy vật biện chứng

Những cơ sở lý luận và ý nghĩa của bút toán kép sẽ được trình bày cụ thể trong quá trình nghiên cứu môn học

II Phương pháp tính giá

Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để xác định trị giá thực tế của đối tượng kế toán theo những nguyên tắc nhất định

Theo nghĩa rộng, đối tượng tính giá là toàn bộ đối tượng kế toán, bao gồm tài sản, nợ phải trả, vốn chủ sở hữu, thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động Theo nghĩa hẹp, đối tượng tính giá chỉ bao gồm tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu

Trong khoa học kế toán, nhiều loại giá khác nhau được sử dụng để xác định trị giá của đối tượng kế toán Các loại giá đó bao gồm giá vốn thực tế, giá hợp lý, giá thị trường, giá thấp nhất giữa giá vốn thực tế và giá thị trường, giá trị hiện tại, giá trị có thể thu hồi được Mỗi một loại giá khác nhau có những ưu điểm, nhược điểm nhất định đối với những đặc tính của thông tin kế toán Hơn nữa, sự ảnh hưởng của nó đến các chỉ tiêu trên báo cáo tài chính cũng không giống nhau, việc lựa chọn loại giá nào để tính giá các đối tượng kế toán phụ thuộc vào điều kiện từng quốc gia cụ thể trong từng thời kỳ cụ thể

Phương pháp tính đối với tài sản giá gắn liền với nguyên tắc thận trọng trong kế toán Sự biểu hiện của nguyên tắc thận trọng rất đa dạng, tùy thuộc vào từng loại tài sản cụ thể

III Phương pháp tổng hợp cân đối

Phương pháp tổng hợp cân đối là phương pháp kế toán được sử dụng để tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theonhững quan hệ cân đối vốn có của các đối tượng kế toán nhằm cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các đối tượng sử dụng thông tin kế toán, phục vụ công tác quản lý các hoạt động của đơn vị

Trang 9

Biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán là hệ thống các bảng tổng hợp cân đối kế toán và hệ thống bảng tổng hợp cân đối bộ phận

Những bảng tổng hợp cân đối kế toán tổng thể bao gồm Bảng cân đối kế toán, Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo vốn chủ sở hữu Thuyết minh báo cáo tài chính giải thích rõ các chỉ tiêu trình bày trên các báo cáo tài chính và chính sách kế toán sử dụng để lập các chỉ tiêu đó, không thể hiện được mối quan hệ cân đối của các đối tượng kế toán Do đó, thuyết minh báo cáo tài chính không phải là biểu hiện của phương pháp tổng hợp cân đối kế toán

Đối với Bảng cân đối kế toán, dựa trên mối quan hệ cân đối tổng thể giữa tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu để lập Bảng cân đối kế toán có thể được lập trên cơ sở số liệu từ sổ sách kế toán, báo cáo này cũng có thể được lập dựa theo kết quả kiểm kê Trình tự xắp xếp các chỉ tiêu và mẫu Bảng cân đối kế toán rất đa dạng và phong phú Thực tế, bàng cân đối kế toán ngày nay được lập trên cơ sở kết hợp cả hai (02) phương pháp nêu trên

Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh được lập giữa trên cơ sở mối quan

hệ tổng thể giữa thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động Mẫu Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đa dạng, nhưng phải trình bày cả chỉ tiêu thu nhập, chi phí và kết quả hoạt động

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập dựa trên mối quan hệ cân đối của tiền

và mối quan hệ cân đối giữa tiền và những đối tượng kế toán khác Nếu căn

cứ vào mối quan hệ cân đối của bản thân tiền thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp, nếu căn cứ mối quan hệ cân đối giữa tiền và những đối tượng kế toán khác thì báo cáo lưu chuyển tiền tệ được lập theo phương pháp trực tiếp Cho dù lập theo phương pháp nào thì kết quả dòng tiền thuần trong một thời kỳ vẫn ngang bằng nhau

Báo cáo vốn chủ sở hữu được lập dựa trên mối quan hệ cân đối của bản thân vốn chủ sở hữu

Tài liệu tham khảo:

1 Baillie, Charlie Parker, Greta Isabella, Lily (2006), Financial

Accounting-An Introduction to Concepts, Methods and Uses,

Thomson

2 Karl Kafer (1966), Theory of Accounts in Double-Entry Bookkeeping,

Center for International Education and Research in Accounting

3 Harry I Wolk, Micheal G.Tearney, James L.Dodd (2001), Accounting

Theory, South-Western College Publishing.

4 Jayne Godfey, Allan Hodgson, Scott Holmes (2000), Accounting

Theory, John Wiley & Sons Australia.

5 Vernon Kam (1989), Accounting Theory, John Wiley & Sons.

Trang 10

CHUYÊN ĐỀ IV YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN KẾ TOÁN

Hệ thống quản lý và quản trị kinh doanh chịu ảnh hưởng của một loạt những yếu tố như văn hóa - xã hội, luật pháp, chính trị và kinh tế Tương tự,

hệ thống pháp lý trong lĩnh vực kế toán cũng chịu sự ảnh hưởng của một loạt những yếu tố như hệ thống luật quy định của một quốc gia, sự phát triển của thị trường chứng khoán, công ty cổ phần, tính chất sở hữu đơn vị kế toán, mức độ tăng trưởng kinh tế và lạm phát và chính sách thuế Những yếu tố ảnh hưởng nêu trên phản ánh và thể hiện những đặc điểm hệ thống kế toán đối với mỗi một quốc gia

Chủ đề này cung cấp các kiến thức cơ bản đánh giá hệ thống kế toán giữa các quốc gia có sự khác biệt, không có trường hợp giống nhau một cách hoàn toàn

Hệ thống luật quy định của một quốc gia là một nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển kế toán

Mỗi một xã hội quản lý hành vi của các tổ chức, cá nhân theo những dạng

luật nhất định Ví dụ, các quốc gia Tây Âu có thể quản lý xã hội theo hội theo dạng luật phổ thông như Anh và Mỹ, hoặc có thể quản lý xã hội theo dạng luật dân sự như Pháp, Đức Luật phổ thông bắt nguồn từ Anh và sau đó lan tỏa ra các nước trước đây là thuộc địa của Anh như Mỹ, Úc, Newzealand…Đặc điểm của luật này là mang ít tính trừu tượng, giải quyết từng lĩnh vực, vấn đề cụ thể Chính vì vậy, Luật công ty không quy định chi tiết đơn vị kế toán phải công bố báo cáo tài chính như thế nào và hệ thống pháp lý về kế toán của những quốc gia này hình thành, tồn tại và phát triển không quá lệ thuộc vào các hệ thống luật pháp khác Luật dân sự có nguồn gốc từ La Mã, được áp dụng ở nhiều nước khu vực châu Âu lục địa như Pháp, Đức, Ý…Đặc điểm của luật này quy định một cách cụ thể và chi tiết

Ngày đăng: 17/03/2022, 23:52

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w