Trần Minh Tông bị ong đốt mà qua đời Trần Minh Tông là vị vua thứ 5 của nhà Trần, được đánh giá là người “tính trời khiêm hòa, nhận ngôi của Anh Tông nhường, để tâm vào thú hàn mặc, sính
Trang 1(Những điều lý thú về các vị vua Việt Nam - Phần 7)
Vua Dục Đức và gã ăn mày cùng chung một huyệt mộ
Tháng 6 năm Quý Mùi (1883) vua Tự Đức mất, để di chiếu cho người con nuôi lớn của mình là Nguyễn PhúcƯng Chân lên nối ngôi Thế nhưng ngay trong lễ đăng quan, nhiều đại thần đứng đầu là Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường vì không ưa nên vin vào cớ di chiếu có đoạn nói mắt Ưng Chân có tật, rồi giam lỏng ông,sau đó phế truất Về danh nghĩa, Ưng Chân ở trên ngôi báu chưa đầy 3 ngày
Trở thành một tù nhân, Ưng Chân bị đem giam ở ngôi nhà học của mình trước đây là Dục Đức Đường nên sửsách thường lấy tên đó để gọi vua là Dục Đức Về sau ông bị giam tại ngục thất phủ Thừa Thiên, bị bỏ đói cho đến chết vào tháng 9 năm Giáp Thân (1884), thi thể bó trong một chiếc chiếu rách Hai người lính và và một viên suất đội gánh xác đi chôn trong một ngày mưa gió Đến đầu làng An Cựu ở ngoại thành Huế thì dây
bị đứt, xác vua rơi xuống cạnh một khe nước nông, người ta tin rằng, ông đã “tự chọn” nơi yên nghỉ của mìnhtại đó nên chôn cất qua loa cho xong
Bi đình và lăng tẩm vua Dục Đức
Vì không được quan tâm, chăm sóc, ngôi mộ dần tàn lụi như đất bằng, chẳng ai còn nhớ đó là mộ vua Khônglâu sau, có một ông lão ăn mày qua đấy bị kiệt sức và chết gục trên nấm mộ Dục Đức Dân địa phương đã chôn người ăn mày ngay trên mộ vua mà không hay biết Về sau, con của Dục Đức bất ngờ được lên ngôi, lấy hiệu là Thành Thái
Theo chỉ dẫn của những người am tường sự việc, Thành Thái tìm được mộ của vua cha Khi cải táng, lại thấy trong mộ có hai bộ xương nên đành lấp lại và cho xây dựng lăng mộ tại đó vào đầu năm Canh Dần (1890) và đặt tên là An Lăng Đó là lăng mộ chứa cả thi hài của ông vua xấu số và ông lão ăn mày tốt số
Trần Minh Tông bị ong đốt mà qua đời
Trần Minh Tông là vị vua thứ 5 của nhà Trần, được đánh giá là người “tính trời khiêm hòa, nhận ngôi của Anh Tông nhường, để tâm vào thú hàn mặc, sính bút ở tập Thủy vân, có thơ khuyên người hiền, có bài răn
Trang 2uống rượu, dường như cũng đáng khen” (Việt giám thông khảo tổng luận).
Trong cuộc đời mình, Trần Minh Tông thấy ân hận, day dứt nhất là việc nghe lời xiểm nịnh giết oan bố vợ đồng thời cũng là chú ruột của mình là Huệ Võ vương Trần Quốc Chẩn vào tháng 3 năm Mậu Thìn (1328) Sau này vụ việc sáng tỏ, vua lấy làm ân hận cho khôi phục chức tước, sai lập đền thờ Trần Quốc Chẩn, thế nhưng vụ án oan khuất đó vẫn ám ảnh ông
Tháng 8 năm Bính Thân (1356) khi đã lên làm Thái thượng hoàng, Trần Minh Tông về thăm đền thờ cha vợ
ở núi Kiệt Đặc (thuộc huyện Chí Linh, Hải Dương ngày nay) “Khi trở về, trong thuyền ngự có con ong vàng
đốt vào má phía bên trái của Thượng hoàng, rồi Thượng hoàng bị bệnh” (Đại Việt sử ký toàn thư) Về đến
Thăng Long, bệnh tình của Trần Minh Tông ngày một xấu, đến tháng 2 năm Đinh Dậu (1357) thì qua đời Theo dã sử, con ong vàng đó chính là oan hồn của Trần Quốc Chẩn về báo thù
Vua Lê Cung Hoàn: khát không nước, đói phải xé áo nhai
Lê Cung Hoàng là vị vua cuối cùng của thời Lê sơ Ông được đưa lên ngôi tháng 12 năm Nhâm Ngọ (1522), đến tháng 6 năm Đinh Hợi (1527) bị Mạc Đăng Dung cướp ngôi, sau đó giam cầm rồi bức tử, thọ 20 tuổi
Thảm cảnh của vua được sách Đại Việt thông sử cho biết như sau: “Đăng Dung cướp ngôi, phế truất vua
xuống làm Cung vương, giam vua và Thái hậu vào cung Tây Nội, không cho ăn uống gì cả trong 7 ngày, đến
nỗi phải xé áo mà nhai” Còn sách Lê triều dã sử viết rõ hơn: “Giáng vua xuống làm Cung vương, lại giam
vua cùng mẹ vua là Hoàng thái hậu vào cung nội, trời tháng 7 mà một giọt nước cũng không cho uống, đến nỗi phải xé áo mà ăn”
Sau đó Mạc Đăng Dung sai mang dải lụa vàng bắt hai mẹ con vua phải tự tử rồi đem xác hai người phơi bày ngoài quán Bắc Sứ (nay thuộc khu vực phố Quán Sứ, Hà Nội) rồi đưa về chôn ở lăng Hoa Dương, huyện NgựThiên (nay thuộc huyện Hưng Hà, Thái Bình)
Lê Hiển Tông băng hà không có đồ làm tang lễ
Lê Hiển Tông là người làm vua lâu nhất triều Hậu Lê (46 năm, từ 1740 đến 1786) Tháng 7 năm Bính Ngọ (1786) Lê Hiển Tông lâm bệnh mất Mọi nghi thức trong lễ tang của ông đều do con rể là Nguyễn Huệ lo liệuchu đáo Tuy nhiên ít người biết rằng triều đình lúc đó không chuẩn bị nổi đồ tang lễ cho vua nên phải trưng dụng đồ “hung minh khí” (quần áo, đồ dùng bằng giấy và các vật dụng cho người chết) của một viên hoạn quan
Sách Lê triều dã sử cho hay: “Ngày 17 mưa to gió lớn, trong thành nước dâng lên một thước, đúng ngày hôm
đó vua mất… Xét lúc bấy giờ đang lúc tan tác, cập rập, đồ khâm niệm chưa kịp sắm đầy đủ Có nhà viên quan Thái giám là Châu sắm trước đồ hung minh khí chưa sơn thiếp nhưng rất tinh xảo, bộ Lễ dụ dỗ ông ta đem tiến dâng, bèn lấy dùng Phát gấm hoa vàng trong kho nội phủ, trang trí khảm nạm, 5 ngày thì xong, rồi mang quan tài xuống thuyền Huệ sai Nội tán là Trần Văn Kỷ cùng Hữu quân Chỉnh hộ tống về Thanh Hóa, chôn ở lăng Bàn Thạch”
Trần Thái Tông đoán dúng ngày giờ mình chết
Ngày mồng 1 tháng 4 năm Đinh Sửu (1277) Trần Thái Tông băng hà, theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, trước
đó một năm vị vua này đã đoán trúng thời điểm mình sẽ qua đời, khi ấy ông đã rời ngôi báu để làm Thái Thượng hoàng được 18 năm:
“Trước đó, Thượng hoàng đến ngự đường, bỗng thấy con rết bò trên áo ngự Thượng hoàng sợ, lấy tay phủi
nó rơi đánh "keng" xuống đất, nhìn xem thì hóa ra cái đinh sắt, đoán là điềm năm Đinh Lại có lần đùa sai Minh tự Nguyễn Mặc Lão dùng phép nghiệm quan nghiệm xem điềm lành hay điềm dữ
Trang 3Hôm sau Mặc lão tâu: "Thấy một chiếc hòm vuông bốn mặt đều có chữ Nguyệt, trên hòm có một cái kim, một chiếc lược" Thượng hoàng lại đoán: "Hòm tức là quan tài, chữ "nguyệt" (tháng) ở bốn bên tức là tháng
4, cái kim có thể cắm vào vật gì, tức là nhập vào quan tài, chữ "sơ" là chiếc lược, đồng âm với "sơ" là xa tức
là sẽ xa rời các ngươi"
Lại lúc ấy đương có trò múa rối, thường có câu: "Mau đến ngày mồng 1 thay phiên" Thượng hoàng lại đoán:
"Thế là ngày mồng 1 ta chết" Năm trước, có một hôm thượng hoàng chợt bảo tả hữu: "Tháng 4 sang năm ta tất chết" Quả như vậy”
Được làm vua nhờ ăn vạ
Lý Cao Tông (còn có tên là Long Trát) sinh ngày 25 tháng 5 năm Quý Tị (1173) là người được truyền ngôi một cách may mắn nhất Chuyện rằng ngôi Thái tử vốn thuộc
về anh trai của Long Trát là Long Xưởng, nhưng do mắc nhiều khuyết điểm nên Long Xưởng bị phế làm dân và Lý Anh Tông chưa biết chọn ai thay vào ngôi vị thái tử
Một hôm Lý Anh Tông đùa chơi với người con trai thứ sáu là Long Trát Cậu bé 2 tuổi thấy vua cha đội mũ liền khóc đòi Vua chưa kịp tháo mũ ra thì cậu khóc thét lên, lúc cầm được mũ rồi thì cười thích thú Hành động của cậu bé được Lý Anh Tông cho
đó là điềm lạ nên mới lập Long Trát làm Thái tử Đến tháng 4 năm Ất Mùi (1175) sau khi vua mất, Thái tử lên kế vị ngôi báu, trở thành vị vua thứ 7 của triều Lý.
Vua đi chơi đêm bị cướp mất gươm, ấn
Vua bị cướp, mà vật bị cướp lại là biểu tượng của quyền lực tối cao là chuyện rất khó tin nhưng hoàn toàn có thật, được chính sử và nhiều tài liệu ghi lại.
Trần Dụ Tông là vị vua thứ 7 của nhà Trần, tên thật là Trần Hạo, làm vua 28 năm (1341-1369) Thời kỳ đầu ông chăm lo chính sự nhưng về sau lại lao vào ăn chơi sa đọa, ham mê tửu sắc làm triều chính suy vi, dân tình đói khổ, giặc giã nổi lên khắp nơi… Vì là người ham chơi nên Trần Dụ Tông hay đi thăm thú, ngoạn cảnh nhiều nơi Vào một đêm mùa hạ, tháng 6 năm Bính Ngọ (1366), vua đi chơi ở hương Mễ Sở (nay thuộc Hưng Yên) đến canh ba mới trở về kinh, khi đến sông Chử Gia thì bị kẻ cướp chặn đường lấy mất cả gươm báu lẫn ấn báu.
Sách Đại Việt sử ký toàn thư viết: “Tháng 6, vua ngự thuyền nhỏ đến chơi nhà Thiếu
úy Trần Ngô Lang ở hương Mễ Sở, đến canh ba mới về Khi tới sông Chử Gia bị
cướp mất ấn báu, gươm báu” Một số tài liệu khác cũng chép tương tự, như Việt sử
địa dư viết: “Trần Dụ Tông, niên hiệu Đại Trị năm thứ 9 (1366), vua đi chơi hương
Mễ Sở, khi trở về đến bãi Chử Gia bị cướp, mất cả ấn báu và gươm báu”… Sau khi bị cướp, Trần Dụ Tông cho đó là điềm chẳng lành, khó mà sống lâu nên càng thả sức chơi bời, cơ nghiệp nhà Trần ngày càng suy thoái
Được phong làm Thái tử khi cha chưa lên ngôi
Trang 4Người được chọn vào ngôi vị Thái tử là người sẽ kế thừa ngôi báu sau này, nhưng trong lịch sử phong kiến Việt Nam có một trường hợp độc nhất vô nhị được cha phong làm Thái tử trong khi người cha đó chưa làm vua, đó là chuyện của Hồ Hán Thương.
Hồ Hán Thương là vị vua thứ 2 và cũng là vua cuối cùng của nhà Hồ Triều đại nhà
Hồ được thành lập vào tháng 3 năm Canh Thìn (1400) sau khi Hồ Qúy Ly cướp ngôi của cháu ngoại là Trần An (Trần Thiếu Đế), thế nhưng trước đó, vào tháng giêng cùng năm, khi chưa làm vua nhưng Hồ Quý Ly đã lập Hồ Hán Thương làm thái tử với
ý định chọn người con thứ này nối nghiệp mình.
Vua đóng giả làm sư
Trong lịch sử Việt Nam có một số vị vua từ bỏ địa vị tôn quý để xuất gia tu hành, trở thành những vị sư như trường hợp của Trần Nhân Tông, Lý Huệ Tông… Riêng vua Mạc Mậu Hợp cũng làm sư, nhưng không phải muốn “học đạo cứu đời” mà chỉ làm một ông sư giả để cứu mạng chính mình.
Năm Nhâm Thìn (1592) quân nhà Lê do Trịnh Tùng chỉ huy mở cuộc tổng phản công đánh ra bắc Quân Mạc thua to Vua Mạc Mậu Hợp kinh sợ bỏ chạy khỏi Thăng Long rồi trốn vào ngôi chùa Mô Khuê ở Phượng Nhãn (nay thuộc huyện Yên Dũng, Bắc Giang) Quân lính đi lùng bắt, được dân cho biết “ông sư giả” này đang ẩn trong chùa
đã được 11 ngày rồi Lính kéo vào chùa “thấy một ông sư ngồi xếp bằng gõ mõ liền hỏi, Mạc Mậu Hợp đáp: "Bần tăng tu hành từ hồi còn trẻ tuổi ở am mây này, chén muối đĩa rau hàng ngày trai dưỡng, thắp hương thờ Phật, công đức chuyên làm Thấy nhà sư ăn nói hoạt bát khiêm tốn, quân lính biết ngay là Mạc Mậu Hợp liền bắt giữ”
(Đại Việt thông sử)
Sau đó Mạc Mậu Hợp bị đưa về Thăng Long treo sống 3 ngày, sau đó bị chém đầu tại bãi Bồ Đề (nay thuộc quận Long Biên, Hà Nội), thủ cấp bị đưa vào Thanh Hóa, hai mắt bị đóng rồi bêu ở ngoài chợ.
Lê Thần Tông phải lấy bác dâu làm vợ
Cuộc đời của Lê Thần Tông, ông vua thứ 17 của nhà Hậu Lê có rất nhiều điểm đặc biệt như hai lần làm vua, có nhiều con làm vua nhất, có vợ là người phương Tây, có con nuôi là người phương Tây… Trong số những chuyện lạ về vua, có chuyện ông phải lấy bác dâu làm vợ.
Trang 5Tượng Trịnh Thị Ngọc Trúc ở chùa Mật Sơn
Tháng 5 năm Canh Ngọ (1630) chúa Trịnh Tráng đem con gái là Trịnh Thị Ngọc Trúc gả cho Lê Thần Tông,
ép lập làm Hoàng hậu Điều đáng nói, đây lại là bác dâu của vua, bà là vợ Cường quận công Lê Trụ, bác họ của Lê Thần Tông và đã có 4 con với ông này Sử chép: “Khi ấy, Lê Trụ bị giam trong ngục Vương đem
Ngọc Trúc gả cho vua, vua lấy vào cung” (Đại Việt sử ký toàn thư) Thấy trái với luân thường đạo lý, triều
thần ra sức can ngăn nhưng ở thời xã hội đảo điên, vua chỉ là bù nhìn mà thôi nên Lê Thần Tông vẫn phải
cam chịu mà nói rằng: “Xong việc thì thôi, lấy gượng vậy” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Minh Mạng bỏ trống ngôi Hoàng hậu vì giận vợ
Nhiều người lầm tưởng rằng vua Minh Mạng đặt ra lệ “Tứ bất” là không lập Hoàng hậu, không lập Thái tử, không phong lấy tể tướng, không lấy Trạng nguyên (có sách chép là không phong vương) Thế nhưng không hề có văn bản nào quy định về điều này.
Trang 6Vua Minh Mạng
Riêng về trường hợp không lập Hoàng hậu, không phải vì Minh Mạng lo ngại thế lực bên họ hàng của
Hoàng hậu can thiệp vào chính sự, lũng loạn triều chính mà lý do là vì vua giận vợ Sách Quốc sử di biên cho
biết như sau: “Chính cung húy là Kiều, con gái Doanh tượng quan… Đệ nhị cung tên húy là Hinh, con gái LêTông Chất… Có lần vua hơi se mình, chính cung cùng đệ nhị cung cùng đi cầu đảo ở chùa Thiên Mạc Nhị cung nói rằng: Nếu phải tội với trời thì không cầu đảo vào đâu được Đến lúc vua khỏi, chính cung đem câu nói ấy tâu với vua Vua giận lắm, cho nên ngôi hoàng hậu vẫn để trống, bàn mãi không quyết định được”
(Còn tiếp…)
Đinh Tiên Hoàng bị giết hại thế nào?
Sau khi dẹp được “loạn 12 sứ quân”, Đinh Tiên Hoàng, người động Hoa Lư, châu Đại Hoàng (nay là Hoa Lư,Ninh Bình), lên ngôi hoàng đế, lập ra nhà Đinh
Vào một đêm mùa đông của tháng 10 năm Kỷ Mão (979) Đinh Tiên Hoàng sau yến tiệc, say rượu nằm ngủ ngay giữa sân cung đình Một viên quan hầu cận là Đỗ Thích vốn nuôi sẵn ý đồ thoán đoạt đã lẻn vào giết chết ông Sử sách không cho biết rõ Đỗ Thích giết hại vua như thế nào mà chỉ chép ngắn gọn rằng: “Mùa đông, tháng 10, Chi hậu nội nhân là Đỗ Thích giết vua ở sân cung đình… Nhân vua ăn yến ban đêm, say nằm
ở trong sân, Thích bèn giết, lại giết cả Nam Việt vương Liễn” (Đại Việt sử ký toàn thư)
Trang 7Đền thờ Đinh Tiên Hoàng tại Hoa Lư, Ninh Bình
Theo dã sử và giai thoại ở Hoa Lư thì Đinh Tiên Hoàng bị đầu độc, trước đây Đỗ Thích xuất thân thấp hèn nhưng vì có công cứu vua thoát nạn trong một trận đánh thời dẹp loạn 12 sứ quân nên sau khi nên ngôi, Đinh Tiên Hoàng đã cho Đỗ Thích làm Chi hậu nội nhân lo việc phục vụ ăn nghỉ của vua Vì biết Đinh Tiên Hoàngsinh thời thích ăn lòng lợn nên khi cho rằng thời cơ cướp ngôi đã đến, Đỗ Thích dâng lên vua một đĩa lòng lợn rất ngon có tẩm thuốc độc cực mạnh, vua ăn xong trúng độc mà mất Chính vì câu chuyện này mà từ đó đến ngày nay, tại Hoa Lư, vào ngày giỗ Đinh Tiên Hoàng, khi mổ trâu, bò, dê, lợn làm lễ cúng, tất cả lòng đều bỏ đi, không dùng làm cỗ Đó là tục kị nhắc đến món lòng tẩm thuốc độc đã làm hại vua
Tên tục của một số vị vua
Theo quan niệm dân gian, tên tục là tên do cha mẹ đặt lúc mới sinh, chỉ gọi lúc còn bé, thường dùng từ Nôm xấu xí, tuy nhiên cũng có tên không phải là quá xấu Sử liệu, dã sử cũng cho biết tên tục của một số vị vua nước ta
Ví như Mai Hắc Đế tên hồi nhỏ là Phượng (một loài chim), vua Trần Thái Tông xuất thân từ gia đình làm nghề chài lưới nên có tên tục là Lành Canh (một loài cá), Lê Chiêu Tông có tên tục là Huệ (một loài hoa).Khi sinh vua Lê Hy Tông, mẹ ông bị ghẻ lạnh Bà phải về quê ngoại sống như dân thường, phải mò cua, bắt
ốc, hến để kiếm sống và đã đặt tên con là Cáp (nghĩa là con hến), khi lên làm vua, Lê Duy Cáp mới đổi tên là
Lê Duy Hiệp Vua Quang Trung hồi nhỏ tên là Thơm (nghĩa là mùi hương) còn đối thủ của ông sau này lập
ra nhà Nguyễn là vua Gia Long có tên tục là Noãn (trứng) Hoàng tộc nhà Nguyễn có lệ gọi cả con trai, con gái đều là mụ (mệ) cho dễ nuôi vì thế các vua hồi nhỏ đều có tên tục, như vua Dục Đức lúc nhỏ được gọi là
mệ Tríu, vua Hiệp Hòa là mệ Mến, vua Bảo Đại là mệ Vững…
Vua lấy nô tỳ làm vợ:
Những người được chọn làm vợ vua hầu hết đều xuất thân từ gia đình cao quý, con cháu quan lại, một số người từ tầng lớp dân thường do may mắn mà một bước lên bậc phi tần, vương hậu Tuy nhiên vì những cơ duyên đặc biệt có phụ nữ ở thân phận nô tỳ, địa vị thấp hèn nhất trong xã hội nhưng lại trở thành vợ vua Người thứ nhất là bà Nguyễn Thị Cẩn, vợ vua Lê Hiến Tông, bà quê ở Đông Ngàn (nay thuộc Bắc Ninh) vốn
mồ côi, nghèo khổ phải đi làm người ở, sau bị bắt làm nô tỳ phục dịch trong cung, vì có sắc đẹp mà bà được vua Lê Hiến Tông lấy làm vợ, phong làm phi, bà chính là mẹ đẻ của vua Lê Uy Mục
Trang 8Người thứ hai là một bà phi họ Lê (không rõ tên), quê ở xã Sa Lung, châu Minh Linh (nay là huyện Vĩnh Linh, Quảng Trị) vì gia đình mắc tội, bị bắt làm nô tỳ nhưng xinh đẹp, rất thông minh nên được Lê Uy Mục đón vào cung phong làm phi Sách Đại Việt thông sử cho biết bà “hầu như độc chiếm tình yêu của vua”.Chuyện cha con vua Lê Hiến Tông, Lê Uy Mục đều lấy nô tỳ làm vợ thật là chuyện lạ hiếm thấy trong lịch sửViệt Nam.
Vua Minh Mạng hai lần bị người phương Tây ám sát
Là vị vua thứ 2 của nhà Nguyễn, khác với cha mình là vua Gia Long, Minh Mạng không mấy thiện cảm với người phương Tây do nghi ngại sự nhòm ngó với ý đồ xâm lược, bên cạnh đó những việc buôn bán thuốc phiện, truyền đạo Thiên chúa của người Tây càng khiến chính sách của vua với những người tóc vàng, mắt xanh gay gắt hơn
Có lẽ vì thái độ này, đặc biệt là chủ trương cấm đạo của vua mà Minh Mạng trở thành đối tượng cần “loại trừ” của người phương Tây; không rõ có bao nhiêu âm mưu hãm hại vua, nhưng trong sách Quốc sử di biên cho biết một đại thần là Hà Tông Quyền đã 2 lần cứu ông thoát chết: “Lúc bấy giờ khách buôn Tây dương dâng áo gấm, giá đáng nghìn vàng Quyền tâu nói rằng của lạ ngoại quốc không nên vội tin, xin cho tên tử tù hãy mặc thứ áo ấy Khi tên tù mặc áo ấy, cài cúc vừa xong thì hỏa phát, áo cháy, tên tù bị chết cháy Vua kinhhãi quá ban khen Quyền Sau, lại có người nước Hoa Lang (Hà Lan) dâng một đôi cây sáp lớn vẽ tứ linh Quyền tâu xin cắt ngang một cây ra, thấy có chứa đạn súng và thuốc hỏa mù Vua càng lấy làm lạ về tài thực của Quyền”
Trần Anh Tông bị ném vỡ đầu
Trần Anh Tông là vị vua thứ 4 của nhà Trần, ở ngôi 21 năm (1293 - 1314), được sử sách đánh giá là “khéo nối chí giữ nghiệp, cho nên đất nước được thái bình, chính trị tốt đẹp, văn vật, chế độ dần thịnh lên, cũng là
bậc vua tốt của triều Trần” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Để tiếp cận với đời sống nhân dân, vua Trần Anh Tông thường đi vi hành và có lần ông đã bị ném vỡ đầu Sửcho biết như sau: “Vua thích vi hành, cứ đêm đêm lại lên kiệu cùng với hơn chục thị vệ đi khắp trong kinh
kỳ, gà gáy mới trở về cung Có đêm ra đến quân phường bị bọn vô lại ném gạch trúng vào đầu vua Người theo hầu thét lên: kiệu vua đấy; bọn chúng biết nhà vua mới tan chạy cả Một hôm thượng hoàng thấy đầu
vua có vết thương, vặn hỏi, vua cứ thú thực mà thưa Thượng hoàng giận dữ hồi lâu” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Vua Tự Đức thi văn đỗ hạng bét
Là người thông minh, giỏi văn, hay chữ nên hoàng đế thứ 4 của triều Nguyễn là Tự Đức rất tự cao tự đại mặc dù bề ngoài luôn tỏ ra khiêm tốn Có lần vua nói: Trẫm không đi thi nhưng nếu đi thi nhất định trẫm
sẽ đỗ Trạng nguyên
Thấy mọi người không có vẻ tán đồng, Tự Đức liền nghĩ ra một cách, ông cùng một số vị đại khoa làm một bài luận rồi rọc phách gửi sang nhờ vua Thanh lập ban giám khảo chấm giúp Tự tin nghĩ thế nào mình cũng đỗ đầu nhưng hoá ra bài văn của Tự Đức xếp cuối; trong bài của ông có lời phê rằng: “Bài này tỏ ra tác giả là một người học rộng, khí phách, không phải là người thường nhưng là người không có tài mấy!”
Lý Nam Đế từng là một chú tiểu
Lý Nam Đế tên thật là Lý Bí (còn gọi là Lý Bôn) là người lãnh đạo cuộckhởi nghĩa năm Tân Dậu (541) lật đổ chính quyền đô hộ, xây dựng một
Vua Tự Đức
Trang 9chính quyền tự chủ của nhà nước Vạn Xuân, ông xưng đế và trở thành vị Hoàng đế đầu tiên trong lịch sử ViệtNam.
Lý Bí xuất thân trong một gia đình “đời đời là hào hữu”, cha là Lý Toản, tù trưởng bộ lạc, mẹ là Lê Thị Oánh, người Ái Châu (nay là Thanh Hóa) Là con độc nhất trong gia đình, từ nhỏ đã tỏ rõ là người thông minh, hiểu biết, thế nhưng ông sớm phải sống trong cảnh mồ côi, khi lên 5 tuổi thì cha mất, 7 tuổi mẹ lâm bệnh qua đời; Lý Bí được người chú ruột đón về nuôi dưỡng Một hôm có vị thiền sư đến làm lễ tại ngôi chùatrong làng, tình cờ nhìn thấy Lý Bí Ngắm dung mạo cậu bé khôi ngô, thiền sư biết là người sau này có thể làm lên sự nghiệp Biết hoàn cảnh đáng thương của Lý Bí, thiền sư liền đến gặp người chú xin đem cậu bé về làm “con nuôi cửa Phật” Từ đó Lý Bí trở thành chú tiểu, theo Pháp tổ thiền sư về chùa Linh Bảo ở đất Giang
Xá (nay thuộc xã Đức Giang, huyện Hoài Đức, Hà Nội)
Được vị thiền sư hết lòng dạy bảo, lại thông minh chăm chỉ nên qua hơn 10 năm đèn sách, rèn luyện, Lý Bí trở thành nhân vật thiên tư lỗi lạc, văn võ toàn tài Mọi người ai cũng quý mến, tin phục, sau đó đồng lòng suy tôn ông lên làm thủ lĩnh địa phương và sau này, chú tiểu năm nào đã phất cờ đại nghĩa, lật đổ ách đô hộ gần 500 năm của Bắc triều, đặt những nền móng đầu tiên cho sự ra đời quốc gia phong kiến độc lập
Vua đầu tiên nhận lỗi với thần dân
Vua Lý Cao Tông chính là người đầu tiên làm “thiên tử” thay trời hành đạo mà lại dũng cảm thừa nhận trước thần dân sai lầm của mình
Dưới thời Lý Cao Tông, triều chính bắt đầu đi xuống, loạn lạc nổi lên khắp nơi Sử chép: “Vua chơi bời không điều độ, hình chính không rõ ràng, giặc cướp như ong, đói kém liền năm, cơ nghiệp nhà Lý từ đấy suy kém… Kinh Thi có câu: Bên trong mê sắc đẹp, bên ngoài mê săn bắn, ham rượu, thích nhạc, nhà cao tường đẹp, người nào phạm một trong các điều ấy tất phải diệt vong, mà vua thì phạm đủ các điều ấy, còn làm gì
được…” (Đại Việt sử ký toàn thư).
Đến mùa thu, tháng 8 năm Đinh Mão (1207), vua Lý Cao Tông thấy giặc cướp nổi lên như ong bèn hối lại lỗixưa, nhân đó hạ chiếu nhận lỗi, bài chiếu viết rằng: “Trẫm còn bé mà phải gánh vác việc lớn, ở tận nơi cửu trùng, không biết được cảnh khó khăn của dân chúng, nghe lời bọn tiểu nhân mà gây nên oán với kẻ dưới Dân đã oán thì trẫm còn biết dựa vào ai? Nay trẫm sẽ sửa lỗi, cùng dân đổi mới Ai có ruộng đất, sản nghiệp
bị sung công sẽ được hoàn lại” (Đại Việt sử lược).
Năm Canh Thân (1740) Trịnh Doanh lên ngôi chúa mới chuyển hoàng tử đến giam ở nhà cậu mình là Vũ Tất Thận Đêm trước đó, Vũ Tất Thận “mơ thấy thiên tử tới nhà, cờ quạt phấp phới, nhã nhạc vang lừng, rõ ra
cảnh tượng của đời thái bình” (Hoàng Lê nhất thống chí) Sáng hôm sau thấy quân lính giải hoàng tử đến
nhà, ông ta rất kinh ngạc cho là ứng vào giấc mộng của mình bèn kể lại với chúa Trịnh Doanh thấy vậy cho
là người có phúc lớn bèn đón hoàng tử về tôn lên làm vua, đặt niên hiệu là Cảnh Hưng
Đôi mắt sáng như sao của vua Quang Trung
Trang 10Vua Quang Trung sinh năm Quý Dậu (1753), hồi nhỏ có tên là Hồ Thơm, con thứ của ông Hồ Phi Phúc và bàNguyễn Thị Đồng Khi trưởng thành ông đổi họ Hồ sang họ
Nguyễn và lấy tên là Nguyễn Văn Thơm, sau đó được thầy
học đổi tên là Nguyễn Huệ, ngoài ra ông còn có các tên khác
là Nguyễn Văn Bình, Nguyễn Văn Huệ, Nguyễn Quang
Bình… Các sách sử đều mô tả Quang Trung là người cao
lớn, tóc quăn, da sần, tiếng nói sang sảng như chuông, cặp
mắt sáng như chớp, có thể nhìn rõ mọi vật trong đêm tối
Đôi mắt lạ nhất của Quang Trung theo sách sử cho biết nó
khiến nhiều người khi thấy thần sắc của ông “đều run sợ, hãi
hùng… không một người nào dám nhìn thẳng vào mắt”
(Hoàng Lê nhất thống chí) Đôi mắt này được mô tả như sau:
“đôi mắt lập lòe như ánh điện” (Đại Nam chính biên liệt
truyện), “con mắt nhỏ nhưng cái tròng rất lạ, ban đêm ngồi
không có đèn, ánh sáng từ mắt soi sáng cả chiếu” (Tây Sơn
thuật lược).
Vua Gia Long bị ngã lộn cổ xuống huyệt mộ
Cuộc đời vua Gia Long, vị hoàng đế khai sáng vương triều Nguyễn, có nhiều giai thoại kỳ lạ trong thời kỳ bôn ba gian khổ để mưu đồ phục quốc Tuy nhiên một chuyện lạ có thật ít người biết, đó là chuyện vua đã bị ngã xuống huyệt mộ của mẹ mình là bà Hiếu Khang hoàng thái hậu vào tháng giêng năm Nhâm Thân (1812)
và lạ hơn nữa là cách hành xử của quan lại trước cú ngã của vua Sách Quốc sử di biên viết: “Trước đây sai
Thị trung trực học sĩ Lê Quý Kiệt sửa sơn lăng; Quý Kiệt nói đào đến huyệt tất có đất ngũ sắc, rồi quả nhiên đúng, vua cho là lạ ngày càng khen thưởng Đến lúc làm nhà bên mộ, mưa gió to, vua xảy chân ngã, quan lại đều sợ tản đi hết Phò mã Trương Văn Minh đỡ vua dậy đưa ra khỏi huyệt”
rần Nhân Tông có màu da như vàng ròng
Trần Nhân Tông là một minh quân trong lịch sử Việt Nam, là người lãnh đạo thắng lợi cuộc kháng chiến trong Nguyên Mông xâm lược lần thứ 3, là người sáng lập ra Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử, dòng thiền đặc trưng của Phật giáo Việt Nam