1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

CHUYÊN ĐỀ Những giải pháp nhằm thực hiệu nhiệm vụ, quyền hạn Viện KSND công tác THQCT KSXXHS theo quy định Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014

17 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 131 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định chức năng thực hành quyền công tố là

Trang 1

VIỆN KIỂM SÁT ND TỐI CAO CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH BÌNH ĐỊNH

Số: 1225 /CĐ-VKS-P7 Bình Định, ngày 30 tháng 9 năm 2015

CHUYÊN ĐỀ

Những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND trong công tác THQCT và KSXXHS theo quy định

của Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014

MỞ ĐẦU

Thực hành quyền công tố là hoạt động quan trọng trong công tác đấu tranh phòng chống tội phạm Ở nước ta, bộ máy Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo nguyên tắc tập trung quyền lực, có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Với đặc điểm đó, việc tổ chức và duy trì một hệ thống cơ quan độc lập, chuyên trách giám sát hoạt động tư pháp như Viện kiểm sát là hết sức cần thiết Viện kiểm sát

là cơ quan tiến hành tố tụng duy nhất tham gia vào tất cả các giai đoạn của quá trình tố tụng (hình sự, dân sự), có điều kiện để thực hiện thường xuyên hoạt động kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động tư pháp Vấn đề cần nhấn mạnh là hoạt động kiểm sát tư pháp có mối quan hệ biện chứng, hữu cơ với hoạt động thực hành quyền công tố, bảo đảm cho hoạt động thực hành quyền công tố đúng tội, đúng người, đúng pháp luật

Theo Nghị quyết số 08-NQ/TW, Nghị quyết số 49-NQ/TW, Viện kiểm sát các cấp thực hiện tốt chức năng THQCT và kiểm sát hoạt động tư pháp Trong công tác xét xử hình sự Viện kiểm sát có nhiệm vụ quyết định việc truy tố người phạm tội ra trước toà, đồng thời có trách nhiệm kiểm sát việc tuân theo Pháp luật trong Tố tụng hình sự để phát hiện kịp thời vi phạm pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng Áp dụng những biện pháp do Pháp luật quy định để bảo đảm thực hiện chức năng, nhiệm vụ của Ngành, đặc biệt là trong công tác THQCT & KSXXHS Đây không chỉ là quyền mà còn là trách nhiệm ngành Kiểm sát nhân dân phải thực hiện Trước đây có nhiều quan điểm về khái niệm quyền công tố, về tổ chức thực hành quyền công tố nói chung cũng như trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử nói riêng, sự phân định giữa chức năng kiểm sát và chức năng công tố chưa rõ ràng, cụ thể do đó chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử hình sự chưa ngang tầm với chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát, còn để xảy ra tình trạng bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm quyền tự do dân chủ của công dân Theo Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định về chức năng nhiệm vụ của ngành KSND: Viện KSND là cơ quan thực hành quyền công

tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện KSND có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và Pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ XHCN, bảo vệ lợi ích của Nhà nước,

Trang 2

quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, các nhân, góp phần bảo đảm Pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất

Trong phạm vi chuyên đề chủ yếu đánh giá thực trạng việc thực hiện quyền hạn của Viện KSND trong công tác THQCT và KSXXHS và những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quyền hạn của Viện KSND trong công tác THQCT và KSXXHS theo quy định của Luật Tổ chức Viện KSND năm

2014, góp phần đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của công cuộc cải cách tư pháp trong gia đoạn hiện nay

Bố cục của chuyên đề gồm phần mở đầu, kết luận và 03 Chương:

Chương I: Những quy định của Pháp luật về chức năng thực hành quyền công tố của Viện KSND

Chương II: Thực trạng của việc thực hiện nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác THQCT & KSXXHS theo quy định của Luật

tổ chức Viện KSND

Chương III: Những giải pháp nhằm thực hiện hiệu quả nhiệm vụ quyền hạn của Viện KSND trong công tác THQCT & KSXXHS theo quy định của Luật tổ chức Viện KSND năm 2014

Chương I

Trang 3

Những quy định của pháp luật về chức năng thực hành quyền công tố

của Viện KSND

1 Chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014

Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 khẳng định rõ hơn vị trí của Viện kiểm sát nhân dân là thiết chế Hiến định trong bộ máy Nhà nước Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan thực hành quyền công tố, kiểm sát hoạt động tư pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ Hiến pháp và Pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, góp phần bảo đảm Pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thông nhất (Điều 2, Luật Tổ chức viện kiểm sát nhân dân)

2 Khái niệm chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân theo Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014

Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định chức năng thực hành quyền công tố là hoạt động của Viện KSND trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự Viện KSND thực hành quyền công tố nhằm bảo đảm mọi hành vi phạm tội, người phạm tội phải được phát hiện, khởi

tố, điều tra, truy tố, xét xử kịp thời, nghiêm minh, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không làm oan người vô tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội Không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giữ, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân trái luật (Điều 3, Luật Tổ chức Viện KSND) Như vậy, Luật Tổ chức Viện KSND 2014 đã phân định lại một cách rõ ràng, hợp lý, cụ thể các khâu công tác thực hành chức năng gồm: THQCT kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác về tội phạm và kiến nghị khởi tố; THQCT và KSĐT vụ

án hình sự; THQCT & KSXX vụ án hình sự… tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng nhiệm vụ của Ngành

3 Khái niệm công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự của Viện KSND theo Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014

Để xác định đúng đắn bản chất quyền công tố và đưa ra khái niệm Quyền công tố phải xuất phát từ Lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật, coi Quyền công tố là Quyền lực công, quyền đó thuộc về Nhà nước, được bắt nguồn từ nhu cầu phải duy trì trật tự xã hội bằng Pháp luật để bảo vệ lợi ích giai cấp thống trị

và lợi ích chung Có nhiều ý kiến nói về Quyền công tố khác nhau, ngay ở nước

ta hiện đang tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm Quyền công tố và

để thống nhất Quyền công tố trong Tố tụng hình sự, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 đã ghi nhận và quy định quan điểm bao trùm đó là: Quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật, không bị kháng nghị Như vậy khi hành vi phạm tội được thực

Trang 4

hiện, bổn phận của Cơ quan công tố là phải tiến hành ngay các hoạt động tố tụng theo qui định của Pháp luật nhằm phát hiện tội phạm và người phạm tội, xác định căn cứ để kết tội

Nói đến nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong công tác THQCT và KSXXHS, Nghị quyết của Đảng đã chỉ rõ: hoạt động công tố phải được thực hiện ngay từ khi khởi tố vụ án và trong suốt quá trình tố tụng, tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra, nhằm bảo đảm không bỏ lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, xử lý kịp thời những trường hợp sai phạm của những người tiến hành tố tụng khi thi hành nhiệm vụ Thực hành quyền công tố

là hoạt động của ngành kiểm sát nhân dân trong tố tụng hình sự để thực hiện việc buộc tội của Nhà nước đối với người phạm tội, được thực hiện ngay từ khi giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố và trong suốt quá trình khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án hình sự Theo Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014, Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố bằng các công tác cụ thể: Thực hành quyền công tố trong việc giải quyết

tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn khởi tố, điều tra vụ án hình sự; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn truy tố tội phạm; Thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự; Điều tra một số loại tội phạm; Thực hành quyền công tố trong hoạt động tương trợ tư pháp về hình sự Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm

2014 quy định từ Mục 2 đến Mục 4, từ Điều 14 đến Điều 21 về thực hiện chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân So với Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân trước đây thì Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 thực

sự cụ thể, rõ ràng chặt chẽ hơn về cơ cấu Điều, Khoản, Điểm; cụ thể hóa chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân Quyền công tố và thực hành quyền công tố là hai khái niệm khác nhau Quyền công tố là quyền của Nhà nước, nhân danh quyền lực công thực hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội Nói đến quyền công tố là nói đến một phạm trù

lý luận Ngược lại, thực hành quyền công tố là một phạm trù thực tiễn, là việc tổ chức thực hiện quyền công tố

Phạm vi quyền công tố bắt đầu từ khi tội phạm được thực hiện và kết thúc khi bản án có hiệu lực pháp luật không bị kháng nghị hoặc kết thúc khi vụ án bị đình chỉ Nội dung thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả các quyền năng tố tụng nhằm bảo đảm phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội Theo đó nội dung thực hành quyền công tố bao gồm: Những hoạt động phát động công tố; hoạt động thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra; hoạt động thực hành quyên công tố trong giai đoạn xét xử (Sau khi thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố)

- Thực hành quyền công tố, kiểm sát việc tiếp nhận, giải quyết tố giác,

tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

Trang 5

Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định về vấn đề này tại Chương II, Mục I từ Điều 12 đến Điều 13, đây được xem như hoạt động phát động công tố bao gồm phê chuẩn, không phê chuẩn việc bắt người trong trường hợp khẩn cấp, gia hạn tạm giữ và các biện pháp khác hạn chế quyền con người, quyền công dân trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố Hủy

bỏ quyết định tạm giữ, các quyết định tố tụng khác trái pháp luật của cơ quan có thẩm quyền trong việc giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra vụ án hình sự

Thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội, bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được phát hiện, xử lý theo pháp luật, không để lọt người lọt tội, không làm oan người vô tội Thực hành quyền công tố gắn liền với việc tiến hành các hoạt động điều tra, tức là bất cứ khi nào và ở đâu, Cơ quan điều tra tiến hành điều tra thì Viện kiểm sát có trách nhiệm thực hành quyền công tố Để đạt được yêu cầu

đó Bộ luật TTHS và Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 tại Điều 14, 15 quy định cho Viện kiểm sát khi thực hành quyền công tố trong hoạt động điều tra có quyền năng pháp lý là xét phê chuẩn các quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra

và Viện kiểm sát trực tiếp ra các quyết định tố tụng trong việc khởi tố vụ án, khởi tố bị can; áp dụng các biện pháp cưỡng chế; hủy bỏ các quyết định tố tụng không có căn cứ và trái pháp luật; quyết định việc đình chỉ điều tra, quyết định việc truy tố

- Thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp trong giai đoạn truy tố

Về góc độ lý luận thực ra đây là những hoạt động kết thúc công tố trong

giai đoạn điều tra bao gồm truy tố bị can và đình chỉ vụ án Trong trường hợp truy tố bị can, hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra kết thúc, đồng thời mở

ra hoạt động truy tố trong giai đoạn xét xử Trong trường hợp đình chỉ vụ án, hoạt động công tố trong giai đoạn điều tra kết thúc đồng thời chấm dứt tố tụng đối với vụ án Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 quy định về vấn

đề này tại Chương II, Mục III từ Điều 16 đến Điều 17

Thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự

Viện kiểm sát là cơ quan duy nhất có chức năng thực hành quyền công tố

trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự, là cơ quan duy nhất có quyền kiểm sát các quyết định tố tụng của Tòa án Kiểm sát xét xử của VKS là hoạt động đặc trưng giúp Tòa án ra một bản án đúng người, đúng tội, đúng các quy định của Pháp

luật Luật Tổ chức VKSND năm 2002 và Luật Tổ chức VKSND năm 2014 đều

quy định về công tác thực hành quyền công tố và KSXXHS Theo đó trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm thực hành quyền công tố, bảo dảm việc truy tố đúng người, đúng tội, đúng Pháp luật, không để lọt tội phạm và người phạm tội; kiểm sát việc xét xử các vụ án hình

Trang 6

sự, nhằm bảo đảm việc xét xử đúng pháp luật, nghiêm minh, kịp thời Luật Tổ chức Viện KSND 2002 dành hẳn 04 Điều để quy định về công tác này (Điều 16,

17, 18, 19); Luật Tổ chức VKSND năm 2014 chỉ có 02 Điều (Điều 18, 19) Thế nhưng, qua nghiên cứu thì thấy rằng, tuy chỉ có 02 Điều quy định về công tác thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự nhưng Luật Tổ chức VKSND 2014 lại đầy đủ hơn, đồng thời bổ sung những quyền hạn của Viện KSND đã được quy định tại Bộ luật TTHS năm 2003 mà Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 chưa quy định Như tại khoản 1, Điều 17 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2002 quy định: Khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử các vụ án hình sự, Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ và quyền hạn “đọc cáo trạng, quyết định của viện kiểm sát nhân dân liên quan đến việc giải quyết vụ án tại phiên tòa”, thì khoản 1, Điều 18 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định “ Công bố cáo trạng hoặc quyết định theo thủ tục rút gọn, quyết định khác

về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa” Hoặc tại Điều 18 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 bổ sung, quy định rõ hơn về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND như việc xét hỏi, quyền yêu cầu, quyền kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án trong trường hợp phát hiện oan, sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội hoặc có vi phạm nghiêm trọng trong tố tụng…

Điều 18 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

vụ án hình sự: Công bố cáo trạng hoặc quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn, quyết định khác về việc buộc tội đối với bị cáo tại phiên tòa Xét hỏi, luận tội, tranh luận, phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án tại phiên tòa Kháng nghị bản án, quyết định của tòa án trong trường hợp phát hiện oan sai, bỏ lọt tội phạm, người phạm tội Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác trong việc buộc tội theo quy định của Bộ luật TTHS Điều 19 Viện KSND năm 2014 quy định Nhiệm vụ quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân khi kiểm sát xét xử vụ án hình sự: Kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong việc xét xử các vụ án hình sự của Tòa án Kiểm sát bản án, quyết định của Tòa án Kiểm sát hoạt động tố tụng của người tham gia tố tụng; yêu cầu, kiến nghị cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý nghiêm minh người tham gia tố tụng vi phạm pháp luật Yêu cầu tòa án cùng cấp, cấp dưới chuyển hồ sơ vụ án hình sự để xem xét, quyết định việc kháng nghị Kháng nghị bản án, quyết định của bản án có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng Thực hiện quyền yêu cầu, kiến nghị và nhiệm vụ, quyền hạn khác trong kiểm sát xét xử vụ án hình sự theo quy định của bộ luật Tố tụng hình sự Các hình thức thực hiện chức năng của viện kiểm sát nhân dân trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử vụ án hình

sự và kiểm sát hoạt động xét xử vụ án hình sự Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 thì VKS có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng hình sự Đặc biệt trong giai đoạn xét

xử vụ án hình sự thì chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong hoạt động xét xử là giai đoạn độc lập của tố tụng hình sự được thể hiện thông qua các hoạt động cơ bản như ban hành bản cáo trạng,

Trang 7

quyết định truy tố, đọc cáo trạng, luận tội, tranh luận với bị cáo, người bào chữa

… kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu khắc phục vi phạm …Hai chức năng này tuy

có đối tượng áp dụng, phạm vi điều chỉnh khác nhau nhưng có mối quan hệ qua lại lẫn nhau và đều ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hành quyền công tố

và kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự

4 Quy định của Pháp luật tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Viện KSND trong công tác THQCT & KSXXHS

4.1 Những quy định Pháp luật tố tụng hình sự và Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 về THQCT & KSXXHS

4.1.1 Những quy định về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử

sơ thẩm vụ án hình sự:

Sau khi kết thúc điều tra vụ án hình sự, nếu xác định có tội phạm và cần phải truy cứu TNHS đối với bị can thì Cơ quan điều tra phải làm bản kết luận điều tra, đề nghị VKS truy tố Trường hợp vụ án giải quyết theo thủ tục rút gọn, khi KTĐT, Cơ quan điều tra không làm bản kết luận điều tra mà ra quyết định

đề nghị truy tố Bản kết luận điều tra (QĐ đề nghị truy tố) cùng toàn bộ hồ sơ vụ

án phải được chuyển sang VKS để xem xét giải quyết theo thẩm quyền (Điều 162/BLTTHS năm 2003) Trong thời hạn không quá 20 ngày đối với tội phạm ít nghiêm trọng và tội phạm nghiêm trọng, không quá 30 ngày đối với tội phạm rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng kể từ ngày VKS nhận được hồ sơ vụ án

và bản kết luận điều tra, VKS xem xét thấy có đủ căn cứ để truy tố bị can ra trước tòa để xét xử thì ra QĐ truy tố bằng bản cáo trạng Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày ra QĐ truy tố bằng bản cáo trạng, VKS phải gửi hồ sơ và bản cáo trạng đến Tòa án Tại phiên tòa sơ thẩm chức năng thực hành quyền công tố của VKS là buộc tội thông qua việc công bố bản cáo trạng, hoặc QĐ truy tố, tham gia xét hỏi, luận tội, tranh luận nhằm buộc tội bị cáo, bảo vệ cáo trạng tại phiên tòa Tại phiên tòa chức năng công tố còn được thể hiện thông qua việc KSV là người đại diện VKS tham gia xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm, chức năng thực hành quyền công tố của VKS vẫn được duy trì thông qua việc KSV tham gia phiên tòa vẫn tiếp tục nghiên cứu, xem xét, đánh giá kết quả hoạt động xét xử để kiểm tra tính có căn cứ và hợp pháp của việc ra bản án, quyết định của tòa án, thông qua đó để phát hiện những sai sót, vi phạm pháp luật để kịp thời kháng nghị theo trình tự của Pháp luật (Điều 18 Luật

tổ chức VKSND năm 2014)

4.1.2 Những quy định về kiểm sát hoạt động xét xử của Tòa án trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự:

Trong giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án hình sự ngoài chức năng thực hành quyền công tố VKS còn thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp được thể hiện cụ thể tại Điều 14 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử hình sự có quy định: “KSV phải kiểm sát việc tuân theo pháp luật của

Trang 8

Tòa án về thẩm quyền xét xử vụ án; về thời gian chuẩn bị xét xử vụ án, về việc

ra các Quyết định áp dụng thay đổi hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, Quyết định đưa

vụ án ra xét xử, Quyết định tạm đình chỉ vụ án, hoặc đình chỉ vụ án và việc giao các quyết định này theo Điều 182/BLTTHS Đối tượng của kiểm sát xét xử sơ thẩm hình sự là: “Sự tuân thủ pháp luật trong hoạt động xét xử sơ thẩm án hình

sự của Tòa án nhân dân và những người tham gia tố tụng xét xử” Về phạm vi kiểm sát xét xử sơ thẩm án hình sự “bắt đầu từ khi hồ sơ vụ án và quyết định truy tố được gửi đến Tòa án , kết thúc khi vụ án được xét xử đã có bản án, quyết đinh sơ thẩm có hiệu lực không bị kháng cáo, kháng nghị” Như vậy trong giai đoạn xét xử sơ thẩm án hình sự VKS có chức năng chính sau: Kiểm sát hoạt động tuân theo PL của HĐ xét xử và những người tham gia tố tụng khác; kiểm sát việc chấp hành pháp luật của Tòa án về thời hạn chuẩn bị xét xử; Kiểm sát nội dung của quyết định đưa vụ án ra xét xử của Tòa án; Kiểm sát việc tuân theo

PL trong việc giao các quyết định tố tụng của Tòa án; Kiểm sát các quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án của Tòa án Tại phiên tòa sơ thẩm căn cứ Điều 201/BLTTHS, Điều 18, 19 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014, Điều 20 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự: “Kiểm sát viên phải kiểm sát việc chấp hành các thủ tục tố tụng tại phiên tòa của HĐXX, thư kí tòa án và những tham gia tố tụng khác ngay từ khi bắt đầu phiên tòa đến khi kết thúc phiên tòa, nhằm bảo đảm cho việc xét xử được công minh, đúng pháp luật” Sau khi kết thúc phiên tòa sơ thẩm vụ án hình sự hoạt động kiểm sát phải kiểm tra biên bản phiên tòa, kiểm tra bản án, quyết định của tòa án Ngoài

ra VKS còn phải kiểm tra bản án, quyết định của tòa án và việc giao nhận bản

án, quyết định hình sự sơ thẩm của tòa án cho bị cáo và VKS cùng cấp

4.2 Những quy định của Pháp luật về chức năng của Viện kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự

“Xét xử phúc thẩm là một giai đoạn tố tụng hình sự Trong giai đoạn này,

tòa án cấp trên trực tiếp xét xử lại vụ án hoặc xét xử lại quyết định sơ thẩm mà bản án, quyết định sơ thẩm đối với vụ án đó chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặc kháng nghị nhằm khắc phục sai lầm của tòa án cấp dưới, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật, bảo vệ lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân” Cũng như phiên tòa sơ thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm VKS cũng

có chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử các vụ án hình sự Khi thực hiện chức năng của mình, VKS có quyền kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm đối với bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án nhân dân chưa có hiệu lực Pháp luật

“Kháng nghị là một trong những quyền hạn của Viện KSND được thể hiện bằng một văn bản pháp lý thể hiện quan điểm không thống nhất với bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật của cấp sơ thẩm vì xét xử thiếu căn cứ, không hợp pháp và yêu cầu Tòa phúc thẩm xét xử lại vụ án cho đúng pháp luật”

Trang 9

Theo Hiến pháp năm 2013, Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định chức năng của Viện KSND là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Điều 5 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014 quy định:

“Trường hợp hành vi, bản án, quyết định của cơ quan, cá nhân có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp có vi phạm pháp luật nghiêm trọng, xâm phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của

tổ chức, cá nhân thì Viện KSND phải kháng nghị Cơ quan, người có thẩm quyền phải giải quyết kháng nghị của Viện KSND theo quy định của Pháp luật Trường hợp hành vi, quyết đinh của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong hoạt động

tư pháp có vi phạm pháp luật ít nghiêm trọng không thuộc trường hợp kháng nghị thì Viện KSND kiến nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân đó khắc phục vi phạm pháp luật và xử lý nghiêm người vi phạm pháp luật; nếu phát hiện sơ hở, thiếu sót trong hoạt động quản lý thì kiến nghị cơ quan, tổ chức hữu quan khắc phục

và áp dụng các biện pháp phòng ngừa vi phạm pháp luật và tội phạm Cơ quan,

tổ chức, cá nhân có liên quan có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kiến nghị của Viện KSND theo quy định của Pháp luật”; Điều 18, Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014; Điều 28, 33 Quy chế thực hành quyền công tố và kiểm sát xét

xử các vụ án hình sự quy định về thẩm quyền kháng nghị phúc thẩm các vụ án hình sự của VKS Như vậy kháng nghị phúc thẩm là một hoạt động quan trọng của VKS và duy nhất VKS mới có quyền kháng nghị phúc thẩm

4.2.1.Những quy định của Pháp luật về thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự:

Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm điều đặc biệt quan trọng để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố là xác định rõ thẩm quyền ra quyết định kháng nghị, các căn cứ kháng nghị, thời hạn ra quyết định kháng nghị, việc thay đổi bổ sung hay rút kháng nghị đồng thời phải có cơ chế phối hợp giữa VKS cấp trên và VKS cấp dưới Đây là nội dung cơ bản để thực hiện chức năng thực hành quyền công tố ở giai đoạn trước khi mở phiên tòa phúc thẩm (Điều 19 Luật Tổ chức Viện KSND năm 2014) Tại phiên tòa phúc thẩm, khác với việc thực hành quyền công tố của VKS ở phiên tòa sơ thẩm là công bố bản cáo trạng thì ở phiên tòa phúc thẩm việc thực hành quyền công tố của VKS là tham gia xét hỏi, phát biểu kết luận và tranh luận với bị cáo, người bào chữa và những người tham gia

tố tụng khác Sau khi kết thúc phần xét hỏi, chuyển sang phần tranh luận Để bảo vệ quan điểm truy tố của mình hoặc bảo vệ kháng nghị thì tại phiên tòa phúc thẩm VKS phải phát biểu quan điểm của mình về đường lối giải quyết vụ án Kết luận của KSV là thể hiện quan điểm của Viện KSND tại phiên tòa phúc thẩm về bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và đề nghị Tòa phúc thẩm ra bản án phúc thẩm có căn cứ, hợp pháp Chức năng thực hành quyền công tố trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là thông qua việc tranh luận với bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhằm làm sáng tỏ vụ

án Do vậy việc tranh luận của VKS cũng là thực hiện chức năng công tố của mình nhằm truy tố người thực hiện hành vi phạm tội một cách đúng người, đúng tội, đúng các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ trật tự của pháp luật, Pháp chế

Trang 10

XHCN Sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự thì bản án hình sự có hiệu lực thi hành ngay Vì vậy, sau khi HĐXX tuyên án thì chức năng thực hành quyền công tố của VKS cũng kết thúc vì VKS đã hoàn thành chức năng bảo vệ quan điểm truy tố của mình là truy tố người phạm tội ra tòa để xét

xử nhằm bảo vệ Pháp chế XHCN

4.2.2 Những quy định của Pháp luật về kiểm sát hoạt động xét xử của tòa

án trong giai đoạn xét xử phúc thẩm vụ án hình sự:

“Kiểm sát xét xử phúc thẩm hình sự là kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Tòa án nhân dân và những người tham gia tố tụng trong thủ tục xét xử phúc thẩm hình sự nhằm bảo đảm cho xét xử đúng người, đúng pháp luật, nghiêm minh và kịp thời” Đối tượng kiểm sát trong giai đoạn xét xử phúc thẩm hình sự

là sự tuân thủ pháp luật của Tòa án nhân dân cấp phúc thẩm và những người tham gia tố tụng trong việc xét xử theo thủ tục phúc thẩm hình sự Phạm vi kiểm sát được tính bắt đầu từ khi bản án, quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị cho đến khi Tòa phúc thẩm ra bản án Có thể chia làm 3 giai đoạn kiểm sát xét xử phúc thẩm đó là: Trước khi mở phiên tòa phúc thẩm, tại phiên tòa phúc thẩm và sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm

Trước khi mở phiên tòa chức năng kiểm sát hoạt động xét xử phúc thẩm không chỉ đơn thuần là kiểm sát việc xét xử của Tòa án có đúng thành phần của Hội đồng xét xử không; việc áp dụng các quy định của pháp luật như thế nào mà kiểm sát hoạt động xét xử thì trước hết VKS phải làm tốt chức năng kiểm sát việc ra các quyết định của Tòa án trong giai đoạn trước khi mở phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự Tại phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự, chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử cũng như các chủ thể khác tham gia xét xử cũng được tiến hành như việc kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm: Như việc KSV phải tiến hành tiến hành kiểm sát thủ tục bắt đầu phiên tòa phúc thẩm xét xử vụ án hình sự có đúng trình tự và thủ tục có đúng các quy định các quy định pháp luật tố tụng hình sự hay không, kiểm sát tư cách của những người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng có đúng như trong quyết định đưa vụ án ra xét xử hay không… Sau khi kết thúc phiên tòa do tính chất của việc xét xử phúc thẩm vụ án hình sự là việc phán quyết của Hội đồng xét xử có hiệu lực pháp luật ngay sau khi tuyên án do vậy, sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm VKS phải kiểm sát chặt chẽ các quyết định của HĐXX như quyết định trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa có được thực thi hay không Các văn bản tố tụng khác như biên bản phiên tòa phúc thẩm, bút kí phiên tòa, bản án … có được lập đúng trình tự, thẩm quyền Đó là chức năng cơ bản nhất của VKS sau khi kết thúc phiên tòa phúc thẩm

Các quy định của Bộ luật TTHS năm 2003, Luật Tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2014 và các quy định của pháp luật có liên quan đều khẳng định

rõ chức năng của VKS trong giai đoạn xét xử vụ án hình sự: Thực hành quyền công tố và tuân theo pháp luật, trong đó thể hiện rõ chức năng thực hành quyền công tố là chức năng hiến định và thực tiễn chứng minh chỉ có VKS mới làm tốt

Ngày đăng: 17/03/2022, 23:14

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w