1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BÁO CÁO Tình hình triển khai thực hiện Đề án“Xây dựng Đà Nẵng - thành phố môi trường” giai đoạn 2008 - 2012 và đề xuất kế hoạch thực hiện trong giai đoạn 2013 - 2015

24 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 249,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Trong vòng 3 năm có 9/10 điểm nóng môi trường đã được giải quyết đúng lộ trình đã đề ra tại Đề án như: nước rỉ bãi rác Khánh Sơn, hồ Đầm Rong, hồ Đảo Xanh, cửa sông Phú Lộc, khu vực Tr

Trang 1

“Xây dựng Đà Nẵng - thành phố môi trường” giai đoạn 2008 - 2012 và

đề xuất kế hoạch thực hiện trong giai đoạn 2013 - 2015

Trên cơ sở Quyết định số 41/QĐ-UBND ngày 21/8/2008 của Chủ tịch

UBND thành phố về việc phê duyệt Đề án “Xây dựng Đà Nẵng - thành phố môi

trường” (sau đây gọi tắt là Đề án), sau 03 năm triển khai, Kết quả thực hiện Đề

án được đánh giá như sau:

I- ĐÁNH GIÁ CHUNG

- Trên cơ sở Đề án được phê duyệt, nhiều hoạt động của Đề án được

UBND thành phố chỉ đạo tập trung triển khai Chất lượng môi trường nhìn

chung cơ bản tốt, đáp ứng tiêu chí thành phố bền vững về môi trường ASEAN

đối với nước sạch, đất sạch và không khí sạch Năm 2011, Đà Nẵng là duy nhất

của Việt Nam đạt danh hiệu “Thành phố bền vững về môi trường ASEAN”

- Xử lý điểm nóng môi trường là vấn đề được chú trọng trong giai đoạn 1

thực hiện đề án Từ chỗ chỉ có 02 hệ thống xử nước thải tập trung (HTXL) của

KCN Đà Nẵng và KCN Hòa Khánh, đến nay đã có 05 KCN có HTXL nước thải

tập trung

Nước thải tại 6 KCN và 01 CCN đã được thu gom và xử lý tập trung, với tỷ

lệ đấu nước thải đạt 81%, cắt giảm 78,4% nước thải tại các KCN thải trực tiếp ra

môi trường (tương đương 5.360m3/ngày đêm), góp phần giảm thiểu ô nhiễm các

khu vực lân cận các KCN

- Trong vòng 3 năm có 9/10 điểm nóng môi trường đã được giải quyết

đúng lộ trình đã đề ra tại Đề án như: nước rỉ bãi rác Khánh Sơn, hồ Đầm Rong,

hồ Đảo Xanh, cửa sông Phú Lộc, khu vực Trạm xử lý nước thải Hoà Cường, các

khu, cụm CN trên địa bàn thành phố, các cửa cống xả dọc đường Trường Sa và

Hoàng Sa, khu vực các nhà hàng cuối tuyến đường Phạm Văn Đồng, Âu thuyền

Thọ Quang, cửa sông Cu Đê, các tuyến cống thải trên sông Hàn.

Riêng việc xử lý ô nhiễm do hoạt động của KCN DVTS Đà Nẵng và Âu

thuyền Thọ Quang vẫn chưa đạt yêu cầu, thời gian gần đây nảy sinh thêm nhiều

phức tạp, ảnh hưởng đến đời sống xã hội của dân cư khu vực lân cận Tuy nhiên,

với những nỗ lực trong 6 tháng đầu năm 2012, đến nay theo đánh giá của người

dân khu vực, ô nhiễm mùi hôi, nước thải đã cải thiện đáng kể

Trang 2

- Về khí thải công nghiệp, đã giải quyết cơ bản tình trạng ô nhiễm khôngkhí do hoạt động sản xuất nấu luyện, cán kéo thép tại CCN Thanh Vinh Tuynhiên, trình độ công nghệ đang được áp dụng còn ở mức trung bình - khá, nênchưa đủ đảm bảo về lâu dài Công tác giải quyết di dời dân cư triển khai chậm

so với chỉ đạo của UBND thành phố tại công văn số 7060/UBND-QLĐBGTngày 28/10/2009, công văn số 3912/UBND-QLĐTh ngày 5/6/2012, Thông báo

số 174/VP ngày 20/6/2012 do việc giải quyết đền bù kịp thời

- Quản lý chất thải rắn toàn thành phố có cải thiện hơn sau 03 năm thực

hiện Đề án Đến nay, tỷ lệ thu gom rác thải toàn thành phố đạt 93%, tăng 7% so với năm 2005, trong đó tỷ lệ thu gom rác thải đô thị đạt 98% Tuy nhiên, hoạt

động phân loại và tái chế, tái sử dụng rác thải mới chỉ là tự phát, tỷ lệ tái sử

dụng rất thấp khoảng 10% Để giảm tối đa lượng thùng rác đặt trên các đường

phố, tạo mỹ quan sạch đẹp, UBND thành phố đã ban hành Đề án Thu gom rácthải theo giờ Hiện nay, các cơ quan đang triển khai thực hiện giai đoạn 1, dựkiến hoàn thành trước năm 2015

- Các tuyến đường phát sinh ô nhiễm bụi và tiếng ồn trong quá trình phát

triển thành phố như: đường Phạm Hùng, tuyến đường vào thôn Phước Thuận,

xã Hòa Nhơn, Trường Sơn, Cách mạng Tháng 8, Phạm Hùng, Lê Trọng Tấn, Hoàng Văn Thái đã được chỉ đạo thực hiện tốt các giải pháp giảm bụi và tiếng

có đề án riêng về quận môi trường, có 100% người dân được điều tra (dự án

DaCRISS năm 2008) đều ủng hộ việc xây dựng Đà Nẵng trở thành thành phốmôi trường

- Hoạt động đầu tư, nhất là hợp tác quốc tế về bảo vệ môi trường trong thờigian gần đây cũng được xúc tiến nhiều dự án lớn, như GIZ, VPEG, Dự án Cơ sở

hạ tầng ưu tiên, dự án phát triển bền vững thành phố Đà Nẵng,…Đây là cơ hộitạo đà cho thành phố hoàn thiện hạ tầng về môi trường trong quá trình xây dựngthành phố môi trường

II- ĐÁNH GIÁ MỤC TIÊU ĐỀ ÁN

- Giai đoạn 2008 - 2010, đã tập trung giải quyết 09 điểm nóng môi trường

cấp bách, riêng 02 năm gần đây, Khu Âu thuyền Thọ Quang và HTXL nước thảiKCN DVTS Đà Nẵng đã được tập trung xử lý trước các sức ép từ cộng đồngliên quan

- Ngăn chặn toàn bộ nước thải sinh hoạt đô thị thải ra các lưu vực nhạy cảmcủa thành phố, như biển ven bờ, bãi biển Thanh Bình, Mỹ Khê, dọc sông Hàn…Nhờ vậy đã kiểm soát được chất lượng môi trường tại các khu vực tiếp nhận,bảo vệ cảnh quan và vệ sinh môi trường

Trang 3

- Cắt giảm gần 80% nước thải tại các KCN thải trực tiếp ra môi trường xung quanh Đến tháng 10 năm 2012, toàn thành phố còn 5,6% cơ sở chưa đấu

nối nước thải Nguyên nhân là do chưa đủ điều kiện đấu nối, hạ tầng chưa hoànthiện, hệ thống thu gom nhiều nơi bị hư hỏng, xuống cấp…

- Ô nhiễm không khí do hoạt động công nghiệp tại CCN Thanh Vinh đãđược giải quyết, song vẫn chưa thật sự dứt điểm do công tác giải phóng mặtbằng và di dời dân của địa phương còn chậm

- Đến năm 2011, tỷ lệ cây xanh đô thị đạt 5,02m2/người, tăng

3,02m2/người, dự kiến sẽ đảm bảo đạt mục tiêu đến năm 2015 về cây xanh đôthị theo đề án

- Chất thải rắn được quản lý rất tốt, luôn dẫn đầu cả nước về tỷ lệ thu gom

và thực trạng vệ sinh môi trường Đến nay, tỷ lệ thu gom rác thải sinh hoạt đô

thị đạt 98%, toàn thành phố đạt 93% 100% chất thải nguy hại y tế được thu gom

và xử lý đạt yêu cầu Tỷ lệ thu gom phân loại, tái sử dụng, tái chế ước đạt

khoảng 10%, đã đầu tư 01 nhà máy xử lý rác thải nilông và cao su thành nhiên

liệu đốt công nghiệp tại bãi rác Khánh Sơn

- Xã hội hoá trong xây dựng và đưa vào vận hành Trung tâm hoả táng An

Phước Viên, đến nay có gần 100 ca được thực hiện hoả táng Công tác tuyên

truyền, vận động trong việc chuyển đổi hình thức mai táng đã được thực hiệntrong thời gian qua bằng nhiều hình thức

Một số mục tiêu chưa đạt được đến thời điểm hiện nay:

- Mặc dù tỷ lệ cây xanh đô thị tăng lên đáng kể, song Đề án “Phát triển câyxanh đô thị thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2011 - 2015” mới được UBND thànhphố phê duyệt tại Quyết định số 108/QĐ-UBND ngày 05/01/2012 nên chưa triểnkhai mạnh mẽ xã hội hoá như mục tiêu dự kiến

- Chất thải nguy hại nói chung ở Đà Nẵng chưa được tổ chức điều tra để có

kế hoạch kiểm soát lâu dài, chưa tổ chức phân loại rác thải tại nguồn trên quy

mô toàn thành phố

- Tất cả các khu, cụm CN đã có HTXL nước thải tập trung theo quy định,song thực tế chất lượng nước thải sau xử lý tập trung chưa ổn định, đôi lúc cònvượt quy chuẩn (ngoại trừ HTXL nước thải KCN Đà Nẵng)

III- ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ THỰC HIỆN NHIỆM VỤ CHÍNH

2.1 Môi trường nước

a) Chất lượng môi trường:

Chất lượng môi trường nước nhìn chung trong thời gian qua đã có nhữngcải thiện đáng kể, nhờ giải quyết cơ bản điểm nóng môi trường Ô nhiễm ven bờphía vịnh Đà Nẵng do ngăn chặn được nguồn thải đô thị trực tiếp ra lưu vực vàkhắc phục sự cố của Trạm xử lý nước thải Phú Lộc nên chất lượng môi trường

có tốt hơn

Trang 4

Mức độ ô nhiễm hồ Bàu Tràm hiện không còn nghiêm trọng như trước, bởicác nguồn thải công nghiệp phía Bắc đã được đấu nối, thu gom và xử lý tập

trung khoảng 5.210m3/ngày đêm, có 02 hồ khu vực nội thành bị lấp (Đầm Rong

2 và Gia Phước), còn lại các hồ, đầm trong đô thị đã được phân cấp quản lý, chủđộng xã hội hoá trong khai thác và bảo vệ môi trường

b) Xử lý ô nhiễm nước thải

- Trước năm 2008, nước rỉ bãi rác Khánh Sơn, khoảng 250 - 500m3/ngàyđêm đã được xử lý nhưng chưa đạt yêu cầu Sau khi Công ty TNHH Khoa học,công nghệ và môi trường Quốc Việt đầu tư HTXL nước rỉ rác với công suất

1.000m3/ngày đêm, đến nay vận hành ổn định, nước rỉ được xử lý cơ bản đạt yêucầu

- Bãi rác Khánh Sơn cũ đóng cửa vào cuối năm 2007, đến nay Thành phố

đã đặt hàng với Công ty TNHH MTV Môi trường đô thị Đà Nẵng (URENCO

Đà Nẵng) xử lý mùi hôi bằng cách phun chế phẩm sinh học định kỳ, quan trắccác chỉ tiêu môi trường Hiện bãi rác cũ đã được thực hiện đóng cửa theo đúngquy trình bằng nguồn vốn hỗ trợ của Chính phủ

- Vấn đề môi trường khu vực hồ Đảo Xanh đã được giải quyết căn bản, từ

chỗ 100% các nhà hàng chưa có cam kết bảo vệ môi trường và không có HTXL

nước thải Nước thải được xả thẳng vào môi trường, ảnh hưởng đến chất lượng

nước khu vực Đảo Xanh Đến nay, 100% nhà hàng đã có cam kết BVMT và hơn 200m3 nước thải dịch vụ mỗi ngày được thu gom vào hệ thống thoát nước

đô thị và đưa về trạm xử lý nước thải Hòa Cường để xử lý, không thải vào khuvực Đảo Xanh Ngoài ra, lòng hồ và mương dẫn cũng được nạo vét bùn đồngthời để khơi dòng và giảm mùi hôi

- Khu vực cống thải đoạn cầu sông Hàn đến Viện Cổ Chàm ô nhiễm mùi

do nước thải không qua xử lý thải trực tiếp ra sông Hàn vào thời điểm trước năm

2008 Đến năm 2011, tình trạng mùi hôi đã giảm và nước thải vào lúc trời nắngkhông chảy trực tiếp ra sông Hàn bằng các giải pháp như tổ chức nạo vét, lắpcửa chắn mùi, hoàn thành khép kín đường thu nước thải

- Hiện nay, ô nhiễm mùi hôi, nước thải sinh hoạt từ các cống thuộc tuyến

Sơn Trà - Điện Ngọc và vấn đề xả thải trực tiếp ra môi trường của 08 nhà hàng

cuối tuyến đường Phạm Văn Đồng đã được chấm dứt Dọc tuyến này đã đầu tưcửa cống ngăn mùi, đầu tư hệ thống thu gom và toàn bộ nước thải được gom vàbơm về Trạm XLNT Ngũ Hành Sơn và Sơn Trà để xử lý

- Vấn đề thu gom và xử lý nước thải công nghiệp:

Thành phố Đà Nẵng có 6 KCN và 01 CCN, tổng số cơ sở đang hoạt động là

292 cơ sở trên tổng số 347 cơ sở đăng ký, tỷ lệ lấp đầy trung bình đạt 65% Đặc

thù của các loại hình sản xuất trong một số KCN ở Đà Nẵng là khá phức tạp,xuất phát từ vấn đề quy hoạch, như: 01 KCN nặng, 01 KCN tổng hợp có nhiềungành nghề, 01 KCN chuyên sản xuất và chế biến thuỷ sản nhưng gần khu dân

cư Trước năm 2008, toàn thành phố chỉ có 2/6 KCN có HTXL tập trung, còn lại

tự xử lý cục bộ phạm vi cơ sở và xả trực tiếp ra môi trường

Trang 5

Từ nhiều nguyên nhân dẫn đến ô nhiễm môi trường do nước thải côngnghiệp trong thời gian qua và đã được ưu tiên tập trung giải quyết Nhờ vậy,việc thu gom và xử lý nước thải tập trung của các KCN đã được giải quyết cơ

bản (trừ KCN DVTS Đà Nẵng) Đến nay, có 94% cơ sở đấu nối nước thải,

6.650m3 nước thải được thu gom xử lý tập trung, 50% nước thải được xử lý đạt

tiêu chuẩn quy định

+ KCN Hòa Khánh: Hiện có 136 cơ sở đang hoạt động, có 112 cơ sở đủ

điều kiện đấu nối nước thải Đến nay, KCN có 109/112 doanh nghiệp đã đấu nối

vào HTXL nước thải tập trung (97%), 03 cơ sở còn lại chưa đấu nối sẽ hoàn tất trong tháng 12 theo cam kết HTXL nước thải với công suất 5.000m3/ngày đêm,

do Công ty TNHH MTV MTĐT Hà Nội vận hành từ năm 2007

Trước đây hệ thống đường ống thu gom nước thải từ KCN Hòa Khánh chỉ

thu gom được nước thải của các doanh nghiệp nằm trong khu vực 92,5ha, còn lại khu vực 150 ha chưa được thu gom và đã triển khai xây dựng giai đoạn 2 từ

đầu quý 2/2012 Hiện nay, đơn vị chủ đầu tư đang thi công các tuyến còn lại:tuyến đường 2, 3, 6, 9, 10, dự kiến hoàn thành trước 25/12/2012

Nhìn chung, chất lượng nước thải sau xử lý tập trung thời gian qua cơ bảnđạt yêu cầu Khi Công ty TNHH ITG - Phong Phú (cơ sở dệt nhộm) còn hoạtđộng, có nhiều thời điểm chất lượng nước thải không đạt tiêu chuẩn do lưulượng nước thải của doanh nghiệp này quá lớn (1.000 - 1.800m3/ngđ) Mặc khác,HTXL nước thải tập trung phải tiếp nhận và xử lý thêm nước thải của KCN HoàKhánh mở rộng và CCN Thanh Vinh mở rộng

Hiện tại, chất lượng nước thải sau xử lý tập trung đạt yêu cầu do Công tyTNHH ITG - Phong Phú đang ngừng hoạt động, tương lai doanh nghiệp này tiếptục hoạt động, các nhà máy mở rộng công suất, HTXL nước thải tập trung sẽgặp tình trạng quá tải Do vậy, UBND thành phố đã đồng ý đề xuất mở rộng quy

mô và công suất của HTXL nước thải của KCN này lên 10.000m3/ngđ

+ KCN Hòa Khánh mở rộng và CCN Thanh Vinh mở rộng: Có tổng số

15/34 doanh nghiệp đang hoạt động, tỷ lệ lấp đầy chiếm 20% Đây là KCN chưa

có HTXL nước thải tập trung Năm 2010, Thành phố cho phép URENCO HàNội lập dự án cải tạo, nâng cấp HTXL nước thải tập trung KCN Hòa Khánh,đồng thời lập dự án đầu tư xây dựng HTXL nước thải tập trung riêng cho KCNHòa Khánh mở rộng khi tỷ lệ lấp đầy doanh nghiệp tăng lên Hiện đã đầu tư

Trạm bơm và đưa vào vận hành vào tháng 4/2012 với công suất 60m3/ngđ, đanghoạt động ổn định

Thời gian qua, Công ty cổ phần đầu tư Sài gòn - Đà Nẵng đã hoàn thiện kết

cấu hạ tầng KCN, đã có 07/07 doanh nghiệp đấu nối nước thải vào hệ thống thu gom chung, tỷ lệ đạt 100% Riêng CCN Thanh Vinh mở rộng có 09/13 dự án đã đấu nối, tỷ lệ đấu nối đạt 100% do có 04 đơn vị không có nước thải (kho bãi) Nước thải khoảng 140m3/ngđ hiện đã được gom vào đường ống và bơm về xửtập trung tại KCN Hòa Khánh

Trang 6

+ KCN Liên Chiểu đã hoạt động trước năm 2008 nhưng chưa có hệ thống

thu gom nước thải và Trạm xử lý nước thải tập trung Đến năm 2011, tỷ lệ lấp

đầy toàn khu đạt 42,3% Năm 2012, HTXL nước thải tập trung của khu đã hoàn thành và đưa vào vận hành chính thức giai đoạn I, công suất 2.000m3/ngđ, đấu

nối được 16/16 cơ sở với toàn bộ lượng nước thải thu gom và xử lý đạt

250m3/ngđ (có 01 cơ sở ngừng hoạt động) Kết quả đo đạc, phân tích tháng 9 10/2012, chất lượng nước thải sau xử lý đạt yêu cầu so với quy chuẩn cho phép

-+ KCN Hòa Cầm được xây dựng năm 2009 có diện tích là 59ha Toàn

khu có 42/53 dự án đang hoạt động đến năm 2011, tỷ lệ lấp đầy đạt 77,3% Đây

là KCN có đặc thù nằm gần tiếp giáp với sông Hàn, đoạn sông sử dụng làm cấpnước của thành phố) Trước năm 2011, toàn khu chưa có HTXL nước thải tậptrung, khu vực này thường xuyên xảy ra tình trạng ô nhiễm do hoạt động côngnghiệp Tiến độ đấu nối nước thải cũng đang được tiến hành trong năm 2012, đã

có 38/42 cơ sở đấu nối (tỷ lệ đạt 90%), 04 cơ sở còn lại cam kết đấu nối trong

tháng 11/2012 Nhìn chung, các doanh nghiệp có lưu lượng nước thải lớn đềuđược xây dựng tuyến ống thu gom để đấu nối nước thải về HTXLNT tập trung,các doanh nghiệp còn lại có lưu lượng xả thải thấp, chủ yếu là nước thải sinhhoạt

Gần đây, tình hình ô nhiễm môi trường đã được cải thiện Hiện tại, HTXL

nước thải tập trung, giai đoạn 1, công suất 2.000m3/ngđ đã hoàn thành và đã đivào vận hành chính thức vào tháng 5/2012 Kết quả phân tích chất lượng nướcthải sau xử lý của HTXL nước thải tập trung tháng 8/2012 cho thấy các thông sốđều nằm trong giới hạn cho phép của QCVN 40:2011/BTNMT (cột A)

+ KCN DVTS Đà Nẵng và Âu thuyền Thọ Quang

Đây là KCN có vấn đề môi trường phức tạp lại gần khu dân cư, có loại hìnhsản xuất đặc thù thuỷ hải sản, nguồn tiếp nhận nước thải của KCN là Âu thuyềnThọ Quang, đây được xem là khu vực nhạy cảm (cửa biển), có mức độ làm sạchkhông đáng kể, nhưng trước đây lại tiếp nhận thêm các nguồn thải khác từ khudân cư, chợ đầu mối, chất thải từ tàu thuyền… Sau một thời gian vận hànhHTXL nước thải KCN tập trung, khả năng xử lý của Công ty TNHH Môi trườngQuốc Việt không đạt yêu cầu, trong khi giao động về tải lượng thải mỗi ngàycủa toàn khu quá lớn, có lúc lên đến 5.000m3/ngày đêm tăng 7 lần so với thờigian đầu (lúc đầu 700m3/ngày đêm), trong khi công suất Trạm thiết kế là2.500m3/ngày đêm với nồng độ đầu vào của thông số COD đảm bảo dưới1.500mg/l Đặc điểm nước thải về sau trở nên phức tạp hơn do một số doanhnghiệp thay đổi sản phẩm sản xuất, làm cho nồng độ COD đầu vào của Trạm cólúc lên đến 7.200mg/l, tăng gần 5 lần so với mức cho phép tối đa HTXL tậptrung vốn chưa đạt trình độ công nghệ cao, nhưng sự đầu tư lại thiếu đồng bộtrong toàn hệ thống, như: thiếu máy phát điện, máy sục không đủ công suất,không có bể lắng…dẫn đến không xử lý được toàn bộ lượng nước thải củaKCN Đây là nguyên nhân cơ bản xảy ra sự cố liên tục trong thời gian qua, gây

ô nhiễm nước thải, mùi hôi tại khu vực Các giải pháp đã được thực hiện:

Giải pháp quản lý:

Trang 7

Sau khi thành phố có chủ trương cho phép Công ty Quốc Việt mở rộng nhà

máy xử lý nước thải và nâng công suất lên 10.000m3/ngày đêm và khắc phụcnhững hạn chế hiện tại, nhưng Công ty liên tục để xảy ra các sự cố tại Trạm xử

lý, công nghệ thiết kế xử lý nâng công suất không đảm bảo giảm thiểu mùi hôi,UBND thành phố thu hồi hệ thống xử lý nước thải tập trung, giao tạm thời Công

ty Thoát nước và xử lý nước thải vận hành và trực tiếp quản lý; đã bàn giao vậnhành, định giá tài sản cố định trước khi tiếp quản; Giao Công ty Phát triển vàKhai thác hạ tầng KCN từng bước tiếp cận để nhận bàn giao quản lý và vậnhành đúng chức năng trong thời gian tới cho đến khi có Trạm XLNT tập trungmới từ nguồn vốn vay của Ngân hàng thế giới Đến nay đã thống nhất đượccông nghệ và đang trong quá trình thiết kế

UBND thành phố đã tăng giá phí xử lý nước thải theo cấp độ ô nhiễm nhằmkhuyến khích, động viên các doanh nghiệp tăng cường việc xử lý nước thải đểgiảm chi phí, tạm dừng việc bố trí phân lô sát khu vực Trạm xử lý nước thải.Thành lập Tổ công tác liên ngành theo dõi, kiểm tra hoạt động toàn bộ và

xử lý ô nhiễm mỗi trường tại KCN DVTS Đà Nẵng, Âu thuyền - Cảng cá ThọQuang và Trạm xử lý nước thải tập trung, bố trí cán bộ kỹ thuật và lãnh đạo trực24/24 để ứng phó kịp thời khi Trạm phát sinh mùi

Thiết lập đường dây nóng để tiếp nhận và xử lý thông tin liên quan tại khuvực này về môi trường

Thành lập đoàn kiểm tra, giám sát việc xây dựng và nâng cấp HTXL nướcthải của từng cơ sở trong KCN để giảm thiểu nồng độ ô nhiễm trước khi đổ vềTrạm xử lý nước thải chung

Giải pháp kỹ thuật:

Yêu cầu tất cả các cơ sở tách mỡ, tách rác trong nước thải trước khi đổ về

bể gom chung; Yêu cầu tất cả các doanh nghiệp trong KCN phục hồi lại HTXL

nước thải (đã có 14/14 đơn vị phục hồi) xử lý trước khi đưa về hệ thống chung

để giảm tải lượng ô nhiễm ra môi trường Doanh nghiệp có hàm lượng ô nhiễmcao tiến hành xử lý đảm bảo hàm lượng ô nhiễm nước thải đạt mức COD

01 máy phát điện dự phòng, nuôi cấy vi sinh tại 02 hồ sinh học hiếu khí Lậpphương án sử dụng hoá chất keo để giảm nồng độ ô nhiễm trong nước thải, yêucầu đơn vị vận hành tiếp tục nghiên cứu, bổ sung hoàn thiện quy trình đảm bảocho Trạm hoạt động ổn định cho đến khi Trạm xử lý nước thải mới đi vào hoạtđộng

Trang 8

Tổ chức 01 cuộc lấy ý kiến chuyên gia, 01 chuyến tham quan thực tế công

nghệ xử lý nước thải tại các tỉnh phía Nam để đề xuất công nghệ xử lý cho Trạm

xử lý nước thải Sơn Trà

Các giải pháp khác:

Xây dựng tuyến cống bao quanh Âu thuyền để thu gom nước thải; Thựchiện bơm hút trực tiếp bùn ra chân cầu Mân Quang để pha loãng sau khi xử lýchế phẩm sinh học; Trồng cây xanh xung quanh khu vực Trạm với diện tích

6.000 m2 để cách ly với khu vực dân cư (trồng 570 cây) Về thoát nước, UBND

thành phố đã giao đơn vị tư nhân triển khai thi công, nạo vét và sửa chữa tuyếncống đường Phạm Văn Xảo để đảm bảo thoát nước kịp thời, không để phát sinhmùi hôi, ảnh hưởng đến khu dân cư

Ngoài ra, các lô đất trống lân cận HTXL nước thải tập trung đã được chỉđạo san lấp một số hố tụ đọng nước lâu ngày gây ô nhiễm, tổng dọn vệ sinh toànKCN, phát quang và dọn vệ sinh tuyến đường Vân Đồn

Đối với Âu thuyền Thọ Quang, UBND thành phố đã yêu cầu đóng toàn

bộ cửa xả nước thải các nhà máy xả ra âu thuyền, dừng giải quyết thủ tục cấpphép thành lập mới các xí nghiệp thủy sản; dừng cấp phép xây dựng cầu cảngcho các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu phía bờ Đông Âu thuyền, giao Banquản lý các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng ưu tiên triển khai xây dựng tuyến cốngbao xung quanh Âu thuyền để đưa nước thải về tram xử lý tập trung, dự kiếntháng 6/2013 sẽ đưa vào hoạt động

Ban quản lý Âu thuyền và cảng cá Thọ Quang thực hiện duy trì vệ sinhthường xuyên khu vực xung quanh Âu thuyền với các biện pháp: vớt rác, quétdọn mái ta luy…

Đã hoàn thành nạo vét Âu thuyền Thọ Quang tại các khu vực ô nhiễm với

khối lượng nạo vét bùn: 28.539,61m3, đầu tư Trạm bơm điều hòa Âu thuyền ThọQuang đến nay đã hoạt động thử nghiệm, kết hợp tổ chức tuyên truyền nâng cao

ý thức bảo vệ môi trường của người dân tại Âu thuyền, xây dựng Quy chế quản

lý Âu thuyền và cảng cá Thọ Quang để quản lý việc xả nước thải trên tàu vàokhu vực Âu thuyền Thọ Quang, chuẩn bị ban hành triển khai thực hiện Tổ chức

chương trình khám và phát thuốc cho 77 người dân thuộc thôn Mân Lập Tây,

phường Mân Thái, quận Sơn Trà

Để người dân hiểu và biết các biện pháp giảm thiểu của UBND thành phố,Lãnh đạo UBND thành phố đã cùng các sở, ngành, quận, phường liên quan chủ

trì buổi tiếp xúc nói chuyện với khoảng 100 người dân (phường Mân Thái, Nại

Hiên Đông và Thọ Quang) Hầu hết các hộ đang sinh sống tại khu vực Âuthuyền đồng tình với các giải pháp quyết liệt và chủ trương của thành phố và đềnghị tiếp tục tập trung thực hiện có hiệu quả

Nhìn chung, đến nay theo đánh giá của người dân khu vực, ô nhiễm mùi hôi, nước thải đã cải thiện đáng kể.

Trang 9

- Thu gom và xử lý nước thải sinh hoạt đô thị: Năm 2008, 04 trạm xử lý nước thải đô thị, tổng công suất 100.000m3/ngđ đã đi vào vận hành chính thức,thu gom và xử lý khoảng 50% nước thải sinh hoạt của toàn thành phố Giai đoạn

2008 - 2011, trong quá trình vận hành, 02 Trạm XLNT Hòa Cường và Phú Lộc

đã bộc lộ những hạn chế nhất định, như phát sinh mùi hôi, bọt trắng gây ảnhhưởng môi trường xung quanh Do vậy, các giải pháp kỹ thuật và quản lý đãđược tăng cường tại Trạm Hoà Cường, như: phun chế phẩm sinh học, xử lýnước thải bằng công nghệ hoạt hóa và sử dụng chế phẩm sinh học LTH79, thicông hoàn tất hệ thống thu gom nước thải, trồng cây xanh vùng đệm… Nhờ vậy,mùi hôi đã giảm thiểu đáng kể Đối với Trạm Phú Lộc, cải thiện mùi hôi và dậpbọt tại cửa xả bằng cách xây dựng điều chỉnh miệng cống xả chìm dưới mặtnước sông để giảm thiểu mùi hôi và bọt

Như vậy, đến nay ô nhiễm mùi hôi đã được cải thiện rất đáng kể Chấtlượng nước thải sau xử lý cơ bản đạt yêu cầu so với quy chuẩn Tuy nhiên, tỷ lệđấu nối nước thải từ hộ gia đình chỉ đạt 21% trên toàn khu vực đô thị Do vậy,việc đầu tư thêm các Trạm mới và nâng cấp, cải tạo Trạm cũ là điều kiện cầnthiết để đáp ứng nhu cầu tương lai

Dự kiến, trong khuôn khổ dự án Cơ sở hạ tầng ưu tiên do Ngân hàng thếgiới tài trợ cho vay ưu đãi (200 triệu USD), khu vực sông Phú Lộc đã hoànthành việc xây dựng các hạng mục chính, hệ thống thu gom nước thải, cải tạomôi trường sông Phú Lộc

Giai đoạn 2012 - 2015, dự án sẽ đầu tư nâng cấp các Trạm XLNT hiện có(Phú Lộc, Ngũ Hành Sơn, Hòa Cường, Sơn Trà) và đầu tư mới Trạm XLNTHoà Khánh bậc 1 Đầu tư mới Trạm Hòa Xuân bậc 2 để xử lý nước thải bậc 1 từTrạm Hòa Cường và Ngũ Hành Sơn Thành phố đang kêu gọi viện trợ nướcngoài để cải tạo hệ thống thoát nước cũ và lắp đặt các hố ga ngăn mùi trên toànđịa bàn, đảm bảo đến năm 2015 có hệ thống thoát nước riêng hoàn toàn

- Vấn đề cấp nước sạch trên địa bàn thành phố:

Đến năm 2011, Đà Nẵng có 03 cơ sở sản xuất nước cấp với tổng công suất

là 155.000 m3/ngày đêm, đang khai thác trung bình 150.000m3/ngđ Năm 2011,

tỉ lệ dân cư toàn thành phố được cấp nước máy là 74,1%, tăng 12% so với năm

2008, lượng nước tiêu thụ bình quân đạt 137 lít/ngày/người Tính theo khu vực

khu vực nội thành đạt 92,6%, khu vực nông thôn đạt 10,5% (bao phủ 5/11 xã),

tăng 2,5% so với năm 2008 Tính theo nước sạch ở khu vực nông thôn, tỷ lệ dân

cư được cấp nước sạch là 26,2% (trong đó 15,7% dân cư nông thôn dùng nước

tự chảy của Chương trình nước sạch VSMT nông thôn) Đến năm 2011, tỷ lệthất thoát nước cấp là 21,85%, giảm 13,15% so với năm 2008

Hiện Đà Nẵng có 03 khu vực cung ứng nguồn nước thô phục vụ nước cấpsinh hoạt, cụ thể: sông Hàn tại cầu Đỏ, nước suối Sơn Trà và nước sông Cu Đê.Các nguồn cấp tại cầu Đỏ và Sơn Trà là tương đối ổn định, hiện khai thác từ200.000 - 300.000m3/ngày, đủ đáp ứng nhu cầu cho toàn thành phố Tuy nhiên,tại cầu Đỏ do ảnh hưởng của thủy triều, hạn hán, thủy điện từ phía thượngnguồn, vị trí này thường bị thiếu nước trong mùa khô (tháng IV - VIII) Thành

Trang 10

phố khắc phục tình hình trên bằng cách đã xây dựng trạm bơm phòng mặn côngsuất 240.000m3/ngày ở trước đập dâng An Trạch, cách nhà máy nước khoảng9km về phía thượng lưu.

Năm 2010, Dự án hỗ trợ kỹ thuật đầu tư cấp nước cho thành phố, với tổng

trị giá 1,7 triệu USD do Ngân hàng Phát triển Châu Á tài trợ nhằm nghiên cứu

chất lượng, trữ lượng nguồn nước, hỗ trợ xây dựng Nhà máy nước Hòa Liêncông suất 120.000m3/ngđ sử dụng nước sông Cu Đê, đầu tư mạng lưới cấp nước,cải tạo Nhà máy nước cầu Đỏ, đầu tư các công trình phụ trợ và tăng cường thểchế

2.2 Môi trường không khí

Nhìn chung, chất lượng môi trường không khí nói chung giai đoạn 2008

-2011 ở Đà Nẵng có cải thiện hơn so với các năm trước, mặc dù có một số chỉtiêu còn cao hơn quy chuẩn cho phép (bụi và tiếng ồn)

- Khí thải công nghiệp: Nhờ tăng cường công tác kiểm soát ô nhiễm đối với

CSCN, nên ô nhiễm đã được cải thiện đáng kể Mỗi năm, trung bình có 90 cơ sở được kiểm tra, từ chỗ 100% cơ sở đều có vi phạm theo Nghị định 117/2009/NĐ-

CP năm 2009, còn 60% cơ sở vi phạm trong năm 2011

Đến năm 2010, Đà Nẵng đã hoàn thành việc xử lý triệt để đối với 13/14 cơ

sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng theo Quyết định số 64/QĐ-TTg củaThủ tướng chính phủ (01 cơ sở do Bộ quản lý)

Trước năm 2008, KCN Hòa Khánh có 21 cơ sở luyện thép gây ô nhiễm môi

trường không khí Tình trạng ô nhiễm đã được cải thiện sau khi yêu cầu các cơ

sở thực hiện các giải pháp kỹ thuật Kể từ năm 2008, sau khi UBND thành phố

có chủ trương không cho phép đầu tư các loại hình sản xuất có nguy cơ ô nhiễmcao và trực tiếp từ chối các dự án đầu tư lớn Đối với các dự án luyện thép quy

mô lớn có khả năng ô nhiễm không khí cao, được khuyến khích đổi mới côngnghệ, đầu tư xử lý khí thải đạt yêu cầu, điển hình như Công ty Cao su Đà Nẵng,Công ty Thép Đà Nẵng, Nhà máy Thép Dana - Ý, Nhà máy Thép Thái BìnhDương…

Đến năm 2011, Thành phố có 03 cơ sở lớn gây ô nhiễm không khí được quy hoạch vào KCN Khi KCN DVTS Đà Nẵng đi vào hoạt động, có 10 cơ sở

chế biến thủy sản được di dời vào KCN, xóa bỏ hoàn toàn các điểm ô nhiễm mùi

hôi trong khu dân cư Hiện còn khoảng 03 cơ sở quy mô lớn có khả năng gây ô

nhiễm, như cao su, thuốc lá, chế biến thủy sản đang có kế hoạch di dời trongthời gian tới

- Chất lượng không khí đô thị: Theo tiêu chí đánh giá không khí sạch năm

2011 của ASEAN, chất lượng môi trường không khí đô thị của thành phố Đà

Nẵng đạt yêu cầu (300 điểm) Bụi và tiếng ồn ở một số tuyến đường giao thông

vượt tiêu chuẩn cho phép, nhưng mức độ không cao Riêng các tuyến đường bị ô

nhiễm không khí do vận chuyển vật liệu xây dựng, như: Lê Trọng Tấn, Cách mạng Tháng 8, Phạm Hùng, Hoàng Văn Thái…đã được giám sát chặt chẽ của

Trang 11

ngành giao thông và công an, nên thời gian qua tình trạng ô nhiễm bụi và tiếng

ồn cũng đã được cải thiện hơn

Ngoài ra, kể từ năm 2010, ngành giao thông bắt đầu triển khai công tác

đăng kiểm đối với xe cơ giới Toàn thành phố có 640.000 phương tiện cơ giới (trong đó có 40.000 ôtô), đã đăng kiểm 40.400 lượt phương tiện ô tô, trong đó tỷ

lệ xe đăng kiểm đạt tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường chiếm

khoảng 75% Đây là một trong các giải pháp giảm thiểu phát sinh ô nhiễm và

khí thải nhà kính ra môi trường ở Đà Nẵng

Để góp phần giảm thiểu phát thải khí nhà kính, giảm thiểu ô nhiễm và giảmdần sử dụng nhiên liệu hoá thạch trong giao thông đô thị Đà Nẵng, từ năm 2007UBND thành phố đã đồng ý chủ trương thử nghiệm chuyển đổi nhiên liệu sử

dụng từ xăng sang gas cho 200 chiếc xe taxi của 02 doanh nghiệp đăng ký.

Nhưng do nhiều sự cố không đảm bảo an toàn, lại thiếu các địa điểm nạp gastrên địa bàn nên việc thử nghiệm này không có hiệu quả

Giai đoạn 2007 - 2015, ngành giao thông tiếp tục nghiên cứu Đề án Xâydựng thể chế nhằm xã hội hoá hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xebuýt và nghiên cứu khả thi hệ thống xe buýt nhanh (BRT) tại Đà Nẵng

Về lâu dài, để giải quyết bài toán ô nhiễm không khí do hoạt động giaothông, trong khuôn Dự án đầu tư Cơ sở hạ tầng ưu tiên, ngành giao thông đangkhảo sát lập Quy hoạch chi tiết phát triển giao thông đô thị đến năm 2020 vàđịnh hướng đến năm 2030

Phát triển và bảo vệ cây xanh đô thị là giải pháp để góp phần cân bằnglượng khí nhà kính phát thải trong nhiều hoạt động của thành phố và cải thiệnchất lượng không khí đô thị Giai đoạn 2008 - 2011, số lượng cây xanh trồng

mới khoảng 32.000 cây, diện tích cây xanh đô thị bình quân đầu người

5,02m2/người tăng 2,4m2/người, trong đó tỷ lệ cây xanh công cộng là

1,57m2/người tăng 0,9m2/người so với năm 2007 Về cơ bản, tỷ lệ cây xanh đã

đã đạt so với mục tiêu đề án

Hạn chế là, chưa có sự đầu tư cho hệ thống quan trắc, giám sát chất lượng

môi trường của thành phố, nên số liệu không đủ đặc trưng để đánh giá chấtlượng môi trường của toàn thành phố Hiện chỉ có 01 Trạm quan trắc không khí

tự động do Bộ TN & MT đầu tư Các nghiên cứu về mạng lưới vận tải hànhkhách công cộng bằng xe buýt triển khai chậm, các giải pháp tiết kiệm nănglượng, giảm thiểu ô nhiễm từ các nguồn di động chưa đẩy mạnh ở Đà Nẵng Xãhội hoá trong trồng, chăm sóc và bảo vệ cây xanh cũng có phần chậm Tỷ lệ câyxanh đã đạt mục tiêu đề án, tuy nhiên vẫn còn những bất cập như: vẫn còn nhiềuloại cây xanh chưa phù hợp, tỷ lệ cây tạp còn lớn, diện tích đất dành cho câyxanh còn thấp, thiếu các vườn bách thảo, không có loài đặc trưng cho thành phố

2.3 Chất lượng môi trường đất

Đà Nẵng luôn dẫn đầu cả nước về đô thị sạch và công tác quản lý chất thảirắn tốt, không phát sinh thêm các điểm nóng môi trường phức tạp do phát sinhchất thải rắn trong thời gian qua

Trang 12

Tổng lượng chất thải rắn phát sinh trên địa bàn thành phố mỗi ngày ước

tính khoảng 664 tấn, tỉ lệ thu gom đạt 93% (đến thời điểm tháng 10/2012), riêng khu vực đô thị đạt 98% So với năm 2008, tỷ lệ thu gom tăng 7% Công tác thu

gom và vận chuyển rác thải được quản lý tốt Thành phố đã cho phép đầu tư

Trung tâm Hoả táng An Phước Viên, hoạt động từ năm 2009 Đến nay, 100%

chất thải nguy hại được kiểm soát bằng biện pháp đốt tại bãi rác, đã đầu tư 01nhà máy tái chế chất thải tại bãi rác biến cao su và nilông thành nhiên liệu đốt

Kể từ tháng 5/2012, thành phố Đà Nẵng triển khai thu gom rác thải theo giờ tại

01 khu dân cư và 21 tuyến đường ở 03 quận nội thành và triển khai toàn thành

phố vào năm 2014 Mục đích chuyển đổi mô hình thu gom rác thải sinh hoạt ở

Đà Nẵng hạn chế lượng thùng rác đặt trên các đường phố, khu vực nội thành,nhất là các tuyến đường phố chính và cải tiến quy trình, nâng cao hiệu quả côngtác thu gom

Để đảm bảo vệ sinh môi trường công cộng, đáp ứng nhu cầu chung và

không phát sinh ô nhiễm trong khu vực nội thành, từ chỗ 14 nhà vệ sinh công cộng (NVS), đến nay đã được đầu tư thêm 30 NVS Để quản lý tốt và khai thác

có hiệu quả, UBND thành phố đã có chủ trương trong việc giao cho tư nhânquản lý và khai thác

Những hạn chế: Tỷ lệ tái sử dụng, tái chế chất thải rắn còn ở mức thấp

(khoảng 10%) và chưa được đầu tư tương xứng, khó đạt 50% vào năm 2015,

chưa triển khai xã hội hoá mạnh trong thu gom và xử lý rác thải sinh hoạt, chưahoàn thành hoạt động điều tra chất thải nguy hại trên toàn địa bàn Tỷ lệ ngườiđược hoả táng là không đáng kể sau 3 năm vận hành Trung tâm hoả táng Thànhphố đến nay vẫn chưa có quy hoạch quản lý chất thải rắn lâu dài, do vậy nhữnghạn chế phát sinh chưa thể giải quyết dứt điểm gây ô nhiễm, như mùi hôi tại mộttrạm trung chuyển rác trong nội thành, nguy cơ ô nhiễm môi trường đất ở các vị

trí tự phát thu gom rác thải ở vùng ngoại thành (60 vị trí) Quản lý chất thải rắn

khu vực nông thôn hiện chưa được quan tâm đúng mức, tỷ lệ thu gom đến tháng

10/2012 đạt khoảng 60%, thiếu nhiều phương tiện thu gom, vận chuyển, tần suất

thu còn thấp 2 - 4 ngày/lần, nhiều nơi tự phát sinh những điểm chứa rác thiếu

mỹ quan nhưng không được kiểm soát chặt chẽ

2.4 Các vấn đề quan trọng khác

a) Các Phong trào bảo vệ môi trường trong thời gian qua cũng được các địa

phương, các tổ chức chức chính trị - xã hội, cơ quan, đơn vị tập trung triển khai.Kết quả thực hiện đã đóng góp rõ nét trong việc xây dựng diện mạo đô thị, giảiquyết các điểm nóng môi trường, thu dọn lô đất trống trên địa bàn thành phố.Nhận thức của các cấp lãnh đạo, cộng đồng nâng lên rõ rệt

Sau Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 02/3/2012 về đẩy mạnh phong trào Ngàychủ nhật xanh - sạch - đẹp trong thời gian gần đây, Phong trào được thực hiện cóhiệu quả hơn, ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều cá nhân, tổ chức, cơ quan địaphương Dựa trên Kế hoạch số 1068/KH-UBND về tổ chức thực hiện phong tràoNgày chủ nhật xanh - sạch - đẹp, Lãnh đạo UBND thành phố đã trực tiếp phát

động 07 đợt ra quân cao điểm năm 2012 Các đợt cao điểm đã huy động được

Ngày đăng: 17/03/2022, 23:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w