Tác động ròng của các biện pháp tăng và giảm cung tiền nói trên là khoảng 60 nghìn tỷ đồng tiền mặt được đưa vào lưu thông trong nửa đầu năm 2007, tương đương với 6% GDP hay 18% tổng mức
Trang 1Tuần tin kinh tế - xã hội số 69
Đánh giá tình hình lạm phát của Việt Nam 6 tháng đầu năm 2007
Hiện tượng giá cả thị trường tăng nhanh trong 6 tháng đầu năm 2007 đã gây nên nhiều
lo ngại Sau hai năm liên tục ở mức cao (9,5% năm 2004 và 8,4% năm 2005), lạm phát dường như đã có dấu hiệu suy giảm và chỉ còn 6,6% năm 2006 Tuy nhiên, áp lực lạm phát lại bùng phát ngay từ đầu năm 2007 Trong 6 tháng đầu năm, chỉ số giá tiêu dùng đã tăng 5,2% Nếu
so với 6 tháng năm 2006, chỉ số giá tiêu dùng tăng 7,8% Hầu hết các nhóm hàng đều có mức tăng giá cao so với cùng kỳ năm ngoái, trong đó nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng tăng 8,34%, nhóm hàng ăn - dịch vụ ăn uống tăng 6,8%
Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng ở Việt Nam và các nước trong khu
vực
Việt Nam
Trung Quốc
Thái Lan Malaixia Inđônêxia
5 tháng đầu năm 2007 4,3% 2,9% 1,7% 2,2% 1,8%
Năm 2006 6,6% 1,7% 3,5% 3,2% 6,6%
Năm 2005 8,4% 1,8% 4,5% 3,1% 10,5%
Nguồn: Ngân hàng phát triển châu Á và số liệu chính thức từ cơ quan thống kê của các nước.
Đây được coi là mối quan ngại lớn về kinh tế vĩ mô hiện nay bên cạnh các dấu hiệu tích cực như tăng trưởng tổng sản phẩm nội địa (GDP), xuất khẩu, đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp nước ngoài Nếu so sánh với các nước trong khu vực, tỷ lệ lạm phát của Việt Nam cao hơn khá nhiều
Trong 5 tháng đầu năm 2007, tỷ lệ lạm phát của Inđônêxia chỉ còn 1,8%, thấp hơn rất nhiều so với năm 2005 (trên 10%) và 2006 (6,6%) Tỷ lệ lạm phát tại Thái Lan và Malaixia cũng duy trì ở mức thấp tương ứng là 1,7% và 2,2% Trong khi đó, con số của Việt Nam là 4,3% Chỉ có Trung Quốc, nước cũng đang tăng trưởng nóng giống như Việt Nam cả trong sản xuất công nghiệp và đầu tư tài chính là chịu áp lực lạm phát tăng, nhưng tốc độ tăng giá cũng chỉ ở mức 2,9%
Việc hiểu rõ nguyên nhân khiến lạm phát của Việt Nam tăng cao trong 6 tháng đầu năm là rất cần thiết nhằm đưa ra các giải pháp kiểm soát lạm phát đúng đắn và giúp ổn định tâm lý thị trường Sau đây là ý kiến của các chuyên gia trong và ngoài nước:
Theo ông Nguyễn Tiến Thoả, Cục trưởng Cục Quản lý giá thuộc Bộ Tài chính, một số nguyên nhân chủ quan khiến giá cả tăng mạnh trong những tháng đầu năm là Nhà nước thực hiện lộ trình giá thị trường đối với một số loại vật tư đầu vào; tác động vĩ mô từ nguồn vốn đầu tư tăng cao Về các nguyên nhân khách quan, đó là do các nhân tố như giá cả thị trường thế giới, nhất là các mặt hàng vật tư cơ bản, đầu vào cho sản xuất tăng cao; nhu cầu tiêu dùng tăng mạnh nhất là những tháng đầu năm và diễn biến của dịch bệnh ở gia súc, gia cầm năm
2006 và đầu năm 2007…
Các nước khác trong khu vực mặc dù cũng chịu những tác động của giá xăng dầu và dịch
Trang 2bệnh trong chăn nuôi nhưng lạm phát của Việt Nam lại tăng cao hơn là do những nguyên nhân sau:
Thứ nhất, sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam còn kém, thể hiện ở chỗ hiệu quả
của nền kinh tế chưa cao Điều này được thấy rõ qua chi phí sản xuất, giá thành sản xuất hay giá vốn của nhiều mặt hàng sản xuất trong nước cao hơn các nước trong khu vực Việc chi phí sản xuất trong nước cao, cộng thêm giá nguyên liệu đầu vào cao đã đẩy giá cả tăng lên
Thứ hai, những biện pháp khắc phục biến động giá thế giới của Việt Nam ở tầm vĩ mô
và vi mô còn yếu
Thứ ba, trong nền kinh tế Việt Nam, tỷ lệ nhập khẩu của nhiều loại vật tư cơ bản rất cao
như nhập khẩu 100% xăng dầu, 60 - 70% phôi thép, 90% nguyên liệu cho thuốc chữa bệnh
Vì vậy khi các mặt hàng này trên thế giới biến động thì chắc chắn giá cả trong nước cũng ảnh hưởng
Trong khi đó, tại các nước khác trong khu vực, các giải pháp để khắc phục biến động giá thế giới cũng tốt hơn thông qua điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu tiêu dùng, các giải pháp đổi mới kỹ thuật… Cụ thể, nhiều nước đã cải tiến công nghệ và giảm định mức tiêu hao xăng dầu xuống rất mạnh, giúp giảm sự phụ thuộc của nền kinh tế vào nguồn nhiên liệu nhập khẩu hay biến động như xăng dầu Bên cạnh đó, các nước trong khu vực đã quen với giá thị trường,
cơ chế giá không bao cấp, nên biến động của giá cả thế giới không tác động mạnh như ở Việt Nam Do ở Việt Nam nhiều loại mặt hàng tiếp tục được bao cấp về giá nên khi giá cả thế giới biến động thì giá cả trong nước cũng bị điều chỉnh mạnh hơn
Còn theo ông Nguyễn Xuân Thành, chuyên gia kinh tế của Chương trình giảng dạy kinh
tế Fulbright thành phố Hồ Chí Minh, việc lạm phát của Việt Nam tăng cao trong nửa đầu năm
2007 là do sự gia tăng đột biến của dòng vốn đầu tư nước ngoài Trong 6 tháng đầu năm 2007,
đã có 2,2 tỷ USD vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài được giải ngân và 5,2 tỷ USD vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài được đổ vào thị trường chứng khoán Như vậy, chỉ trong 6 tháng, đã có hơn 7 tỷ USD chảy vào Việt Nam, chưa kể giải ngân vốn ODA và kiều hối Để giảm sức ép tăng giá đồng VNĐ và tăng nhanh lượng dự trữ ngoại hối quốc gia, trong 5 tháng đầu năm, Ngân hàng Nhà nước đã mua vào 7 tỷ USD, đồng nghĩa với việc Ngân hàng Nhà nước phải phát hành thêm tiền VNĐ Sử dụng tỷ giá làm tròn 16.000 VNĐ/USD, có thể ước tính rằng khoảng 112 nghìn tỷ đồng được đưa thêm vào lưu thông trong nền kinh tế
Đồng thời, để giảm tốc độ tăng khối lượng tiền trong nền kinh tế, giữ lãi suất thị trường
ổn định để không ảnh hưởng đến mục tiêu tăng trưởng kinh tế, Ngân hàng Nhà nước đã áp dụng một số biện pháp, trong đó quan trọng nhất là việc tăng cường bán trái phiếu chính phủ thông qua đấu thầu trên thị trường mở và nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc Vào cuối tháng 5, Ngân hàng Nhà nước đã nâng tỷ lệ dự trữ bắt buộc (đối với tiền gửi không kỳ hạn và kỳ hạn dưới 1 năm) của các ngân hàng thương mại và công ty tài chính từ 5% lên 10% Quyết định này đồng nghĩa với việc khoảng 25 nghìn tỷ VNĐ được rút khỏi lưu thông Cũng trong 5 tháng đầu năm, một khối lượng tiền VNĐ tương tự cũng được Ngân hàng Nhà nước thu vào thông qua việc đấu giá trái phiếu chính phủ trên thị trường mở
Tác động ròng của các biện pháp tăng và giảm cung tiền nói trên là khoảng 60 nghìn tỷ đồng tiền mặt được đưa vào lưu thông trong nửa đầu năm 2007, tương đương với 6% GDP hay 18% tổng mức tiêu dùng hàng hóa và dịch vụ, một con số vô cùng lớn, mặc dù chưa tính tới những khoản Ngân hàng Nhà nước cho các ngân hàng thương mại vay thông qua hoạt động chiết khấu và tái chiết khấu
Trong báo cáo đánh giá về kinh tế Việt Nam hàng quý đưa ra vào tháng 7/2007, Cơ
Trang 3quan tình báo kinh tế Anh (EIU) cho rằng lạm phát trung bình của Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2007 là 7%, một phần do giá cả tăng nhanh hơn dự kiến trong tháng 5 và tháng 6, trong đó các mặt hàng chính có giá cả tăng nhanh là thực phẩm, nhà ở, xây dựng và vận tải Giá thực phẩm tăng phản ánh giá gạo thế giới tăng mạnh, trong khi đó chi phí xây dựng tăng
là do khu vực xây dựng đang phát triển mạnh Việc Nhà nước thả nổi giá xăng dầu cũng khiến chi phí vận tải tăng nhanh
Một nguyên nhân cơ bản khác là do tín dụng ngân hàng tiếp tục tăng nhanh, và đi kèm với việc cung tiền tăng Cho vay ngân hàng đến cuối tháng 3/2007 đã tăng 27%, vượt mức cần thiết để thúc đẩy tăng trưởng tiêu dùng và do đó tạo ra áp lực tăng lạm phát Vào tháng 5, Ngân hàng Nhà nước đã có động thái hạn chế tốc độ tăng tín dụng bằng cách tăng dự trữ bắt buộc của các ngân hàng, và theo EIU nếu điều này không hạn chế được lạm phát, Chính phủ
có thể sẽ sử dụng các biện pháp khác như trì hoãn việc tăng lương, kiểm soát giá nhiên liệu hoặc hạn chế sự giảm giá của đồng VNĐ, nhằm đạt được mục tiêu là duy trì lạm phát cả năm
ở mức 7%
Như vậy thách thức đặt ra đối với các cơ quan quản lý trong 6 tháng cuối năm là làm sao để kiểm soát được lạm phát dưới mức tăng trưởng kinh tế trong bối cảnh có nhiều nhân tố làm tăng giá ngoài yếu tố tiền tệ, như giá dầu tiếp tục tăng và ở mức cao, dịch cúm gia cầm bùng phát, giá lương thực tế giới tăng và luồng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tăng cao
Để tiếp tục kiềm chế tốc độ tăng giá, mới đây, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo các bộ ngành thực hiện đồng bộ các biện pháp điều hành giá cả từ nay đến cuối năm Trong đó, sẽ tiếp tục thực hiện các biện pháp điều hành giữ vững các cân đối vĩ mô của nền kinh tế, không
để mất cân bằng cung cầu trên thị trường, nhất là các mặt hàng đầu vào quan trọng của nền kinh tế và hàng hoá tiêu dùng: Thực hiện các biện pháp khống chế dịch bệnh và giảm nhẹ thiên tai; thực hiện chính sách tiền tệ thận trọng và linh hoạt theo hướng kiểm soát mức tăng tổng thanh toán, giữ ổn định tỷ giá và các lãi suất cơ bản; thực hiện các biện pháp về tài chính
để góp phần giảm giá như giảm thuế, phí, nâng cao hiệu quả đầu tư, trong đó chú trọng ổn định một số vật tư hàng hoá quan trọng, thực hiện kiểm soát giá đối với các mặt hàng đang thuộc diện cần bình ổn giá do đang có dấu hiệu tăng cao như thép, gas; giám sát giá xăng chặt chẽ…
Đồng thời, thực hiện các biện pháp đẩy mạnh xuất khẩu, giảm nhập siêu, tổ chức tốt thị trường và đảm bảo lưu thông thông suốt hàng hoá Các doanh nghiệp cần tiếp tục đổi mới công nghệ, tăng năng suất, giảm giá thành để khắc phục khó khăn do giá đầu vào tăng và thực hiện kiềm chế tăng giá đầu ra
Tổng hợp theo vietnamnet, vneconomy, Vietnam Country Report (của EIU).
Đánh giá tác động sau 5 năm thực hiện hiệp định thương mại song
phương Việt Nam - hoa kỳ đối với nền kinh tế Việt Nam
Hiệp định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ ký kết năm 2001 đã trải qua hơn 5 năm thực hiện và được đánh giá là một cột mốc trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Việc thực thi Hiệp định thương mại, cùng với quá trình đàm phán gia nhập WTO, đã góp phần đẩy nhanh quá trình cải cách trong nước, tác động tích cực tới nhiều lĩnh vực, trong đó đáng chú ý là thương mại, đầu tư, cơ cấu kinh tế và lĩnh vực dịch vụ
I Thương mại
1 Thương mại song phương
Trang 4Kim ngạch xuất khẩu hàng Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt mức tăng rất nhanh ngay sau khi Hiệp định thương mại được ký kết Với việc Hoa Kỳ cắt giảm thuế suất hàng loạt theo Hiệp định thương mại, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đã tăng 128% trong năm
2002 và tăng tiếp 90% trong năm 2003 Đáng chú ý là mặt hàng may mặc đã có mức tăng trưởng ấn tượng 1.764% trong năm 2002, sau đó tăng tiếp 164% năm 2003, chiếm khoảng 50% tổng giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ Trong hai năm 2004 - 2005, với việc thực hiện Hiệp định Hàng dệt may Việt Nam - Hoa Kỳ (quy định hạn mức tăng trưởng nhập khẩu hàng dệt may của Việt Nam hàng năm vào Mỹ vào khoảng 7% bắt đầu từ tháng 5/2003), tỷ lệ tăng trưởng xuất khẩu của hàng dệt may nói riêng và kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ nói chung
đã giảm đáng kể Tuy nhiên, tỷ lệ tăng trưởng hàng xuất khẩu sang Hoa Kỳ vẫn tiếp tục đạt mức 16-29% trong năm 2004, 2005 và 2006 và cơ cấu hàng hoá xuất khẩu sang Hoa Kỳ đã đa dạng hơn Tính chung cả giai đoạn 2001-2006, xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng gấp hơn 8 lần Năm 2006, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ đạt giá trị 7,8 tỷ USD Chỉ sau hai năm thực hiện Hiệp định thương mại, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 20% tổng giá trị hàng xuất khẩu của Việt Nam
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ cũng thay đổi theo hướng tích cực, trong đó đáng chú ý là các mặt hàng chế tác ngày càng chiếm tỷ trọng lớn Năm 2001, khi chưa có Hiệp định thương mại, 78% hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ là hàng sơ chế, chủ yếu là tôm và các sản phẩm dầu khí Đến năm 2003, các mặt hàng chế tác đã chiếm 72% tổng giá trị xuất khẩu sang Hoa Kỳ và hiện ở mức 74-75% Bên cạnh sự tăng trưởng nhanh của mặt hàng may mặc, giày dép và đồ gia dụng, các mặt hàng chế tác khác cũng đạt mức tăng nhanh, đáng chú ý là các mặt hàng máy xử lý số liệu, các thiết bị viễn thông, máy móc điện, hàng phục vụ du lịch, đồ chơi và đồ dùng bằng nhựa
Các sản phẩm sơ chế khác xuất sang Hoa Kỳ đạt mức tăng trưởng ổn định, cụ thể là tăng gần gấp ba lần sau hơn 5 năm thực hiện Hiệp định thương mại, chủ yếu do đóng góp của các sản phẩm dầu khí, tăng trưởng gần gấp sáu lần Các mặt hàng thuỷ hải sản tuy đạt mức tăng nhanh trong những năm đầu thực hiện Hiệp định thương mại (hai năm đầu thực hiện Hiệp định thương mại, mặt hàng thuỷ sản xuất khẩu đã tăng gần 50%), nhưng đã gặp phải nhiều rào cản khi Hoa Kỳ áp thuế chống bán phá giá đối với mặt hàng cá philê và sau đó là tôm xuất khẩu của Việt Nam Điều này cũng góp phần tạo ra sức ép để các doanh nghiệp chế biến thuỷ hải sản của Việt Nam đa dạng hoá thị trường, tìm kiếm các thị trường mới Kim ngạch xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam theo đó tăng đáng kể trong vòng 5 năm qua
Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu sang Hoa Kỳ giai đoạn 2000-2006 (%)
Năm 2001 2002 2003 2004 2005 2006
Trong hơn 5 năm qua, hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam cũng tăng hơn gấp đôi Tuy nhiên, động thái tăng trưởng không đều Trong hai năm đầu thực hiện Hiệp định thương mại, tổng giá trị xuất khẩu của Hoa Kỳ tăng gần gấp ba lần, và giảm trong những năm sau đó Đây là kết quả của việc Việt Nam thực hiện một giao dịch mua bán lớn máy bay của Hoa Kỳ (chủ yếu là Boeing 777) ngay sau khi Hiệp định thương mại có hiệu lực Giá trị của các giao dịch này được thể hiện trong kim ngạch xuất khẩu của Hoa Kỳ khi hàng được chuyển tới Việt Nam chủ yếu là trong năm 2003 Nếu không kể các thiết bị vận tải, các mặt hàng xuất khẩu khác của Hoa Kỳ cũng tăng trưởng ở mức độ khá ổn định là 20%/năm Hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ sang Việt Nam chủ yếu là các phương tiện vận tải, máy móc, các sản phẩm chế tạo khác, thực phẩm và các sản phẩm sơ chế
Trang 5Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn chỉ là nguồn hàng nhập khẩu thứ yếu của Việt Nam với tỷ lệ hàng nhập khẩu từ Hoa Kỳ trên tổng giá trị kim ngạch nhập khẩu chỉ ở mức 2,3% trong giai đoạn 2000-2005 Các nhà cung ứng hàng nhập khẩu chủ yếu của Việt Nam trong năm 2005, xếp theo mức độ quan trọng là ASEAN, Trung Quốc, Đài Loan (TQ), Nhật Bản, Hàn Quốc và EU Điều này đã góp phần làm tăng nhanh thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ,
cụ thể năm 2001, thặng dư khoảng 600 triệu USD và năm 2006 là 7,5 tỷ USD (số liệu của ủy ban thương mại quốc tế Mỹ (USITC)) Tuy thặng dư thương mại của Việt Nam với Hoa Kỳ tăng nhanh, nhưng Việt Nam vẫn chỉ chiếm chưa đầy 1% tổng thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ
2 Thương mại nói chung
Xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng đã góp phần thúc đẩy thương mại chung của Việt Nam Trong năm 2002, mức tăng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ chiếm tới trên 80% mức tăng trưởng chung hàng xuất khẩu Việt Nam Trong năm 2003, Hoa Kỳ đã trở thành thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, chiếm khoảng 20% tổng giá trị xuất khẩu Trong các năm sau đó, việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu được đẩy mạnh, tỷ lệ tăng xuất khẩu sang Hoa Kỳ, EU, ASEAN và Nhật Bản khá cân bằng, mỗi thị trường chiếm khoảng từ 15-20% tổng giá trị xuất khẩu
Mặc dù đạt mức thặng dư lớn với Hoa Kỳ, thâm hụt thương mại của Việt Nam cũng tăng nhanh sau khi ký kết Hiệp định thương mại Thâm hụt thương mại nói chung của Việt Nam tăng từ 1,2 tỷ USD năm 2001 lên 5,1 tỷ USD năm 2006 Nguyên nhân chủ yếu là do cơ cấu, trong đó Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang 4 thị trường lớn là Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản và ASEAN, trong khi nhập khẩu chủ yếu từ các nền kinh tế châu á Ngoài ra, giá trị gia tăng được tạo ra trong nước cũng rất thấp Ví dụ như đối với mặt hàng may mặc, chiếm 50% tổng giá trị xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ, thì chỉ có từ 5-10% giá trị xuất khẩu là giá trị gia tăng trong nước, phần còn lại chủ yếu là nguyên liệu nhập khẩu, chủ yếu là từ các nhà cung cấp châu á Khác hẳn với Trung Quốc, giá trị nhập khẩu nói chung của Việt Nam tăng mạnh hơn giá trị xuất khẩu nên đã tạo ra sự thâm hụt thương mại đáng kể, trong đó giá trị thâm hụt thương mại với các nước còn lại trên thế giới vượt trên cả giá trị thặng dư thương mại song phương với Hoa Kỳ
II Đầu tư
1 FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam
Cách tính mới cho FDI của Hoa Kỳ
Theo cách tính mới, gồm cả đầu tư qua nước thứ ba, tính từ năm 1998 đến hết tháng 6/2006, FDI của Hoa Kỳ vào Việt Nam đạt khoảng 4 tỷ USD đối với các dự án đã đăng ký
và 3,3 tỷ USD đối với các dự án đã thực hiện, cao hơn nhiều so với con số tương ứng là 2 tỷ USD và 777 triệu USD theo các báo cáo thông thường về FDI theo quan hệ song phương trước đây Điều đó có nghĩa là đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ ba được đăng
ký cao hơn gần gấp đôi so với tổng giá trị đầu tư trực tiếp nước ngoài song phương theo báo cáo thông thường, đưa Hoa Kỳ vào hàng các nhà đầu tư lớn nhất ở Việt Nam tính theo giá trị luỹ kế trong 20 năm trở lại đây Đặc biệt là trong giai đoạn 2003 - 2006, đầu tư trực tiếp của Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ ba vào Việt Nam xếp vào loại cao nhất trong tất cả các nước Trong giai đoạn này, FDI từ các nước khác cũng tăng nhanh, chứng tỏ môi trường chính sách và pháp luật của Việt Nam đã được cải thiện, một phần bắt nguồn từ việc thực hiện thành công Hiệp định thương mại, sự thành công của quá trình đàm phán gia nhập WTO, cải cách hệ thống pháp luật thực hiện ở quy mô lớn hơn trên toàn quốc và sự tin
Trang 6tưởng nền kinh tế của Việt Nam sẽ tiếp tục tăng trưởng một cách vững chắc.
Một điểm khác đáng chú ý là FDI của Hoa Kỳ kể cả qua nước thứ ba chủ yếu tập trung ở các ngành sử dụng nhiều kỹ năng/vốn, tập trung ở một số tỉnh thành và ở loại hình các doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài Khoảng một nửa giá trị FDI thực hiện có liên quan tới Hoa Kỳ là ở lĩnh vực dầu khí, khoảng 1/3 tập trung ở các ngành chế tạo, còn lại là ở các ngành dịch vụ, phát triển bất động sản và nông nghiệp Ngoại trừ các hoạt động đầu tư dầu khí, trên 80% dự án FDI thực hiện có liên quan tới Hoa Kỳ nằm ở ba tỉnh thành phía Nam là Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai và hai tỉnh thành phía Bắc là Hải Dương và Hà Nội Gần 60% các dự án FDI ngoài ngành dầu khí có liên quan tới Hoa Kỳ được thực hiện dưới hình thức các doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, còn lại phần lớn thông qua hình thức liên doanh
Đầu tư gián tiếp
Đầu tư gián tiếp vào Việt Nam tăng mạnh, trong đó đầu tư gián tiếp từ Hoa Kỳ là một trong những nguồn vốn quan trọng Trong vài năm trở lại đây, người nước ngoài, đặc biệt là người Mỹ, ngày càng tham gia đầu tư gián tiếp vào Việt Nam Họ mua cổ phần trong các công
ty Việt Nam trên thị trường chứng khoán đang bùng nổ và thực hiện các giao dịch mua lại quan trọng thông qua các đợt chào mua riêng lẻ Các nhà đầu tư quốc tế có tổ chức lớn cũng
tỏ ra ngày càng quan tâm hơn đến việc tham gia thị trường vốn của Việt Nam Căn cứ vào các cuộc trao đổi với những cán bộ quản lý quỹ, có thể ước tính được khoảng 1/3 đến 1/2 các khoản tiền luân chuyển qua các quỹ đầu tư nước ngoài là của người Mỹ Một trong những lý
do có thể giải thích cho sự gia tăng này phải kể tới sự cải thiện trong môi trường pháp luật và thương mại của Việt Nam (kể cả việc ban hành Luật Chứng khoán mới đây)
2 Tác động của Hiệp định thương mại đến đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam nói chung
Tác động của việc thực thi Hiệp định thương mại có thể thấy qua việc FDI tăng đột biến trong các lĩnh vực mà hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Hoa Kỳ tăng mạnh nhất sau khi ký Hiệp định thương mại Việc mở cửa thị trường Hoa Kỳ đã tạo cơ hội phát huy lợi thế cạnh tranh của các công ty Việt Nam, đặc biệt trong các lĩnh vực sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày dép, đồ gia dụng và các sản phẩm đồ gỗ Số liệu cho thấy FDI vào ba ngành này tăng gấp hơn 7 lần trong giai đoạn 2000-2005, phần lớn xuất phát
từ các nền kinh tế châu á và không có hoạt động FDI nào là của Hoa Kỳ, nước không tập trung vào những ngành sản xuất sử dụng nhiều lao động
Trong giai đoạn 1999-2003, đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) nói chung vào Việt Nam tăng trưởng ở mức độ khiêm tốn, sau đó bùng nổ trong hai năm 2005-2006 Trong giai đoạn 1999-2003, FDI đăng ký tăng 24% trong khi FDI thực hiện tăng 13% Từ năm 2003 đến 2006, FDI đăng ký tăng gần 375% với giá trị khoảng 12 tỷ USD, còn FDI thực hiện tăng 55%, trong đó phần vốn của Hoa Kỳ gồm cả đầu tư qua nước thứ ba chiếm tỷ trọng lớn Năm 2006, FDI đăng ký vào Việt Nam đạt mốc mới là 10,2 tỷ USD và dự báo tiếp tục tăng trong năm 2007 Đáng chú ý là FDI vào những lĩnh vực công nghệ cao có xu hướng tăng, ví dụ việc Intel đầu tư khoảng 1 tỷ USD vào một nhà máy sản xuất chíp bán dẫn tại Thành phố Hồ Chí Minh Quy mô của các dự án FDI cũng có xu hướng tăng sau khi có hiệp định thương mại, đặc biệt trong giai đoạn 2002-2005 FDI tăng trong thời gian qua cho thấy
sự tin tưởng ngày càng tăng của các nhà đầu tư nước ngoài khi Việt Nam đã thực hiện có hiệu quả Hiệp định thương mại, trở thành thành viên chính thức của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), môi trường kinh doanh trong nước được cải thiện và triển vọng tăng trưởng kinh tế sáng sủa
Trang 7III Cơ cấu kinh tế
Nền kinh tế Việt Nam ngày càng có xu hướng xuất khẩu nhiều hơn, sử dụng nhiều lao động hơn Có thể dự đoán dựa trên lý thuyết kinh tế rằng việc mở cửa thị trường Hoa Kỳ đối với hàng xuất khẩu Việt Nam và sự cải thiện môi trường kinh doanh ở Việt Nam đi kèm với quá trình thực hiện Hiệp định thương mại đã tạo cơ hội cho Việt Nam tận dụng lợi thế cạnh tranh về nguồn nhân lực, sản xuất hàng xuất khẩu sử dụng nhiều nhân công, tăng năng suất, cải thiện môi trường đầu tư và tạo việc làm
Cơ cấu đầu tư cũng có sự dịch chuyển đáng kể Tỷ trọng đầu tư vào các ngành chế tác trong tổng vốn đầu tư đã tăng từ 49% năm 2001 lên 55% trong năm 2005 Tỷ lệ vốn đầu tư vào những ngành sử dụng nhiều lao động so với tổng vốn đầu tư vào ngành chế tác cũng gia tăng
Tăng trưởng đầu tư vào các ngành chế tác sử dụng nhiều lao động và không sử dụng nhiều lao động giai đoạn 2001-2004 (%)
Ngành chế tác 2001 2002 2003 2004
Không sử dụng nhiều lao động 36 19 19 22
Nguồn: Tổng cục Thống kê.
Bên cạnh đó, có sự chuyển dịch về cơ cấu sở hữu trong lĩnh vực chế tác: Tỷ lệ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và đặc biệt là các doanh nghiệp tư nhân (chính thức) trong nước trên tổng sản lượng chế tác đã tăng mạnh khi nền kinh tế phát triển theo hướng tăng xuất khẩu và tập trung vào các hoạt động chế tác sử dụng nhiều lao động, cụ thể chiếm tương ứng 35% và 27%, cao hơn so với tỷ lệ tương ứng là 27% và 14% trong lĩnh vực chế tác
sử dụng nhiều vốn Trong khi tỷ lệ của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp tư nhân tăng thì tỷ lệ trong sản lượng chế tác của khu vực doanh nghiệp nhà nước và hộ gia đình lại giảm đáng kể
IV Lĩnh vực dịch vụ
Các ngành dịch vụ đã tăng trưởng rất nhanh sau khi có Hiệp định thương mại Mối
lo ngại việc mở cửa ngành dịch vụ cho các doanh nghiệp Hoa Kỳ có thể sẽ hạn chế sự phát triển của các tổ chức cung ứng dịch vụ Việt Nam đã không xảy ra Có thể thấy, việc các nhà đầu tư nước ngoài nói chung và các nhà đầu tư Hoa Kỳ tham gia vào thị trường dịch vụ Việt Nam là một cuộc chơi “mọi người cùng thắng”, trong đó sự tham gia của các nhà cung ứng dịch vụ nước ngoài đã và sẽ góp phần cải thiện chất lượng và số lượng các lĩnh vực dịch vụ trong toàn bộ nền kinh tế và đem lại nhiều cơ hội mới cho các tổ chức cung ứng dịch vụ trong nước Thời gian qua đã chứng kiến bước trưởng thành quan trọng của nhiều nhà cung cấp dịch vụ trong nước trong các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, chứng khoán… Quan trọng hơn nữa là việc cải thiện chất lượng và số lượng dịch vụ nói chung sẽ làm lợi cho toàn bộ nền kinh tế
Có thể thấy những cải cách mạnh mẽ nhất đang diễn ra trong lĩnh vực ngân hàng Có thể trong vài năm nữa mới nhận thấy được tác động đầy đủ của quá trình tự do hoá ngành ngân hàng Việt Nam khi thực thi cam kết trong Hiệp định thương mại và cam kết với WTO, nhưng cả Hiệp định thương mại và WTO đều đặt ra các yêu cầu to lớn đối với việc tăng cường cơ hội tiếp cận thị trường cho các ngân hàng nước ngoài và áp dụng cơ chế đối xử quốc gia đối với các ngân hàng trong và ngoài nước, đặt các doanh nghiệp dịch vụ trong nước
Trang 8trước sức ép phải nhanh chóng cải cách, đổi mới nhằm đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, nâng cao chất lượng dịch vụ, tạo thế và lực nhằm chiếm lĩnh thị trường trong nước
Với những cải cách nhằm tuân thủ các yêu cầu của Hiệp định thương mại và WTO, hệ thống pháp luật trong lĩnh vực dịch vụ của Việt Nam đã ngày càng hoàn thiện và tiến gần với các thông lệ quốc tế: Sửa đổi về cơ bản Luật Ngân hàng nhà nước và Luật các tổ chức tín dụng; soạn thảo các luật mới về giám sát an toàn tài chính và bảo hiểm tiền gửi; ban hành Luật Chứng khoán với các quy định hướng dẫn thi hành đang được soạn thảo Bên cạnh đó, Việt Nam đang lên kế hoạch cổ phần hoá 4 ngân hàng thương mại nhà nước lớn
Tuy nhiên, theo đánh giá của nhiều chuyên gia kinh tế, còn một số điểm yếu cần lưu ý trong quá trình thực thi Hiệp định thương mại, đó là:
- Trong quan hệ thương mại 5 năm qua, phía Mỹ áp dụng ngày càng nhiều các biện pháp “khắc phục” như các rào cản kỹ thuật, chống bán phá giá và kiểm soát (đã xảy ra với các mặt hàng cá basa và dệt may…)
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế chưa thực sự rõ nét, cần phải quan tâm đến năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong thời gian tới Việt Nam không thể mãi dựa vào lợi thế lao động rẻ vì đây là lợi thế sẽ mất dần theo thời gian, mà cần phải tạo ra những lợi thế so sánh mới Không thể tiếp tục duy trì tình trạng “gia công” như hiện nay
- Cần có những đánh giá toàn diện hơn xem liệu Việt Nam đã tận dụng tối đa cơ hội do BTA mang lại hay chưa, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm cần thiết trong quá trình hội nhập quốc tế thời gian tới, ví dụ thực hiện các cam kết với WTO, tham gia nhiều hiệp định thương mại song phương khác…
TÀI LIỆU THAM KHẢO:
- Báo cáo “Đánh giá tác động của 5 năm thực hiện Hiệp định thương mại song phương
Việt Nam - Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh tế của Việt Nam” do USAID, dự
án Star Việt Nam, Viện nghiên cứu quản lý kinh tế trung ương (CIEM) và Cục đầu tư nước ngoài (FIA) phối hợp thực hiện
- Ý kiến của các chuyên gia tại Hội thảo Đánh giá tác động của 5 năm thực hiện Hiệp
định thương mại song phương Việt Nam - Hoa Kỳ đối với thương mại, đầu tư và cơ cấu kinh
tế của Việt Nam ngày 17/07/2007
- Trang tin điện tử www.mof.gov.vn; www.mofa.gov.vn;
Về chính sách phát triển khu công nghiệp ở một số nước và bài
học đối với Việt Nam
Sự hình thành và hoạt động của các khu công nghiệp (KCN) đã tạo động lực phát triển sản xuất công nghiệp, góp phần mạnh mẽ trong việc thu hút đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài vào Việt Nam Các KCN cũng góp phần thay đổi diện mạo, thúc đẩy nhanh quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa các thành phố Nhiều vùng đất nông nghiệp, hiệu quả kinh tế thấp tại những khu vực ngoại thành sau khi được quy hoạch làm KCN đã trở thành những vùng đô thị mới, với những khu sản xuất công nghiệp tập trung, hiệu quả kinh tế tăng cao nhiều lần Mô hình kinh tế này đã mang lại hiệu quả tích cực về kinh tế
và xã hội, thu hút lao động tại chỗ và lao động nhập cư, góp phần đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý, công nhân lành nghề, thúc đẩy chuyển giao công nghệ, tăng kim ngạch xuất nhập khẩu Hoạt động của các KCN cũng đã thúc đẩy sự phát triển của các ngành dịch vụ, thúc
Trang 9đẩy tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng “dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, quá trình phát triển các KCN cũng
đã bộc lộ những mặt bất cập, hạn chế: Các KCN tại Việt Nam còn manh mún, nhỏ lẻ, với quy mô mỗi khu chỉ từ 100 - 300 ha Việc quy hoạch xây dựng các KCN trong thời gian qua còn mang tính tự phát, chỉ chú ý phục vụ sản xuất, chưa tính đến đầy đủ các yếu tố xã hội như nhà ở, phương tiện vui chơi, giải trí, luyện tập thể dục, thể thao… cho công nhân; chưa hình thành các khu dịch vụ phụ cận; tình trạng ô nhiễm môi trường, nhất là hệ thống xử lý nước thải trong các KCN chưa được quan tâm nhiều Mặt khác, các KCN còn thiếu sự chọn lựa trong kêu gọi các nhà đầu tư Phần lớn các doanh nghiệp đầu tư vào các KCN là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn ít và sử dụng nhiều lao động Bên cạnh đó, công tác tạo quỹ đất phục vụ các nhà đầu tư còn chậm, nhiều dự án bị vướng mắc khâu đền bù giải tỏa, ảnh hưởng đến thu hút các dự án lớn Nguồn nhân lực chưa được đào tạo chuyên môn kịp thời, người lao động chưa có thói quen tác phong công nghiệp…
Trong thời gian tới, cần nhanh chóng khắc phục những điểm yếu kể trên nhằm phát triển nhanh và hiệu quả mạng lưới các KCN trong phạm vi cả nước Việt Nam có thể tham khảo chính sách phát triển các KCN của một số nước/vùng lãnh thổ Sau đây là chính sách phát triển KCN của Đài Loan (TQ), Nhật Bản và Trung Quốc
1 Đài Loan (TQ)
Phát triển công nghiệp luôn là động lực cho phát triển kinh tế của Đài Loan, trong đó các KCN giữ một vị trí quan trọng Các chính sách phát triển KCN luôn thay đổi theo từng giai đoạn phát triển kinh tế khác nhau, chuyển dịch dần từ mô hình sản xuất tập trung truyền thống sử dụng nhiều lao động sang hình thức các KCN công nghệ cao, tạo ra nhiều giá trị gia tăng Chính những chính sách thông thoáng, tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, hỗ trợ tài chính, khuyến khích phát triển kinh tế đã đem lại những kết quả to lớn cho phát triển kinh tế Đài Loan trong những thập niên vừa qua
Quá trình phát triển các KCN của Đài Loan khởi điểm từ những chính sách ban đầu chỉ đơn thuần tạo mặt bằng để xây dựng các xí nghiệp công nghiệp được kết hợp với chính sách phát triển cân đối theo vùng và nâng cao chính sách phát triển kinh tế Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển, Đài Loan đã hướng tới việc thu hút đầu tư vào các KCN công nghệ cao, tạo giá trị gia tăng lớn Theo đó, Đài Loan đã áp dụng nhiều chính sách ưu đãi khác nhau về thuế, hỗ trợ tài chính hoặc vay ưu đãi từ Chính phủ, quy định mức khấu hao đặc biệt cho các thiết bị máy móc Đài Loan thực hiện chế độ “một cửa” trong việc thực hiện các thủ tục xin giấy phép đầu tư, giấy phép hải quan cho nhà đầu tư trong các KCN
Căn cứ vào điều kiện tài nguyên, đặc điểm kinh tế xã hội từng khu vực kết hợp với việc
dự báo, đánh giá xu hướng phát triển khoa học-kỹ thuật, công nghệ, triển vọng thị trường thế giới trong thời gian 10-20 năm, chính quyền Đài Loan xây dựng quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế quốc dân, quy hoạch phát triển các KCN và đưa ra các chính sách phát triển phù hợp theo từng giai đoạn Chính sách phát triển KCN được hoạch định theo trình tự các bước: Xác định trọng tâm vấn đề cần giải quyết; xác lập mục tiêu cần đạt được; đề xuất các giải pháp và lựa chọn phương án chính sách tối ưu Nhằm đảm bảo tính khách quan trong điều hành nền kinh tế, các cơ quan hoạch định chính sách và chiến lược phát triển, quy hoạch được tách ra khỏi cơ quan quản lý điều hành Nhằm bắt kịp yêu cầu phát triển công nghiệp ngày càng tăng trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) vào đầu năm 2002, Đài Loan đã đề ra những định hướng điều chỉnh trong chính sách phát triển KCN trong thời gian tới như sau:
Trang 10Thứ nhất, chuyển đổi thu hút đầu tư vào KCN từ dựa trên yếu tố giá thành sang yếu tố
chất lượng dịch vụ Nếu trước đây chủ đầu tư KCN chỉ cung cấp những dịch vụ công cộng cơ bản với mức giá cho thuê đất thấp nhằm giảm chi phí sản xuất và quản lý của các doanh nghiệp trong KCN thì hiện nay đã chuyển hướng sang đầu tư xây dựng các KCN có chất lượng dịch vụ cao với giá cho thuê đất ở mức hợp lý
Thứ hai, chuyển từ định hướng trọng cung sang định hướng trọng cầu Việc cho thuê đất
phát triển công nghiệp trong các KCN sẽ dựa trên nhu cầu thị trường và yêu cầu phát triển của các ngành công nghiệp; đồng thời, khuyến khích khu vực tư nhân tham gia phát triển KCN
Thứ ba, chuyển từ mô hình phát triển các KCN tập trung sang mô hình công viên công
nghiệp, theo đó sẽ chú trọng hơn công tác bảo vệ môi trường sinh thái, ưu tiên quy hoạch đất cho các hoạt động nghiên cứu và triển khai (R&D), các ngành công nghệ cao và các hoạt động giải trí nhằm tạo ra một hình ảnh mới, chất lượng dịch vụ cao của các công viên công nghiệp
Thứ tư, chuyển từ cung cấp các dịch vụ cơ bản sang các loại dịch vụ cao cấp Các KCN
mới sẽ ngày càng đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, không chỉ đơn thuần những dịch vụ sửa chữa, duy tu, bảo dưỡng hệ thống hạ tầng như trước đây, mà còn cung cấp các dịch vụ hỗ trợ
về quản lý doanh nghiệp, dịch vụ xúc tiến thương mại, tư vấn pháp lý, phát triển công nghiệp
Thứ năm, phát triển các công viên công nghiệp thông minh để nâng cao năng lực sản
xuất của Đài Loan Nhằm mục tiêu đưa Đài Loan thành một trung tâm công nghiệp của khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và đáp ứng nhu cầu phát triển công nghiệp công nghệ mới, tạo giá trị gia tăng cao, Đài Loan đang nỗ lực thành lập các “công viên công nghiệp thông minh” được quy hoạch hạ tầng hoàn thiện có hệ thống viễn thông hiện đại và cung cấp các dịch vụ quản lý tập trung tiên tiến Các KCN thông minh này sẽ chủ yếu phát triển các ngành công nghệ thông tin, các hoạt động R&D, phát triển công nghệ mới, tạo giá trị gia tăng cao, bao gồm cả các trung tâm đào tạo và các viện nghiên cứu
2 Nhật Bản
Trong suốt thời kỳ tăng trưởng của nền kinh tế Nhật Bản, các KCN đã đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển các ngành sản xuất công nghiệp và đảm bảo phát triển kinh tế cân đối giữa các vùng, miền của Nhật Bản Các chính sách phát triển KCN của Nhật Bản bao gồm:
Xây dựng cơ sở pháp lý phù hợp thúc đẩy phát triển cân đối giữa các vùng
Nhật Bản trước khi tiến hành phát triển các KCN đã xây dựng khuôn khổ pháp lý cho hoạt động và phát triển các KCN Năm 1972, Nhật Bản đã ban hành Luật Xúc tiến di chuyển công nghiệp, khuyến khích di chuyển các xí nghiệp từ khu vực tập trung công nghiệp quá đông ra các vùng kém phát triển, ít có hoạt động công nghiệp; đồng thời lên kế hoạch xây dựng nhà máy mới hay mở rộng các nhà máy hiện có, bảo vệ môi trường và ổn định lao động Các vùng tập trung công nghiệp quá đông được coi là “Khu vực khuyến khích di chuyển công nghiệp” và những khu vực kém phát triển được chỉ định là “Khu vực khuyến khích thiết lập công nghiệp” Các cơ sở công nghiệp trong “Khu vực khuyến khích di chuyển công nghiệp” được khuyến khích rời đi nơi khác để phát triển các khu đô thị mới, ngược lại, các xí nghiệp công nghiệp được khuyến khích thành lập trong các khu “Khu vực khuyến khích thiết lập công nghiệp” Để khuyến khích việc di chuyển các cơ sở sản xuất công nghiệp, Chính phủ áp dụng một số biện pháp như ưu đãi thuế, trợ cấp hoặc cho vay vốn ưu đãi Căn cứ vào Luật Xúc tiến di chuyển công nghiệp, Nhật Bản đã đề ra Kế hoạch di chuyển công nghiệp (giai đoạn 1985 - 2000) với mục tiêu thu hẹp 20% diện tích các cơ sở công nghiệp trong khu vực