1. Trang chủ
  2. » Tất cả

Thể lệ cuộc thi 70 năm QĐND và 25 năm QPTD

18 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 139 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là gì?. - Từ năm 1941, sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tập

Trang 1

THỂ LỆ CUỘC THI TÌM HIỂU

70 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam

và 25 năm Ngày Hội Quốc phòng toàn dân (22/12/1989 – 22/12/2014)

I ĐỐI TƯỢNG DỰ THI

1 Cán bộ, đoàn viên, thanh niên, thiếu nhi các dân tộc tỉnh Lào Cai

2 Khuyến khích các tầng lớp nhân dân ngoài tỉnh; người Việt Nam đang sinh sống, học tập và làm việc ở nước ngoài; người nước ngoài đang sinh sống, học tập và làm việc tại Việt Nam

II GIẢI THƯỞNG CUỘC THI

1 Cấp Trung ương:

a/ Giải tập thể dành cho các tỉnh, thành đoàn, đoàn trực thuộc triển khai

hiệu quả tại cấp cơ sở và nhiều bài dự thi cấp Trung ương có chất lượng: Gồm

giấy chứng nhận của Ban Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải nhất, trị giá: 15.000.000đ

- 02 giải nhì, trị giá mỗi giải: 7.000.000đ

- 03 giải ba, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ

- Một số giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ

b/ Giải dành cho các bài dự thi viết: Gồm giấy chứng nhận của Ban Tổ chức

cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải đặc biệt, trị giá: 10.000.000đ

- 02 giải nhất, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ

- 03 giải nhì, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ

- 04 giải ba, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ

- 05 giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

c/ Giải dành cho các bài dự thi video clip: Gồm giấy chứng nhận của Ban

Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải đặc biệt, trị giá: 15.000.000đ

- 01 giải nhất, trị giá mỗi giải: 7.000.000đ

- 03 giải nhì, trị giá mỗi giải: 5.000.000đ

- 05 giải ba, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ

- Một số giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ

2 Cấp tỉnh:

a/ Giải tập thể dành cho các huyện, thành Đoàn, Đoàn trực thuộc triển khai

hiệu quả tại cấp cơ sở và nhiều bài dự thi cấp Tỉnh có chất lượng: Gồm giấy

chứng nhận của Ban Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải nhất, trị giá: 2.000.000đ

- 02 giải nhì, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

Trang 2

- 03 giải ba, trị giá mỗi giải: 700.000đ

- 05 giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 500.000đ

b/ Giải dành cho các bài dự thi viết: Gồm giấy chứng nhận của Ban Tổ chức

cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải nhất, trị giá: 3.000.000đ

- 02 giải nhì, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ

- 03 giải ba, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

- 10 giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 700.000đ

- Giải dành cho người cao tuổi nhất: 500.000đ

- Giải dành cho người ít tuổi nhất: 500.000đ

c/ Giải dành cho các bài dự thi video clip: Gồm giấy chứng nhận của Ban

Tổ chức cuộc thi kèm theo tiền thưởng:

- 01 giải nhất, trị giá mỗi giải: 3.000.000đ

- 01 giải nhì, trị giá mỗi giải: 2.000.000đ

- 02 giải ba, trị giá mỗi giải: 1.000.000đ

- 05 giải khuyến khích, trị giá mỗi giải: 700.000đ

III THỜI HẠN VÀ NƠI NHẬN BÀI DỰ THI

1 Thời hạn

- Phát động cuộc thi: Ngày 02/10/2014

- Hạn cuối thu bài cấp tỉnh: Ngày 30-10-2014 (tính theo dấu bưu điện)

- Cấp tỉnh sơ khảo, trao giải và gửi về Trung ương: Trước ngày 30-11-2014

- Tổng kết, trao giải cấp Trung ương: Dịp kỷ niệm “70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân" (22-12-2014)

2 Nơi nhận bài dự thi

- Địa chỉ nhận bài dự thi cấp tỉnh: Các huyện, thành Đoàn và Đoàn trực thuộc

gửi bài dự thi về Ban Tuyên Giáo Tỉnh Đoàn Lào Cai tầng 5 nhà A trụ sở khối 3 phường Nam Cường – Thành phố Lào Cai Điện thoại: 0203.842655, email: ttvhlc@gmail.com

IV YÊU CẦU VỀ BÀI DỰ THI

1 Yêu cầu chung

- Cá nhân hoặc nhóm có thể sáng tác và gửi dự thi một hoặc nhiều bài dự thi với nhiều hình thức khác nhau trong cùng thời điểm Người đăng ký dự thi phải là

cá nhân hoặc đại diện nhóm

- Bài dự thi phải ngắn gọn, súc tích, theo yêu cầu của câu hỏi Đối với các bài dự thi công phu, đặc biệt nếu có 10 bài trở lên, Ban tổ chức sẽ thành lập Hội đồng Ban giám khảo độc lập

- Ban tổ chức cuộc thi sẽ cung cấp những thông tin cần thiết để làm tư liệu cho người tham gia dự thi nghiên cứu, tham khảo Những thông tin này sẽ được

Trang 3

đăng tải trên các Báo: Quân đội nhân dân, Tiền Phong, Thanh Niên, Sinh viên Việt Nam, website Đoàn Thanh niên và một số phương tiện thông tin đại chúng khác từ tháng 8-2014

- Ban tổ chức không trả lại bài đã tham gia dự thi và được sử dụng trong công tác tuyên truyền, giáo dục không lợi nhuận

2 Bài thi viết

- Bài thi sử dụng tiếng Việt; viết tay hoặc đánh máy rõ ràng Bài ghi rõ ở trang đầu các thông tin cá nhân: Họ tên, tuổi, địa chỉ, nghề nghiệp, số điện thoại và thông tin liên hệ

- Nếu gửi qua đường bưu điện, ngoài phong bì ghi rõ: Bài dự thi tìm hiểu

“70 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 25 năm Ngày hội Quốc phòng toàn dân” và ghi rõ nơi gửi, nơi nhận

3 Dự thi video clip

- Video clip dự thi có thể có hoặc không có lời bình, phụ đề Trong trường hợp sử dụng thêm hình ảnh, âm nhạc hoặc ca khúc của người khác thì nhóm dự thi hoàn toàn chịu trách nhiệm về bản quyền đối với tác giả

- Video clip dự thi có thể được quay từ máy quay phim (chuyên hoặc bán chuyên), máy ảnh kỹ thuật số (digital camera), điện thoại di động có hỗ trợ quay phim từ 720p trở lên (từ 3.0 megapixel trở lên) hoặc phần mềm quay phim màn hình máy tính

- Độ dài của video clip không ngắn dưới 1 phút và không dài quá 5 phút

- Không chấp nhận video clip cắt ghép từ những video clip đã có sẵn từ trước trên mạng internet hay từ bất cứ nguồn khác

- Video clip dự thi không vi phạm hoặc là đối tượng tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ

V CÂU HỎI CUỘC THI

Câu 1: Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, tiền thân của Quân

đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ở đâu? Ai làm Đội trưởng và Chính trị viên đầu tiên? Tư tưởng chỉ đạo khi thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân là gì?

Câu 2: Hãy nêu tên và thời gian diễn ra những chiến dịch tiêu biểu của quân

và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược?

Câu 3: Bản chất, truyền thống cách mạng vẻ vang của quân đội ta được Bác

Hồ khái quát như thế nào? Câu nói đó được Bác Hồ nói ở đâu, thời gian nào? Yếu

tố quyết định bản chất cách mạng của quân đội ta là gì?

Câu 4: Ngày hội Quốc phòng toàn dân được Đảng ta quyết định vào ngày,

tháng, năm nào? Ý nghĩa của Ngày hội Quốc phòng toàn dân?

Câu 5: Hãy trình bày cảm tưởng, kỷ niệm của bản thân, của gia đình, quê

hương mình về Bộ đội Cụ Hồ, về mối quan hệ đoàn kết quân-dân, về chủ quyền, biển, đảo quốc gia và trách nhiệm của bản thân trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa hiện nay? (không quá 1.500 chữ)

BAN TỔ CHỨC CUỘC THI

Trang 5

GỢI Ý ĐÁP ÁN CUỘC THI TÌM HIỂU TRUYỀN THỐNG 70 NĂM NGÀY THÀNH LẬP QĐND VIỆT NAM

VÀ 25 NĂM NGÀY HỘI QUỐC PHÒNG TOÀN DÂN

Câu hỏi 1: Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam được thành lập ngày, tháng, năm nào? Ở đâu? Ai là Đội trưởng và Chính trị viên đầu tiên? Tư tưởng chỉ đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là gì?

Trả lời:

* Khái quát bối cảnh tình hình trước khi Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ra đời

- Những tháng cuối năm 1944, trong lúc trên thế giới phe Đồng minh đang phản công và tiến công phe phát xít, trên khắp các mặt trận, thì ở Việt Nam, theo chủ trương và kế hoạch của Liên tỉnh ủy Cao-Bắc-Lạng, nhân dân các tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn đã sẵn sàng khởi nghĩa Giữa lúc đó đồng chí Hồ Chí Minh từ Trung Quốc trở về Cao Bằng Người chỉ thị hoãn cuộc khởi nghĩa Cao-Bắc-Lạng Tình hình cách mạng nước ta lúc bấy giờ đòi hỏi phải gấp rút tổ chức lực lượng vũ trang cách mạng

- Từ năm 1941, sau Hội nghị Trung ương lần thứ 8, đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã tập trung chỉ đạo xây dựng các đội tự vệ cứu quốc, tự vệ chiến đấu (tiểu tổ du kích) rộng rãi để chuẩn bị tiến lên thành lập các đội du kích tập trung chính thức và sau nữa tiến tới thành lập quân đội công nông, đó chính là những tổ chức tiền thân của Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân

- Ngày 7 tháng 5 năm 1944, trước tình hình quân đội Xô Viết phản công giành thắng lợi trên nhiều mặt trận, căn cứ vào chủ trương của Trung ương Đảng, Tổng

bộ Việt Minh ra Chỉ thị về sửa soạn khởi nghĩa Đối với việc xây dựng lực lượng

vũ trang, Chỉ thị nêu rõ “ phải hết sức phát triển và thống nhất các đội tự vệ sẵn có

và tổ chức những đội tự vệ mới”, trên cơ sở đó tổ chức ra “các bộ đội du kích chính thức”

* Nội dung:

- Tháng 12 năm 1944, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân Được Trung ương Đảng và đồng chí Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ tổ chức và chỉ huy; 17 giờ ngày 22 tháng 12 năm 1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp làm lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tại một khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên Bình, tỉnh Cao bằng, đại biểu Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng đến dự chào mừng Đội

- Khi thành lập Đội gồm 34 chiến sỹ, do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng;

Trang 6

đồng chí Xích Thắng (tức Dương Mạc Thạch) làm Chính trị viên Các đồng chí khác gồm: đồng chí Hoàng Văn Thái phụ trách kế hoạch tác chiến; đồng chí Văn Tiên (tức Lộc Văn Nùng) quản lý Toàn đội được biên chế thành 3 tiểu đội Các đồng chí Thu Sơn, Bế Văn Sắt và Xuân Trường làm tiểu đội trưởng Vũ khí: Đội được trang bị 34 khẩu súng các loại Đồng chí Hồ Chí Minh gửi 50 đồng tiền Đông Dương cho Đội để làm vốn tài chính ban đầu Chi bộ đầu tiên gồm có 4 đảng viên

Do đồng chí Xích Thắng làm thư ký chi bộ

- Đánh giá ý nghĩa sự kiện thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân: Đội VNTTGPQ ra đời trên nền tảng vững chắc là phong trào cách mạng toàn dân,

từ một trong những nguồn vốn quân sự ban đầu của Đảng là các đội du kích, tự vệ Cao-Bắc-Lạng Sự ra đời của Đội đánh dấu bước phát triển nhảy vọt về hình thức

tổ chức của LLVT cách mạng Tại Cao-Bắc-Lạng, hình thức tổ chức LLVT ba thứ quân đã xuất hiện, trong đó Đội VNTTGPQ là đội đàn anh, đội chủ lực, “khởi điểm của Giải phóng quân” - Đội quân chủ lực đầu tiên của QĐND Việt Nam và ngày 22 tháng 12 năm 1944, ngày thành lập Đội VNTTGPQ trở thành ngày thành lập QĐND Việt Nam

+ Đội VNTTGPQ được thành lập đánh dấu bước phát triển mới của cách mạng nước ta- bước chuẩn bị cho khởi nghĩa vũ trang dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để giành chính quyền

+ Đây là đội quân chủ lực đầu tiên của QĐND Việt Nam

- Tư tưởng chỉ đạo của Bác Hồ khi thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân là chính trị trọng hơn quân sự

+ Tư tưởng này được thể hiện xuyên suốt trong cả quá trình chuẩn bị và chỉ đạo phương châm hoạt động của Đội sau này Vì theo nhận định của Bác: “Bây giờ thời kỳ cách mạng hòa bình phát triển đã qua nhưng thời kỳ toàn dân khởi nghĩa chưa tới Nếu bây giờ chúng ta vẫn chỉ hoạt động bằng hình thức chính trị thì không đủ để đẩy phong trào đi tới Nhưng phát động khởi nghĩa ngay thì quân địch

sẽ tập trung đối phó Cuộc đấu tranh bây giờ phải từ hình thức chính trị tiến lên hình thức quân sự Phải tìm ra một hình thức thích hợp mới có thể đẩy phong trào tiến lên”

+ Tư tưởng chỉ đạo chính trị trọng hơn quân sự thể hiện rõ trong việc đặt tên gọi cho Đội Khi nghe đồng chí Võ Nguyên Giáp báo cáo các đội viên đã thống nhất đặt tên đội là “Đội Việt Nam giải phóng quân” Bác đã chỉ thị thêm vào hai chữ

“Tuyên truyền” để mọi người ghi nhớ nhiệm vụ chính trị lúc này là trọng hơn quân

sự Trong Chỉ thị thành lập, Người cũng khẳng định “Tên Đội VNTTGPQ, nghĩa

là chính trị trọng hơn quân sự”

+ Tư tưởng chính trị trọng hơn quân sự cũng được thể hiện trong việc xác định mối quan hệ giữa chính trị và quân sự, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “ Nhiệm

vụ quân sự phải phục tùng nhiệm vụ chính trị”; “Quân sự mà không có chính trị như cây không có gốc, vô dụng lại có hại”

Trang 7

Câu hỏi 2: Hãy nêu tên và thời gian diễn ra những chiến dịch tiêu biểu của quân và dân ta trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc

Mỹ xâm lược?

Trả lời:

Chiến dịch là tổng thể các trận chiến đấu, các đòn đột kích, các trận then chốt và các hoạt động tác chiến khác kết hợp chặt chẽ và tác động với nhau theo mục đích, nhiệm vụ được tiến hành trên một hoặc nhiều chiến trường tác chiến, trên hướng (khu vực) chiến lược theo một ý định và kế hoạch thống nhất trong một không gian

và thời gian nhất định, nhằm thực hiện những nhiệm vụ chiến lược hay chiến lược-chiến dịch; một hình thức tác lược-chiến Theo loại tác lược-chiến có lược-chiến dịch: tiến công, phản công và phòng ngự Theo quy mô sử dụng lực lượng, có chiến dịch: chiến lược, cấp quân khu, quân đoàn, cụm quân đòan, hạm đội (ở nước ngoài còn có chiến dịch: phương diện quân, cụm phương diện quân, tập đoàn quân, cụm tập đoàn quân) Theo lực lượng, có chiến dịch: binh chủng hợp thành, quân chủng, liên quân chủng, tổng hợp, địa phương Theo môi trường hoạt động, có chiến dịch: trên

bộ, trên biển, trên không, đổ bộ đường biển, đổ bộ đường không… Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới

sự lãnh đạo của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương, Liên khu

ủy, các Liên khu, Khu trong cả nước, Quân đội ta và LLVT nhân dân đã tiến hành hàng trăm chiến dịch, với nhiều hình thức và quy mô khác nhau Một số chiến dịch tiêu biểu, điển hình trong các cuộc chiến tranh:

* Trong kháng chiến chống Pháp

1 Chiến dịch Việt Bắc, Thu Đông 1947 diễn ra từ ngày 7 tháng 10 đến 20 tháng 12 năm 1947

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch phản công đánh bại cuộc hành quân lớn của quân Pháp lên Việt Bắc bảo vệ cơ quan đầu não kháng chiến

- Cơ quan chỉ huy: Bộ Tổng Tư lệnh

- Lực lượng ta tham gia: gồm 10 trung đoàn và 5 tiểu đoàn BB của Bộ và các khu

1, khu 10, khu 12 cùng du kích 5 tỉnh Cao Bằng, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang

- Lực lượng địch: 12.000 quân Pháp (gồm: Binh đoàn đổ bộ đường không, Binh đoàn bộ binh thuộc địa, Binh đoàn hỗn hợp bộ binh thuộc địa, lính thủy đánh bộ cùng lực lượng dự bị của Pháp)

- Địa bàn tác chiến chủ yếu là vùng Việt Bắc

- Kết quả và ý nghĩa: Loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 địch, thu và phá hủy nhiều

vũ khí và phương tiện chiến tranh, đánh bại cuộc tiến công quy mô lớn và làm phá sản chiến lược “đánh nhanh, thắng nhanh” của Pháp Ta bảo toàn và phát triển bộ đội chủ lực, bảo vệ cơ quan lãnh đạo và căn cứ địa kháng chiến của cả nước, đưa

Trang 8

cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp sang thời kỳ mới, đánh dấu mốc hình thành

rõ nét nghệ thuật chiến dịch Việt Nam

2 Chiến dịch Biên Giới (còn gọi là chiến dịch Lê Hồng Phong) diễn ra từ ngày

16 tháng 9 đến 14 tháng 10 năm 1950.

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch tiến công của QĐND Việt Nam

- Cơ quan chỉ huy: Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp ra mặt trận cùng Bộ Tổng Tư lệnh tổ chức, chỉ đạo chiến dịch Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Chỉ huy trưởng chiến dịch

- Lực lượng ta tham gia: gồm Đại đoàn 308, 2 trung đoàn (174, 209), 4 đại đội sơn pháo, 5 đại đội công binh của Bộ Tổng Tư lệnh, 3 tiểu đoàn bộ binh chủ lực Liên khu Việt Bắc và dân quân du kích Cao Bằng, Lạng Sơn

- Lực lượng địch: Ở vùng biên giới Đông Bắc có 11 tiểu đoàn, 9 đại đội BB (phần lớn là quân Âu Phi), tổ chức thành những cụm cứ điểm mạnh, có công sự kiên cố

- Địa bàn tác chiến: Tuyến biên giới Cao Bằng-Lạng Sơn

- Kết quả và ý nghĩa: Loại khỏi vòng chiến đấu gần 10 tiểu đoàn địch (trên 8.000 quân), thu trên 3.000 tấn vũ khí, phương tiện chiến tranh Giải phóng khu vực biên giới từ Cao Bằng đến Đình Lập, Lạng Sơn, mở thông giao lưu quốc tế, làm thay đổi cục diện chiến tranh, ta bước sang giai đoạn chiến lược phản công và tiến công làm cho quân Pháp chuyển dần sang chiến lược phòng ngự

3 Chiến dịch Hòa Bình diễn ra từ ngày 10 tháng 12 năm 1951 đến 25 tháng 2

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam

- Cơ quan chỉ huy: Bộ Tổng Tư lệnh trực tiếp chỉ huy

- Lực lượng ta tham gia: gồm 4 đại đoàn (308, 312, 304, 301) và LLVT địa phương tỉnh Hòa Bình

- Lực lượng địch: Gồm 20 tiểu đoàn BB, 7 tiểu đoàn pháo binh, 1 tiểu đoàn và 2 đại đội tăng thiết giáp

- Địa bàn tác chiến: Thị xã Hòa Bình, sông Đà đường 6

- Kết quả và ý nghĩa: Loại khỏi vòng chiến đấu 6.000 tên địch, bắn rơi 9 máy bay, bắn chìm 18 tàu, xuồng, phá hủy 12 xe tăng, hàng trăm xe vận tải, thu 24 khẩu pháo Giải phóng khu vực Hòa Bình-Sông Đà, giữ vững đường giao thông liên lạc của ta giữa Việt Bắc với các Khu 3, 4, góp phần đẩy mạnh chiến tranh du kích ở vùng sau lưng địch, đánh bại âm mưu của Pháp hòng giành lại quyền chủ động chiến lược và chia cắt chiến trường Bắc Bộ

4 Chiến dịch Bắc Tây Nguyên diễn ra từ ngày 26 tháng 1 đến 17 tháng 2 năm 1954

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch tiến công của LLVT Liên khu 5

Trang 9

- Cơ quan chỉ huy: Đảng ủy-Bộ Tư lệnh Liên khu 5, chỉ huy chiến dịch, trực tiếp đồng chí Nguyễn Chánh, Bí thư Liên khu ủy, Chính ủy Liên khu làm Bí thư kiêm

Tư lệnh

- Lực lượng ta tham gia: 2 trung đoàn chủ lực Liên khu (108, 803), Tiểu đoàn 30, Liên đội đặc công Liên khu, Trung đoàn 12 bộ đội địa phương tỉnh Gia Lai Huy động 60 000 dân công vùng tự do Phú Yên, Bình Định

- Lực lượng địch: 25 tiểu đoàn cơ động, 130 cụm cứ điểm, đồn bốt địch phòng thủ Tây Nguyên, miền Tây các tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi

- Địa bàn tác chiến: Bắc Tây Nguyên (2 tỉnh Gia Lai và Kon Tum)

- Kết quả và ý nghĩa: Loại khỏi vòng chiến đấu 15.000 tên địch, diệt và bức rút 128

cứ điểm, đồn, bốt Thu 5.000 súng các loại, gần 150 tấn đạn, hàng trăm phương tiện chiến tranh Ta đạt mục đích phối hơp với chiến trường chính Bắc Bộ, tiêu diệt được sinh lực địch, mở rộng vùng giải phóng, đánh bại âm mưu thực dân Pháp tập trung lực lượng đánh chiếm vùng tự do Liên khu 5 Thắng lợi chiến dịch đã làm thay đổi cục diện chiến trường, thế và lực của ta đã mạnh lên, làm cơ sở để quân và dân ta giành thắng lợi to lớn hơn, góp phần cùng cả nước kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

5 Chiến dịch Điện Biên Phủ diễn ra từ ngày 13 tháng 3 đến 7 tháng 5 năm 1954.

- Loại hình chiến dịch: Là chiến dịch chiến lược tiến công của Quân đội nhân dân Việt Nam

- Cơ quan chỉ huy: Bộ Tổng tham mưu do Đại tướng Võ Nguyên Giáp làm Tư lệnh chiến dịch

- Lực lượng ta tham gia: Có 3 đại đoàn (308, 312, 316), Trung đoàn BB 57 (đại đoàn 304), Đại đoàn công binh-pháo binh 351

- Lực lượng địch: Lực lượng quân Pháp ở Điện Biên Phủ có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội BB, 3 tiểu đoàn pháo, 1 tiểu đoàn công binh, 1 đại đội xe tăng, 1 phi đội máy bay (trong quá trình chiến dịch được tăng viện 4 tiểu đoàn và 2 đại đội nhảy dù), tổ chức thành 3 phân khu, 8 trung tâm đề kháng, gồm 49 cứ điểm trang bị hỏa lực mạnh, có 2 sân bay: Mường Thành và Hồng Cúm

- Địa bàn tác chiến: Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ

- Kết quả và ý nghĩa: Ta diệt và bắt 16.200 tên địch, phần lớn là Pháp (trong đó có

1 thiếu tướng, 369 sĩ quan từ thiếu tá đến đại tá), thu toàn bộ VKTB, bắn rơi 62 máy bay Là chiến dịch đánh tiêu diệt lớn nhất, điển hình nhất của quân và dân Việt Nam trong kháng chiến chống Pháp, cùng với thắng lợi trên các chiến trường khác trong Đông-Xuân 1953-1954, góp phần quyết định đánh bại kế hoạch Nava

và ý chí xâm lược của thực dân Pháp, kịp thời hậu thuẫn cho thành công của hội nghị Giơnevơ về Đông Dương (8/5-21/7/1954), kết thúc thắng lợi kháng chiến chống Pháp, đánh dấu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân cũ Chiến dịch Điện Biên

Trang 10

phủ là bước phát triển của nghệ thuật chiến dịch Việt Nam về khả năng tổ chức chỉ đạo, chỉ huy, động viên lực lượng tiến hành một chiến dịch quy mô lớn với sự tham gia của nhiều đại đoàn chủ lực, tác chiến hiệp đồng binh chủng, đánh tiêu diệt một tập đoàn cứ điểm mạnh và kiên cố của địch, trong thời gian tương đối dài (55 ngày)

* Trong kháng chiến chống Mỹ

1 Chiến dịch Bình Giã diễn ra từ ngày 2 tháng 12 năm 1964 đến ngày 3 tháng 1 năm 1965

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch tiến công của quân giải phóng miền Nam Việt Nam

- Cơ quan chỉ huy: Do Đảng ủy- Bộ Tư lệnh Quân khu 7 lãnh đạo, chỉ đạo, đồng chí Nguyễn Văn Rứa làm Tư lệnh chiến dịch

- Lực lượng ta tham gia: Gồm 2 trung đoàn BB (761, 762), 4 tiểu đoàn pháo của chủ lực Miền, 2 tiểu đoàn (800, 500) của Quân khu 7, tiểu đoàn 186 của Quân khu

6 và LLVT địa phương

- Lực lượng địch:

- Địa bàn tác chiến: tỉnh Bà Rịa, Long Khánh và 2 huyện phía Nam Bình Thuận (nay là Đồng Nai và Bình Thuận)

- Kết quả và ý nghĩa: Loại khỏi vòng chiến đấu 1.700 (có hàng chục cố vấn Mỹ), bắt gần 300 địch, diệt gọn 2 tiểu đoàn (tiểu đoàn thủy quân lục chiến số 4, tiểu đoàn biệt động quân 33) và 1 chi đoàn xe cơ giới M113 (thuộc thiết đoàn 1) đánh thiệt hại 3 tiểu đoàn khác và nhiều đại đội, bắn rơi, phá hỏng 56 máy bay, (chủ yếu

là máy bay trực thăng), phá hủy 45 xe quân sự (phần lớn là xe tăng M.113, có 2 xe tăng M.41), thu hơn 1.000 súng các loại và gần 1.000 máy thông tin Chiến dịch Bình Giã đánh bại chiến thuật trực thăng vận, thiết xa vận, làm tan rã hầu hết lực lượng dân vệ trên đường 2 và huyện Hoài Đức, phá vỡ nhiều ấp chiến lược, giải phóng Phò Trì ven biển Hàm Tân, bảo đảm căn cứ tiếp nhận vũ khí của miền Bắc bằng đường biển, mở rộng căn cứ tỉnh Bình Thuận Là chiến dịch đầu tiên tác chiến tập trung của chủ lực Miền, phối hợp với chủ lực Khu và LLVT địa phương Trong chiến dịch bộ đội ta đã vận dụng linh hoạt phương pháp tác chiến chiến dịch, phát huy sức mạnh của ba thứ quân

2 Chiến dịch Ba Gia diễn ra từ ngày 28 tháng 5 đến ngày 20 tháng 7 năm 1965

- Loại hình chiến dịch: Chiến dịch tiến công

- Cơ quan chỉ huy: do Đảng ủy-Bộ Tư lệnh Quân khu 5 lãnh đạo, chỉ đạo, đồng chí Chu Huy Mân làm Tư lệnh chiến dịch

- Lực lượng ta tham gia: Trung đoàn bộ binh 1 (chủ lực Quân khu 5), Tiểu đoàn bộ binh 45, 2 đại đội sơn pháo, 1 đại đội phòng không, 1 đại đội trinh sát đặc công và LLVT địa phương Quảng Ngãi

Ngày đăng: 17/03/2022, 22:47

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w