Họ và tên: Phạm Thị Hồng Ngọc Khóa/Lớp: (tín chỉ): CQ57/31.02LT1 STT: 15 Ngày thi: 09/06/2021 Mã sinh viên: 1973401010052 (niên chế): CQ57/31.02 ID phòng thi: 581 – 058 – 1301 Giờ thi: 7h30 BÀI THI MÔN: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày ĐỀ BÀI: HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1 BÀI LÀM: I, LỜI MỞ ĐẦU Môi trường đang ngày càng là vấn đề quan tâm sâu sắc của toàn thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng. Bởi lẽ, môi trường là không gian, nơi ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, là nơi chứa đựng và cung cấp tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con người. Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những thành quả đạt được về kinh tế thì môi trường đang bị ô nhiễm, xuống cấp trầm trọng, khó kiểm soát. Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh dẫn đến các chất thải ra môi trường ngày càng tăng lên, ảnh hưởng nguy hại đến con người. Do đó, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức lớn về bảo vệ và quản lý môi trường. Tình hình Việt Nam hiện nay để phát triển bền vững thì cần phải kết hợp hài hòa cả hai yêu cầu: vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo vệ môi trường. Muốn thực hiện được điều đó, bên cạnh những nỗ lực, ý thức của các cá nhân, tổ chức trong cộng đồng thì vai trò của nhà nước là rất quan trọng. Để hoạt động bảo vệ môi trường đi vào nề nếp, bài bản thì cần phải quản lý môi trường. Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường. Nhà nước phải kết hợp chặt chẽ và đồng bộ các công cụ quản lý để đảm bảo việc quản lý môi trường. Trong các công cụ quản lý của nhà nước về môi trường chủ yếu bao gồm công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ khoa – giáo; thì việc áp dụng công cụ kinh tế đóng vai trò rất quan trọng. Không giống như các công cụ khác mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc, công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo, linh hoạt, khiến cho người gây ô nhiễm và người hưởng thụ môi trường có các hành vi xử sự có lợi cho môi trường. Việc sử dụng các công cụ kinh tế còn 2 khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho môi trường, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia. Do vậy, áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là cách tiếp cận đúng đắn nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam. Ở Việt Nam, việc áp dụng công cụ kinh tế đã và đang được Chính phủ quan tâm. Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng chưa được như mong đợi, việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành. Không chỉ vậy, năng lực nghiên cứu và thực thi các công cụ kinh tế còn nhiều hạn chế, một số công cụ kinh tế còn chưa áp dụng. Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường. Để phát huy vai trò của các công cụ kinh tế thì phải làm rõ thực trạng, việc áp dụng các công cụ kinh tế trong thời gian qua ở Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân, hạn chế của các công cụ kinh tế từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các công cụ kinh tế, đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý môi trường. II, LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG 1. Công cụ kinh tế Công cụ kinh tế là những công cụ nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế được sử dụng là nhằm tác động tới các chi phí và lợi ích trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức, cá nhân nhằm điều chỉnh lợi ích kinh tế của các đối tượng có liên quan, đảm bảo giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường. Việc sử dụng rộng rãi các công cụ kinh tế không chỉ hạn chế tối đa các hoạt động gây bất lợi cho môi trường sống, mà còn khuyến khích quá trình đổi mới 3 trang thiết bị kỹ thuật, đưa các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đưa công nghệ sạch vào sản xuất. Từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, tăng hiệu quả các hoạt động khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; đồng thời khích lệ ý thức tiết kiệm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh. 2. Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi trường 2.1 Thuế tài nguyên Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh trong lĩnh vực khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mục đích chủ yếu của thuế tài nguyên là: - Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên. - Hạn chế tổn thất, sự lãng phí các nguồn tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng chúng. - Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Thực hiện việc điều hòa lợi ích giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân; giữa các tổ chức và bộ phận dân cư trong lĩnh vực khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và các thành phần khác của môi trường. Ý nghĩa của thuế tài nguyên: - Là khoản chi phí thể hiện trách nhiệm tài chính của các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên đối với chủ sở hữu. - Khuyến khích và buộc các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên phải trân trọng vai trò và giá trị của tài nguyên đối với quá trình phát triển. - Là khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước. 4 Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: Thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế khai thác rừng, thuế tiêu thụ năng lượng. thuế khai thác tài nguyên khoáng sản... Thuế tài nguyên có nhiều loại khác nhau, đối tượng để tính thuế cũng rất đa dạng, phức tạo do sự phân bố của các tài nguyên thiên nhiên trên các địa bàn có đặc điểm rất khác nhau. Vì vậy, phải căn cứ vào từng loại tài nguyên cụ thể, từng địa bàn cụ thể, từng thời kì cụ thể để xác định mức thuế thích hợp. Việc xác định thuế tài nguyên phải tuân thủ theo nguyên tắc: - Hoạt động càng gây nhiều tổn thất về tài nguyên, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường càng nghiêm trọng thì càng phải chịu thuế cao. - Thuế tài nguyên phải khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất và nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm tổn thất tài nguyên. 2.2 Thuế ô nhiễm môi trường Thuế ô nhiễm môi trường là công cụ kinh tế có tác dụng hạn chế tối đa các tác động gây ô nhiễm môi trường, nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc: “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế ô nhiễm môi trường nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm phải tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng các chất thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước. Sử dụng công cụ thuế này có rất nhiều ưu việt trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi trường như: Tăng hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất thông qua tiết kiệm các chi phí; Khuyến khích quá trình đổi mới tổ chức và quản lý doanh nghiệp. Các nguyên tắc đánh thuế ô nhiễm môi trường: - Hướng vào mục tiêu phát triển bền vững và chính sách, kế hoạch môi trường cụ thể của quốc gia. 5 - Người gây ô nhiễm phải trả tiền. - Mức thuế và biểu thuế phải căn cứ vào các tiêu chuẩn môi trường của quốc gia và các thông lệ quốc tế. Hình thức đánh thuế ô nhiễm môi trường: - Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: Đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường; được xác định dựa trên chi phí ngoại ứng. - Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: được áp dụng với các sản phẩm gây tác hại tới môi trường khi chúng được sử dụng trong sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng. Tính thuế căn cứ vào khối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ; đôi khi tính dưới dạng phí. 2.3 Giấy phép (quota) phát thải Giấy phép (quota) chất thải là loại giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp, cho phép doanh nghiệp được thải một lượng chất thải nhất định trong một khoảng thời gian nhất định. Đây là công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý môi trường khống chế lượng chất thải vào môi trường; đồng thời huy động nguồn lực tài chính để thực hiện các kế hoạch môi trường. Thường được áp dụng cho nguồn tài nguyên môi trường khó quy định quyền sở hữu dẫn đến việc bị sử dụng bừa bãi (không khí, đại dương,...). Trong quản lý môi trường Nhà nước sử dụng công cụ cấp giấy phép xả thải thích hợp với một số điều kiện nhất định sau: - Chất ô nhiễm cần kiểm soát được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau nhưng gây tác động tới môi trường tương tự nhau. - Có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp do nhiều yếu tố (công nghệ, tuổi thọ máy móc thiết bị, quản lý..) - Số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người mua và người bán giấy phép phải tương đối lớn để tạo được một thị trường hoạt động riêng. 6 2.4 Đặt cọc và hoàn trả. Đặt cọc và hoàn trả là một hình thức đặc biệt của thỏa thuận về ô nhiễm môi trường. Nguyên tắc áp dụng: Quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền đặt cọc khi mua hàng nhằm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm trả lại cho đơn vị thu gom phế thải hoặc địa điểm tái chế đã quy định. Nếu thực hiện đúng sẽ được hoàn lại tiền. Nếu vi phạm thì số tiền đặt cọc được xung vào quỹ bảo vệ môi trường. Mục đích của hệ thống đặt cọc và hoàn trả thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường. Phạm vi Nhà nước sử dụng các hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm: - Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm có thể gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng, song có thể xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng. - Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu hủy. - Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân trong khu vực. 2.5 Ký quỹ môi trường Ký quỹ môi trường là công cụ cần được sử dụng trong quản lý môi trường đối với các hoạt động kinh tế có tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm hay gây tổn thất cho môi trường. Nguyên tắc áp dụng: - Yêu cầu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi thực hiện 1 hoạt động kinh tế phải ký gửi 1 khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý,...) 7 tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nhằm cam kết sẽ thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. - Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc bằng kinh phí cần thiết để khắc phục ô nhiễm môi trường nếu doanh nghiệp gây ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường. Mục đích chính của ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ. Từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường. 2.6 Trợ cấp tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Mục tiêu của trợ cấp tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường là duy trì và từng bước mở rộng quy mô các doanh nghiệp này. Trợ cấp tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải tương xứng với các lợi ích tăng thêm về môi trường do tác động ngoại ứng tích cực tới môi trường mà doanh nghiệp đó tạo ra. Hỗ trợ tài chính dưới hình thức các điều khoản ưu đãi từ quỹ môi trường. Thông thường, đó là các khoản trợ cấp không hoàn lại; các khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để khuyến khích các dự án đầu tư bảo vệ môi trường; hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm; đào tạo và truyền thông môi trường; các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp. 2.7 Nhãn sinh thái Nhãn sinh thái là một danh hiệu của Nhà nước cấp cho các sản phẩm không gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình sử dụng các sản phẩm đó. Sản phẩm được dán nhãn sinh thái có uy tín cao, có sức cạnh tranh cao. Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho: 8 - Các sản phẩm tái chế từ phế thải. - Các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đến môi trường. - Các sản phẩm có tác động tích cực tới môi trường. 2.8 Quỹ môi trường Quỹ môi trường là một loại quỹ được hình thành để nhận tài trợ vốn từ các nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường. Đây là một công cụ quản lý môi trường có tính mở cao, nhằm huy động và tận dụng mọi nguồn lực của mọi đối tượng muốn tham gia, đóng góp nhân tài, vật lực cho sự nghiệp quản lý môi trường. Các nguồn thu chủ yếu của quỹ môi trường bao gồm: - Phí, lệ phí môi trường - Đóng góp tự nguyện của cá nhân, doanh nghiệp. - Tài trợ bằng tiền, hiện vật của chính quyền địa phương, ngành, tổ chức xã hội trong nước và Chính phủ. - Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế. - Tiền lãi và các khoản lợi thu được từ hoạt động của quỹ - Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định bảo vệ môi trường - Tiền thu được từ các hoạt động văn hóa, thể thao, từ thiện, xố số, phát hành trái phiếu...cho sự nghiệp bảo vệ môi trường. III, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY. 1. Tình hình của Việt Nam hiện nay Sau 35 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên mọi lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; trong đó kinh tế tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; y tế 9 và chất lượng chăm sóc sức khỏe được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố và ổn định; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả,... Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã bộc lộ nhiều bất cập và tạo ra nhiều áp lực lớn đối với môi trường sinh thái. Trong những năm qua, Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua việc ký kết và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do. Vì vậy, việc sử dụng ở mức độ tối đa các nguồn tài nguyên là khó tránh khỏi; ngoài ra, trình độ công nghệ trong nước mặc dù có tiến bộ nhưng nhìn chung còn khá lạc hậu, không thể ngay lập tức hiện đại hóa hoàn toàn bằng những công nghệ tiên tiến và ít ảnh hưởng đến môi trường. Tình trạng ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng với nhiều điểm nóng, chất lượng môi trường nhiều nơi suy giảm mạnh. Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu chung là phát triển bền vững, phải thực hiện mục tiêu về môi trường, Việt Nam phải tìm kiếm các biện pháp cũng như áp dụng các công cụ kinh tế là rất quan trong. Trong thời gian qua, việc áp dụng các công cụ kinh tế đã đạt được những thành quả nhất định nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường tuy nhiên bên cạnh đó còn một số hạn chế còn tồn đọng mang lại hiệu quả chưa cao. 2. Đánh giá kết quả đạt được Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm từ nhiều quốc gia, Việt Nam đã và đang áp dụng công cụ kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau. Việc thực hiện các công cụ kinh tế đã góp phần đa dạng hóa các biện pháp bảo vệ môi trường của Việt Nam, giúp Việt Nam thực hiện tốt hơn các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường, đồng thời mang lại những giá trị nhất định. Trong đó, thuế bảo vệ môi trường góp phần định hướng hành vi tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường và tăng thu cho ngân sách nhà nước; phí bảo vệ môi trường giúp bổ sung 10 nguồn tài chính để chi trả cho các hoạt động bảo vệ môi trường; quỹ môi trường đã hỗ trợ tài chính cho nhiều chủ thể thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường. Về thuế tài nguyên, hiện nay, thực hiện theo Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực từ ngày 01/7/2010 do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua. Chính sách thuế tài nguyên nói chung và việc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên nói riêng là một trong những công cụ cho thấy được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển bền vững nói chung. Theo đánh giá của Bộ Tài chính, về cơ bản các quy định về mức thuế suất thuế tài nguyên đã đạt được mục tiêu đề ra. Đó là: khắc phục những tồn tại, hạn chế về mức thuế suất thuế tài nguyên trong quá trình thực hiện biểu thuế trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nói chung và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia nói riêng; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có khoáng sản được khai thác; đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan Thuế. Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng phương pháp thu thuế tài nguyên dựa trên giá trị tài nguyên, là phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ ở các nước đang phát triển. Các chính sách thuế tài nguyên đã tạo nguồn thu góp phần đáng kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước. Bảng 1: Mức thuế áp dụng đối với từng loại tài nguyên thiên nhiên 11 Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XII thông qua và ban hành ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012. Thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao trách nhiệm và nhận thức của xã hội đối với môi trường; góp phần khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường; qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường. Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực môi trường bằng việc tham gia vào nhiều cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường. Chính sách thuế bảo vệ môi trường được ban hành đã thể hiện nỗ lực mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện cam kết quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trường. Chính sách thuế còn góp phần tăng thu ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có nhiệm vụ chi cho bảo vệ môi trường. Bảng 2: Mức thuế áp dụng đối với từng nhóm hàng Thống kê cho thấy, số thu thuế bảo vệ môi trường năm 2015 là khoảng 27.020 tỷ đồng; năm 2016 là khoảng 44.323 tỷ đồng; năm 2017 là khoảng 44.825 tỷ đồng; năm 2018 là 48.650 tỷ đồng và năm 2019 là 68.926 tỷ đồng. Tỷ lệ thu 12 thuế bảo vệ môi trường so với tổng thu ngân sách nhà nước tăng ổn định (năm 2019 là 4,07%) (Biểu đồ 1). Biểu đồ 1: Số thu thuế bảo vệ môi trường qua các năm Theo tổng hợp của Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và môi trường, công cụ kinh tế cho bảo vệ môi trường đã được áp dụng trong một số lĩnh vực ở Việt Nam như trong chi trả dịch vụ môi trường. Đến ngày 31/12/2018, cả nước đã thu được 2937,9 tỷ đồng tiền dịch vụ môi trường rừng. Ở nước ta, việc áp dụng phí bảo vệ môi trường còn hết sức mới mẻ, tuy nhiên chúng ta đã có cơ sở pháp lý để thực hiện phí bảo vệ môi trường. Theo thống kê, số phí thu từ nước thải năm 2017 là hơn 2100 tỷ đồng, thu phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản năm 2017 là hơn 2452 tỷ đồng. Về ký quỹ môi trường, tại Điều 137 Luật bảo vệ môi trường 2020 quy định ký quỹ bảo vệ môi trường nhằm bảo đảm các tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm phục hồi môi trường, xử lý rủi ro, nguy cơ ô nhiễm môi trường phát sinh từ các hoạt động: khai thác khoáng sản, chôn lấp chất thải, nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất. Những quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật đã chỉ rõ những nội dung chủ yếu của pháp luật về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường, bao gồm: đối tượng phải ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường; trình tự, thủ tục ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường; số tiền phải ký quỹ 13 cải tạo, phục hồi môi trường; cơ quan quản lý nhà nước về ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Đây là cơ sở quan trọng để các chủ thể thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ pháp lý của mình trong ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường. Về Quỹ bảo vệ môi trường, đến nay, nước ta có 41 tổ chức Quỹ bảo vệ môi trường, trong đó, có 1 Quỹ bảo vệ môi trường Trung ương (Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam), 39 Quỹ bảo vệ môi trường địa phương và 1 Quỹ bảo vệ môi trường ngành Than. Thực hiện theo tiêu chí "hoạt động không vì mục đích lợi nhuận", các nguồn lực của Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam đều hướng tới mục tiêu cải thiện môi trường, nhằm góp phần tạo nên một môi trường xanh - sạch - đẹp và phát triển bền vững đất nước. Các hoạt động nghiệp vụ chính như cho vay, xử lý nợ, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, tài trợ, ký quỹ phục hồi môi trường, hỗ trợ hoạt động theo Cơ chế phát triển sạch, hợp tác quốc tế và một số nhiệm vụ do Bộ trưởng Bộ tài nguyên và môi trường giao đã được tập trung thực hiện đảm bảo hoàn thành theo kế hoạch. Công tác cho vay đóng vai trò hết sức quan trọng và xuyên suốt trong hoạt động nghiệp vụ của Quỹ. Năm 2020, Quỹ đã thực hiện cho vay 338.519 triệu đồng, đạt 98% chỉ tiêu kế hoạch; thu hồi vốn cho vay đạt 224.946 triệu đồng, đạt 104% chỉ tiêu kế hoạch; thu lãi cho vay đạt 101% chỉ tiêu kế hoạch, tạo tiền đề để Quỹ thực hiện tốt các nhiệm vụ trong năm 2021 và các năm tiếp theo. Trong đó, nợ xấu của Quỹ được kiểm soát, an toàn. Tại thời điểm 31/12/2020, tỷ lệ nợ xấu là 2,49% , thấp hơn cùng kỳ năm trước (2,92%). đảm bảo mức dưới 3,0% theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Công tác ký quỹ phục hồi trong khai thác khoáng sản đạt 24.785 triệu đồng, đạt 124% kế hoạch năm. Quỹ bảo vệ môi trường đã góp phần tích cực vào quá trình đồng bộ hóa các công cụ tài chính, chính sách của Nhà nước, hiện thực hóa các cam kết của Chính phủ Việt Nam với cộng đồng quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. 14 Về nhãn sinh thái, ngày 05 tháng 3 năm 2009 Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ra Quyết định số 253/QĐ-BTNMT phê duyệt Chương trình cấp nhãn sinh thái. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, sản phẩm được cấp nhãn sinh thái của tổ chức được Nhà nước công nhận là sản phẩm thân thiện với môi trường. Cơ sở sản xuất - kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ được hưởng những ưu đãi, hỗ trợ về đất đai, vốn; miễn, giảm thuế, phí về bảo vệ môi trường. Vì vậy, khi sản phẩm của cơ sở được gắn Nhãn xanh Việt Nam cũng có nghĩa là cơ sở sẽ được hưởng những ưu đãi theo quy định của pháp luật. Ở nước ta, cơ hội phát triển cho các hàng hóa được dán nhãn sinh thái là rất lớn tuy nhiên đang còn mới mẻ. Thực hiện Chỉ thị số 03/CT-TTg ngày 18/1/2021 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí, Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng sẽ xây dựng, ban hành tiêu chí và chứng nhận nhãn sinh thái đối với các sản phẩm, phương tiện và dịch vụ giao thông vận tải thân thiện môi trường; rà soát quy định pháp luật về bảo vệ môi trường không khí, hoàn thiện theo thẩm quyền hoặc kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền hoàn thiện các quy định, chính sách pháp luật về kiểm soát ô nhiễm không khí; phối hợp với Bộ Tài chính rà soát, hướng dẫn thực hiện chính sách ưu đãi, hỗ trợ về bảo vệ môi trường theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. 3. Những hạn chế, tồn tại Bên cạnh những kết quả đã đạt được, việc sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam hiện nay còn nhiều hạn chế. Cụ thể: 15 + Một số quy định của Luật thuế bảo vệ môi trường đối với các hàng hóa thuộc đối tượng chịu thuế bảo vệ môi trường chưa đảm bảo phù hợp với mức độ gây ô nhiễm môi trường tương ứng với các loại hàng hóa đó; một số sản phẩm như thuốc lá, chất rửa trong công nghiệp chưa được đưa vào diện điều chỉnh của Luật bảo vệ môi trường. Vì thế, thuế bảo vệ môi trường tuy là thuế gián thu, người nộp thuế là chính người tiêu dùng nhưng họ lại ít quan tâm đến. Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường ở nước ta chưa được mạnh mẽ, quyết liệt, chưa hạn chế được ý thức của người tiêu dùng về việc sử dụng các sản phẩm gây ô nhiễm môi trường. Không chỉ thế, quy định về mức thuế bảo vệ môi trường là chưa hợp lý. Mức áp dụng mức thuế cho một loại hàng hóa chênh lệch nhiều giữa mức tối thiểu và mức tối đa dẫn đến việc các doanh nghiệp cùng sản xuất một loại hàng hóa tại các địa phương khác nhau áp dụng mức thuế không đồng nhất. Ví dụ, đối với sản phẩm là túi ni lông, mức thuế được tính theo điều 8 Luật thuế bảo vệ môi trường là từ 30000đ/kg đến 50000đ/kg; nếu như không xác định rõ được loại túi ni lông nào nên đánh mức thuế phù hợp thì dẫn đến khả năng áp dụng một cách tùy tiện gây ra tiêu cực trong việc tính thuế. Vì vậy, vấn đề còn bất cập là hạn chế trong việc thi hành đánh thuế do đội ngũ giám định thiếu chuyên môn, xác định đối tượng chịu thuế chưa được thực hiện tốt. + Về thuế tài nguyên, việc quy định thuế tài nguyên tính trên sản lượng thực tế khai thác do doanh nghiệp tự báo chưa khuyến khích tận dụng hết tài nguyên; nhiều doanh nghiệp khi khai thác chỉ sử dụng những tài nguyên có giá trị cao dễ khai thác mang lại lợi nhuận cao, những tài nguyên có giá trị thấp hơn không được khai thác triệt để dẫn tới tình trạng lãng phí nguồn tài nguyên. Việc quy định về giá tính tài nguyên hiện hành chưa khuyến khích chế biến sâu tài nguyên trước khi tiêu thụ hoặc xuất khẩu tài nguyên. Thuế suất cũng chưa được cân đối khi nhóm tài nguyên không có khả năng tái tạo có mức trần thuế suất thấp hơn nhóm tài nguyên có khả năng tái tạo. Các chính sách thuế tài nguyên hiện nay 16 đang gây ra áp lực lớn đối với các doanh nghiệp muốn hoạt động ổn định, tạo ra gánh nặng về chi phí cho các doanh nghiệp hoạt động ở lĩnh vực này. + Vẫn còn tình trạng nhiều cá nhân, doanh nghiệp, cơ quan tổ chức cố tinh trốn thuế, khai sai thuế, tỉ lệ đóng góp phí môi trường còn thấp. Ví dụ gần đây, tỉnh Quảng Nam đã có quyết định về việc xử lý kết luận thanh tra tại một số nhà máy thủy điện trên địa bàn tỉnh do chưa kê khai nộp thuế tài nguyên và phí bảo vệ môi trường, số tiền sai phạm hơn 4,1 tỷ đồng. Ở Đắk Nông, công ty TNHH Thạch Lợi khai thác, chế biến đá xây dựng đã bị thu hồi giấy phép khai thác khoáng sản, trốn thuế gây thiệt hai cho Ngân sách nhà nước gần 475 triệu đồng bao gồm thuế tài nguyên, phí bảo vệ môi trường, thuế giá trị gia tăng. + Trong Luật bảo vệ môi trường có quy định: “Tổ chức, cá nhân xả thải ra môi trường, hoặc có hoạt động làm phát sinh tác động xấu đối với môi trường phải nộp phí bảo vệ môi trường”. Nhưng trên thực tế, việc áp dụng phí bảo vệ môi trường lại không diễn ra như vậy. Đơn cử như là tại xã Văn Môn, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc Ninh, khói thải từ các lò nấu nhôm phủ kín gây ra tình trạng ô nhiễm, cuộc sống của người dân lân cận trong tình trạng ngột ngạt; vậy mà rất nhiều năm qua các hộ làm nghề này lại không phải đóng bất kì phí bảo vệ môi trường mà đáng lẽ ở đây phải thu phí bảo vệ môi trường đối với nước thải, đối với chất thải rắn. Ở tỉnh Khánh Hòa, công tác thu phí bảo vệ môi trường còn gặp nhiều khó khăn; số phí lĩnh vực tài nguyên và môi trường thu được năm 2019 giảm so với năm trước 8,6%. Hơn nữa, việc quy định mức phí thu là chưa hợp lý: phí bảo vệ môi trường được tính là theo người/tháng. Từ quy định đó có thể thấy, các hộ dân chỉ cần đóng đủ phí theo một định mức nhất định, không phụ thuộc vào việc hộ gia đình đó xả thải nhiều hay ít, thành phần, chủng loại. + Hiện nay, nhiều chủ dự án khai thác khoáng sản không nộp tiền ký quỹ bảo vệ môi trường nhưng cơ quan nhà nước có thẩm quyền lại không xử lý. Ví dụ ở tỉnh Bắc Kạn các dự án khai thác khoảng sản lớn do có nhiều mỏ khoáng sản, 17 các dự án này phải thuộc trường hợp ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường nhưng theo kiểm tra của ngành Tài nguyên và môi trường Bắc Kạn cho thấy đa số các cơ sở khai thác khoáng sản chưa nộp tiền ký quỹ theo đúng thời hạn như quy định. Không chỉ vậy, theo quy định của pháp luật, đối với những trường hợp chủ dự án khai thác khoáng sản không thực hiện đủ nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường sau khi khai thác thì cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể dùng số tiền mà chủ dự án ký quỹ để thực hiện việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, nếu một dự án tồn tại lâu có thể lên đến 10 năm, 20 năm, số tiền ký quỹ trước đây thường là ít, khi cơ quan nhà nước sử dụng số tiền đó để cải tạo phục hồi môi trường thì không đủ. + Chương trình nhãn sinh thái ở Việt Nam gặp nhiều khó khăn khi triển khai. Tỉ lệ chi cho môi trường trong các sản phẩm của các doanh nghiệp Việt Nam đang còn thấp, chủ yếu các doanh nghiệp ở Việt Nam là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, họ phải bỏ ra tương ứng 20% tổng chi phí sản phẩm dành cho hàng hóa để được dán nhãn sinh thái nên gặp nhiều khó khăn về tài chính, gây cản trở cho chương trình nhãn sinh thái. Nhiều doanh nghiệp còn chưa chú trọng đầu tư áp dụng công nghệ khoa học để sản xuất các sản phẩm đạt yêu cầu nhãn sinh thái. Không chỉ riêng đối với doanh nghiệp, người tiêu dùng còn chưa mấy quan tâm đến nhãn sinh thái, nhận thức của người tiêu dùng còn hạn chế; không hiểu hết về lợi ích của nhãn sinh thái đối với sản phẩm. + Hiện nay ở Việt Nam, còn 1 số công cụ kinh tế còn chưa được áp dụng hoặc áp dụng ít như: giấy phép (quota) phát thải, đặt cọc – hoàn trả,... Các quy định cũng như sử dụng các công cụ này còn thiếu trong hệ thống pháp luật Việt Nam do vậy chưa thể khai thác được những ưu điểm mà các công cụ kinh tế này mang lại cho đất nước. 4. Nguyên nhân của các hạn chế 18 Nguyên nhân dẫn đến các hạn chế trong việc sử dụng các công cụ kinh tế là do các quy định pháp luật về công cụ kinh tế còn nhiều thiếu sót, thiếu rõ ràng, các quy định về phí khó triển khai, mức phí thu không hợp lệ; thuế môi trường hay các hình thức ký quỹ phục hồi môi trường chưa được thể hiện đầy đủ, chưa sát với thực tiễn để huy động đủ nguồn lực để đầu tư bảo vệ môi trường. Không chỉ thế, trong quy định phân bổ và sử dụng nguồn thu từ thuế, phí và các nguồn tài chính khác cho bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều hạn chế. Ý thức của các cá nhân, hộ gia đình đang còn kém, chưa nhận thức được sự quan trọng của việc bảo vệ và giữ gìn môi trường. Các doanh nghiệp, tổ chức chưa chấp hành đúng quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, vẫn còn xả thải gây ô nhiễm môi trường, có các hành vi trốn thuế, khai sai thuế,... Công tác kiểm tra, giám sát của cơ quan chức năng còn yếu kém, gây thất thu cho ngân sách nhà nước. IV, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Bối cảnh, xu hướng Dựa vào tình hình hiện nay của Việt Nam, để phát triển kinh tế - xã hội việc áp dụng và hoàn thiện các công cụ kinh tế là rất cần thiết. Trong bối cảnh để phát triển bền vững thì phải đảm bảo cả về tăng trưởng kinh tế lẫn bảo vệ môi trường; theo nguyên tắc thị trường cho bảo vệ môi trường, Việt Nam cần có các biện pháp hướng đến việc hoàn thiện hơn các công cụ kinh tế, đề xuất các giải pháp để phát huy hết vai trò của các công cụ kinh tế. Nhà nước phải định hướng xây dựng và phát triển các công cụ kinh tế về bảo vệ môi trường, phải căn cứ vào thứ tự ưu tiên các vấn đề môi trường cần giải quyết và chiến lược bảo vệ môi trường Việt Nam; cần phải xây dựng một hệ thống các công cụ kinh tế ngày càng hoàn chỉnh cho việc bảo vệ môi trường phù hợp với những đặc điểm và tính chất của cơ chế thị trường. 19 2. Giải pháp Muốn áp dụng các công cụ kinh tế một cách hiệu quả để đáp ứng xu hướng của thị trường thì phải đòi hỏi cần có một hệ thống pháp luật đồng bộ đặc biệt là pháp luật về môi trường, quy định cụ thể các trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức có những hành vi tác động tiêu cực tới môi trường nhằm nâng cao ý thức của các nhân, tổ chức về vấn đề bảo vệ môi trường. Các cơ quan có thẩm quyền về quản lý môi trường phải quản lý chặt chẽ các số liệu, kiểm soát ô nhiễm môi trường một cách triệt để. Đồng thời cần có những chính sách cụ thể trong việc thưởng, phạt về môi trường, đặc biệt là các vấn đề về bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả, vấn đề về quỹ môi trường cần phải đầu tư thích đáng, quản lý thu chi đúng quy định và phù hợp sao cho có hiệu quả, Nhà nước phải chi ngân sách nhiều hơn nữa cho công tác quản lý và bảo vệ môi trường. Cụ thể như sau: + Trong chính sách thuế bảo vệ môi trường, phải đảm bảo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả” và nguyên tắc “người được hưởng lợi phải trả”. Nhà nước phải quy định mức thuế sao cho chủ thể nộp thuế thấy có lợi hơn khi thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường. Do vậy, các nội dung hoàn thiện chính sách thuế bảo vệ môi trường phải đảm bảo tính khả thi, rõ ràng, cân đối hợp lý, đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện để các chủ thể nộp thuế nhận thức và lựa chọn được ưu đãi thuế khi sử dụng công nghệ sạch, sản phẩm thân thiện hơn với môi trường. + Theo đó, các luật thuế khi được ban hàng nên tạo ra một môi trường thuận lợi cho quản lý thuế, như vậy thì nhiệm vụ quản lý hành chính để chống lại hành vi gian lận, trốn thuế sẽ trở nên dễ dàng thuận lợi hơn. Phải nâng cao được ý thức trách nhiệm của người cán bộ, để họ không thông đồng với người nộp thuế nhằm gian lận, trốn lậu thuế, nâng cao khả năng điều tra, khám phá và xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật về thuế, vừa nhằm trừng trị mà còn để răn đe các hành vi vi phạm. 20 + Pháp luật về thuế cần phải được xem xét, điều chỉnh một cách định kỳ để phản ánh kịp thời sự thay đổi của môi trường kinh tế theo từng giai đoạn khác nhau. Như gần đây, dưới tác động của đại dịch COVID-19, Nghị định số 114/2020/NĐ-CP ngày 25/09/2020 của Chính phủ Việt Nam về việc giảm 30% số thuế phải nộp của kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2020 đối với trường hợp doanh nghiệp có tổng doanh thu không quá 200 tỷ đồng là một sự điều chỉnh nhanh chóng, kịp thời, phù hợp với thực hiện, nhằm góp phần khuyến khích các doanh nghiệp thực hiện nộp thuế đúng quy định pháp luật. + Tăng cường giáo dục ý thức chấp hành pháp luật thuế cho người dân, cần phải tăng cường thực hiện các chương trình giáo dục pháp luật, tuyên truyền pháp luật về thuế cho người dân. Chương trình giáo dục, tuyên truyền cần phải được thiết kế để tiếp cận với những người nộp thuế hiện tại và cả những người sẽ đóng thuế trong tương lai: giáo dục cho những người nộp thuế hiện tại biết được thủ tục tiến hành các hoạt động thuế như đăng ký mã số thuế, nộp hồ sơ báo cáo thuế... để cả họ và cơ quan nhà nước thuận lợi hơn trong việc thực hiện công việc; cũng như xây dựng một nền văn hóa thuế lành mạnh trong tương lai, nâng cao ý thức của công dân trong việc thực hiện trách nhiệm của mình đối với Nhà nước và cộng đồng. Việc giáo dục ý thức pháp luật về thuế cũng nên chú trọng đến việc công khai bản án và hình phạt của những đối tượng vi phạm nghiêm trọng thông qua các phương tiện truyền thông để tránh việc xây dựng hình ảnh tiêu cực về các vấn đề trốn thuế, trái pháp luật. + Ban hành hệ thống văn bản pháp lý nhằm thống nhất mô hình, tổ chức hoạt động, cơ chế tài chính của Quỹ bảo vệ môi trường từ Trung ương đến địa phương. Cần bổ sung thêm các quy định hướng dẫn về thời điểm và cách xác định, tính toán tiền lãi ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường đối với hoạt động khai thác khoáng sản để các quỹ áp dụng được thuận tiện và chính xác. Thêm nữa, cần ban hành cơ chế về tài chính thống nhất cho Quỹ bảo vệ môi trường các địa phương, thống nhất các khoản nghĩa vụ phải nộp và không phải nộp 21 ngân sách nhà nước, tránh tình trạng thực hiện không thống nhất giữa các địa phương như hiện nay. Quỹ sẽ phải tiếp tục cải cách, đổi mới về phương thức quản lý, điều hành để thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, đáp ứng và đóng góp nhiều hơn cho sự nghiệp bảo vệ môi trường; tăng cường hoạt động nghiệp vụ tài trợ cho dự án đầu tư bảo vệ môi trường, xử lý ô nhiễm môi trường các khu vực trọng điểm. Bên cạnh đó, tăng cường quan hệ hợp tác với các tổ chức trong và ngoài nước nhằm vận động, thu hút nguồn vốn dành cho hoạt động bảo vệ môi trường Việt Nam. Tiếp tục kiện toàn bộ máy tổ chức của Quỹ theo hướng chuyên nghiệp, đa dạng hoạt động, chú trọng nâng cao kỹ năng nghiệp vụ cho cán bộ, nhân viên nhằm phục vụ công tác quản lý điều hành hoạt động của Quỹ ngày một hoàn thiện hơn. + Pháp luật cần có quy định về nộp bổ sung số tiền để đảm bảo nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng sản. Việc tính toán số tiền phải nộp bổ sung được tính theo sự trượt giá của đồng tiền VNĐ (đồng tiền ký quỹ). Đồng thời, thời gian nộp bổ sung phải được tính trong một khoảng nhất định. Thời gian đó có thể là 5 năm vì với khoảng thời gian này, người ta có thể đánh giá được mức trượt giá của đồng tiền và chủ dự án không thấy phiền phức khi cứ hàng năm phải thực hiện nghĩa vụ đóng bổ sung tiền ký quỹ bảo vệ môi trường. Pháp luật cần quy định cụ thể cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trách nhiệm thực hiện việc cải tạo, phục hồi môi trường nếu chủ dự án khai thác khoáng sản không thực hiện. Theo đó, cơ quan phù hợp nhất là Sở Tài nguyên và Môi trường. Bởi vì đây là cơ quan quản lý chuyên môn môi trường ở địa phương. Cơ quan này sẽ hiểu rõ nhất về tình trạng môi trường tại các khu vực khai thác khoáng sản địa phương. Không chỉ vậy, còn phải tăng cường đội ngũ cán bộ có chuyên môn nhằm quản lý nghĩa vụ bảo vệ môi trường nói chung, ký quỹ bảo vệ môi trường nói riêng của những chủ dự án khai thác khoáng sản. Theo đó, những cán bộ này phải có chuyên môn trong lĩnh vực môi trường, khoáng sản. Để đảm bảo được điều đó phải thực hiện từ khâu tuyển dụng, tức là tuyển những 22 người được đào tạo các ngành về môi trường, khoáng sản. Đội ngũ cán bộ này làm việc trong các cơ quan chuyên môn về môi trường tại địa phương. Bên cạnh đó, việc giao quyền, trách nhiệm cho họ về quản lý bảo vệ môi trường trong hoạt động khai thác khoáng sản cũng rất cần thiết giúp phát huy được năng lực, sở trường bản thân. Ngoài ra, phải nâng cao hiệu quả thực thi của công cụ thường xuyên thanh tra, kiểm tra hoạt động cải tạo, phục hồi môi trường của các dự án khai thác khoáng sản. Việc thanh tra, kiểm tra sẽ giúp cơ quan nhà nước xác định được chủ dự án đã thực hiện hay chưa và nếu thực hiện rồi thì thực hiện có đúng nghĩa vụ cải tạo, phục hồi môi trường sau khai thác khoáng sản của mình không. Hoạt động thanh tra, kiểm tra có thể được tiến hành đột xuất hoặc cũng có thể được tiến hành theo kế hoạch đã báo trước. Nâng cao vai trò giám sát của cộng đồng dân cư đối với thực hiện nghĩa vụ bảo vệ môi trường của các chủ dự án khai thác khoáng sản. Theo đó, người dân cần được tuyên truyền để hiểu về quyền và nghĩa vụ của mình trong giám sát, phát hiện, khởi kiện, tố cáo những hành vi vi phạm pháp luật về ký quỹ bảo vệ môi trường trong hoạt động khoáng sản. Hoạt động tuyên tuyền, giáo dục đó giúp cho người dân hiểu và hành xử tuân thủ các quy định của pháp luật. + Nhãn sinh thái đem lại nhiều lợi ích cho cả doanh nghiệp lẫn người tiêu dùng nên trong thời gian tới để đẩy mạnh việc áp dụng, xây dựng các tiêu chí cho các sản phẩm dán nhãn sinh thái cần có nguồn kinh phí ổn định để duy trì. Đặc biệt, cần cung cấp đầy đủ thông tin, hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký dán nhãn sinh thái. Mặt khác, trong xu hướng toàn cầu hóa, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh và mất thị phần không chỉ trên thị trường quốc tế, mà sẽ phải cạnh tranh cả trên thị trường trong nước, không bắt kịp sự thay đổi để đáp ứng các yêu cầu về luật định và yêu cầu của thị trường về sản phẩm xanh, sạch. Do đó, Việt Nam cần có các hoạt động thúc đẩy và hỗ trợ các doanh nghiệp nhanh chóng hội nhập và nâng 23 cao ý thức của người tiêu dùng khi lựa chọn mua sản phẩm. Đồng thời các chính sách và quy định của nhà nước rõ ràng và cụ thể hơn, nhằm tạo điều kiện để các sản phẩm có dán nhãn sinh thái có chỗ đứng và phát triển. + Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp Bộ tài nguyên và môi trường tiến hành nghiên cứu, đề xuất chính sách tài chính nhằm thúc đẩy, khuyến khích các hoạt động tái chế chất thải và tái chế chất thải nhựa; ưu đãi, hỗ trợ đối với túi ni-lông thân thiện môi trường, các sản phẩm nhựa tái chế và các vật liệu thân thiện với môi trường; nghiên cứu xây dựng tiêu chí ưu tiên đối với các sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường. + Tranh thủ sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế để thực hiện những dự án có liên quan đến công tác xây dựng và bảo vệ môi trường. + Bên cạnh đó, ngoài các công cụ kinh tế đã và đang được áp dụng, trong tương lai Việt Nam có thể xây dựng và triển khai các công cụ kinh tế mới như đặt cọc hoàn trả, giấy phép phát thải có thể chuyển nhượng, tín dụng xanh, trái phiếu xanh, thị trường các - bon trong nước,... Đối với giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt từ hộ gia đình, cá nhân theo nguyên tắc dựa trên lượng chất thải đã được phân loại sẽ được Chính phủ thực hiện trong luật chậm nhất trước ngày 31/12/2024 theo dự thảo đề ra. Để bảo đảm tính khái quát, ổn định của Luật, ngoài quy định riêng về mỗi loại công cụ kinh tế còn phải có quy định chung, mang tính nguyên tắc, định hướng cho việc xây dựng, thực hiện các công cụ kinh tế hiện có, cũng là cơ sở cho việc xây dựng các công cụ kinh tế mới trong tương lai. Kết luận: Áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là cách tiếp cận đúng đắn nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam. Việc áp dụng các 24 công cụ kinh tế trong quản lý môi trường đã được Chính phủ quan tâm. Một số công cụ kinh tế đã được triển khai áp dụng ở các quy mô khác nhau. Bước đầu, các công cụ kinh tế đã có tác dụng tích cực giúp hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường. Tuy nhiên, do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành nên quá trình triển khai các công cụ này còn gặp nhiều khó khăn và hiệu quả thực thi chưa cao. Ngoài ra, năng lực nghiên cứu và thực thi các công cụ kinh tế còn hạn chế, còn một vài công cụ kinh tế chưa được áp dụng. Một điểm cần lưu ý là để công cụ kinh tế phát huy tác dụng thì cần thực hiện tốt công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm cũng như tuyên tuyền giáo dục nhằm tạo động lực tuân thủ các qui định về môi trường, trong đó có các quy định về công cụ kinh tế. Để hoàn thiện hơn việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường, có một vài giải pháp và đề xuất được đưa ra, phù hợp với thực tiễn và tình hình của Việt Nam hiện nay. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Chủ biên: TS. Nguyễn Đức Lợi, TS. Phạm Văn Nhật, 2013, Giáo trình Kinh tế môi trường, Nhà xuất bản Tài chính. 2. Quốc hội, Luật Bảo vệ môi trường 2020. 3. Bộ Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo kết quả hoạt động Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam năm 2020. 4. Bộ Tài chính, Luật Thuế tài nguyên 2010. 5. Quốc hội, Luật Thuế bảo vệ môi trường 2010. 6. Bộ Tài nguyên và Môi trường, ngày 05/03/2009, Quyết định về việc phê duyệt chương trình cấp nhãn sinh thái. 7. Viện Chiến lược, Chính sách Tài nguyên và Môi trường. 8. Chỉ thị số 03/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ngày 18/01/2021, về tăng cường kiểm soát ô nhiễm môi trường không khí. 25
Trang 1Họ và tên: Phạm Thị Hồng Ngọc Mã sinh viên: 1973401010052
Khóa/Lớp: (tín chỉ): CQ57/31.02LT1 (niên chế): CQ57/31.02
STT: 15 ID phòng thi: 581 – 058 – 1301
Ngày thi: 09/06/2021 Giờ thi: 7h30
BÀI THI MÔN: KINH TẾ MÔI TRƯỜNG
Hình thức thi: Tiểu luận Thời gian thi: 3 ngày
ĐỀ BÀI:
HOÀN THIỆN CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI
TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
dtgfnhbgctdtbhffffffffcnfvc
cc cbvfcbbbbbbcvddgfrvddd
Trang 2BÀI LÀM:
I, LỜI MỞ ĐẦU
Môi trường đang ngày càng là vấn đề quan tâm sâu sắc của toàn thế giới nói chung cũng như Việt Nam nói riêng Bởi lẽ, môi trường là không gian, nơi ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống, là nơi chứa đựng và cung cấp tài nguyên thiên nhiên phục vụ cuộc sống của con người Tuy nhiên, cùng với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa, sự tăng trưởng nhanh chóng của nền kinh tế toàn cầu, bên cạnh những thành quả đạt được về kinh tế thì môi trường đang bị ô nhiễm, xuống cấp trầm trọng, khó kiểm soát Quá trình đô thị hóa diễn ra ngày càng mạnh dẫn đến các chất thải ra môi trường ngày càng tăng lên, ảnh hưởng nguy hại đến con người Do đó, Việt Nam đang đối mặt với những thách thức lớn về bảo vệ và quản lý môi trường
Tình hình Việt Nam hiện nay để phát triển bền vững thì cần phải kết hợp hài hòa cả hai yêu cầu: vừa thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, vừa bảo vệ môi trường Muốn thực hiện được điều đó, bên cạnh những nỗ lực, ý thức của các cá nhân, tổ chức trong cộng đồng thì vai trò của nhà nước là rất quan trọng Để hoạt động bảo vệ môi trường đi vào nề nếp, bài bản thì cần phải quản lý môi trường Bằng những biện pháp và chính sách khác nhau, Nhà nước ta đang can thiệp mạnh mẽ vào hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường
Nhà nước phải kết hợp chặt chẽ và đồng bộ các công cụ quản lý để đảm bảo việc quản lý môi trường Trong các công cụ quản lý của nhà nước về môi trường chủ yếu bao gồm công cụ pháp lý, công cụ kinh tế, công cụ khoa – giáo; thì việc
áp dụng công cụ kinh tế đóng vai trò rất quan trọng Không giống như các công
cụ khác mang tính chất mệnh lệnh, bắt buộc, công cụ kinh tế mang tính mềm dẻo, linh hoạt, khiến cho người gây ô nhiễm và người hưởng thụ môi trường có các hành vi xử sự có lợi cho môi trường Việc sử dụng các công cụ kinh tế còn
Trang 3khuyến khích việc nghiên cứu triển khai kỹ thuật công nghệ có lợi cho môi trường, duy trì tốt giá trị môi trường của quốc gia Do vậy, áp dụng công cụ kinh
tế trong quản lý môi trường là cách tiếp cận đúng đắn nhằm hạn chế ô nhiễm và suy thoái môi trường tại Việt Nam
Ở Việt Nam, việc áp dụng công cụ kinh tế đã và đang được Chính phủ quan tâm Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng chưa được như mong đợi, việc triển khai còn gặp nhiều khó khăn do chưa có nghiên cứu đầy đủ về các công cụ kinh tế trước khi ban hành Không chỉ vậy, năng lực nghiên cứu và thực thi các công cụ kinh
tế còn nhiều hạn chế, một số công cụ kinh tế còn chưa áp dụng
Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là phải hoàn thiện các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường Để phát huy vai trò của các công cụ kinh tế thì phải làm rõ thực trạng, việc áp dụng các công cụ kinh tế trong thời gian qua ở Việt Nam, chỉ ra nguyên nhân, hạn chế của các công cụ kinh tế từ đó đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn các công cụ kinh tế, đem lại hiệu quả cao trong việc quản lý môi trường
II, LÝ LUẬN VỀ CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG
1 Công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế là những công cụ nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong
hoạt động của cá nhân và tổ chức kinh tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường
Các công cụ kinh tế được sử dụng là nhằm tác động tới các chi phí và lợi ích trong mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của tổ chức, cá nhân nhằm điều chỉnh lợi ích kinh tế của các đối tượng có liên quan, đảm bảo giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường
Việc sử dụng rộng rãi các công cụ kinh tế không chỉ hạn chế tối đa các hoạt động gây bất lợi cho môi trường sống, mà còn khuyến khích quá trình đổi mới
Trang 4trang thiết bị kỹ thuật, đưa các công nghệ tiên tiến, đặc biệt là đưa công nghệ sạch vào sản xuất Từ đó làm tăng hiệu quả sử dụng các nguồn vốn đầu tư, tăng hiệu quả các hoạt động khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
và bảo vệ môi trường; đồng thời khích lệ ý thức tiết kiệm trong các hoạt động sản xuất kinh doanh
2 Một số công cụ kinh tế được sử dụng trong lĩnh vực bảo vệ và quản
lý môi trường
2.1 Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là loại thuế đánh vào các hoạt động sản xuất kinh doanh
trong lĩnh vực khai thác và sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
Mục đích chủ yếu của thuế tài nguyên là:
- Hạn chế các nhu cầu không cấp thiết trong việc sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Hạn chế tổn thất, sự lãng phí các nguồn tài nguyên trong quá trình khai thác và sử dụng chúng
- Tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Thực hiện việc điều hòa lợi ích giữa Nhà nước với các tổ chức, cá nhân; giữa các tổ chức và bộ phận dân
cư trong lĩnh vực khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên và các thành phần khác của môi trường
Ý nghĩa của thuế tài nguyên:
- Là khoản chi phí thể hiện trách nhiệm tài chính của các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên đối với chủ sở hữu
- Khuyến khích và buộc các đối tượng khai thác, sử dụng tài nguyên phải trân trọng vai trò và giá trị của tài nguyên đối với quá trình phát triển
- Là khoản thu quan trọng của ngân sách nhà nước
Trang 5Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như: Thuế sử dụng đất, thuế
sử dụng nước, thuế khai thác rừng, thuế tiêu thụ năng lượng thuế khai thác tài nguyên khoáng sản…
Thuế tài nguyên có nhiều loại khác nhau, đối tượng để tính thuế cũng rất đa dạng, phức tạo do sự phân bố của các tài nguyên thiên nhiên trên các địa bàn có đặc điểm rất khác nhau Vì vậy, phải căn cứ vào từng loại tài nguyên cụ thể, từng địa bàn cụ thể, từng thời kì cụ thể để xác định mức thuế thích hợp Việc xác định thuế tài nguyên phải tuân thủ theo nguyên tắc:
- Hoạt động càng gây nhiều tổn thất về tài nguyên, gây ô nhiễm và suy thoái môi trường càng nghiêm trọng thì càng phải chịu thuế cao
- Thuế tài nguyên phải khuyến khích được các doanh nghiệp đầu tư trang thiết bị kỹ thuật hiện đại, đổi mới công nghệ sản xuất và nâng cao năng lực quản lý nhằm giảm tổn thất tài nguyên
2.2 Thuế ô nhiễm môi trường
Thuế ô nhiễm môi trường là công cụ kinh tế có tác dụng hạn chế tối đa các
tác động gây ô nhiễm môi trường, nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc: “người gây ô nhiễm phải trả tiền”
Thuế ô nhiễm môi trường nhằm hai mục đích chủ yếu: Khuyến khích người gây ô nhiễm phải tích cực tìm kiếm các giải pháp nhằm giảm thiểu lượng các chất thải gây ô nhiễm môi trường, đồng thời tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước Sử dụng công cụ thuế này có rất nhiều ưu việt trong lĩnh vực bảo vệ và quản lý môi trường như: Tăng hiệu quả kinh tế của các hoạt động sản xuất thông qua tiết kiệm các chi phí; Khuyến khích quá trình đổi mới tổ chức và quản lý doanh nghiệp
Các nguyên tắc đánh thuế ô nhiễm môi trường:
- Hướng vào mục tiêu phát triển bền vững và chính sách, kế hoạch môi trường cụ thể của quốc gia
Trang 6- Người gây ô nhiễm phải trả tiền
- Mức thuế và biểu thuế phải căn cứ vào các tiêu chuẩn môi trường của quốc gia và các thông lệ quốc tế
Hình thức đánh thuế ô nhiễm môi trường:
- Thuế đánh vào nguồn gây ô nhiễm: Đánh vào các chất thải gây ô nhiễm môi trường; được xác định dựa trên chi phí ngoại ứng
- Thuế đánh vào sản phẩm gây ô nhiễm: được áp dụng với các sản phẩm gây tác hại tới môi trường khi chúng được sử dụng trong sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng Tính thuế căn cứ vào khối lượng sản phẩm từng loại được tiêu thụ; đôi khi tính dưới dạng phí
2.3 Giấy phép (quota) phát thải
Giấy phép (quota) chất thải là loại giấy phép do cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền cấp, cho phép doanh nghiệp được thải một lượng chất thải nhất định trong một khoảng thời gian nhất định Đây là công cụ quan trọng để các cơ quan quản lý môi trường khống chế lượng chất thải vào môi trường; đồng thời huy động nguồn lực tài chính để thực hiện các kế hoạch môi trường
Thường được áp dụng cho nguồn tài nguyên môi trường khó quy định quyền
sở hữu dẫn đến việc bị sử dụng bừa bãi (không khí, đại dương,…) Trong quản
lý môi trường Nhà nước sử dụng công cụ cấp giấy phép xả thải thích hợp với một số điều kiện nhất định sau:
- Chất ô nhiễm cần kiểm soát được thải ra từ nhiều nguồn khác nhau nhưng
gây tác động tới môi trường tương tự nhau
- Có sự chênh lệch lớn trong chi phí giảm thải của các doanh nghiệp do
nhiều yếu tố (công nghệ, tuổi thọ máy móc thiết bị, quản lý )
- Số lượng doanh nghiệp tham gia thị trường với tư cách là người mua và người bán giấy phép phải tương đối lớn để tạo được một thị trường hoạt động riêng
Trang 72.4 Đặt cọc và hoàn trả
Đặt cọc và hoàn trả là một hình thức đặc biệt của thỏa thuận về ô nhiễm môi
trường Nguyên tắc áp dụng: Quy định các đối tượng tiêu dùng các sản phẩm có
khả năng gây ô nhiễm môi trường phải trả thêm một khoản tiền đặt cọc khi mua hàng nhằm cam kết sau khi tiêu dùng sẽ đem sản phẩm hoặc phần còn lại của sản phẩm trả lại cho đơn vị thu gom phế thải hoặc địa điểm tái chế đã quy định Nếu thực hiện đúng sẽ được hoàn lại tiền Nếu vi phạm thì số tiền đặt cọc được xung vào quỹ bảo vệ môi trường
Mục đích của hệ thống đặt cọc và hoàn trả thu gom những thứ mà người tiêu thụ đã dùng vào một trung tâm để tái chế hoặc tái sử dụng một cách an toàn đối với môi trường
Phạm vi Nhà nước sử dụng các hệ thống đặt cọc – hoàn trả bao gồm:
- Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm có thể gây ô nhiễm môi trường khi sử dụng, song có thể xử lý, tái chế hoặc tái sử dụng
- Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm làm tăng lượng chất thải, cần các bãi thải quy mô lớn và tốn nhiều chi phí tiêu hủy
- Các loại hình doanh nghiệp có các sản phẩm chứa chất độc, gây khó khăn đặc biệt cho việc xử lý; nếu tiêu hủy không đúng cách sẽ gây nguy cơ ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và sức khỏe của người dân trong khu vực
2.5 Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ cần được sử dụng trong quản lý môi trường
đối với các hoạt động kinh tế có tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm hay gây tổn thất cho môi trường
Nguyên tắc áp dụng:
- Yêu cầu doanh nghiệp, cơ sở sản xuất kinh doanh trước khi thực hiện 1 hoạt động kinh tế phải ký gửi 1 khoản tiền (hoặc kim loại quý, đá quý,…)
Trang 8tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng nhằm cam kết sẽ thực hiện các biện pháp để hạn chế ô nhiễm, suy thoái môi trường
- Số tiền ký quỹ phải lớn hơn hoặc bằng kinh phí cần thiết để khắc phục ô nhiễm môi trường nếu doanh nghiệp gây ô nhiễm hoặc suy thoái môi trường
Mục đích chính của ký quỹ là làm cho người có khả năng gây ô nhiễm, suy thoái môi trường luôn nhận thức được trách nhiệm của họ Từ đó tìm ra các biện pháp thích hợp ngăn ngừa ô nhiễm, suy thoái môi trường
2.6 Trợ cấp tài chính cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường
Mục tiêu của trợ cấp tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi
trường là duy trì và từng bước mở rộng quy mô các doanh nghiệp này Trợ cấp
tài chính cho các hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường phải tương
xứng với các lợi ích tăng thêm về môi trường do tác động ngoại ứng tích cực tới môi trường mà doanh nghiệp đó tạo ra
Hỗ trợ tài chính dưới hình thức các điều khoản ưu đãi từ quỹ môi trường Thông thường, đó là các khoản trợ cấp không hoàn lại; các khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường để khuyến khích các
dự án đầu tư bảo vệ môi trường; hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai các công nghệ sản xuất có lợi cho môi trường hoặc các công nghệ xử lý ô nhiễm; đào tạo
và truyền thông môi trường; các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp
2.7 Nhãn sinh thái
Nhãn sinh thái là một danh hiệu của Nhà nước cấp cho các sản phẩm không
gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất ra sản phẩm hoặc quá trình
sử dụng các sản phẩm đó
Sản phẩm được dán nhãn sinh thái có uy tín cao, có sức cạnh tranh cao
Nhãn sinh thái thường được xem xét và dán cho:
Trang 9- Các sản phẩm tái chế từ phế thải
- Các sản phẩm thay thế cho các sản phẩm có tác động xấu đến môi trường
- Các sản phẩm có tác động tích cực tới môi trường
2.8 Quỹ môi trường
Quỹ môi trường là một loại quỹ được hình thành để nhận tài trợ vốn từ các
nguồn khác nhau, và từ đó phân phối các nguồn này để hỗ trợ quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường
Đây là một công cụ quản lý môi trường có tính mở cao, nhằm huy động và tận dụng mọi nguồn lực của mọi đối tượng muốn tham gia, đóng góp nhân tài, vật lực cho sự nghiệp quản lý môi trường Các nguồn thu chủ yếu của quỹ môi trường bao gồm:
- Phí, lệ phí môi trường
- Đóng góp tự nguyện của cá nhân, doanh nghiệp
- Tài trợ bằng tiền, hiện vật của chính quyền địa phương, ngành, tổ chức xã hội trong nước và Chính phủ
- Đóng góp của các tổ chức, các nhà tài trợ quốc tế
- Tiền lãi và các khoản lợi thu được từ hoạt động của quỹ
- Tiền xử phạt hành chính do vi phạm quy định bảo vệ môi trường
- Tiền thu được từ các hoạt động văn hóa, thể thao, từ thiện, xố số, phát hành trái phiếu…cho sự nghiệp bảo vệ môi trường
III, THỰC TRẠNG SỬ DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN
LÝ MÔI TRƯỜNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
1 Tình hình của Việt Nam hiện nay
Sau 35 năm thực hiện công cuộc Đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu hết sức to lớn trên mọi lĩnh vực, tạo nhiều dấu ấn nổi bật; trong đó kinh tế tăng trưởng liên tục, trở thành một trong những nền kinh tế tăng trưởng nhanh; đời sống vật chất và tinh thần của người dân không ngừng được nâng cao; y tế
Trang 10và chất lượng chăm sóc sức khỏe được tăng cường; quốc phòng, an ninh được củng cố và ổn định; quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng và hiệu quả, Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế - xã hội đã bộc lộ nhiều bất cập và tạo ra nhiều áp lực lớn đối với môi trường sinh thái Trong những năm qua, Việt Nam hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế thế giới thông qua việc ký kết
và thực hiện nhiều hiệp định thương mại tự do Vì vậy, việc sử dụng ở mức độ tối đa các nguồn tài nguyên là khó tránh khỏi; ngoài ra, trình độ công nghệ trong nước mặc dù có tiến bộ nhưng nhìn chung còn khá lạc hậu, không thể ngay lập tức hiện đại hóa hoàn toàn bằng những công nghệ tiên tiến và ít ảnh hưởng đến môi trường Tình trạng ô nhiễm môi trường tiếp tục diễn biến phức tạp, ngày càng nghiêm trọng với nhiều điểm nóng, chất lượng môi trường nhiều nơi suy giảm mạnh Chính vì vậy, trong quá trình thực hiện công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước, hướng tới mục tiêu chung là phát triển bền vững, phải thực hiện mục tiêu về môi trường, Việt Nam phải tìm kiếm các biện pháp cũng như áp dụng các công cụ kinh tế là rất quan trong Trong thời gian qua, việc áp dụng các công cụ kinh tế đã đạt được những thành quả nhất định nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường tuy nhiên bên cạnh đó còn một số hạn chế còn tồn đọng mang lại hiệu quả chưa cao
2 Đánh giá kết quả đạt được
Trên cơ sở tiếp thu kinh nghiệm từ nhiều quốc gia, Việt Nam đã và đang áp dụng công cụ kinh tế dưới nhiều hình thức khác nhau Việc thực hiện các công
cụ kinh tế đã góp phần đa dạng hóa các biện pháp bảo vệ môi trường của Việt Nam, giúp Việt Nam thực hiện tốt hơn các cam kết quốc tế về bảo vệ môi
trường, đồng thời mang lại những giá trị nhất định Trong đó, thuế bảo vệ môi trường góp phần định hướng hành vi tiêu dùng các sản phẩm thân thiện với môi trường và tăng thu cho ngân sách nhà nước; phí bảo vệ môi trường giúp bổ sung
Trang 11nguồn tài chính để chi trả cho các hoạt động bảo vệ môi trường; quỹ môi trường
đã hỗ trợ tài chính cho nhiều chủ thể thực hiện các hoạt động bảo vệ môi trường
Về thuế tài nguyên, hiện nay, thực hiện theo Luật Thuế tài nguyên có hiệu lực
từ ngày 01/7/2010 do Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 6 thông qua Chính sách thuế tài nguyên nói chung và việc quy định mức thuế suất thuế tài nguyên nói riêng là một trong những công cụ cho thấy được tầm quan trọng của tài nguyên thiên nhiên đối với sự phát triển kinh tế nói riêng và phát triển bền vững nói chung Theo đánh giá của Bộ Tài chính, về cơ bản các quy định về mức thuế suất thuế tài nguyên đã đạt được mục tiêu đề ra Đó là: khắc phục những tồn tại, hạn chế về mức thuế suất thuế tài nguyên trong quá trình thực hiện biểu thuế trước đó, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý Nhà nước đối với tài nguyên nói chung và bảo vệ nguồn tài nguyên quốc gia nói riêng; đảm bảo hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân nơi có khoáng sản được khai thác; đảm bảo đơn giản, dễ thực hiện, tạo thuận lợi cho người nộp thuế và cơ quan Thuế Hiện nay, Việt Nam đang sử dụng phương pháp thu thuế tài nguyên dựa trên giá trị tài nguyên, là phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ ở các nước đang phát triển Các chính sách thuế tài nguyên đã tạo nguồn thu góp phần đáng
kể vào nguồn thu ngân sách nhà nước
Bảng 1: Mức thuế áp dụng đối với từng loại tài nguyên thiên nhiên
Trang 12Luật thuế bảo vệ môi trường được Quốc hội khóa XII thông qua và ban hành ngày 15/11/2010 và có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2012 Thuế bảo vệ môi trường góp phần nâng cao trách nhiệm và nhận thức của xã hội đối với môi trường; góp phần khuyến khích sản xuất, tiêu dùng hàng hóa thân thiện với môi trường; qua đó, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế bền vững, khuyến khích phát triển kinh tế đi liền giảm ô nhiễm môi trường Việt Nam đã và đang tích cực hội nhập quốc tế trong lĩnh vực môi trường bằng việc tham gia vào nhiều cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường Chính sách thuế bảo vệ môi trường được ban hành đã thể hiện nỗ lực mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam trong việc thực hiện cam kết quốc tế trong vấn đề bảo vệ môi trường Chính sách thuế còn góp phần tăng thu ngân sách nhà nước để thực hiện các nhiệm vụ kinh tế - xã hội của đất nước, trong đó có nhiệm vụ chi cho bảo vệ môi trường
Bảng 2: Mức thuế áp dụng đối với từng nhóm hàng
Thống kê cho thấy, số thu thuế bảo vệ môi trường năm 2015 là khoảng 27.020
tỷ đồng; năm 2016 là khoảng 44.323 tỷ đồng; năm 2017 là khoảng 44.825 tỷ đồng; năm 2018 là 48.650 tỷ đồng và năm 2019 là 68.926 tỷ đồng Tỷ lệ thu