Tính cấp thiết của chuyên đề Tranh tụng tại phiên tòa hình sự là một trong những nội dung có ýnghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là yêu cầu cấp bách trongviệc đảm bảo tính
Trang 1VIỆN KSND TỈNH QUẢNG NGÃI VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA HÀNH
CHUYÊN ĐỀTHỰC TRẠNG VÀ NHỮNG GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN - VIỆN KIỂM SÁT HAI CẤP TRONG XÉT XỬ CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NGÃI NHẰM ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CẢI
CÁCH TƯ PHÁP
Người thực hiện: Đinh Hồng Thanh Chức vụ: Viện trưởng
Đơn vị công tác: Viện KSND huyện Nghĩa Hành
Nghĩa Hành, ngày 01 tháng 8 năm 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, trích dẫn trong chuyên đề đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung thực Những kết luận khoa học của chuyên
đề chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác.
TÁC GIẢ
Đinh Hồng Thanh
Trang 4DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG CHUYÊN ĐỀ
BLTTHS : Bộ luật tố tụng hình sự
HĐND : Hội đồng nhân dân
1 Tính cấp thiết của chuyên đề
Tranh tụng tại phiên tòa hình sự là một trong những nội dung có ýnghĩa quan trọng trong hoạt động tố tụng hình sự, là yêu cầu cấp bách trongviệc đảm bảo tính công bằng dân chủ giữa người tham gia tố tụng với Việnkiểm sát (VKS), là căn cứ để xác định sự thật vụ án là cơ sở để Hội đồng xét
Trang 5xử (HĐXX) ra bản án đúng đắn, khách quan, đúng người, đúng tội, đúngpháp luật Xác định tầm quan trọng của hoạt động tranh tụng tại phiên tòa,tại các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp như Nghị quyết 08-NQ/TWngày 01/01/2002, Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 02/6/2005, Kết luận79-KL/TW ngày 28/7/2010 v.v… đã xác định tầm quan trọng của tranh tụngtrong xét xử, coi nội dung này là một trong những nội dung trọng tâm, làkhâu đột phá của cải cách tư pháp.
Quan điểm, chủ chương của Đảng về hoạt động tranh tụng đã được thểchế hóa tại khoản 5 Điều 103 Hiến pháp quy định “Nguyên tắc tranh tụngtrong xét xử được đảm bảo” Như vậy, lần đầu tiên, việc bảo đảm tranh tụngtrong xét xử được ghi nhận thành một nguyên tắc, thể hiện bước tiến lớntrong hoạt động xây dựng pháp luật và phù hợp với tinh thần cải cách tưpháp của Nhà nước ta
Để thực hiện chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranh tụngcủa Kiểm sát viên (KSV) tại phiên tòa hình sự và thi hành quy định của Hiếnpháp 2013, căn cứ Kế hoạch, kết quả công tác hàng năm của ngành Kiểm sát
nhân dân tỉnh Quảng Ngãi, tôi nghiên cứu xây dựng chuyên đề : “Thực
trạng và những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát hai cấp trong xét xử các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp”, trên cơ sở đó
tham mưu Lãnh đạo Viện tỉnh về tăng cường biện pháp nâng cao chất lượng,
kỹ năng tranh tụng của KSV tại phiên tòa hình sự
2 Tình hình nghiên cứu chuyên đề
Sau khi nhận được báo cáo năm 2017 của Viện KSND (VKSND) tỉnh
và nghiên cứu các báo cáo của các đơn vị Viện KSND các huyện, thành phố,các phòng nghiệp vụ Nhiều báo cáo có chất lượng tốt, đánh giá toàn diệnhoạt động của VKS 2 cấp sơ thẩm và phúc thẩm trong xét xử các vụ án hình
sự, chỉ rõ những ưu điểm, hạn chế, nêu các tồn tại, khuyết điểm, hạn chế,nguyên nhân để nhận xét, đánh giá, đề xuất các giải pháp, kiến nghị cụ thể rõràng, thiết thực
Thông qua các báo cáo đánh giá của các đơn vị, cho thấy, trong nhữngnăm gần đây, nhận thức của lãnh đạo VKS 2 cấp, của VKS tham gia phiêntòa đối với hoạt động tranh tụng đã nâng lên rõ rệt Nhiều đơn vị đã tổ chứccác hội nghị nâng cao chất lượng trong Thực hành quyền công tố (THQCT)
từ giai đoạn tiếp nhận tố giác, tin báo tội phạm đến giai đoạn xét xử nhằmđảm bảo tốt cho tranh tụng của KSV-VKS tại phiên tòa như VKS Tư Nghĩa,
Mộ Đức, Sơn Hà…có đơn vị đã xây dựng chuyên đề, tổ chức các phiên tòarút kinh nghiệm như Phòng 1, 3, 7, 10, VKS thành phố, Đức Phổ từ đó rút
ra các bài học kinh nghiệm trong hoạt động tranh tụng; tìm kiếm, bồi dưỡng
Trang 6những KSV có năng khiếu, năng lực tranh tụng bổ sung cho công tácTHQCT và KSXX hình sự.
Như vậy, chuyên đề “Thực trạng và những giải pháp nâng cao chấtlượng tranh tụng của Kiểm sát viên - Viện kiểm sát hai cấp trong xét xử các
vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Quảng Ngãi nhằm đáp ứng yêu cầu cải cách
tư pháp” được tổng hợp trên cơ sở các báo cáo của Viện KSND tỉnh và ViệnKSND các huyện, thành phố và các phòng nghiệp vụ, Văn phòng Viện tỉnh
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của chuyên đề
Chuyên đề nghiên cứu, đề xuất, luận chứng các quan điểm đảm bảocho việc Tranh tụng của KSV - VKSND được thực hiện đúng quy định củapháp luật, từ đó làm căn cứ đánh giá thực trạng hoạt động Tranh tụng củaVKSND cấp tỉnh, huyện ở tỉnh Quảng Ngãi và đưa ra những giải pháp đảmbảo việc Tranh tụng đạt chất lượng, hiệu quả cao hơn trong thời gian tới, đápứng yêu cầu cải cách tư pháp, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi íchhợp pháp của công dân, góp phần đấu tranh phòng ngừa và giáo dục ngườiphạm tội
Quá trình triển khai, nhận thấy tầm quan trọng của Chuyên đề Việcnghiên cứu chuyên đề này sẽ được trển khai nghiên cứu sâu sắc, toàn diệnhơn, nhất là phần về lý luận tranh tụng và nguyên tắc tranh tụng trong xétxử; trên cơ sở đó, đề xuất xây dựng kế hoạch của Viện trưởng tỉnh về nângcao chất lượng tranh tụng của KSV tại phiện tòa hình sự
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của chuyên đề
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Những vấn đề lý luận, thực tiễn, những tồn tại và nguyên nhân phátsinh những tồn tại, những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng Tranhtụng những giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV trong xét xửhình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của Viện KSND
4.2 Phạm vi nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận về Tranh tụng những giải pháp nâng cao chất lượngtranh tụng của KSV trong xét xử hình sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư phápcủa Viện KSND 2 cấp ở tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2017
5 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của chuyên đề
5.1 Cơ sở nghiên cứu
Chuyên đề được nghiên cứu dựa trên các chủ trương, Nghị quyết,quan điểm của Đảng Đặc biệt là quan điểm chỉ đạo của Đảng về cải cách tưpháp trong Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị "Vềmột số nhiệm vụ trọng tâm của công tác tư pháp trong thời gian tới" và Nghịquyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị "Về chiến lược cảicách tư pháp đến năm 2020"
5.2 Phương pháp nghiên cứu:
Trang 7Chuyên đề được nghiên cứu dựa trên cơ sở toàn diện, cụ thể của Ngànhkiểm sát tỉnh Quảng Ngãi trong năm 2017 Đồng thời, kết hợp với các phươngpháp nghiên cứu khác như: Phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh (của phòng 1,
3, 7, 15, Văn phòng Viện KSND tỉnh Quảng Ngãi, báo cáo của Viện KSND cáchuyện, thành phố, việc tổ chức các phiên tòa rút kinh nghiệm, các thông báo rútkinh nghiệm, ý kiến chỉ đạo của Lãnh đạo Viện tỉnh, và thực tiễn tại đơn vị)
6 Những đóng góp về mặt khoa học của chuyên đề
Chuyên đề nghiên cứu một cách tương đối có hệ thống Tranh tụngnhững giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV trong xét xử hình
sự đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp của VKSND 2 cấp ở tỉnh Quảng Ngãi
là tài liệu để nghiên cứu, sử dụng trong những năm tiếp theo
7 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của chuyên đề
Kết quả nghiên cứu của có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo phục vụyêu cầu nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV trong xét xử hình sự đápứng yêu cầu cải cách tư pháp trong giai đoạn hiện nay
8 Kết cấu của chuyên đề này gồm:
Trang 8Trong phần này, chuyên đề nghiên cứu các nội dung cơ bản như kháiniệm tranh tụng và bản chất của tranh tụng; nguyên tắc tranh tụng và tranhtụng của KSV trong xét xử hình sự.
mô hình tố tụng, tranh tụng, thẩm vấn vào mô hình tố tụng đã có đan xen,kết hợp Mô hình tố tụng hình sự tranh tụng thường đước áp dụng cơ bản sauđây:
(1) Có sự phân định rành mạch quyền và nghĩa vụ của chủ thể thựchiện các chức năng cơ bản của TTHS; trong đó Tòa án có vai trò chủ động
và trung lập, làm trọng tài điều khiển sự tranh tụng giữa các bên;
(2) Có hệ quy tắc phức tạp chi phối toàn bộ hệ thống tố tụng, trong đóquy tắc về chứng cứ có ảnh hưởng lớn nhất vì nó kiểm soát loại chứng cứnào có thể được đưa ra trước những người có thẩm quyền; nói cách khác làquy tắc này quyết định chứng cứ có được chấp nhận hay không;
(3) Vai trò của Công tố mờ nhạt trong hoạt động điều tra, trong khi đóvai trò của luật sư bào chữa được tham gia rất sớm vào TTHS;
(4) Có chứa đựng yếu tố thú tội và mặc cả thú tội;
(5) Luật sư bào chữa có vai trò rất lớn rất việc thuyết phục thẩm phán
và bồi thẩm đoàn đưa ra quyết định;
(6) Hoạt động bào chữa của luật sư cũng trong khuôn khổ pháp luật; (7) Khuyến khích bị cáo nhận tội để có thể được miễn truy tố hoặcgiảm nhẹ hình phạt;
(8) Trong mô hình tố tụng tranh tụng, nguyên tắc phân quyền quy địnhTòa án là bộ phận độc lập tách rời khỏi hành pháp và tư pháp Với nhữngđặc điểm cơ bản nói trên, mô hình tố tụng tranh tụng có những ưu điểmnhư: phân định rõ quyền và nghĩa vụ của các chủ thể thực hiện các chứcnăng cơ bản của TTHS; quyền của người bị buộc tội và người được bàochữa được mở rộng và triệt để được tôn trọng; vì thế nhiều người cho rằng
mô hình tranh tụng có khả năng phòng chống oan sai có hiệu quả
Hiện nay Bộ luật TTHS 2015 của Việt Nam có hiệu quả nhất trong đấutranh phòng chống tội phạm và chống oan sai Do vậy, vấn đề nghiên cứu về
“tranh tụng” với tư cách là một mô hình tố tụng hình sự là vấn đề của quá
Trang 9trình xây dựng luật Trong phạm vi chuyên đề này, chuyên đề tiếp cận vấn
đề “ tranh tụng và giải pháp nâng cao chất lượng tranh tụng của KSV…”dưới góc độ thực tiễn trong hoạt động KSV trong thực hành quyền công tố
và kiểm sát xét xử vụ án hình sự
- Theo từ điển tiếng việt, “ trong tụng là sự kiện cáo lẫn nhau” theonghiã Hán Việt, tranh tụng được ghép từ hai từ “tranh tụng” và “tố tụng”
- Trong lịch sử tố tụng hình sự Việt Nam, Bộ luật TTHS năm 1989,
2003, 2015 điều quy định trình tự tố tụng tại phiên tòa xét xử sơ thẩm vàphúc thẩm tương tự như nhau, bao gồm các thủ tục mở đầu, xét hỏi, tranhluận, nghị án và tuyên án Thủ tục mở đầu phiên tòa nhằm kiểm tra các điềukiện cần thiết cho việc mở phiên tòa Thủ tục xét hỏi nhẳm kiểm tra và côngkhai toàn bộ các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; xem xét các mâu thuẫn (nếucó) của các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ; công bố bổ sung và kiểm tra cáctài liệu, chứng cứ mới do các bên cung cấp từ phiên tòa Tranh luận và trình
tự tố tụng mà các bên trong TTHS (bên buộc tội và bên gỡ tội) dựa trên cácchứng cứ các quy định của pháp luật, đưa ra các luận điểm, luận cứ và luậnchứng để làm rõ vấn đề trong vụ án Trong các trình tự tố tụng diễn ra tạiphiên tòa, chỉ có trình tự tranh luận là có sự diễn ra đối pháp hai chiều, có đi
có lại giữa quan điểm của các bên buộc tội và gỡ tội Thông qua tranh luận,đối đáp, phản biện, bác bỏ quan điểm lẫn nhau để có cơ sở khẳng định quanđiểm của mỗi bên Nhìn chung, mỗi trình tự tố tụng điều có ý nghĩa pháp lýriêng trong việc nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án, tuy nhiên hoạtđộng tranh tụng của KSV là hoạt động trọng tâm tại phiên tòa xét xử
- Các Nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp:
Nghị quyết 08-NQ/TW ngày 01/1/2002 đã xác định: “nâng cao chấtlượng Công tố của Kiểm sát viên tại phiên tòa, bảo đảm tranh tụng dân chủvới luật sư, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác Khi xét
xử các tòa án phải đảm bảo cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật,thực sự dân chủ, khách quan, Thẩm phán và Hội thẩm độc lập và chỉ tuântheo pháp luật; việc phán quyết của tòa án phải căn cứ chủ yếu vào kết quảtranh tụng tại phiên tòa…đề ra những bản án, quyết định đúng pháp luật, cósức thuyết phục mà trong thời hạn luật định Các cơ quan tư pháp có tráchnhiệm tạo điều kiện để luật sư tham gia vào quá trình tố tụng, tham gia hỏicung bị can, nghiên cứu hồ sơ vụ án, tranh luận dân chủ tại phiên tòa…” Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị một lầnnữa yêu cầu “Nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp, chấtlượng tranh tụng tại tất cả các phiên tòa xét xử, coi đây là hoạt động đột phácủa cơ quan tư pháp…”
Nghị quyết số 37/NQ-QH13 ngày 23/11/2012 tiếp tục khẳng định
“Kiểm sát viên phải chủ động, tích cực tranh luận, đối đáp tại phiên tòa xét
Trang 10xử các vụ án hình sự… Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo các tòa án tiếp tụcđẩy mạnh việc tranh tụng tại phiên tòa”.
Như vậy, trên cơ sở chủ trương của Đảng về nâng cao chất lượng tranhtụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự; các quy định của Bộ luật TTHS
và quy định của Hiến Pháp 2013, nhận thấy khái niệm tranh tụng xuất hiệnđầu tiên và chính thức là từ các nghị quyết của Đảng về cải cách tư pháp,gần đây được Hiến pháp quy định Tranh tụng được hiểu với nghĩa khôngphải là một kiểu mô hình tố tụng mà là hoạt động tranh luận của KSV vànhững người tham gia tố tụng trong TTHS, cụ thể là tại phiên tòa xét xử vụ
án hình sự, bao gồm cả phiên tòa sơ thẩm và phúc thẩm Trong đó, KSV vàngười tham gia tố tụng dựa trên các tài liệu, chứng cư; các quy định củapháp luật; trên cơ sở tư duy logic hình thức để đưa ra các luận điểm, luận cứ
và luận chứng nhằm làm rõ sự thật khách quan của vụ án
Từ khái niệm nêu trên, bản chất của khái niệm “tranh tụng” được nhìndưới hai góc độ pháo lý và nhận thức Dưới góc độ pháp lý, bản chất củatranh tụng gồm có các nội dung cơ bản sau đây:
- Tranh tụng là hoạt động tố tụng hình sự, do vậy hoạt động tranh tụngphải tuân theo các quy định của bộ luật TTHS
- Chủ thể của tranh tụng gồm có KSV và người tham gia tố tụng khác.Các chủ thể xuất phát từ những địa vị pháp lý khác nhau nhưng bình đẳngvới nhau trong quyền đưa ra chứng cứ, tài liệu, yêu cầu, quan điểm về giảiquyết vụ án KSV có thể tranh tụng với người bào chữa, với bị cáo, người bịhại và người tham gia tố tụng khác để làm rõ sự thật khách quan của đốitượng tranh tụng
- Hoạt động tranh tụng tại phiên tòa diễn ra dưới sự điều khiển của chủtọa phiên tòa Chủ tọa phiên tòa có quyền yêu cầu các bên tiến hành tranhtụng hoặc chấm dứt tranh tụng, điều chỉnh nội dung của những phương pháptranh tụng cho phù hợp với quy định của pháp luật và sự cần thiết làm rõ cácvấn đề của vụ án
- Mục tiêu của hoạt động tranh tụng, điều chỉnh nội dung cũng nhưphương pháp tranh tụng phù hợp với quy định của pháp luật và sự cần thiếtlàm rõ các vấn đề của vụ án
- Mục tiêu của hoạt động tranh tụng là nhằm làm rõ sự thật khách quancủa vụ án Sự thật khách quan này bao gồm sự thật như nó đã diễn ra trênthực tế và được nhìn nhận, đánh giá dưới góc độ pháp lý (dưới góc độ đánhgiá trên cơ sở pháp luật hình sự và TTHS)
- Đối tượng của hoạt động tranh tụng là các quan điểm, luật cứ và luậtchứng của các bên đưa ra để giải quyết vụ án
- Cách thức tranh tụng là các bên chủ thể tranh tụng sử dụng các chứng
cứ trong hồ sơ vụ án cũng như các chứng cứ cung cấp đã được kiểm tra tại
Trang 11phiên tòa, các quy định của pháp luật hiện hành để làm rõ các đối tượngtranh tụng.
Dưới góc độ coi tranh tụng là hoạt động tư duy, nhận thức; bản chấtcủa tranh tụng với các nội dung sau:
- Tranh tụng được tiến hành trên cơ sở tư duy logic hình thức Các bêntranh tụng có thể sử dụng các kỹ năng tranh tụng khác nhau để khẳng địnhquan điểm của mình, bác bỏ quan điểm và thừa nhận quan điểm của bêntranh tụng đối lập
- Tranh tụng không chỉ là quyền là trách nhiệm của các bên tham giatranh tụng mà còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án Nói cáchkhác, tranh tụng không chỉ là phương tiện để đạt được sự thật khách quan
mà tranh tụng còn là một phần của sự thật khách quan của vụ án Chân lýcủa vụ án phải tìm thấy, có được thông qua tranh tụng Tất nhiên thuộc tínhnày của tranh tụng là xét về nguyên tắc Có những vụ án mà bị cáo nhận tội
và có đủ chứng cứ để khẳng định lời nhận tội của bị cáo là có cơ sở, tạiphiên tòa không có những quan điểm xung đột thì không phát sinh tranhtụng hoặc nếu có thì chỉ là mức độ nhất định
2 Nguyên tắc tranh tụng
Nguyên tắc là tư tưởng có giá trị làm nền tảng, làm cơ sở cho nhữngthiết chế và hoạt động Nguyên tắc trong một quan hệ pháp luật tố tụng lànhững tư tưởng pháp lý làm nền tảng, làm cơ sở cho việc xây dựng và thựcthi pháp luật trong những lĩnh vực tố tụng đó
Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “nguyên tắc tranh tụng trongxét xử được bảo đảm”, đây là lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến, tranh tụngđược ghi nhận là một nguyên tắc Vấn đề là cụ thể hóa nguyên tắc tranh tụngtrong BLTTHS như thế nào? Nguyên tắc này có những nội dung gì? Phạm
vi điều chỉnh của nguyên tắc này… là những vấn đề được quy định trongBLTTHS 2015 Tuy nhiên, nội hàm của nguyên tắc tranh tụng có các nộidung cơ bản sau:
+ Hoạt động xét xử phải đảm bảo tranh tụng giữa KSV với nhữngngười tham gia tố tụng khác; tranh tụng là trọng tâm của hoạt động xét xử;+ Các bên tranh tụng bình đẳng với nhau về quyền đưa ra tài liệu,chứng cứ, yêu cầu; đưa ra các luận điểm, luận cứ và luận chứng của mình;bình đẳng trong đối đáp, tranh luận, chứng minh, bỏ qua các quan điểm lẫnnhau
+ KSV và người tham gia tranh tụng phải tranh tụng với tinh thần tráchnhiệm, trên cơ sở chứng cứ khách quan và quy định của pháp luật; với tinhthần tôn trọng lẫn nhau có văn hóa ứng xử
Trang 12+ Bản án và quyết định của Tòa án phải căn cứ vào kết quả tranh tụngtại phiên tòa, trên cơ sở xem xét toàn diện các luận điểm, luận cứ và luậnchứng của các bên tranh tụng.
+ Tòa án có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện thực thi các quy địnhcủa pháp luật quy định của BLTTHS để các bên tham gia tranh tụng
Với các nội dung trên thì phạm vi điều chỉnh của nguyên tắc tranh tụngchủ yếu là tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự; bắt đầu từ khi tòa án mở phiêntòa cho đến khi kết thúc vụ án phiên tòa và tập trung trong phần tranh tụngcủa KSV với những người tham gia tố tụng…
3 Tranh tụng của Kiểm sát viên trong xét xử hình sự
KSV là chủ thể chính của tranh tụng Tranh tụng vừa là quyền vừa làtrách nhiệm của KSV Mục đích của tranh tụng của KSV có mục đích trướcmắt và mục đích cuối cùng (tạm dùng từ này) KSV tranh tụng trước hếtnhằm mục đích bảo vệ tính đúng đắn, khách quan, tín hợp pháp và có căn cứcủa quan điểm truy tố (thể hiện trong bản cáo trạng) Nói cách khác, xuấtphát điểm của tranh tụng của KSV với những người tham gia tố tụng khác lànhằm bảo vệ tính có căn cứ, hợp pháp của quan điểm truy tố Tranh tụng củaKSV suy cho cùng là nhằm bảo vệ sự thật khách quan của vụ án (chân lý về
vụ án) Khi tranh tụng, KSV xuất phát điểm là nhằm bảo vệ quan điểm truy
tố, do vậy các luận điểm, luận cứ và luận chứng là nhằm thực hiện mục đíchnày Tuy nhiên thông qua tranh tụng, KSV có thể phát hiện ra những nộidung bất hợp lý, thiếu căn cứ hoặc không phù hợp pháp luật của quan điểmtruy tố Nếu đủ cơ sở, KSV sẽ xử lý các tình huống phát sinh nói trên theoquy định của pháp luật TTHS, cụ thể như: Có thể đề nghị HĐXX trả hồ sơ
để điều tra bổ sung; rút một phần hoặc toàn bộ quyết định truy tố; chuyển tộidanh nhẹ hơn hoặc thay đổi khung khoản truy tố phù hợp với thẩm quyềnxét xử của HĐXX (ở cấp sơ thẩm); hoặc đề nghị hủy án sơ thẩm để điều trahoặc xét xử lại hoặc để đình chỉ tố tụng (ở cấp phúc thẩm), đồng thời thựchiện theo nguyên tắc suy đoán vô tội
Hoạt động tranh tụng của KSV chủ yếu thực hiện tại phiên tòa, tậptrung ở giai đoạn tranh luận Tuy nhiên để tranh tụng tốt thì KSV phải thựchiện đầy đủ và có chất lượng việc xét hỏi, vì xét hỏi chính là để làm rõ cácchứng cứ có trong hồ sơ vụ án, làm rõ cơ sở để bảo vệ quan điểm truy tốhoặc bảo vệ tính đúng đắn của bản án sơ thẩm trước quan điểm kháng cáo(bản án sơ thẩm này phù hợp với quan điểm truy tố của VKS) Nhìn chung,
để đảm bảo tranh tụng có chất lượng tốt thì KSV phải đáp ứng được các điềukiện bắt buộc để tranh tụng phải thực hiện tốt nhiều hoạt động mang tínhchất chuẩn bị trước khi tham gia phiên tòa, phải có các kỹ năng nghiệp vụkhi tham gia tranh tụng, có tinh thần trách nhiệm, có lương tâm và danh dựđạo đức nghề nghiệp
Trang 13Xuất phát từ bản chất của xét xử phúc thẩm nên tranh tụng của KSVtại phiên tòa phúc thẩm có những nội dung, yêu cầu, phạm vi đặc trưng sovới tranh tụng tại phiên tòa sơ thẩm Bản chất của xét xử phúc thẩm là cấpxét xử lại khi bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hoặckháng nghị Cấp phúc thẩm chỉ có trách nhiệm xem xét phần nội dung củabản án sơ thẩm mà có kháng cáo hoặc bị kháng nghị, ngoại trừ trường hợp
có thể xem xét các phần khác của bản án sơ thẩm tuy không có kháng cáohoặc kháng nghị nhưng có cơ sở để xem xét giảm trách nhiệm hình sự(TNHS) cho bị cáo; do vậy phạm vi tranh tụng của KSV tại phiên tòa phúcthẩm tập trung chủ yếu vào những nội dung có kháng cáo, kháng nghị.Trong trường hợp người tham gia tố tụng kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm,kháng cáo kêu oan thì cấp phúc thẩm có quyền và có trách nhiệm xem xét lạitoàn bộ vụ án; Trong trường hợp này, việc tranh tụng của KSV là để kiểmtra lại toàn bộ quan điểm truy tố, kiểm tra lại toàn bộ bản án sơ thẩm thôngqua kiểm tra xem xét toàn bộ hồ sơ vụ án
4 Các tiêu chí để đánh giá chất lượng tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiên tòa
Các tiêu chí cơ bản để đánh giá chất lượng tranh tụng của KSV baogồm:
+ Về thủ tục và cách thức tranh tụng phải nghiêm minh, dân chủ, côngbằng, có văn hóa, đúng quy định của pháp luật Các bên tham gia tranh tụngvới tinh thần trách nhiệm, có căn cứ, đúng pháp luật, tôn trọng quyền vànghĩa vụ của nhau (nếu đạt được các tiêu chí này thì đánh giá chất lượngtranh tụng và ngược lại);
+ Quan điểm (luận điểm, luận cứ và luận chứng của KSV được Hộiđồng xét xử (HĐXX) chấp nhận với tỷ lệ cao (chất lượng tốt) và ngược lại;+ Chất lượng giải quyết vụ án hình sự tốt, không oan, hạn chế sai Chấtlượng giải quyết vụ án hình sự thể hiện qua các tiêu chí như: Không có bịcáo truy tố, xét xử oan; hạn chế đến mức thấp nhất các trường hợp bị cáo bịtruy tố, xét xử sai; tỷ lệ án sơ thẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy thấp Tuynhiên riêng với tiêu chí hủy án này cần đánh giá theo hai góc độ: Tỷ lệ án sơthẩm bị Tòa án cấp phúc thẩm hủy án là tiêu chí đánh giá chất lượng tranhtụng của KSV ở phiên tòa sơ thẩm là kém chất lượng, bởi lẽ qua tranh tụngnhưng KSV cấp sơ thẩm không phát hiện ra các vi phạm trong việc truy tốcủa KSV để khắc phục; nhưng đồng thời đây lại là tiêu chí đánh giá tranhtụng của KSV ở cấp phúc thẩm có chất lượng tốt, bởi lẽ qua tranh tụng, KSVcấp phúc thẩm đã phát hiện ra vi phạm của VKS, Tòa án cấp sơ thẩm nên đã
đề nghị và được Tòa án cấp phúc thẩm hủy án để cấp sơ thẩm khắc phục viphạm;
Trang 14+ KSV thực hiện tốt các hoạt động nghiệp vụ mang tính chuẩn bị chotranh tụng tại phiên tòa (nghiên cứu hồ sơ vụ án, xây dựng hồ sơ kiểm sát,chuẩn bị bản luận tội và bài phát biểu quan điểm, xây dựng đề cương xéthỏi…) việc chuẩn bị tốt các công việc nói trên không những để thực hiệnđúng, đầy đủ qui định của Viện trưởng VKSTC trong các quy chế nghiệp vụ
mà còn thông qua đó góp phần bảo đảm chất lượng tranh tụng của KSVđược tốt
CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG TRANH TỤNG CỦA KIỂM SÁT VIÊN - VIỆN KIỂM SÁT TRONG XÉT XỬ
CÁC VỤ ÁN HÌNH SỰ
Trang 15- Cấp phúc thẩm: Tổng thụ lý là 94 vụ/123 bị cáo, đã giải quyết: 87 vụ/
112 bị cáo, trong đó: đình chỉ 15 vụ/19 bị cáo; xét xử 72 vụ/93 bị cáo, kếtquả giữ nguyên án sơ thẩm 44 vụ 56 bị cáo, sửa án sơ thẩm 24 vụ/30 bị cáo,hủy 04 vụ/07 bị cáo (có lỗi của KSV) Nhìn chung quan điểm của VKS đượcHĐXX chấp nhận đạt 61% Số bị cáo có luật sư bào chữa chiếm khoảng20% tăng nhiều hơn ở năm 2016
Số liệu nêu trên đã cho thấy tỷ lệ số vụ mà Tòa án đồng ý với quanđiểm của VKS chiểm tỷ lệ cao, phản ánh chất lượng truy tố, chất lượng tranhtụng của KSV tại phiên tòa là tốt Tỷ lệ này ở cấp phúc thẩm tuy có giảmnhưng số vụ án ở cấp phúc thẩm có Luật sư tham gia chiếm tỷ lệ cao Hơnnửa việc sửa án ở cấp phúc thẩm có những nguyên nhân khách quan, trong
đó chủ yếu do xuất hiện tình tiết giảm nhẹ mới trong giai đoạn phúc thẩmnên Tòa án đã giảm hình phạt đó cho bị cáo
2.1.2 Tình hình cán bộ làm công tác Thực hành quyền công tố kiểm sát xét xử hình sự
Năm 2017: Ngành kiểm sát nhân tỉnh có 182 người, trong đó (KSVCC
01, KSVTC 41, KSVSC 59, KTV 34, Cán sự - Chuyên viên 47)
Kiểm sát viên làm nhiệm vụ THQCT và KSXX hình sự 2 cấp 36 đ/c
Về trình độ: Tất cả KSV đầu là Cử nhân Luật; Thạc sỹ Luật: 18 đ/c
Số liệu nêu trên cho thấy VKS các cấp đã quan tâm đầu tư cán bộ chocông tác THQCT và KSXX hình sự Số lượng cán bộ hàng năm được bố trícho công tác này có tăng lên, trong đó tỷ lệ số cán bộ có kinh nghiệm côngtác chiếm tỷ lệ cao, xấp xỉ 50% Cán bộ trẻ chiếm tỷ lệ cao
2.2 Đánh giá kết quả tranh tụng của Kiểm sát viên
2.2.1 Đánh giá chung
Đánh giá chất lượng tranh tụng của KSV trong năm 2017, tại kỳ họpthứ 5 Quốc hội khóa XIV, trả lời chất vấn trước Quốc hội, Viện trưởngVKSNDTC khẳng định: chất lượng, hiệu quả tranh tụng của Kiểm sát viêntại tòa có nhiều chuyển biến tích cực Trong năm, không có trường hợpKiểm sát viên từ chối không tranh luận, đối đáp với Luật sư, người bào
Trang 16chữa Điều đó được cho là đã góp phần bảo đảm phán quyết của Tòa ánkhách quan, chính xác, đúng sự thật, không bỏ lọt tội phạm, hạn chế trườnghợp oan sai.
Trong những năm qua, tranh tụng, cùng với các hoạt động tố tụng khác
đã góp phần giảm thểu tình trạng oan sai trong việc giải quyết các vụ án hình
sự, đảm bảo tính đúng đắn trong hoạt động xét xử 2 cấp sơ thẩm và phúcthẩm Do làm tốt công tác nghiên cứu hồ sơ, chuẩn bị tốt cho hoạt động xét
xử như hỏi, tranh luận, đối đáp tích cực và có trách nhiệm, trên cơ sở nắmvững các quy định của pháp luật nên quan điểm của Viện kiểm sát tại phiêntòa đã được hội đồng xét xử chấp nhận với tỷ lệ cao Ở sơ thẩm cấp tỉnh và
huyện, tỷ lệ này trung bình trong năm 306/310 vụ Đối với phúc thẩm cấp
tỉnh, quan điểm của VKS được Hội đông xét xử chấp nhận 59/87 vụ
Cùng với các hoạt động khác, tranh tụng của Kiểm sát viên tại phiêntòa sơ thẩm tốt đã góp phần giảm thiểu tình trạng án bị cấp phúc thẩm hủy
do có vi phạm nghiêm trọng về việc áo dụng pháp luật và vi phạm về thủ tục
tố tụng Trong năm 2017, Viện kiểm sát cấp tỉnh đã tham gia xét xử phúcthẩm 72 vụ/93 bị cáo, kết quả giữ nguyên án sơ thẩm 44 vụ 56 bị cáo, sửa án
sơ thẩm 24 vụ/30 bị cáo, hủy 04 vụ/07 bị cáo (có lỗi của KSV) Tỷ lệ này có
xu hướng giảm dần, năm 2016 hủy 5 vụ 5 bị cáo, sửa 32 vụ 41 bị cáo Theobáo cáo đánh giá chung của các địa phương thì tình trạng hủy án của cấp sơthẩm đã giảm nhiều so với các năm trước
Một vấn đề cần lưu ý là khi đánh giá chất lượng tranh tụng thông quatiêu chí tỷ lệ án hủy, cần chú ý một số nguyên nhân khách quan dẫn đến ánhủy, do vậy tỷ lệ án hủy có lúc, có nơi không phản ánh đúng chất lượng truy
tố cũng như chất lượng tranh tụng: cụ thể như, do tòa án nhân dân tối cao cóCông văn số 234/TANDTC-HS ngày 17/9/2014, có nội dung hướng dẫnTòa án các cấp giải quyết các vụ án về tội phạm ma túy theo hướng phải cógiám định bắt buộc về hàm lượng chất ma túy trong chất bị thu giữ nghi làchất ma túy để làm cơ sở giải quyết các vụ án Lâu nay, kể từ khi có Thông
tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSTC-TANDTC-BTP ngày24/12/2007 hướng dẫn thực hiện một số quy định của BLHS về các tội phạm
ma túy, các cơ quan tiến hành tố tụng vẫn giải quyết các vụ án ma túy trên
cơ sở giám định chất ma túy mà không giám định về hàm lượng chất ma túy(trừ hai trưởng hợp theo hướng dẫn của Thông tư số 17) và thông tư 08hướng dẫn bổ sung Thông tư 17 Việc Tòa án yêu cầu nêu trên dẫn đến tìnhtrạng Toàn án nhân dân các cấp, trong đó có Tòa án cấp phúc thẩm đã hoãnxét xử hoặc hủy bản án sơ thẩm nhiều vụ án để yêu cầu giám định hàmlượng chất ma túy, trong khi đó VKSTC và CQĐT có quan điểm trái ngượcvới nội dung của Công văn 234 nói trên Việc nhận thức về tội tổ chức đánhbạc cũng có quan điểm khác nhau nhưng chưa được hướng dẫn, giải thích cụ
Trang 17thể như như: Mạng viễn thông, phương tiện điện tử, hành vi tổ chức vàhướng dẫn điều 2 Nghị quyết 01/2010/NQHĐTP ngày 22/10/2010 còn nhậnthức khác nhau; vai trò đồng phạm trong các vụ án; tội lạm dụng và lừa đảochiếm đoạt tài sản…
2.2.2 Đánh giá kết quả tranh tụng qua các tiêu chí cụ thể
Như ở phần trên đã phân tích, bản chất của tranh tụng là hoạt độngtranh luận của KSV tại phiên tòa trên sơ sở qui định của pháp luật và cácchứng cứ trong hồ sơ cũng như các chứng cứ mới được cung cấp và kiểm tratại phiên tòa Tuy nhiên để có được hoạt động tranh tụng có chất lượng,KSV cần tiến hành những hoạt động mang tính chuẩn bị trước và sau khitranh tụng Do vậy khi đánh giá chất lượng tranh tụng không chỉ dựa vào cáctiêu chí phản ánh hoạt động tranh luận của KSV mà cần phải đánh giá quacác tiêu chí phản ảnh các hoạt động mang tính chuẩn bị trước và sau khitranh tụng
2.2.2.1 Chất lượng nghiên cứu, lập hồ sơ kiểm sát
Theo báo cáo của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, Viện KSND các huyệnthành phố, kết luận kiểm tra công tác nghiệp vụ…công tác lập hồ sơ kiểmsát cơ bản đã tuân thủ quy định tại Quyết định 590/QĐ-VKSTC ngày05/12/2014 Ở giai đoạn sơ thẩm, Kiểm sát viên năm chắc toàn bộ diễn biếncủa vụ án, trích cứu, sao chụp các chứng cứ buộc tội, gỡ tội, các tình tiếttăng nặng, giảm nhẹ TNHS… Ở giai đoạn phúc thẩm, cán bộ nghiên cứu hồ
sơ đã nắm vững các nội dung kháng cáo, kháng nghị và xây dựng hồ sơkiểm sát thể hiện đầy đủ cơ sở giải quyết kháng cáo, kháng nghị
Nhìn chung KSV đã xây dựng đề cương xét hỏi theo Quy chế thựchành quyền công tố và KSXX các vụ án hình sự ban hành kèm Quyết đính
số 505/QĐ-VKSTC ngày 18/12/2017 của Viện trưởng VKSNDTC Có đơn
vị báo cáo 100% hồ sơ xét xử đều lập đề cương xét hỏi Đa số đề cương gắnvới việc nghiên cứu hồ sơ vụ án, dự kiến đầy đủ các tình huống có thể phátsinh tại phiên tòa Nhiều đề cương được xây dựng có chất lượng tốt
2.2.2.2 Chất lượng xây dựng bản luận tội (phiên tòa sơ thẩm), bản phát biểu quan điểm (phiên tòa phúc thẩm) và việc trình bày của KSV tại phiên tòa
Theo đánh giá của các đơn vị, do xác định hoạt động tranh tụng làkhâu đột phá theo tinh thần cải cách tư pháp, do vậy lãnh đạo VKS đã quantâm đến việc chuẩn bị bản luận tội, bản kết luận Bên cạnh quy định chungcủa VKSTC về cách thức xây dựng văn bản, nhiều KSV còn được tập huấn,lựa chọn các văn bản có chất lượng để làm mẫu cho KSV Các báo cáo củaVKS nêu rõ: Đa số các bản luận tội tại phiên tòa sơ thẩm đều đáp ứng đượcyêu cầu như nêu trên tóm tắt được nội dung vụ án, việc dẫn cứ được nguyênnhân, động cơ, phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra; phân tích vai
Trang 18trò, tính chất hành vi phạm tội của từng bị cáo, đánh giá được thân nhân, nêu
và đánh giá đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự;nhận định, phân tích căn cứ giải quyết việc bồi thường, xử lý vật chứng Đốivới bài phát biểu quan điểm tại phiên tòa phúc thẩm đã bám sát các nội dungkháng cáo, kháng nghị, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội,làm cơ sở để xem xét, đưa ra quan điểm đối với kháng cáo, kháng nghị vàđối với việc giải quyết vụ án của cấp sơ thẩm
Bên cạnh chuẩn bị kỹ nội dung bản luận tội hoặc bài phát biểu quanđiểm, tại phiên tòa, nhiều KSV rèn luyện cho mình tác phong chững chạc, tựtin, cách trình bày quan điểm mềm dẻo, thấu tình đạt lý, thái độ đúng mực.Nhiều phiên tòa, dư luận, báo chí và người tham dự phiên tòa đánh giá caonăng lực, trình độ của Kiểm sát viên thông qua việc xây dựng, trình bày bảnluận tội (hoặc bài phát biểu)
2.2.2.3 Kỹ năng và chất lượng xét hỏi đã được nâng lên
Theo quy định tại Quy chế công tác thực hành quyền công tố vàKSXXHS thì KSV có trách nhiệm tham gia xét hỏi Đối với phiên tòa sơthẩm, KSV tham gia xét hỏi nhằm kiểm tra tính có căn cứ của quyết địnhtruy tố của VKS Ở phiên tòa phúc thẩm, việc xét hỏi là cơ sở để nghiên cứu,xem xét, đánh giá tính có căn cứ và tính hợp pháp đối với phán quyết củaTòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị Kiểm sát viên tham gia xéthỏi còn để tìm cơ sở giúp KSV tranh luận với Luật sư và những người thamgia tố tụng khác
Kinh nghiệm cho thấy, trong quan hệ với việc xét hỏi của Thẩm phán
và HĐXX, KSV tham gia xét hỏi trong trường hợp: HĐXX chưa hỏi đến,hỏi về vấn đề có mâu thuẫn chứng cứ, hỏi về vấn đề đã được HĐXX hỏinhưng chưa rõ và hỏi để chuẩn bị cho tranh tụng Việc xét hỏi để chuẩn bịcho tranh tụng là trường hợp qua nghe người bào chữa hỏi bị cáo, người bịhại, KSV đã dự đoán ra những vấn đề, những tình huống mà người bào chữa
sẽ dựa vào tranh luận với KSV sau này, do vậy KSV xét hỏi về những tìnhtiết mới được xét hỏi, kiểm tra để làm cơ sở tranh luận với Luật sư Trongthực tiễn, khi xét hỏi, HĐXX cho dù có xét hỏi nhiều thì cũng rất ít khi xéthỏi hết tất cả các vấn đề liên quan, cần thiết Do vậy vẫn có “đất” để choKSV xét hỏi, làm rõ các vấn đề chưa được HĐXX hỏi đến hoặc chưa rõ
2.2.2.4 Chất lượng tranh luận tại phiên tòa
Trọng tâm của phiên tòa xét xử là tranh luận của Kiểm sát viên vớinhững người tham gia tố tụng khác Đa số các KSV đã thực hiện nghiêm túcviệc tranh luận theo qui định tại Điều 322, Điều 354 BLTTHS, Điều 18, 19Luật tổ chức VKSND, và Quy chế công tác THQCT và KSXX các vụ ánhình sự