1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

BẢN TIN TÁI CƠ CẤU TRONG CÔNG NGHIỆP VÀ THƯƠNG MẠI - SỐ 6/2021

45 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 4,3 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hà Nội: Tiếp sức doanh nghiệp vượt khó trong đại dịchTHÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ Sản xuất công nghiệp của Nga phục hồi mạnh trong 7 tháng đầu năm 2021 Sản xuất công nghiệp Philippin phục hồi tr

Trang 1

Xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh Tr.30

Trang 2

Hà Nội: Tiếp sức doanh nghiệp vượt khó trong đại dịch

THÔNG TIN CHUYÊN ĐỀ

Sản xuất công nghiệp của Nga phục hồi mạnh trong

7 tháng đầu năm 2021 Sản xuất công nghiệp Philippin phục hồi trong tháng 7/2021

Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động tích cực đến lĩnh vực sản xuất của Singapore

Australia chuyển hướng sang nhập khẩu nhiều nhóm hàng Đầu tư và đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp giúp xuất khẩu đồ nội thất bằng gỗ tăng 48,2% trong 8 tháng năm 2021 Giai đoạn 2016 – 2021, xuất khẩu đá quý, kim loại quý

và sản phẩm biến động mạnh Xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh

Ngành thép Việt Nam: Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất

Sự chuyển dịch mạnh mẽ về cơ cấu thị trường xuất khẩu bánh kẹo và sản phẩm từ ngũ cốc của Việt Nam Ngành công nghiệp hóa chất ưu tiên phát triển và áp dụng công nghệ khoa học trong sản xuất

3 3 4 5

8 9 9 13 17

20 24 27 30 34 38 41

Giấy phép xuất bản:

Số 46/GP-XBBT

Cấp ngày 19/8/2021

Ý kiến phản hồi đề nghị liên hệ:

Trung tâm Thông tin

Công nghiệp và Thương mại

Trung tâm Thông tin

Công nghiệp và Thương mại

Trang 3

Dịch Covid-19 diễn biến phức tạp trên cả nước, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động

thương mại và dịch vụ Mức sụt giảm trong 9 tháng năm 2021 của một số ngành dịch vụ chiếm tỷ trọng lớn đã làm giảm tăng trưởng chung của khu vực dịch vụ và toàn bộ nền kinh

tế Theo đó, tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý 3/2021 ước tính giảm 6,17% so với cùng kỳ năm trước, là mức giảm sâu nhất kể từ khi Việt Nam tính và công bố GDP quý đến nay.

Tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa tháng 9/2021 ước tính đạt 53,5 tỷ USD, tăng 4,2%

so với cùng kỳ năm trước Tính chung 9 tháng năm nay, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy trì tốc độ tăng cao, đạt 483,17 tỷ USD, tăng 24,4% so với cùng kỳ năm trước, trong

đó xuất khẩu tăng 18,8%; nhập khẩu tăng 30,5%.

Sản xuất công nghiệp trong quý 3/2021 gặp nhiều khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, nhất là tại các địa phương có khu công nghiệp lớn phải thực hiện giãn cách

xã hội kéo dài Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp quý 3/2021 giảm 3,5% so với cùng kỳ năm trước Tính chung 9 tháng năm 2021, giá trị tăng thêm ngành công nghiệp tăng 4,45% so với cùng kỳ năm 2020 Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 6,05% (quý 1 tăng 8,9%; quý 2 tăng 13,35%; quý 3 giảm 3,24%); ngành khai khoáng giảm 7,17% do sản lượng khai thác dầu thô giảm 6% và khí đốt tự nhiên dạng khí giảm 17,6%.

Trên thị trường tài chính, tăng trưởng tín dụng đạt 7,17%, hỗ trợ tích cực cho tăng trưởng kinh

tế 9 tháng năm 2021 Để hỗ trợ, giảm bớt khó khăn cho doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19, theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, các ngân hàng thương mại lớn trong hệ thống ngân hàng đã giảm lãi suất cho vay đối với những khoản dư nợ từ giữa tháng 7 đến hết năm

2021 Hiện nay, lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân bằng đồng Việt Nam đối với một số ngành lĩnh vực ưu tiên ở mức 4,4%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (4,5%/năm).

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 9/2021 giảm 0,62% so với tháng trước, tăng 1,88% so với tháng 12/2020 So với cùng kỳ năm trước, CPI tháng 9/2021 tăng 2,06%; CPI bình quân quý 3/2021 tăng 2,51% Tính chung 9 tháng năm 2021, CPI tăng 1,82% so với cùng kỳ năm trước, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2016 Lạm phát cơ bản 9 tháng 2021 tăng 0,88%.

Một số thông tin đáng chú ý

- Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 tác động tích cực đến lĩnh vực sản xuất của Singapore

- Xuất khẩu chất dẻo nguyên liệu của Việt Nam liên tục tăng trưởng mạnh

- Ngành thép Việt Nam: Ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất

Trang 4

Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành

đã ký ban hành Chỉ thị 26/CT-TTg ngày

21/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ

về việc thúc đẩy sản xuất, lưu thông, tiêu thụ

và xuất khẩu nông sản trong bối cảnh phòng,

chống dịch bệnh Covid-19

Trong những tháng đầu năm 2021, dưới sự

chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Thủ tướng

Chính phủ và các cấp, các ngành; sản xuất,

tiêu thụ và xuất khẩu nông sản đạt được nhiều

kết quả tích cực Tuy nhiên, đợt dịch Covid-19

lần thứ tư diễn biến phức tạp, lây lan nhanh,

đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động

sản xuất, lưu thông, tiêu thụ, xuất khẩu nông

sản, đặc biệt tại những vùng đang áp dụng

biện pháp giãn cách xã hội; nhiều mặt hàng

nông sản bị tồn đọng với khối lượng lớn, giá

giảm sâu; một số chuỗi sản xuất bị đứt gẫy, ảnh

hưởng tới nguồn cung trong thời gian tới, đặc

biệt trong dịp Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022

Để kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc,

phục hồi sản xuất, lưu thông, tiêu thụ và xuất

khẩu nông sản, Thủ tướng Chính phủ yêu cầu

các bộ, ngành, UBND tỉnh, thành phố trực

thuộc Trung ương tập trung triển khai một số

nhiệm vụ cấp bách sau:

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn chỉ

đạo các địa phương triển khai đồng bộ các giải

pháp bảo đảm không đứt gãy chuỗi sản xuất

nông nghiệp; đồng thời rà soát, chuẩn bị đầy đủ

các điều kiện cho sản xuất vụ tiếp theo, nhất là

các doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu nông sản

ở các tỉnh thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị

16/CT-TTg, bảo đảm đáp ứng đầy đủ nông sản

cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và chế biến, xuất

khẩu trong mọi tình huống, đặc biệt là các tháng

cuối năm và dịp Tết Nguyên đán; tổ chức liên kết

hiệu quả vùng nguyên liệu với sơ chế, chế biến,

bảo quản để nâng cao giá trị gia tăng

Bên cạnh đó, chỉ đạo các địa phương đẩy

mạnh phát triển sản xuất, tiêu thụ, xuất khẩu

nông sản cho các vùng, khu vực đã khống chế

được dịch Covid-19 để hỗ trợ, bù đắp phần

thiếu hụt cho các địa phương khác, nhất là các

tỉnh, thành phố phía nam; tiếp tục phát huy hiệu quả vai trò của hai Tổ công tác chỉ đạo sản xuất, kết nối cung ứng, tiêu thụ nông sản phía bắc và phía nam

Đồng thời, chỉ đạo và tăng cường giám sát việc tái cơ cấu nông nghiệp theo 3 trục sản phẩm (sản phẩm chủ lực quốc gia, đặc sản vùng miền, sản phẩm OCOP) bảo đảm tiến độ

và hiệu quả; xây dựng, triển khai mô hình kinh

tế tuần hoàn, kinh tế số trong nông nghiệp; xây dựng mã số vùng trồng, mã định danh cho cơ

sở chăn nuôi, cơ sở nuôi trồng thủy sản; truy xuất được nguồn gốc sản phẩm, an toàn thực phẩm; tăng cường quảng bá, tiêu thụ nông sản thông qua các kênh xúc tiến thương mại, dịch

vụ, nhất là thương mại điện tử; chỉ đạo, tổ chức triển khai đồng bộ, quyết liệt, hiệu quả các giải pháp phòng, chống các loại dịch bệnh trên vật nuôi, cây trồng và thủy sản

Chủ trì, phối hợp với Bộ Ngoại giao, Bộ Công Thương thúc đẩy mở cửa thị trường xuất khẩu nông sản chính ngạch sang Trung Quốc (sầu riêng, khoai lang, chanh leo, na, bưởi, tổ yến, thủy sản); khẩn trương đàm phán thống nhất với cơ quan liên quan của Trung Quốc giảm tỉ

lệ kiểm dịch động thực vật vào thị trường Trung Quốc; chủ trì, phối hợp với Bộ Công Thương,

Bộ Tài chính và các cơ quan có liên quan đánh giá tác động, phổ biến, hướng dẫn các địa phương, hiệp hội ngành hàng và doanh nghiệp việc thực hiện, đáp ứng các thủ tục, quy định đối với quản lý chất lượng nông sản nhập khẩu của thị trường Trung Quốc tại Lệnh 248, Lệnh

249 có hiệu lực từ 1/1/2022

Chủ trì, phối hợp Bộ Tài chính trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ chính sách hỗ trợ giống (cây trồng, vật nuôi, thủy sản) cho nông dân để khôi phục sản xuất tại các địa phương thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị 16/CT-TTg; phối hợp với các bộ, cơ quan liên quan nghiên cứu,

đề xuất biện pháp phù hợp trong áp dụng hình thức đánh giá trực tuyến thay đánh giá trực tiếp; hoặc gia hạn tối đa 6 tháng các loại giấy phép, giấy chứng nhận, quyết định chỉ định đã hết hạn

CHÍNH PHỦ CHỈ ĐẠO

THÚC ĐẨY SẢN XUẤT, LƯU THÔNG

xuất khẩu nông sản

Trang 5

Ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị đã ban hành

Nghị quyết số 55-NQ/TW về định hướng

chiến lược phát triển năng lượng quốc

gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến

năm 2045 (Nghị quyết 55)

Nghị quyết 55 có nhiều chính sách đột phá

phát triển năng lượng quốc gia như ưu tiên

phát triển năng lượng nhanh và bền vững; rà

soát, bổ sung, điều chỉnh các cơ chế, chính

sách đặc thù cho một số dự án năng lượng

quan trọng, đặc biệt các dự án đầu tư nguồn

điện cấp bách

Nghị quyết 55 khuyến khích và tạo mọi điều

kiện thuận lợi để kinh tế tư nhân tham gia vào

lĩnh vực phát triển năng lượng Nghị quyết đã

đưa ra các định hướng quan trọng, nguyên tắc

mục tiêu để xóa bỏ rào cản, tạo môi trường

thuận lợi minh bạch, thông thoáng cho tư nhân

tham gia đầu tư vào các lĩnh vực năng lượng

Nhằm bảo đảm vững chắc an ninh năng

lượng quốc gia, ngày 11/2/2020, Bộ Chính trị

ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW về Định

hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc

gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến

năm 2045 Với tư cách là bộ quản lý nhà nước

về năng lượng, Bộ Công Thương đã tích cực

tham mưu và chỉ đạo thực hiện những cơ chế

chính sách đảm bảo an ninh năng lượng; phát

triển đồng bộ và hợp lý, đa dạng các loại hình năng lượng theo tinh thần Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị

Bộ Công Thương đã được Chính phủ giao nhiệm vụ xây dựng Quy hoạch điện VIII, đồng thời rà soát bổ sung cho Quy hoạch điện VII điều chỉnh làm sao cho “trúng” và bám sát các định hướng nguyên tắc của Nghị quyết 55 Đặc biệt trong những nội dung lớn liên quan đến cơ cấu của ngành điện, nguồn điện, và đồng bộ với phát triển hệ thống điện, hạ tầng điện.Khi triển khai Nghị quyết 55-NQ/TW, Bộ Công Thương đã chủ động kiểm tra, khảo sát, đánh giá và bàn bạc với các địa phương

để thống nhất tháo gỡ khó khăn để thúc đẩy nhanh hơn nữa tốc độ đầu tư và quy mô đầu

tư cho lĩnh vực hạ tầng điện để đảm bảo năng lượng tái tạo công suất lớn hơn, đặc biệt là khu vực có nhiều tiềm năng như miền Trung, Tây Nguyên, các tỉnh Tây Nam Bộ

Việc rà soát lại trong các quy hoạch nhất là Quy hoạch điện VII hiệu chỉnh trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế tại các khu vực phát triển điện tái tạo để sớm bổ sung vào quy hoạch những dự án nguồn điện quan trọng, các dự

án truyền tải điện đảm bảo hài hòa cho các khu vực là biện pháp đầu tiên mà Bộ Công Thương tham mưu cho Chính phủ và chỉ đạo thực hiện

Phát triển năng lượng

THEO TINH THẦN

Nghị quyết 55 của Bộ Chính trị

Trang 6

Giữ vững đà tăng trưởng xuất khẩu trong

9 tháng đầu năm 2021 dù đang phải đối mặt

với những diễn biến khó lường của dịch bệnh

Covid-19, các doanh nghiệp Việt Nam đã cho

thấy sự chủ động, linh hoạt trong tổ chức

sản xuất trong trạng thái “bình thường mới”,

biến “nguy” thành “cơ” đẩy mạnh xuất khẩu,

đặc biệt khi các thị trường xuất khẩu chủ lực

của ta đã có những tín hiệu tích cực về việc

mở cửa trở lại sau khi các chương trình tiêm chủng mở rộng được thực hiện Bên cạnh

đó, Chính phủ, các Bộ, ngành và địa phương cũng đã và đang thực thi nhiều các giải pháp tháo gỡ khó khăn, đảm bảo tăng trưởng kinh

tế song song với ưu tiên giữ vững hiệu quả công tác phòng, chống dịch

XUẤT KHẨU TRONG 9 THÁNG ĐẦU NĂM 2021

TĂNG TRƯỞNG TÍCH CỰC

dù đại dịch Covid-19 vẫn diễn biến phức tạp

Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam qua các tháng năm 2020 – 2021

(ĐVT: triệu USD)

Nguồn: Tổng cục Hải quan

Xuất khẩu tăng trưởng trong bối cảnh

đại dịch

Sau 9 tháng đầu năm 2021, tổng trị giá

xuất khẩu của Việt Nam ước tính đạt 240,52

tỷ USD, tăng 18,8% so với cùng kỳ năm 2020

Tổng trị giá xuất, nhập khẩu hàng hóa vẫn duy

trì tốc độ tăng cao, đạt 483,17 tỷ USD, tăng

24,4% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu

vực kinh tế trong nước đạt 62,72 tỷ USD, tăng

8,5%, chiếm 26,1% tổng trị giá xuất khẩu; khu

vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô)

đạt 177,8 tỷ USD, tăng 22,8%, chiếm 73,9%

Có 31 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên

1 tỷ USD, chiếm 92,5% tổng kim ngạch xuất

khẩu (trong đó 6 mặt hàng xuất khẩu đạt trên

10 tỷ USD, chiếm 63,2%) Về cơ cấu nhóm

hàng xuất khẩu 9 tháng, nhóm hàng nhiên liệu

và khoáng sản ước đạt 2,66 tỷ USD, tăng 9,0%

so với cùng kỳ năm trước Nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 214 tỷ USD, tăng 19,5% Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 17,7

tỷ USD, tăng 17,6% Nhóm hàng thủy sản đạt 6,17 tỷ USD, tăng 2,4% so với cùng kỳ

Tăng trưởng xuất khẩu đến từ những nguyên nhân chủ yếu sau:

Thứ nhất, việc các quốc gia trên thế giới

đang triển khai mạnh mẽ tiêm vaccine, kích cầu tiêu dùng và dần mở cửa trở lại đã làm tăng nhu cầu đối với các sản phẩm xuất khẩu chủ đạo của Việt Nam như dệt may, da giày,

đồ gỗ, điện tử Các thị trường xuất khẩu chính chứng kiến sự phục hồi rõ rệt ở các ngành hàng chủ lực, chẳng hạn, trong 9 tháng đầu

Trang 7

năm 2021: Tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt

hàng chủ lực thuộc về khu vực có vốn đầu tư

trực tiếp nước ngoài, trong đó: Điện thoại và

linh kiện chiếm 99,1%; điện tử, máy tính và linh

kiện chiếm 98%; máy móc thiết bị, dụng cụ và

phụ tùng chiếm 92,5%; giày dép chiếm 80,5%;

dệt may chiếm 62,6%

Thứ hai, việc triển khai thực thi các FTA có

hiệu quả đã góp phần thúc đẩy tăng trưởng

xuất khẩu Với việc tận dụng ưu đãi mở cửa

thị trường từ các Hiệp định thương mại tự do

mới ký kết như EVFTA, UKVFTA, CPTPP, xuất

khẩu trong 9 tháng đầu năm 2021 sang Mỹ là

thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với

kim ngạch đạt 69,8 tỷ USD, tăng 27,6% so với

cùng kỳ năm trước Tiếp đến là Trung Quốc đạt

38,5 tỷ USD, tăng 18,3% Thị trường EU đạt

28,8 tỷ USD, tăng 11,6% Thị trường ASEAN

đạt 20,6 tỷ USD, tăng 21,2% Hàn Quốc đạt

16,1 tỷ USD, tăng 11,4% Nhật Bản đạt 14,7 tỷ

USD, tăng 5,1%

Trong bối cảnh dịch Covid-19 diễn biến

phức tạp và đã có tác động tiêu cực đến hoạt

động thương mại trên phạm vi toàn cầu, xuất

khẩu của cả nước vẫn có tăng trưởng dương

do các doanh nghiệp đã tận dụng được cơ hội

đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường thay

thế Điều này cho thấy, việc đẩy mạnh các hoạt

động đàm phán, ký kết các FTA đã giúp đa

dạng hóa thị trường xuất khẩu, tránh sự phụ

thuộc quá lớn vào một thị trường

Bên cạnh đó, xuất khẩu đã có sự tăng

trưởng cân đối hơn, không chỉ về quy mô chiều

rộng mà hướng tới cả về chiều sâu Hàng hóa

xuất khẩu của Việt Nam đã tiếp cận được các

khu vực thị trường được coi là “khó tính” nhất

trên thế giới, nơi áp dụng những quy định,

tiêu chuẩn kỹ thuật cao đối với hàng hóa nhập

khẩu, đặc biệt là với nhóm hàng nông sản và

thủy sản

Thứ ba, sức cầu của thị trường thế giới hồi

phục mạnh, trong đó, các nền kinh tế lớn có tốc

độ phục hồi nhanh gây ra sự thiếu hụt, tạo sự

gia tăng giá hàng hóa trên thị trường quốc tế

Giá xuất khẩu tăng góp phần thúc đẩy giá trị xuất

khẩu gia tăng cao so với cùng kỳ năm trước

Khó khăn do tác động của dịch bệnh

Dù tăng trưởng tích cực nhưng tốc độ tăng

trưởng xuất khẩu đã chậm lại hơn so với nhập

khẩu trong những tháng gần đây khiến cán cân thương mại thay đổi từ xuất siêu thành nhập siêu từ tháng 4/2021 Kết quả này phần lớn là

do ảnh hưởng tiêu cực của làn sóng thứ tư của dịch Covid-19 ở Việt Nam

Đại dịch Covid-19 khiến các doanh nghiệp trong ngành phải đối diện với nhiều khó khăn,

cụ thể như: việc tổ chức sản xuất bị hạn chế, vận chuyển nguyên vật liệu và thành phẩm mất nhiều thời gian hơn do các địa phương thực hiện các biện pháp đang giới hạn lượng phương tiện lưu chuyển, năng lực lưu bãi, khai thác tại một số cảng đang ở mức cao và khó duy trì lâu dài Ở thời điểm hiện nay, so với cùng kỳ các năm là giai đoạn sản xuất quan trọng để chuẩn bị nguồn hàng phục vụ các đơn hàng cuối năm tại thị trường Mỹ, EU, dịch bệnh chưa được khắc phục cũng là vấn đề hết sức khó khăn đối với khả năng đáp ứng đơn hàng của đối tác

Làn sóng 4 của dịch bệnh Covid-19 có thể nói là đợt dịch phức tạp, căng thẳng nhất đối với Việt Nam từ trước đến nay Số lượng ca nhiễm lớn và phạm vi vùng dịch rộng khiến nhiều doanh nghiệp đã và đang phải tạm ngừng sản xuất, kinh doanh để thực hiện các biện pháp chống dịch Dịch bệnh đã lây lan sâu vào các khu công nghiệp, sau Bắc Ninh, Bắc Giang, hiện nay là thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương và 19 tỉnh thành phía Nam khác, đây đều là những trung tâm sản xuất công nghiệp, luôn đóng góp cao vào kim ngạch xuất khẩu chung của cả nước

Giải pháp tháo gỡ khó khăn

Ngay khi dịch Covid-19 xuất hiện, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Bộ Công Thương đã quyết liệt chỉ đạo thực thi nhiều biện pháp tháo

gỡ khó khăn nhằm đảm bảo công tác chống dịch, vừa hạn chế thấp nhất ảnh hưởng của dịch bệnh tới hoạt động xuất nhập khẩu

Trước những diễn biến phức tạp của dịch bệnh trong thời gian gần đây, để đảm bảo mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu và tăng trưởng kinh

tế, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ,

Bộ Công Thương đã xây dựng Đề án Phát triển xuất nhập khẩu bền vững trong những tháng cuối năm 2021 và những tháng đầu năm 2022

để Chính phủ và các địa phương thảo luận trong Hội nghị trực tuyến do Thủ tướng Chính

Trang 8

phủ chủ trì vào ngày 16 tháng 6 năm 2021

Ngay sau Hội nghị, Chính phủ đã ban hành

Nghị quyết số 63/NQ-CP ngày 29 tháng 6 năm

2021 về các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thúc

đẩy tăng trưởng kinh tế những tháng cuối năm

2021 và đầu năm 2022 để các Bộ, ngành, địa

phương cùng triển khai thực hiện

Gắn với tình hình trước mắt khi dịch bệnh

đang diễn biến phức tạp, Bộ Công Thương sẽ

phối hợp chặt chẽ với các địa phương vùng

dịch, các Hiệp hội ngành hàng để tìm hiểu, có

biện pháp tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản

xuất, kinh doanh của các doanh nghiệp Ngoài

ra, Bộ đang và tiếp tục triển khai:

Thứ nhất, chú trọng công tác triển khai thực

hiện các Hiệp định thương mại tự do nói chung,

nhất là các FTA thế hệ mới như Hiệp định CPTPP,

EVFTA, UKVFTA Mục tiêu là không chỉ hỗ trợ

các doanh nghiệp nắm được nội dung cam kết

CPTPP, EVFTA mà còn vận dụng và phát huy có

hiệu quả ưu đãi của Hiệp định, từ đó tận dụng tối

đa các cơ hội và hạn chế các thách thức đặt ra từ

những Hiệp định này

Thứ hai, tiếp tục đổi mới, tổ chức các chương

trình xúc tiến thương mại, kết nối cung cầu cả

trong và ngoài nước trên môi trường trực tuyến

và dựa trên những nền tảng mới

Thứ ba, phối hợp với Bộ Giao thông vận

tải và các địa phương với mục tiêu cắt giảm các chi phí khai thác hạ tầng vận tải, cắt giảm chi phí logistics trong các hoạt động xuất nhập khẩu và lưu thông hàng hóa trong nước

Thứ tư, tiếp tục đẩy mạnh công tác đơn giản

hóa thủ tục hành chính Trong đó, tập trung triển khai các thủ tục hành chính về lĩnh vực xuất nhập khẩu theo Cơ chế một cửa quốc gia, một cửa ASEAN để tạo thuận lợi cho Hiệp hội và doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất nhập khẩu

Trong những tháng cuối năm 2021 và đầu năm 2022, nhu cầu đối với hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam được kỳ vọng sẽ tiếp tục tăng cao theo chu kì xuất nhập khẩu hàng hóa và tín hiệu phục hồi của cầu hàng hóa trên thị trường thế giới, đặc biệt là đối với ngành điện

tử, máy móc thiết bị, đồ gỗ, hàng dệt may và thủy sản,…Hơn nữa, các hiệp định thương mại

tự do, đặc biệt là CPTPP, EVFTA và UKVFTA, đang dần được thực thi một cách toàn diện hơn, hiệu quả hơn, dự báo hoạt động xuất nhập khẩu sẽ tiếp tục khởi sắc Bên cạnh đó, với kinh nghiệm triển khai phòng chống dịch bệnh cùng các biện pháp quyết liệt, sáng tạo, các Bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp

sẽ thích ứng nhanh hơn để vượt qua khó khăn, chủ động chuyển hướng để nắm bắt hiệu quả những cơ hội từ bối cảnh mới

Trang 9

Do ảnh hưởng của dịch Covid-19, từ đầu

năm đến nay, sản xuất kinh doanh trên

địa bàn Hà Nội gặp nhiều khó khăn Trên

cơ sở chỉ đạo của Trung ương, Thành phố đã

triển khai các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó

khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an

sinh xã hội ứng phó với dịch Covid-19

Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19,

TP.Hà Nội đã tích cực triển khai các giải pháp

cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh

doanh, bảo đảm an sinh xã hội

Cùng với nhiệm vụ phòng, chống dịch,

Thành phố đã chỉ đạo quyết liệt đẩy mạnh cải

cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ

thông tin, mở rộng các dịch vụ công trực tuyến

mức độ 3, 4 theo hướng hỗ trợ người dân và

doanh nghiệp tối đa

Thực hiện tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành

chính nhanh gọn, đúng quy trình, quy định Hà

Nội hiện đã có 182/304 dịch vụ công trực tuyến

đạt mức độ 3, 4, trong đó 150 dịch vụ công đã

được tích hợp Cổng Dịch vụ công quốc gia, đạt

161% kế hoạch Chính phủ giao; 98% doanh

nghiệp đang hoạt động khai thuế qua mạng;

trên 96% doanh nghiệp thực hiện nộp thuế

điện tử

Các giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh

nghiệp bị ảnh hưởng do dịch bệnh Covid-19 đã

được triển khai như: Hỗ trợ kinh phí cho doanh nghiệp thành lập mới; hướng dẫn trả lương ngừng việc, giải quyết chế độ cho người lao động trong thời gian ngừng việc; tiếp nhận hồ

sơ, giải quyết tạm dừng đóng vào quỹ hưu trí,

tử tuất đối với các doanh nghiệp gặp khó khăn

do dịch bệnh; chỉ đạo các ngân hàng thương mại thực hiện tốt chương trình kết nối ngân hàng - doanh nghiệp

Thực hiện các gói hỗ trợ cho vay sản xuất, kinh doanh như: Cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi vay, giữ nguyên nhóm nợ, giảm phí đối với khách hàng gặp khó khăn do ảnh hưởng của dịch Covid-19 Các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã chú trọng tăng trưởng tín dụng, đưa ra nhiều gói chương trình tín dụng ưu đãi,

áp dụng các chính sách lãi suất linh hoạt, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp tiếp cận vốn cho sản xuất kinh doanh

Thành phố đã xây dựng một số nhóm chính sách hỗ trợ đặc thù trình Hội đồng nhân dân Thành phố thông qua như: Hỗ trợ chi thường xuyên cho các đơn vị sự nghiệp công lập có nguồn thu bị sụt giảm lớn do ảnh hưởng của dịch Covid-19; hỗ trợ 50% tiền thuê nhà trong

3 tháng đối với sinh viên đang thuê nhà tại các khu nhà ở Pháp Vân - Tứ Hiệp, Mỹ Đình

II và công nhân thuê nhà tại khu nhà ở xã Kim Chung; bổ sung thêm đối tượng được hưởng chế độ đặc thù trong phòng chống dịch; hỗ trợ kinh phí chuyển trả kết quả thực hiện thủ tục hành chính về đăng ký doanh nghiệp tại trụ sở của doanh nghiệp…

Với tinh thần chủ động, triển khai tích cực, đồng bộ của hệ thống chính trị nên công tác hỗ trợ cho người dân, doanh nghiệp gặp khó khăn

do ảnh hưởng của dịch Covid-19 theo các Nghị quyết của Chính phủ và các văn bản chỉ đạo của UBND Thành phố đã được triển khai kịp thời, cơ bản đúng đối tượng và thời gian, bảo đảm an sinh xã hội; góp phần xây dựng mối quan hệ lao động hài hòa, ổn định trong doanh nghiệp, thúc đẩy sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế của Thủ đô

HÀ NỘI

TIẾP SỨC DOANH NGHIỆP

vượt khó trong đại dịch

Trang 10

Theo Cơ quan thống kê Nga (Rosstat),

kinh tế Nga giảm 3,1% vào năm 2020,

đây là mức giảm mạnh nhất trong 11

năm qua Kinh tế Nga giảm trong năm 2020 do

tác động của đại dịch Covid-19, khi chính sách

đóng cửa được áp dụng và nhu cầu dầu trên

thế giới giảm mạnh

Tình hình sản xuất công nghiệp của Nga

giảm xuống mức rất thấp trong năm 2020, đạt

97,9% từ mức 103,4% trong năm 2019 Tính chung trong giai đoạn 2016 - 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp của Nga có tốc độ bình quân giảm 0,9%

Trong 7 tháng đầu năm 2021, chỉ số sản xuất công nghiệp của Nga đã phục hồi mạnh trở lại, đạt 104,4% từ mức 97,7% trong 7 tháng đầu năm 2020 Mức tăng trưởng cao trong 7 tháng đầu năm 2021 là do trong cùng thời kỳ năm 2020 chỉ số sản xuất công nghiệp ở mức thấp bởi ảnh hưởng của dịch Covid-19 Chỉ số công nghiệp tăng trưởng cả ở 4 lĩnh vực trong 7 tháng đầu năm 2021 như: chỉ số khai khoáng và khai thác đạt 101,5% từ mức 94,7% trong 7 tháng đầu năm 2020; chỉ số ngành sản xuất đạt 105,6% từ mức 100,4%; cung cấp điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí đạt 107,6% từ mức 96,5%; cung cấp nước; xử lý nước, tổ chức thu gom và

sử dụng chất thải, các hoạt động loại bỏ ô nhiễm đạt 121,0% từ mức 97,5%

Sản xuất công nghiệp

CỦA NGA

phục hồi mạnh trong 7 tháng đầu năm 2021

Chỉ số sản xuất công nghiệpcủa Nga giai đoạn 2016- 2020 và 7 tháng năm 2021

(ĐVT: %)

94,0 96,0 98,0 100,0 102,0 104,0 106,0

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 7T/2021

công nghiệp của Nga có dấu hiệu giảm tốc

so với mức tăng mạnh liên tục kể từ tháng

4/2021, nhưng vẫn tăng 6,8% so với mức

giảm 5,7% trong tháng 7/2020 Trong đó,

chỉ số ngành cung cấp nước; xử lý nước,

tổ chức thu gom và sử dụng chất thải, các

hoạt động loại bỏ ô nhiễm có mức giảm

nhanh nhất đạt 16,7% trong tháng 7/2021

từ mức 33,5% trong tháng 6/2021; Tiếp theo chỉ số ngành sản xuất trong tháng 7/2021 đạt 3,4% từ mức 7,6% trong tháng 6/2021 Các ngành khác như khai khoáng và khai thác cũng giảm tốc trong tháng 7/2021, đạt 11,6% trong tháng 7/2021, từ mức 13,7% trong tháng 6/2021; cung cấp điện, khí đốt, hơi nước và điều hoà không khí đạt 6,5%

từ mức 8,1% trong tháng 6/2021

Trang 11

Chỉ số sản xuất công nghiệp của Nga qua các tháng năm 2020 - 2021

(ĐVT: So sánh theo năm cơ sở 2018 = 100;%)

1.5 4.9 2.7

-4.4 -7.8 -6.7 -5.7 -4 -3.4 -5 -1

3.8

-2.2 -3.6

1.6 7.2

15

Nguồn: Cơ quan thống kê Nga

Hầu hết các lĩnh vực sản xuất tiêu dùng

của Nga có xu hướng giảm trong tháng 7/2021

in ấn và sao chép của các hãng thông tin; sản xuất thuốc và nguyên liệu dùng cho y tế; sản xuất thiết bị điện; sản xuất máy móc và thiết bị.Sản xuất công nghiệp của Nga đang có xu

hướng phục hồi mạnh trở lại Theo đó, hoạt

động ngoại thương của Nga cũng tăng mạnh

Theo số liệu thống kê từ cơ quan hải quan

Nga, trong 7 tháng đầu năm 2021, kim ngạch

thương mại của Nga đạt 420,8 tỷ USD và tăng

34,3% so với cùng kỳ năm 2020 Thặng dư

thương mại của Nga trong 7 tháng đầu năm

2021 đạt 95,5 tỷ USD, tăng 181,7% so với

cùng kỳ năm 2020.Trong đó, Nga xuất khẩu

hàng hoá đạt 258,2 tỷ USD, tăng 37,7% so với

cùng kỳ năm 2020 Nhập khẩu hàng hoá của

Nga đạt 162,6 tỷ USD và tăng 29,2% so với

cùng kỳ năm 2020

Ngân hàng Thế giới (WB) nâng dự báo tăng

trưởng kinh tế Nga lên 3,2% vào năm 2021 và

duy trì tốc độ này sang năm 2022 Dự báo này

khả quan hơn so với mức tăng 2,9% và 3,2%

tương ứng cho hai năm trên được đưa ra hồi

tháng 3/2021 Điều này cho thấy nền kinh tế

Nga đang phục hồi sau cuộc suy thoái do đại

dịch Covid-19 gây ra Kinh tế phục hồi thì nhu

cầu tiêu thụ hoá và nhập khẩu hàng hoá chế

biến xuất khẩu tăng nhanh tại thị trường Nga

Trong khi đó ngành công nghiệp của Nga chủ

yếu tập trung vào lĩnh vực khai khoáng, theo đó

Nga có nhu cầu lớn trong nhập khẩu các mặt hàng tiêu dùng và sản xuất, cụ thể: Trong 7 tháng đầu năm 2021, Nga nhập khẩu máy móc thiết bị với tỷ trọng lớn nhất chiếm 49,6% tổng trị giá nhập khẩu hàng hoá, trị giá nhập khẩu nhóm hàng này tăng 28,9% so với cùng kỳ năm

2020 Tiếp theo là nhóm hàng hoá chất chiếm 18,1%, trị giá nhóm hàng này tăng 24,5%; Tỷ trọng nhập khẩu các sản phẩm lương thực và nguyên liệu để sản xuất trong 7 tháng đầu năm

2021 chiếm 11,8%, trị giá tăng 13,4%; Tỷ trọng nhóm hàng dệt may và da giày trong chiếm 5,8%, trị giá nhập khẩu tăng 15,6%; Tỷ trọng nhóm hàng kim loại và sản phẩm kim loại chiếm 6,9% tổng trị giá nhập khẩu, tri giá tăng 28,8%

…Đáng chú ý, trong cơ cấu các mặt hàng tiêu dùng Nga có nhu cầu nhập khẩu đều là các mặt hàng Việt Nam có thế mạnh như: Điện tử, dệt may, da giày…

Đáng chú ý, thương mại giữa Nga và Việt Nam đã tăng mạnh, đặc biệt trong bối cảnh Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên minh Kinh tế Á - Âu (VN - EAEU FTA) đã có hiệu lực từ ngày 5/10/2016 Tình hình thương mại giữa Nga và Việt Nam trong giai đoạn năm

2016 - 2020 tăng trưởng đáng kể, với tốc độ

Trang 12

Chỉ số sản xuất theo ngành công nghiệp của Nga từ tháng 1 đến tháng 7/2021

(ĐVT: So sánh theo năm cơ sở 2018 = 100; %)

T01 T02 T03 T04 T05 T06 T07 Sản xuất công nghiệp (B, C, D, E) 97,8 96,4 101,6 107,2 111,9 110,2 106,8

D - Ngành sản xuất và phân phối điện 107,4 108,0 109,3 105,3 108,1 108,1 106,5

E - Ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và

xử lý rác thải, nước thải 115,2 110,4 114,5 130,5 126,4 133,5 116,7

Khai thác dầu thô và khí thiên nhiên 91,4 88,0 92,2 94,1 111,5 113,0 111,0

Khai thác khoáng sản khác 90,1 113,3 102,9 195,4 128,0 154,9 132,5Cung cấp các dịch vụ trong lĩnh vực khai thác 90,1 91,0 105,1 105,7 114,8 116,3 116,7

Sản xuất các sản phẩm thuốc lá 108,9 98,2 114,6 122,0 96,0 93,9 96,1Sản xuất hàng dệt may 110,7 114,0 110,5 120,9 121,2 106,0 102,4

Sản xuất da và các sản phẩm từ da 89,6 93,3 106,7 170,0 123,4 112,0 108,6Chế biến gỗ và sản xuất các sản phẩm bằng gỗ và

nứa, trừ đồ nội thất, sản xuất các sản phẩm bằng

rơm và vật liệu tết bện 104,6 98,8 107,2 126,9 120,4 109,5 106,2Sản xuất giấy và các sản phẩm từ giấy 104,8 103,3 104,4 112,4 120,2 110,6 109,5Hoạt động in ấn và sao chép của các hãng thông

Sản xuất than cốc và các sản phẩm dầu mỏ 91,9 90,5 96,3 104,8 109,8 109,8 104,1Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất 108,9 103,6 104,5 107,8 109,1 109,6 103,0Sản xuất thuốc và nguyên liệu dùng cho y tế 182,6 130,2 121,2 99,6 103,5 109,9 116,2Sản xuất sản phẩm cao su và nhựa 111,3 104,0 109,7 127,6 122,9 105,4 103,9Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác 96,1 93,5 101,5 119,1 114,8 109,5 107,1

Sản xuất thành phẩm bằng kim loại, trừ máy móc,

Nguồn: Cơ quan thống kê Nga

Việt Nam xuất khẩu nhiều nhất điện thoại

các loại và linh kiện sang thị trường Nga, tuy

nhiên kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này trong

8 tháng đầu năm 2021 đạt 671,2 triệu USD,

giảm 15,3% so với cùng kỳ năm 2020 Đáng

chú ý, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng tiếp

theo đều tăng như: Máy vi tính, sản phẩm linh

kiện và điện tử đạt 307,99 triệu USD, tăng

10,7%; Hàng dệt may đạt 247 triệu USD, tăng

51%; Máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác

đạt 134,1 triệu USD, tăng 84%; Hàng thuỷ sản đạt 114,7 triệu USD, tăng 53,7% so với cùng kỳ năm 2020 Các mặt hàng xuất khẩu chỉ chiếm

tỷ trọng nhỏ trong tổng kim ngạch xuất khẩu sang Nga nhưng đạt tốc độ tăng trưởng rất cao như: Cao su đạt 18,9 triệu USD, tăng 260,8%; Túi xách, ví, vali, mũ, ô, dù tăng 56,5%; Sản phẩm gốm sứ đạt 1,3 triệu USD, tăng 69,1% so với cùng kỳ năm 2020

Trang 13

Việc đa dạng hoá thị trường xuất khẩu

là rất cần thiết trong bối cảnh dịch Covid-19

vẫn đang diễn biến phức tạp Với dân số gần

145,88 triệu người, cùng với những ưu đãi

thuế quan khi Nga gia nhập Tổ chức Thương

mại thế giới (WTO) và Hiệp định thương mại

tự do (FTA), Nga hiện đang là thị trường

truyền thống của hàng hóa xuất khẩu Việt

Nam Các mặt hàng điện tử, dệt may, da giày,

thủy sản, cà phê của Việt Nam ngày càng

được người tiêu dùng Nga quan tâm sử dụng

Trong đó, hàng dệt, may của Việt Nam có rất

nhiều tiềm năng xuất khẩu sang thị trường

Nga, kim ngạch xuất khẩu hàng dệt, may

sang Nga chỉ đạt trung bình 191 triệu USD/

năm, chiếm 6,1% tổng trị giá nhập khẩu trung bình hàng dệt may của Nga trong giai đoạn

2016 - 2020 Do đó, vẫn còn rất nhiều dư địa

để ngành hàng dệt may đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Nga trong thời gian tới Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới phải vượt qua nhiều khó khăn để phục hồi sau đại dịch Covid-19, trong thời gian tới, Việt Nam và Nga cần tăng cường các giải pháp để khắc phục những hạn chế còn tồn tại, góp phần phát triển hơn nữa quan hệ kinh tế giữa hai bên.Tận dụng triệt để các ưu đãi từ Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh Kinh tế Á - Âu (FTA VN - EAEU)

Trang 14

Diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 tác

động tiêu cực đến sự phục hồi kinh tế

của Philippin, song đại dịch Covid-19

cũng giúp đẩy nhanh quá trình chuyển đổi kỹ

thuật số Theo nghiên cứu của ADB, cách mạng

công nghiệp 4.0 đã giúp cho các nền kinh tế

khu vực Đông Nam Á nói chung, Philippin nói

riêng phục hồi sản xuất nhanh hơn và hiệu quả

hơn

Philippin đặt mục tiêu sẽ tạo ra một ngành

công nghiệp sản xuất cạnh tranh toàn cầu Tầm

nhìn là tạo ra một ngành công nghiệp sản xuất

cạnh tranh toàn cầu với các mối liên kết mạnh

mẽ để đóng vai trò là trung tâm trong mạng lưới

sản xuất ô tô, điện tử, hàng may mặc và thực

phẩm trong khu vực và quốc tế và được hỗ trợ

bởi các chuỗi cung ứng được quản lý tốt Do

đó, trong giai đoạn 2022 - 2025, Philippin tiếp

tục nâng cấp công nghệ để duy trì một ngành

sản xuất sáng tạo và cạnh tranh toàn cầu Đơn

cử như: Ngành công nghiệp bán dẫn và điện tử

của Philippin là ngành đóng góp lớn nhất cho

lĩnh vực sản xuất của nước này Tiềm năng cho

ngành vẫn còn cao, do các công ty thành viên

có ý định chuyển sang sản xuất có giá trị gia

tăng cao hơn để đáp ứng nhu cầu toàn cầu

Các công ty này có kế hoạch nâng cao năng

lực sản xuất hiện tại, mở rộng khả năng nghiên

cứu và phát triển và thiết kế hiện tại, đồng thời

phát triển hơn nữa lực lượng lao động trong

vài năm tới Ngành công nghiệp đang nỗ lực

để tăng chỉ số sản xuất chất bán dẫn và điện

tử của đất nước bằng cách xác định nhu cầu

của khách hàng, hiểu cơ sở của nhà cung cấp,

phát triển các năng lực liên quan, phù hợp với cung và cầu của ngành và tiến hành đánh giá định kỳ về hiệu suất của nó Ngoài ra, ngành công nghiệp khuyến nghị chính phủ tiếp tục với chương trình học bổng cho các nhà điều hành và kỹ thuật viên, cải thiện môi trường kinh doanh của đất nước, tiến hành phát triển năng lực R&D, và tích cực thúc đẩy các ngành công nghiệp địa phương và các doanh nghiệp vừa

và nhỏ thông qua các cơ quan đầu tư ra nước ngoài

Tầm nhìn của ngành công nghiệp phụ tùng

ô tô là củng cố vị thế của Philippin với tư cách

là một nhà sản xuất ô tô quan trọng trong trung hạn và trở thành một trung tâm khu vực về phương tiện và phụ tùng ở châu Á với sự hỗ trợ của cơ sở nhà cung cấp nội địa mạnh mẽ Mục tiêu của ngành là: (1) phát triển một ngành công nghiệp phụ tùng ô tô có tính cạnh tranh quốc tế và khả thi về chủng loại sản phẩm, giá cả, chất lượng và giao hàng đúng hạn; (2) nâng cao giá trị gia tăng và năng lực địa phương trong ngành công nghiệp phụ tùng ô

tô thông qua cải tiến quy trình, công nghệ và nguồn nhân lực; và (3) thúc đẩy các nhà sản xuất linh kiện và phụ tùng hướng tới xuất khẩu Ngành công nghiệp nội thất Philippin đặt mục tiêu trở thành nhà đổi mới thiết kế toàn cầu hoặc trung tâm cho các sản phẩm sử dụng vật liệu bền vững vào năm 2030, với thị trường trong nước và quốc tế phát triển mạnh và lực lượng lao động cạnh tranh và năng động Để đạt được điều này, ngành sẽ tập trung các chương trình của mình vào 4 yếu tố phát triển chính: 1) phát triển sản phẩm, 2) tiếp thị, 3) nâng cao năng lực và 4) vận động chính sách Ngành công nghiệp gang thép của Philippin

là một thành phần quan trọng trong việc đạt được tăng trưởng kinh tế toàn diện và phát triển bền vững Ngành công nghiệp này cung cấp các yếu tố đầu vào cần thiết cho việc xây dựng cơ sở hạ tầng, sản xuất và phân phối điện, các phương tiện giao thông và phương tiện, sản xuất máy móc và thiết bị - tất cả đều quan trọng đối với sự phát triển lâu dài của một quốc gia Đầu ra của ngành được sử dụng

SẢN XUẤT CÔNG NGHIỆP PHILIPPIN

phục hồi trong tháng 7/2021

Trang 15

bởi cả các doanh nghiệp thương mại và công

nghiệp, chẳng hạn như điện tử, sản xuất thiết

bị và đóng tàu, trong số những doanh nghiệp

khác Ngành công nghiệp giấy của Philippines

mong muốn đạt được khả năng đáp ứng tất cả

các yêu cầu về bột giấy và giấy chính của đất

nước, đồng thời phát triển các sản phẩm giấy

và bột giấy có giá trị và chất lượng cao trong

dài hạn, theo cách cạnh tranh quốc tế và bền vững với môi trường…

Theo Cơ quan Thống kê Philippin, chỉ số sản xuất toàn bộ ngành công nghiệp của Philippin giai đoạn 2016 - 2020 giảm bình quân 0,7%/năm, từ 134,5 điểm vào năm 2016 xuống mức thấp nhất 130,5 điểm vào năm 2020, do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19

Chỉ số sản xuất của toàn bộ ngành công nghiệp của Philippin giai đoạn 2016 - 2020

dép của Philippin giảm bình quân 1,4%/năm và

3,7%/năm, từ 191,2 điểm và 332,9 điểm năm

2016 xuống 180,5 điểm và 285,3 điểm năm

2020 Ngược lại, chỉ số sản xuất các ngành

công nghiệp đồ uống, sản xuất thuốc lá, nội

thất và đồ đạc tăng trưởng bình quân 5,9%/

năm, 14,6%/năm và 12,9%/năm

Đối với nhóm hàng hóa trung gian, chỉ số sản

xuất nhiều mặt hàng công nghiệp của Philippin

giảm trong giai đoạn 2016 - 2020 Đơn cử như:

chỉ số sản xuất gỗ và sản phẩm từ gỗ giảm

4,8%/năm, chỉ số sản xuất giấy và sản phẩm

từ giấy giảm 2,3%/năm Ngược lại, chỉ số sản

xuất sản phẩm từ dầu mỏ và sản phẩm khoáng

phi kim loại tăng trưởng bình quân 3,9%/năm

và 1,7%/năm

Đối với nhóm tư liệu sản xuất, chỉ số

sản xuất nhiều mặt hàng công nghiệp của

Philippin giảm trong giai đoạn 2016 - 2020,

gồm: các ngành công nghiệp kim loại cơ bản,

máy móc trừ điện, thiết bị vận tải, xi măng

Ngược lại, chỉ số sản xuất máy móc chạy

bằng điện và sắt và thép tăng trưởng bình

quân 0,3%/năm và 1,8%/năm

Cơ cấu hàng sản xuất công nghiệp của Philippin và Việt Nam có khá nhiều nét tương đồng Philippin thúc đẩy sản xuất các ngành công nghiệp: Sản phẩm điện tử, hàng may mặc, phụ tùng ô tô, ngành ô tô, hóa chất, sản xuất gỗ,

đồ nội thất, sắt và thép, giấy, chất dẻo, cao su, rau quả chế biến, sản xuất khoáng phi kim loại

… phục vụ cho cả tiêu dùng nội địa và xuất khẩu Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có cơ hội tăng xuất khẩu các sản phẩm điện tử, đồ gia dụng, máy móc và thiết bị công nghiệp vào thị trường Philippin do nhu cầu nhập khẩu mặt hàng này rất lớn nhờ vào

sự tăng trưởng kinh tế và bùng nổ của lĩnh vực xây dựng tại nước này

Tháng 7/2021 chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp của Philippin đạt 90,6 điểm, tăng

so với 89,8 điểm trong tháng 6/2021, nhưng thấp hơn so với 92 điểm tháng 7/2020 Xu hướng tăng sản xuất công nghiệp trong tháng 7/2021 của Philippin được đóng góp bởi sự gia tăng của 15 trong tổng số 22 ngành Trong đó, đóng góp vào sự tăng trưởng của ngành công nghiệp Philippin trong tháng 7/2021 so với tháng 7/2020, gồm: sản xuất

Trang 16

than cốc và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế;

sản xuất thực phẩm; sản xuất đồ uống; sản

xuất hàng dệt, may; sản xuất quần áo; giấy

và sản phẩm từ giấy; sản xuất hóa chất và

sản phẩm từ hóa chất … Ngược lại, chỉ số

sản xuất một số ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp của Philippin giảm, như: sản xuất gỗ

và sản phẩm từ gỗ; sản xuất các sản phẩm từ khoáng phi kim loại; sản xuất máy tính, điện

tử và các sản phẩm quang học…

Chỉ số sản xuất một số ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp của Philippin giai đoạn

2016 - 2020 (Đvt: điểm chỉ số) Ngành công nghiệp Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020

Tốc độ tăng/giảm bình quân giai đoạn 2016 - 2020 (%/năm)

Hàng tiêu dùng

Sản xuất thực phẩm 191,2 191,7 187,5 179,7 180,5 -1,4 Các ngành công nghiệp đồ uống 190,6 192,4 220,7 227,9 238,5 5,9 Sản xuất thuốc lá 196,2 213,9 301,9 313,7 327,3 14,6 Giày dép, quần áo 332,9 328,6 324,6 300,1 285,3 -3,7 Nội thất và đồ đạc 9,0 7,3 6,9 10,9 12,9 12,9

Hàng hóa trung gian

Gỗ và sản phẩm gỗ 88,7 89,4 87,4 80,3 72,6 -4,8 Giấy và các sản phẩm từ giấy 123,2 121,6 123,3 123,4 111,6 -2,3 Xuất bản và in ấn 311,0 319,4 329,9 333,6 338,3 2,1

Da và sản phẩm da 144,1 120,0 109,6 98,9 89,4 -11,2 Sản phẩm nhựa và cao su 150,3 145,7 138,9 145,4 140,3 -1,6 Sản phẩm cao su 75,2 74,2 73,4 76,1 73,6 -0,5 Sản phẩm hóa chất 156,5 154,2 151,5 142,1 135,7 -3,5 Sản phẩm từ dầu mỏ 247,4 285,6 332,0 315,0 280,4 3,9 Sản phẩm khoáng phi kim loại 147,6 138,1 146,8 159,8 156,5 1,7

Tư liệu sản xuất

Các ngành công nghiệp kim loại

cơ bản 161,5 167,5 175,2 164,1 157,7 -0,5Máy móc trừ điện 91,3 86,8 93,9 92,7 88,9 -0,5 Máy móc chạy bằng điện 116,7 115,9 123,5 121,8 117,6 0,3 Thiết bị vận tải 117,8 118,0 116,9 114,6 105,5 -2,7

Xi măng 184,4 156,0 164,6 169,5 168,9 -1,8 Sắt và thép 172,3 185,7 198,0 190,4 183,9 1,8

Ngành sản xuất khác 79,2 82,1 86,0 83,6 82,0 0,9

Nguồn: Cơ quan Thống kê Philippin Ghi chú: Năm 2000 là năm cơ sở

Tháng 7/2021, có 19 trên tổng số 22 ngành

công nghiệp của Philippin có tỷ lệ sử dụng công

suất trung bình trên 50%, dẫn đầu là sản xuất

các sản phẩm từ khoáng phi kim loại (81,1%);

sản xuất các sản phẩm thuốc lá (78,3%) và sản

xuất đồ nội thất (74,1%) Ngoài ra, có tới 1/4 cơ

sở sản xuất hoạt động hết công suất

Như vậy, sản xuất công nghiệp phục hồi là

động lực thúc đẩy Philippin tăng nhập khẩu

nguyên phụ liệu nhằm phục vụ nhu cầu chế

biến trong nước Theo số liệu thống kê từ

Cơ quan Hải quan Philippin, giai đoạn 2016 -

2020, nhập khẩu hàng hóa của nước này tăng

trưởng bình quân0,4%/năm, từ mức thấp nhất

402,64 tỷ USD năm 2016 tăng lên mức cao nhất 466,11 tỷ USD vào năm 2018, nhưng sau

đó giảm dần xuống 404,28 tỷ USD năm 2020,

do ảnh hưởng tiêu cực của đại dịch Covid-19 Philippin nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam giai đoạn 2016 - 2020 tăng 12,6%/năm, từ 1,96

tỷ USD năm 2016 tăng lên mức cao nhất 3,64

tỷ USD vào năm 2019, sau đó giảm xuống 2,94

tỷ USD vào năm 2020 Thị phần hàng hóa của Việt Nam trong tổng kim ngạch nhập khẩu của Philippin giai đoạn 2016 - 2020 chiếm bình quân 2,9%/năm Trong đó, Philippin nhập khẩu chủ yếu các mặt hàng từ Việt Nam, gồm: ngũ cốc (HS 10); máy móc, thiết bị điện và các bộ

Trang 17

phận, máy ghi âm và tái tạo âm thanh, ti vi (HS

85); muối, lưu huỳnh, đất và đá, vật liệu trát, vôi

và xi măng (HS 25); sắt và thép (HS 72); máy

móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác (HS 84); cà

phê, trà và gia vị (HS 09) Đáng chú ý, thị phần các mặt hàng có mã HS 25 và HS 09 chiếm lần lượt 50,48% và 63,33% tổng kim ngạch nhập khẩu của Philippin trong năm 2020

Kim ngạch nhập khẩu hàng hoá của Philippin giai đoạn 2016 - 2020 và 7 tháng đầu năm 2021

(ĐVT: Tỷ USD)

Nguồn: Cơ quan Hải quan Philippin

Trong 7 tháng đầu năm 2021, nhập khẩu hàng

hóa của Philippin đạt 63,7 tỷ USD, tăng mạnh

30,26% so với 7 tháng đầu năm 2020 Sự phục hồi

sản xuất trong nước và chi tiêu tiêu dùng tăng là

động lực giúp Philippin đẩy mạnh nhập khẩu Theo

Cơ quan Thống kê Philippin, quý II/2021 nền kinh

tế Philippin đã ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất

trong 30 năm qua với mức tăng 11,8% so với quý

II/2020, nhờ sự phục hồi trong hoạt động xây dựng

và chi tiêu tiêu dùng Việc mở cửa lại nền kinh tế

một cách an toàn, thực hiện các biện pháp phục hồi

và tăng tốc triển khai chiến dịch tiêm chủng vắc xin

sẽ tạo nền tảng cho tăng trưởng

Trong 7 tháng đầu năm 2021, Philippin nhập

khẩu hàng hóa từ Việt Nam đạt 2,34 tỷ USD,

tăng 31,6% so với 7 tháng đầu năm 2020 Thị

phần hàng hóa của Việt Nam trong tổng kim

ngạch nhập khẩu của Philippin chiếm 3,68%

trong 7 tháng đầu năm 2021, cao hơn so với

3,64% trong 7 tháng đầu năm 2020

Qua số liệu thống kê trên có thể thấy, Philippin

tăng nhập khẩu hầu hết các mặt hàng có thế mạnh

của Việt Nam trong giai đoạn 2016 - 2020 và trong

7 tháng đầu năm 2021, bất chấp diễn biến phức tạp

của đại dịch Covid-19 Bên cạnh đó, nhập khẩu các

mặt hàng trên chiếm tỷ trọng thấp trong tổng kim

ngạch nhập khẩu của Philippin Do đó, Việt Nam

còn nhiều tiềm năng để tăng xuất khẩu hàng hóa

sang thị trường Philippin trong thời gian tới, nhất

là những mặt hàng chủ lực, gồm: sắt thép các loại, clanhke và xi măng, máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác, điện thoại các loại và linh kiện, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, phương tiện vận tải và phụ tùng, hàng dệt, may, kim loại thường khác và sản phẩm, sản phẩm hóa chất…

Cập nhật số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, 8 tháng đầu năm 2021, mặc dù chịu ảnh hưởng nặng nề từ đại dịch Covid-19, nhưng kim ngạch xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Philippin tăng trưởng khả quan 19%

so với 8 tháng đầu năm 2020, đạt xấp xỉ 2,9 tỷ USD Trong đó, có tới 28/34 mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Philippin tăng Đáng chú

ý, kim ngạch xuất khẩu than các loại tăng tới 1.023,5% và 5 mặt hàng xuất khẩu ghi nhận mức tăng trưởng 3 con số như: phân bón các loại tăng 260,7%; sắt thép các loại tăng 156%; chè tăng 116,3%; dây điện và dây cáp điện tăng 109,9%; kim loại thường khác và sản phẩm tăng 103,3%

Trang 18

Singapore - một trong những nền kinh tế

cạnh tranh nhất châu Á - đã áp dụng liên

tục các sáng kiến của cuộc cách mạng

Công nghiệp 4.0 như Internet of Things (IOT),

robot và trí tuệ nhân tạo (AI) vào lĩnh vực sản

xuất

Sản xuất chiếm 1/5 tổng sản phẩm quốc nội

(GDP) của Singapore Đây cũng là nước xuất

khẩu sản phẩm công nghệ cao lớn thứ tư toàn

cầu Trong thập kỷ qua, các nhà sản xuất ở

Singapore đã phải đối mặt với áp lực kép là chi

phí lao động cao và các hạn chế gia tăng đối

với lao động nước ngoài Do đó, tự động hóa

thông minh được coi là công cụ để duy trì sức

cạnh tranh với các nước láng giềng với lợi thế

về chi phí lao động thấp hơn

Singapore đã đầu tư vào R&D trong các

công nghệ sản xuất và kỹ thuật tiên tiến kể từ

Kế hoạch Công nghệ Quốc gia đầu tiên vào

năm 1991 nhằm thúc đẩy nền kinh tế dựa trên

tri thức, định hướng đổi mới Năm 2010, chiến

lược nghiên cứu và phát triển của Singapore

được mở rộng sang lĩnh vực Nghiên cứu, Đổi

mới và Doanh nghiệp (RIE) Các kế hoạch

RIE2015 và RIE2020 bao gồm các chiến lược

dịch thuật, thương mại hóa và đổi mới để khai

thác quy trình ngày càng tăng của các kết quả

nghiên cứu và hỗ trợ các doanh nghiệp Đáng

chú ý, các khoản đầu tư cho các kế hoạch RIE

ngày càng tăng, trong đó, giai đoạn 2010 -

2015, Singapore đã phân bổ 16,1 tỷ USD để

hỗ trợ nghiên cứu; giai đoạn 2016 -2020, quốc

gia này đã phân bổ 19 tỷ USD cho kế hoạch

RIE (tăng 18% so với giai đoạn trước)

Những nỗ lực của RIE đã hỗ trợ sự tăng trưởng liên tục và khả năng cạnh tranh của các lĩnh vực sản xuất và kỹ thuật của Singapore Điều này có tác động lan tỏa đáng kể đến nền kinh tế Singapore: cứ 1 triệu USD giá trị gia tăng do khu vực sản xuất tạo ra thì 0,28 triệu USD giá trị gia tăng tương ứng đã được tạo ra cho phần còn lại của nền kinh tế, đặc biệt là trong các dịch vụ thâm dụng tri thức

Năng lực công nghệ mạnh mẽ của Singapore cũng đã thu hút và thu hút các công

ty đa quốc gia (MNC) thành lập các phòng thí nghiệm doanh nghiệp, trung tâm R&D và thực hiện các hoạt động sản xuất giá trị gia tăng cao tại Singapore Điều này đã mang lại những lợi ích trực tiếp như việc làm tốt cho người dân Singapore, cũng như lợi ích cho nền kinh tế, chẳng hạn như chuyển giao công nghệ

Với sự đầu tư, đổi mới mạnh mẽ đã khiến lĩnh vực sản xuất của Singapore có những bước nhảy vọt trong những năm gần đây Theo

dữ liệu từ Cục Thống kê Singapore, chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Singapore tăng trưởng liên tục trong 5 năm trở lại đây, từ mức 94,8 điểm chỉ số năm 2017 lên 107,5 điểm chỉ số trong năm 2020

Đáng chú ý, năm 2020, dịch Covid-19 đã tác động đến hoạt động của hầu hết các nền kinh

tế toàn cầu Tại Singapore, tác động của dịch Covid-19 đối với nền kinh tế Singapore là rất lớn Các lĩnh vực bị ảnh hưởng nặng nề nhất

là các lĩnh vực phụ thuộc vào du lịch quốc tế, bao gồm vận tải hàng không, lưu trú và các lĩnh vực liên quan đến du lịch khác, trong bối cảnh các chính sách cách ly xã hội ngày càng nghiêm ngặt hơn Đồng thời, các lĩnh vực hướng ra bên ngoài như sản xuất và thương mại bán buôn đã bị ảnh hưởng bởi sự sụt giảm của nhu cầu bên ngoài và sự gián đoạn chuỗi cung ứng, trong khi các lĩnh vực định hướng trong nước như xây dựng và bất động sản bị ảnh hưởng bởi tác động lan tỏa tiêu cực do suy thoái kinh tế kinh tế trong nước

CUỘC CÁCH MẠNG CÔNG NGHIỆP 4.0

TÁC ĐỘNG TÍCH CỰC

đến lĩnh vực sản xuất của Singapore

Trang 19

Tuy vậy, chỉ số sản xuất ngành công

nghiệp chế biến, chế tạo của Singapore vẫn

có sự tăng trưởng trong năm 2020, tăng 7,5

điểm phần trăm so với năm 2019, lên mức

107,5 điểm chỉ số, và tiếp tục tăng mạnh lên

mức 119,4 điểm chỉ số trong 8 tháng năm

2021 - mức cao nhất từ trước đến nay.Kết quả trên có được là nhờ Singapore

đã và đang ứng dụng thành cách mạng công nghiệp 4.0 vào lĩnh vực sản xuất thông qua Kế hoạch RIE qua các giai đoạn

Chỉ số sản xuất ngành công nghiệp chế biến chế tạo của Singapore giai đoạn 2017-2020

và 8 tháng năm 2021 (Đvt: điểm chỉ số, năm cơ sở 2019)

00 50 100 150

Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020 8T/2021 94,8 101,5 100,0 107,5 119,4

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Thống kê Singapore

Với sự thu hút đầu tư, chú trọng vào lĩnh vực

sản xuất, trong giai đoạn 2017 - 2021, nhiều

nhóm ngành thuộc ngành công nghiệp chế biến

chế tạo của Singapore có chỉ số sản xuất tăng

mạnh như ngành sản xuất trang phục; ngành

sản xuất dược phẩm và các sản phẩm sinh học;

ngành sản xuất máy vi tính, điện tử và quang

học; ngành sản xuất máy móc, thiết bị

Tuy vậy, một số nhóm ngành thuộc ngành

công nghiệp chế biến chế tạo của Singapore lại

giảm trong giai đoạn 2017 - 2021 như ngành

sản xuất các sản phẩm dệt; ngành sản xuất

thực phẩm, đồ uống và thuốc lá; ngành sản xuất

sản phẩm da; ngành in ấn, tái tạo phương tiện

đã ghi; ngành sản xuất dầu mỏ tinh chế; ngành

sản xuất sản phẩm khoáng phi kim loại; ngành

sản xuất phương tiện cơ giới, rơ moóc và bán

rơ moóc; ngành sản xuất thiết bị vận tải khác và

ngành sản xuất đồ nội thất

Để phục vụ cho hoạt động sản xuất cũng

như bù đắp cho sự thiếu hụt trong nước,

Singapore cũng đã tăng nhập khẩu nhiều nhóm

hàng hóa Theo thống kê số liệu từ Cục Thống

kê Singapore, nhập khẩu hàng hóa (để sản xuất

và tiêu dùng) của Singapore tăng trưởng bình

quân 0,6%/năm trong giai đoạn 2017 - 2020,

trong đó, nhập khẩu một số nhóm mặt hàng có

tốc độ tăng trưởng mạnh như các thiết bị, dụng

cụ khoa học và điều khiển tăng 21,8%/năm;

khoáng sản phi kim loại tăng 21,4%/năm; chất béo và dầu động vật hoặc thực vật, sáp chế biến

từ nguồn gốc động vật hoặc thực vật, hỗn hợp không ăn được hoặc các chế phẩm từ chất béo hoặc dầu động vật hoặc thực vật tăng 67,7%/năm; quặng kim loại và phế liệu kim loại tăng 22,4%; thiết bị và dụng cụ chụp ảnh, quang học tăng 20,8%; vải sợi dệt, các sản phẩm chế tạo

và các sản phẩm liên quan tăng 55,6%/năm… Trái lại, nhập khẩu một số nhóm mặt hàng vào Singapore lại giảm trong giai đoạn 2017 - 2020 như dầu mỏ, sản phẩm và vật liệu liên quan giảm 11,8%/năm; khí ga giảm 11,6%/năm; phân bón và khoáng chất giảm 27,4%/năm; cao su giảm 29,9%; nguyên liệu động vật và thực vật thô giảm 12%/năm…

Tính riêng 8 tháng năm 2021, nhập khẩu một

số nhóm mặt hàng vào Singapore cũng tăng mạnh so với cùng kỳ năm 2020 như máy móc

và thiết bị điện và các bộ phận điện; dầu mỏ, sản phẩm và vật liệu liên quan; khí ga; thuốc và sản phẩm dược phẩm; sắt thép; kim loại; các mặt hàng may mặc và phụ kiện quần áo; chất béo và dầu động vật hoặc thực vật, sáp chế biến từ nguồn gốc động vật hoặc thực vật, hỗn hợp không ăn được hoặc các chế phẩm từ chất béo hoặc dầu động vật hoặc thực vật; quặng kim loại và phế liệu kim loại; thiết bị và dụng cụ chụp ảnh, quang học; vải sợi dệt, các sản phẩm chế tạo và các sản phẩm liên quan; cao su…

Trang 20

Nhập khẩu một số nhóm hàng hóa vào Singapore giai đoạn 2017 – 2020

và 8 tháng năm 2021 (Đvt: nghìn USD)

Nhóm hàng Năm 2020

Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2017-2020 (%) 8T/2021

So với 8T/2020 (%) Tổng nhập khẩu 419.048.853 0,6 323.771.034 17,3

Máy móc, thiết bị điện và các bộ phận điện 126.909.257 5,3 102.376.168 26,8 Dầu mỏ, sản phẩm và vật liệu liên quan 61.311.629 -11,8 57.096.875 39,2 Máy văn phòng, máy xử lý dữ liệu tự động 23.262.519 4,0 16.082.744 8,7 Thiết bị, thiết bị viễn thông và ghi âm tái tạo 20.326.600 6,0 13.057.863 0,4 Hóa chất hữu cơ 7.242.921 1,3 7.101.480 47,0 Các sản phẩm chế tạo khác 4.519.696 -3,3 6.716.809 213,4 Các thiết bị, dụng cụ khoa học và điều khiển 6.804.894 21,8 3.704.624 -28,8 Khí ga 3.788.107 -11,6 3.265.419 40,9 Thuốc và sản phẩm dược phẩm 2.041.325 7,4 2.639.864 34,0 Sắt thép 1.902.487 -1,9 2.009.712 52,2 Kim loại 2.516.137 -5,4 1.933.588 22,1 Khoáng sản phi kim loại 2.674.504 21,4 1.910.485 18,7 Rau và trái cây 2.129.298 5,4 1.414.965 -1,7 Nhựa ở dạng không phải nguyên sinh 1.433.515 0,4 1.287.496 44,0 Chế phẩm từ thịt và thịt 1.348.863 -1,3 972.224 4,5 Các mặt hàng may mặc và phụ kiện quần áo 1.384.234 1,2 813.919 23,0 Chất béo và dầu động vật hoặc thực vật, sáp chế biến

từ nguồn gốc động vật hoặc thực vật, hỗn hợp không

ăn được hoặc các chế phẩm từ chất béo hoặc dầu

liên quan 1.752.712 55,6 353.050 -75,3Sản xuất cao su 174.849 -29,9 329.038 120,0

Cà phê, gia vị,chè, ca cao 693.130 -3,0 317.554 -17,7 Chất béo và dầu thực vật thô tinh chế hoặc phân đoạn 378.244 -7,7 223.652 8,7 Nguyên liệu thực vật và động vật thô 160.391 -12,0 184.919 92,8 Than cốc và than bánh 48.649 -4,9 42.854 31,4

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Cục Thống kê Singapore

Có thể thấy, tác động của cuộc cách mạng

công nghiệp 4.0 đã và đang tác động rất mạnh

đến ngành sản xuất của Singapore, thông qua

các kế hoạch phát triển Nghiên cứu, đổi mới

và Doanh nghiệp (RIE) của Singapore đã thực

hiện, đặc biệt kế hoạch RIE sẽ tiếp tục được

Singapore đẩy mạnh với tổng số vốn đầu tư

là 25 tỷ USD trong giai đoạn 2021-2025 (tăng

35% so với giai đoạn 2016 - 2020) sẽ thúc đẩy

hơn nữa ngành công nghiệp chế biến, chế tạo

của Singapore

Trong quá trình phát triển sản xuất ngành

công nghiệp chế biến, chế tạo, Singapore cũng

vẫn có nhu cầu nhập khẩu một số nhóm hàng hóa như máy móc, thiết bị điện; thiết bị viễn thông, ghi âm, tái tạo; nhóm hàng dệt, sợi, vải; giấy bìa và các sản phẩm bột giấy đây

là những nhóm hàng mà ngành sản xuất liên quan của Singapore còn hạn chế do quốc gia này đang tập trung đẩy mạnh phát triển các nhóm ngành như ngành sản xuất dược phẩm

và các sản phẩm sinh học; ngành sản máy vi tính, điện tử và quang học; ngành sản xuất máy móc, thiết bị; ngành sản xuất trang phục Đây là cơ sở để các doanh nghiệp Việt Nam có thể tìm hiểu nếu muốn mở rộng thị trường sang quốc gia này

Trang 21

Theo thống kê Cục Thống kê Australia (ABS),

trong cơ cấu các ngành kinh tế Australia,

ngành nông nghiệp chiếm tỷ trọng 2,1%,

ngành xây dựng chiếm 9,7%, ngành sản xuất

công nghiệp chiếm 8,3%, các ngành dịch vụ

chiếm 64%, ngành khai khoáng chiếm 15,9%

GDP của Australia và sử dụng 2% lực lượng lao

động (khoảng 220.000 người) trong năm 2020

Trong giai đoạn 2016 - 2020 kinh tế

Australia có mức tăng trưởng bình quân ở mức

5%, trong đó, ngành nông nghiệp giảm 1,4%,

ngành xây dựng tăng 2,3%, ngành sản xuất

công nghiệp tăng 1,9%, ngành dịch vụ tăng

4,2%, do tác động của dịch bệnh Covid-19, giá

cả nguyên liệu sắt thép tăng cao khiến ngành khai khoáng tại Australia đạt tốc độ tăng trưởng

ở mức cao nhất là 15% Australia thuộc trong

số 5 nhà sản xuất hàng đầu của hầu hết các mặt hàng khoáng sản quan trọng của thế giới

Là quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới về than

đá, quặng sắt, chì, kim cương, titan, thiếc và riniconi; đứng thứ hai về vàng và uranium; đứng thứ ba thế giới về xuất khẩu nhôm.Sản xuất công nghiệp tại Australia chú trọng vào khai khoáng và đã trở thành nền tảng chính của nền kinh tế Australia, hiện tại Australia đã bùng nổ về khai thác khoáng sản thể hiện qua giá cao và khối lượng xuất khẩu các mặt hàng khoáng sản lớn, đặc biệt là quặng sắt và than

đá Sự bùng nổ hiện nay được củng cố bởi nhu cầu cao đối với các mặt hàng chính ở các nền kinh tế đang phát triển như Trung Quốc và Ấn

Độ Lĩnh vực khai khoáng đã nâng kim ngạch xuất khẩu của Australia trong những năm gần đây, chiếm hơn 50% tổng thu nhập xuất khẩu của Australia Do bị ảnh hưởng bởi đại dịch Covid-19 và giá sắt thép các loại tăng mạnh, khiến cho ngành khai khoáng đã trở thành trụ cột nền kinh tế Australia

AUSTRALIA CHUYỂN HƯỚNG SANG NHẬP KHẨU

Nông nghiệp Khai thác mỏ Sản xuất công nghiệp Xây dựng

Năm 2016 Năm 2017 Năm 2018 Năm 2019 Năm 2020

Nguồn: Cục Thống kê Australia (ABS)

Phân chia theo nhóm ngành, sản xuất công

nghiệp chế biến, chế tạo của Australia đạt giá

trị gia tăng toàn ngành 101,616 tỷ USD trong

năm 2016 và tăng lên 107,479 tỷ USD trong

năm 2020, đạt tốc độ tăng trưởng bình quân

1,4%/năm trong giai đoạn 2016 - 2020

Trong số các ngành sản xuất chế biến, chế tạo của Australia, sản xuất thiết bị vận tải có giá trị gia tăng của ngành với tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016 - 2019 cao nhất ở mức 4,7% đạt giá trị gia tăng 7,514 tỷ USD trong năm 2016

và tăng lên 9,028 tỷ USD trong năm 2020 Các

Trang 22

ngành sản xuất thực phẩm; sản xuất máy móc

thiết bị và chế tạo sản phẩm kim loại chiếm tỷ

trọng lớn, đạt tốc độ tăng trưởng lần lượt là 2,7%;

3,9% và 2,7% trong giai đoạn 2016 - 2020 Trong

khi các ngành sản xuất như: Sản xuất đồ uống

và sản phẩm thuốc lá; sản xuất dệt, da, quần áo

và giày dép; sản xuất bột giấy, giấy và sản phẩm

giấy chuyển đổi; in (bao gồm cả việc tái tạo vật

liệu in đã ghi); Sản phẩm polyme và sản xuất sản

phẩm cao su có tốc độ tăng trưởng bình quân

giai đoạn 2016 - 2019 giảm, giảm mạnh nhất là

in (bao gồm cả việc tái tạo vật liệu in đã ghi) với

mức giảm 6,9%

Trong giai đoạn 2016 - 2020, ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm là ngành công nghiệp lớn nhất đạt 22,485 tỷ USD, tăng 3%

so với năm 2019, chiếm tỷ trọng 20,9% trong ngành sản xuất công nghiệp trong năm 2020 Ngành công nghiệp sản xuất thực phẩm bao gồm: Sản xuất thịt và các sản phẩm từ thịt; sản xuất đồ uống và mạch nha; các sản phẩm từ sữa; sản xuất đường và bánh kẹo; chế biến rau quả; sản phẩm bánh; nhà máy bột mì và sản xuất thực phẩm ngũ cốc; sản xuất dầu và mỡ; chế biến thủy hải sản…

Giá trị gia tăng ngành sản xuất công nghiệp phân chia theo nhóm giai đoạn 2016 - 2020

(ĐVT: Triệu USD)

Giá trị gia tăng ngành sản xuất công

nghiệp

Năm 2016

Năm 2017

Năm 2018

Năm 2019

Năm 2020

Tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 (%) Tổng 101.616 99.508 105.371 109.915 107.479 1,4 Sản xuất thực phẩm 20.173 19.917 20.932 21.827 22.485 2,7 Sản xuất máy móc thiết bị 11.715 11.948 12.343 13.429 13.636 3,9 Chế tạo sản phẩm kim loại 9.968 9.573 9.895 10.512 11.095 2,7 Sản xuất hóa chất và sản phẩm hóa chất

cơ bản 9.330 8.233 8.672 8.881 9.393 0,2 Sản xuất sản phẩm kim loại và kim loại chính 8.427 8.264 10.150 11.762 9.301 2,5 Sản xuất thiết bị vận tải 7.514 7.877 8.753 9.061 9.028 4,7 Sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại 6.171 6.478 6.971 6.739 6.352 0,7 Sản xuất đồ uống và sản phẩm thuốc lá 5.896 5.125 5.371 5.607 5.616 -1,2 Sản xuất sản phẩm gỗ 4.288 4.143 4.739 4.630 4.535 1,4 Sản phẩm polyme và sản xuất sản phẩm

cao su 4.638 4.592 4.612 4.743 4.492 -0,8

In (bao gồm cả việc tái tạo vật liệu in đã ghi) 3.503 3.540 3.088 3.101 2.634 -6,9 Sản xuất bột giấy, giấy và sản phẩm giấy

chuyển đổi 2.571 2.550 2.689 2.781 2.512 -0,6 Sản xuất dệt, da, quần áo và giày dép 2.443 2.532 2.467 2.443 2.330 -1,2 Sản xuất dầu mỏ và sản phẩm than 1.959 1.814 1.462 1.255

Đồ nội thất và sản xuất khác 2.764 2.776 2.875 2.937 2.817 0,5

Nguồn: Cục Thống kê Australia (ABS)

Nhu cầu nhập khẩu lớn một số ngành

công nghiệp

Australia có số dân thấp nhưng là thị trường

có quy mô nhập khẩu hàng hóa cao, đạt hơn

200 tỷ USD/năm Australia là một thị trường

nhập khẩu đầy tiềm năng, mang đến cả cơ hội

và thách thức cho các nhà cung cấp thương

mại và dịch vụ nước ngoài Thị trường Australia

tương đối mở cho các nhà cung cấp nước

ngoài, với việc không áp dụng hạn ngạch nhập

khẩu và hầu hết thuế nhập khẩu là 5% (mức thuế chung) và 0% cho các nước kém phát triển Theo Hiệp định Khu vực Thương mại

Tự do giữa ASEAN và Australia, New Zealand (AANZFTA) thì khoảng 96% thuế quan của Australia được loại bỏ từ năm 2010, phần còn lại sẽ được thực hiện trong năm 2020 đối với hàng hoá nhập khẩu nhập khẩu từ các nước ASEAN, trong đó có Việt Nam Hơn thế, mối quan hệ song phương Trung Quốc - Australia trở nên căng thẳng kể từ năm 2018 và gia tăng

Ngày đăng: 17/03/2022, 22:32

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w