1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Từ góc độ lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa ra các biện pháp làm giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa của 1 mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay

18 25 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 227,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRIẾT HỌC MÁC LÊNINĐỀ BÀI: Từ góc độ lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa ra các biện pháp làm giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa của 1 mặt hàng nông sản của Việt Nam

Trang 1

TRIẾT HỌC MÁC LÊNIN

ĐỀ BÀI:

Từ góc độ lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa ra các biện pháp làm giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa của 1 mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay

Trang 2

MỤC LỤC

Chương 1: Lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác 1

1.1 Hàng hóa và 2 thuộc tính của hàng hóa 1

1.2 Cấu thành lượng giá trị của hàng hóa 2

1.3 Thước đo lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng 2

Chương 2: Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa của mặt hàng nông sản ngô trên thị trường Việt Nam hiện nay: thực trạng, nguyên nhân và một số giải pháp nhằm hạ thấp.

5

2.1 Lượng giá trị của 1 kilôgam ngô ở nước ta hiện nay (thực

2.2 Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên 6

2.3 Một số biện pháp nhằm hạ thấp lượng giá trị của 1kg ngô ở nước ta hiện nay

8

PHỤ LỤC

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

MỞ ĐẦU

Hiện nay, Việt Nam vẫn là một nước nông nghiệp với công nghệ kĩ thuật kém phát triển, tập quán canh tác nhỏ lẻ và gặp rất nhiều khó khăn trong quá trình lao động sản xuất Do vậy, năng suất lao động của nhiều mặt hàng nông sản của nước ta còn thấp không đáp ứng được nhu cầu thị trường trong nước, giá cả lại cao hơn nhiều so với hàng hóa xuất khẩu khiến hàng hóa không thâm nhập được vào thị trường xuất khẩu Là thế hệ thanh niên của thời kì mới khiến chúng em băn khoăn cần phải giải quyết tình trạng trên như thế nào?

Đó chính là lí do Nhóm 4 chúng em chọn giải quyết đề tài số 3: "Từ góc độ lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác hãy đưa ra các biện pháp làm giảm lượng giá trị một đơn vị hàng hóa của 1 mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay" Bài nghiên cứu này dựa trên những kiến thức của môn học Những nguyên

lí cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin cùng những hiểu biết của nhóm về nông nghiệp Việt Nam Chúng em mong nhận được ý kiến góp ý từ quý thầy cô để bài làm của chúng em được hoàn thiện hơn trong những lần sau

NỘI DUNG

Chương 1: Lí luận về lượng giá trị hàng hóa của C.Mác

1.1 Hàng hóa và 2 thuộc tính của hàng hóa

* Khái niệm: Hàng hóa là sản phẩm của lao động, có thể thỏa mãn nhu cầu nào

đó của con người thông qua trao đổi, mua bán Hàng hóa có thể ở dạng vật thể (hữu hình) hoặc ở dạng phi vật thể (dịch vụ vô hình)

* Hai thuộc tính của hàng hóa: Hàng hóa đều có hai thuộc tính cơ bản là giá trị

sử dụng và giá trị.

- Giá trị sử dụng: là công dụng của vật phẩm có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người Giá trị sử dụng hay công dụng của hàng hóa là do thuộc tính tự nhiên của vật thể hàng hóa quyết định Với ý nghĩa như vậy, giá trị sử dụng là một phạm trù vĩnh viễn

Trang 4

- Giá trị: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hóa kết tinh trong hàng hóa Như vậy, chất của giá trị là lao động, vì vậy, sản phẩm nào không có lao động của người sản xuất kết tinh trong đó thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hóa

Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên, thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hóa Hàng hóa là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng đây là sự thống nhất của hai mặt đối lập

1.2 Cấu thành lượng giá trị của hàng hóa

Sở dĩ hàng hóa có hai thuộc tính: giá trị sử dụng và giá trị là do lao động của người sản xuất ra hàng hóa có tính hai mặt Đó là lao động cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Lao động trừu tượng là lao động của người sản xuất hàng hóa khi đã gạt bỏ những hình thức cụ thể của nó, nói cách khác đó chính là sự tiêu hao sức lao động (sức bắp, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa nói chung

Để sản xuất ra hàng hóa cần phải chi phí lao động, bao gồm lao động quá khứ tồn tại trong các yếu tố tư liệu sản xuất như máy móc, công cụ, nguyên vật liệu

và lao động sống hao phí trong quá trình chế biến tư liệu sản xuất thành sản phẩm mới Trong quá trình sản xuất, lao động cụ thể của người sản xuất có vai trò bảo tồn và di chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào sản phẩm, đây là bộ phận giá trị cũ trong sản phẩm (ký hiệu là c), còn lao động trừu tượng (biểu hiện

ở sự hao phí lao động sống trong quá trình sản xuất ra sản phẩm) có vai trò làm tăng thêm giá trị cho sản phẩm, đây là bộ phận giá trị mới trong sản phẩm (ký hiệu là v + m).Vì vậy, cấu thành lượng giá trị hàng hóa bao gồm hai bộ phận: giá trị cũ tái hiện và giá trị mới

1.3 Thước đo lượng giá trị hàng hóa và các nhân tố ảnh hưởng

Trang 5

* Thước đo lượng giá trị hàng hóa: Thước đo lượng giá trị hàng hóa được tính

bằng thời gian lao động xã hội cần thiết mà không phải là thời gian lao động cá biệt để sản xuất ra hàng hóa đó Thời gian lao động cá biệt là thời gian lao động của người sản xuất hay đơn vị sản xuất để tạo ra một đơn vị hàng hóa Còn thời gian lao động xã hội cần thiết là thời gian cần thiết để sản xuất ra một hàng hóa trong điều kiện bình thường của xã hội, tức là với một trình độ kĩ thuật trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình so với hoàn cảnh xã hội nhận định

Tóm lại, lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết

để sản xuất ra một hàng hóa mới quyết định giá trị xã hội của hàng hóa ấy Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa tỉ lệ thuận với lượng lao động hao phí để sản xuất hàng hóa

* Những yếu tố ảnh hưởng đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa:

Thứ nhất: Năng suất lao động

Năng suất lao động là năng lượng sản xuất lao động, được tính bằng số lượng sản phẩm sản xuất ra trong một đơn vị thời gian hoặc số lượng thời gian cần thiết để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm

Năng suất lao động xã hội càng tăng, thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng giảm, lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng ít Năng suất lao động xã hội tăng lên có nghĩa là cũng trong một thời gian lao động nhưng khối lượng hàng hóa sản xuất ra tăng lên làm cho thời gian lao động cần thiết để sản xuất ra một đơn vị hàng hóa giảm xuống Do đó, khi năng suất lao động tăng lên thì giá trị của một đơn vị hàng hóa sẽ giảm xuống và ngược lại, năng suất lao động xã hội càng giảm, thì thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa càng tăng và lượng giá trị của một đơn vị sản phẩm càng nhiều

Trang 6

Như vậy, sự thay đổi của năng suất tác động theo tỷ lệ nghịch đến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa nhưng không tác động đến tổng lượng giá trị của tổng số hàng hóa được sản xuất ra trong cùng một đơn vị thời gian

Năng suất lao động lại tùy thuộc vào các nhân tố: trình độ khéo léo của người lao động; sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lí sản xuấ; quy mô và hiệu suất của tư liệu sản xuất

và các điều kiện tự nhiên Muốn tăng năng suất lao động phải hoàn thiện các yếu

tố trên

Cường độ lao động là khái niệm nói lên mức độ hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian Nó cho thấy mức độ khẩn trương, nặng nhọc hay căng thẳng của lao động Cường độ lao động tăng lên tức là mức hao phí sức lao động trong một đơn vị thời gian tăng lên; nếu cường độ lao động tăng lên thì số lượng hàng hóa sản xuất tăng lên và sức lao động hao phí cũng tăng lên tương ứng, vì vậy lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa vẫn không đổi, vì tăng cường độ lao động, thực chất, chính là việc kéo dài thời gian lao động

Thứ hai: Mức độ phức tạp của lao động Mức độ phức tạp của lao động

cũng ảnh hưởng nhất định đến lượng giá trị của hàng hóa Theo mức độ phức tạp của lao động, có thể chia lao động thành lao động giản đơn và lao động phức tạp Lao động giản đơn là lao động mà bất kì một người lao động bình thường nào không cần trải qua đào tạo cũng có thể làm được Lao động phức tạp là lao động đòi hỏi phải được đào tạo, huấn luyện thành lao động chuyên môn nhất định mới có thể làm được Trong cùng một thời gian, lao động phức tạp tạo ra nhiều giá trị hơn lao động giản đơn Bởi vì, lao động phức tạp, thực chất là lao động giản đơn được nhân lên Trong quá trình trao đổi hàng hóa, mọi lao động phức tạp đều được quy thành lao động đơn giản trung bình, và điều đó được quy đổi một cách tự phát sau lưng những hoạt động sản xuất hàng hóa, hình thành những tỷ lệ nhất định thể hiện trên thị trường

Trang 7

Chương 2:Lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa của mặt hàng nông sản ngô trên thị trường Việt Nam hiện nay: thực trạng, nguyên nhân và một số giải pháp nhằm hạ thấp.

2.1 Lượng giá trị của 1 kilôgam ngô ở nước ta hiện nay (thực trạng)

Ngô từ lâu đã là mặt hàng nông sản có diện tích gieo trồng hàng năm lớn thứ hai tại Việt Nam và là một trong nhiều loại nông sản được sử dụng trong ngành công nghiệp thức ăn chăn nuôi hiện đang phát triển nhanh tại nước ta Tuy nhiên, năng suất ngô hàng năm ở Việt Nam vẫn ở mức cực kì thấp, không đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của thị trường

Trong niên vụ 2016/17, sản lượng ngô của Việt Nam đạt 5,1 triệu tấn với diện tích canh tác là 1,1 triệu ha, năng suất ngô trong niên vụ này là 4,64 tấn/héc-ta Nhìn chung với sản lượng ngô như vậy chỉ đáp ứng được 40-50% nhu cầu trong nước Bên cạnh đó Mỹ, Argentina, Brazil, là các nước xuất khẩu ngô nhiều nhất thế giới Niên vụ 2016/17, Hoa Kỳ dẫn đầu thương mại hóa toàn cầu với sản lượng ngô là 383,4 triệu tấn với 35,05 triệu ha canh tác, năng suất đạt khoảng 10,9 tấn/ha Brazi trong niên vụ 2016/17 sản lượng đạt 91,5 triệu tấn, năng suất khoảng 5,82 tấn/ha

Năng suất thấp, để bù đắp chi phí sản xuất, giá ngô Việt Nam tăng cao và cao hơn nhiều so với giá ngô nhập khẩu và các các giống ngô khác trên thế giới

(Xem số liệu ở phần phụ lục) Từ tháng 9/2015 đến 2016, giá ngô nhập khẩu ổn

định 210 USD/tấn, khoảng 4.700 đồng/kg; giá ngô Nam Mỹ nhập về tại cảng Cái Lân dao động từ 5700-5800 đ/kg Trong khi, ngô bán ở trong nước khoảng 7.000 đồng/kg mà mua về, doanh nghiệp còn phải phơi sấy lại nữa

Do vậy, các sản phẩm ngô trong nước không đủ sức cạnh tranh với ngô nhập khẩu về chi phí sản xuất và chất lượng, sản lượng ngô nhập khẩu ngày càng tăng Ngô hiện đang là một trong mười mặt hàng nông sản mà Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất, nếu không nhanh chóng nâng cao năng suất đáp ứng

Trang 8

nguồn ngô thiếu hụt, dự kiến việc chi hàng tỷ USD để nhập khẩu ngô còn tiếp

diễn lâu dài (Xem số liệu ở phần phụ lục)

2.2 Nguyên nhân căn bản của thực trạng trên

Như đã trình bày lượng giá trị của 1 kg ngô nội địa Việt Nam đang cao hơn nhiều so với lượng giá trị của 1 kg ngô của các nước nhập khẩu Theo lí luận về hàng hóa của C.Mác, lượng giá trị của 1 đơn vị hàng hóa tỉ lệ nghịch với năng suất lao động do vậy, với mặt hàng nông sản ngô tại Việt Nam, nguyên nhân khiến lượng giá trị của một đơn vị hàng hóa cao là do năng suất lao động thấp

Mà năng suất lao động thấp chủ yếu là do chưa hoàn thiện được các yếu tố sau đây: sự phát triển của khoa học – kỹ thuật và trình độ ứng dụng tiến bộ kỹ thuật vào sản xuất; trình độ tổ chức quản lí sản xuất; quy mô, hiệu suất của tư liệu sản xuất và các điều kiện tự nhiên Cụ thể như sau:

2.2.1 Trình độ khéo léo (thành thạo) của người lao động chưa được hoàn thiện

Trình độ lao động là nhân tố đầu tiên và quan trọng nhất tác động đến năng suất lao động, trình độ càng cao thì càng góp phần tăng năng suất

Phần lớn người dân đều có kinh nghiệm trồng ngô lâu năm và được tập huấn hướng dẫn kĩ thuật canh tác, tuy nhiên vẫn chưa hoàn thiện, cụ thể còn những tồn tại như sau: khi gieo trồng, người nông dân chưa làm tốt các quy trình chọn giống, xới đất, chưa gieo ươm để tỉa dặm kịp thời khiến ngô mọc lên không đều Khi chăm sóc, việc bón phân chưa đúng với quy trình sản xuất khiến ngô phát triển không cân đối Bên cạnh đó, việc phòng trừ sâu bệnh còn hạn chế; việc tưới nước không đúng thời điểm và không đúng cách dẫn đến một số diện tích thường bị khô hạn trong vụ hè thu

Trình độ người nông dân còn thấp nên gặp khó khăn trong việc vận hành, sửa chữa và bảo dưỡng các máy móc; tiền công lao động thấp nên người nông dân chưa có ý thức nâng cao trình độ tay nghề

Trang 9

2.2.2 Mức độ phát triển của Khoa học kĩ thuật, công nghệ và ứng dụng những thành tựu đó vào sản xuất còn thấp

Hầu hết doanh nghiệp Việt Nam sử dụng công nghệ tụt hậu so với thế giới từ 2-3 thế hệ, gần 80% thiết bị máy móc đang sử dụng được nhập khẩu từ thời kì 1960-1970; hơn 75% thiết bị đã quá thời hạn khấu hao nhưng không được thay thế Trình độ ứng dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất còn thấp, lao động thủ công còn nhiều, dẫn đến khả năng tăng năng suất lao động chưa cao

Việc áp dụng công nghệ sản xuất, trình độ khoa học công nghệ hiện đại, tiên tiến vào sản xuất cũng ảnh hưởng không nhỏ tới năng suất lao động Hiện nay, trên thế giới đang dần áp dụng công nghệ 4.0 vào sản xuất trồng trọt Hệ thống này được quản lí bằng phần mềm, tiện lợi và chính xác tuy nhiên giá thành quá cao nên tại Việt Nam vẫn còn ít nơi áp dụng được loại công nghệ này

Như vậy, ta thấy trong khi năng suất, chất lượng, cũng như sức cạnh tranh của nông sản ngô phụ thuộc rất lớn vào trình độ công nghệ nhưng đến nay việc sử dụng công nghệ ở nước ta vẫn lạc hậu và xếp vào loại thấp nhất khu vực Asean

2.2.3 Trình độ tổ chức quản lí sản xuất còn kém

Về phân công lao động chưa thực sự được chú trọng, việc chia các công việc

và giao cho từng người lao động để hướng đến sự chuyên môn hóa chưa được thực hiện đúng dẫn đến lãng phí thời gian và sức lao động Quy trình trồng ngô gồm rất nhiều công đoạn trong khi đó, sản xuất ngô ở nước ta vẫn mang tính nhỏ

lẻ và phân tán, chưa có sự tập trung, đặc biệt là các vùng miền núi nên tính chuyên môn hóa không cao

Về sự can thiệp của các cấp chính quyền chưa mang lại hiệu quả: Hiện nay, cán bộ các cấp chính quyền chưa có sự chỉ đạo kịp thời để người dân có biện pháp tránh hạn hán, lũ lụt kịp thời dẫn đến mùa vụ bị hư hại nhiều, năng suất giảm; chưa tổ chức kịp thời và đồng bộ các lớp tập huấn về kĩ thuật trồng trọt, kĩ thuật tưới tiêu, kĩ thuật sử dụng máy móc dẫn đến việc gieo trồng và chăm sóc của người nông dân không được đảm bảo, năng suất thấp

Trang 10

2.2.4 Quy mô nhỏ và hiệu suất của tư liệu sản xuất chưa được khai thác triệt để

- Về diện tích đất trồng ngô: Nhiều địa phương vẫn chưa khai thác hết diện tích đất có thể trồng ngô, nhiều diện tích đất canh tác còn bỏ hoang sau vụ lúa mùa Nếu như năm 2005, diện tích trồng ngô của cả nước là 1,052 triệu héc ta thì đến năm 2017, diện tích trồng cây lương thực này chỉ tăng thêm 100.000 héc ta Những năm tới, có thể giảm xuống dưới 1 triệu héc ta và điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ tiếp tục phụ thuộc vào sản phẩm nhập khẩu

- Về giống ngô: Công nghệ sinh học hiện nay đang phát triển với những thành tựu của nó là tạo ra nhiều giống ngô biến đổi gen với khả năng chống chọi sâu bệnh, thời tiết khắc nghiệt và đem lại năng suất cao Tuy nhiên, bà con nông dân nhiều nơi vẫn gieo trồng giống ngô cũ kém năng suất, chỉ có một số nơi trên nước ta áp dụng giống ngô mới như: Sơn La, Lào Cai, Đồng Nai, An Giang…

- Cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất cây ngô còn nhiều bất cập: đặc biệt là hệ thống thủy lợi, đa số diện tích trồng ngô trên đất màu nhưng chưa có hệ thống tưới nên vào mùa khô thường bị khô hạn ảnh hưởng đến năng suất; hệ thống giao thông nội đồng chưa được hình thành nên khó khăn cho việc đưa cơ giới hóa vào sản xuất từ khâu làm đất đến thu hoạch và vận chuyển nông sản

- Việc ứng dụng cơ giới hóa trên cây bắp còn khá khiêm tốn Với diện tích gieo trồng ngô khá lớn, người dân vẫn phải mất rất nhiều thời gian vào các công đoạn

và huy động nguồn nhân lực lớn Thu nhập từ sản xuất nông nghiệp của người dân còn thấp nên khả năng đầu tư máy móc, thiết bị cơ giới hóa gặp nhiều khó khăn, các loại máy móc hiện đại như hệ thống tưới, bón phân chưa có điều kiện áp dụng vào nông nghiệp trồng ngô do chi phí quá cao

2.2.5 Điều kiện tự nhiên không thuận lợi

- Về thời tiết và khí hậu: Đất nước ta thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, tình trạng hạn hán, lũ lụt, rét, nóng xuất hiện nhiều hơn, cộng với dịch bệnh trên cây ngô làm giảm năng suất, chất lượng ngô cho hạt không đồng đều

Ngày đăng: 17/03/2022, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w