1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn tốt nghiệp: Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc theo đăc trưng văn bản cho HS Tiểu học

68 133 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một Số Biện Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Dạy Học Tập Đọc Theo Đặc Trưng Văn Bản Cho HS Tiểu Học
Trường học trường tiểu học
Chuyên ngành giáo dục
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Định dạng
Số trang 68
Dung lượng 432 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đặc biệt trong các cuốn giáo trình, sách thiết kế phương pháp dạy học Tập đọc của các nhà xuất bản Giáo dục, các trường sư phạm, các nhà nghiên cứu đã chú ý đi sâu vào việc tạo các hoạt

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Đất nước ta đang từng ngày từng giờ chuyển mình trên con đường tiến tớicông nghiệp hoá - hiện đại hoá Điều đó đòi hỏi phải có mục tiêu đào tạo conngười lao động mới cho sự phát triển không ngừng của xã hội Nhu cầu này đãđược nghị quyết Hội nghị lần thứ hai Ban chấp hành Trung ương (khoá VIII) vềchiến lược phát triển Giáo dục – Đào tạo trong thời kì mới nêu rõ: “Nhiệm vụđào tạo và mục tiêu cơ bản của giáo dục là nhằm xây dựng con người và thế hệtha thiết gắn bó với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội,…làm chủ trithức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có khả năng thực hànhgiỏi, có tác phong công nghiệp …”

Như vậy, giáo dục trong nhà trường hiện nay nhấn mạnh mục đích đàotạo con người phát triển toàn diện: có đức, có tài, như Bác Hồ từng nói:

“Có tài mà không có đức là người vô dụng

Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.”

Nhiệm vụ đặt ra không chỉ nhà trường nói chung mà ngay cả trường Tiểuhọc nói riêng cũng khẳng định: “Tiểu học là cấp học đặt cơ sở ban đầu cho sựhình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền tảng vững chắccho giáo dục phổ thông và toàn bộ giáo dục quốc dân” [2 tr 8]

Trong những năm gần đây, để nâng cao chất lượng giáo dục, Bộ giáo dục

- Đào tạo đã tiến hành đổi mới trên mọi phương diện nội dung, phương pháp,phương tiện và cách đánh giá trong quá trình dạy học cho tất cả các môn học

Môn Tiếng Việt trong nhà trường Tiểu học có vai trò rất quan trọngnhằm: Hình thành và phát triển ở HS các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (nghe, nói,đọc, viết) để hoạt động và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi.Qua đó bồi dưỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong

Trang 2

sáng, giàu đẹp của Tiếng Việt, góp phần hình thành nhân cách con người ViệtNam xã hội chủ nghĩa.

Với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ở trường Tiểu học,ngoài mục tiêu chung, phân môn Tập đọc còn có mục tiêu riêng đó là: cung cấpcho học sinh những kiến thức tự nhiên, xã hội Rèn luyện kĩ năng đọc (đọc thànhtiếng, đọc hiểu) Qua đó giáo dục cho các em lòng ham đọc sách, thái độ yêuthích môn học

Trong phân môn Tập đọc của chương trình Tiếng Việt số lượng các bàirất phong phú và đa dạng, được lựa chọn từ nhiều loại văn bản khác nhau và sửdụng đan xen trong chương trình Sự kết hợp các loại văn bản giúp cho HS họctập không bị nhàm chán, các em có hứng thú hơn trong quá trình học, nhất làquá trình đọc

Ngoài ra, mỗi loại văn bản có những nét đặc trưng riêng về thể loại cũngnhư nội dung, nghệ thuật Nắm được đặc trưng đó sẽ định hướng cho quá trìnhdạy học của GV một cách tốt nhất GV sẽ có cách lựa chọn phương pháp,phương tiện dạy học phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc

Dạy học Tập đọc tuy đã có nhiều sự thay đổi nhằm tích cực hoá vai tròchủ động của HS, giúp các em lĩnh hội kiến thức một cách sáng tạo song kết quảvẫn chưa cao, nhất là những vùng mang nặng lỗi phát âm do phương ngữ, cácvùng sâu, vùng khó khăn trên địa bàn một số tỉnh miền núi như Sơn La Bêncạnh đó, thực tế cho thấy việc nắm rõ đặc trưng từng thể loại văn bản trong quátrình dạy học còn là vấn đề chưa được chú ý quan tâm

Do đó, trong suốt quá trình tìm hiểu, tham khảo thực tế, tiếp xúc với HS

tôi đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học

Tập đọc theo đăc trưng văn bản cho HS Tiểu học”.

Nhằm củng cố và phát triển năng lực học tập phân môn Tiếng Việt trongnhà trường Tiểu học và tôi hi vọng rằng, đây là một phần “tài liệu nhỏ” giúp cácbạn sinh viên và các GV Tiểu học tham khảo để nâng cao chất lượng giáo dục

Trang 3

2 Lịch sử vấn đề

Đổi mới phương pháp dạy học đi cùng với quá trình đổi mới giáo dục.Đổi mới giáo dục tức là đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới chương trình,nội dung, làm phong phú thêm các phương pháp tổ chức dạy học và đa dạng hoácác hình thức tổ chức dạy học Chính vì vậy hiện nay có rất nhiều các nhà giáodục đã xây dựng các công trình nghiên cứu đổi mới phương pháp dạy học, nhằmđưa ra các biện pháp thích hợp mang tính tích cực, tiếp thu những thành tựu tiêntiến của nền giáo dục thế giới trên nền tảng phát huy những ưu điểm của phươngpháp dạy học truyền thống, nhất là với phân môn Tập đọc đã được sự quan tâmđặc biệt

Trong cuốn “Dạy học Tập đọc ở Tiểu học” (NXB Giáo Dục- 2003) của

tác giả Lê Phương Nga đã đề cập một cách chi tiết về cơ sở lí luận và thực tiễncủa dạy học Tập đọc, đề ra phương pháp và hình thức tổ chức dạy học hiệu quả,tích cực nhằm nâng cao chất lượng dạy học phân môn Tập đọc

Tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học

theo chương trình mới” (NXB Giáo Dục- 2003) đã đề cập đến những vấn đề cơ

bản của phương pháp dạy học mới ở nhà trường Tiểu học Tác giả đặc biệt quantâm đến dạy bốn kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt cho HS Tiểu học Bêncạnh đó tác giả cung cấp cho chúng ta những thông tin tổng quát về chươngtrình dạy tiếng mẹ đẻ của một số nước, những thành tựu cần kế thừa và nhữngnhược điểm cần khắc phục của các loại chương trình Tiếng Việt trong mấy chụcnăm qua Đó là cơ sở giúp cho việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy họcTiếng Việt nói chung và dạy Tập đọc nói riêng

“Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học”– (tài liệu đào tạo

GV-2007) của Bộ Giáo dục và Đào tạo, dự án phát triển GV Tiểu học đã tổ chứcbiên soạn các môđun đào tạo giáo dục, nhằm nâng cao năng lực chuyên mônnghiệp vụ, cập nhật những đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học theochương trình SGK Tiểu học mới

Trang 4

Ngoài việc đi sâu nghiên cứu cơ sở lí luận của từng phân môn trong TiếngViệt, cấu trúc, nội dung và phương pháp dạy học cụ thể Cuốn sách còn trìnhbày một cách chi tiết các phương pháp mới như: sử dụng băng hình, sử dụng bộ

đồ dùng trong dạy học giúp quá trình dạy học đạt hiệu quả cao nhất

Đặc biệt trong các cuốn giáo trình, sách thiết kế phương pháp dạy học

Tập đọc của các nhà xuất bản Giáo dục, các trường sư phạm, các nhà nghiên cứu

đã chú ý đi sâu vào việc tạo các hoạt động học tập tích cực nhằm khai thác nộidung văn bản, kết hợp với các hình thức tổ chức dạy học mới mẻ như dạy họcnêu vấn đề, dạy học kết hợp đồ dùng trực quan, dạy học kết hợp trò chơi… Đó

là các phương pháp và hình thức tổ chức dạy và học nhằm tạo ra bước tiến mới,linh hoạt cho kết quả học tập của HS

Nghiên cứu chung về các vấn đề dạy học, trong các tài liệu bồi dưỡng

giáo viên (NXB Giáo Dục- 2004, 2005, 2006) đáp ứng yêu cầu cho sự thay đổi

căn bản SGK, cũng đề cập về một số yêu cầu cơ bản về kiến thức, kĩ năng mà

HS cần nắm được Qua đó đề xuất các biện pháp dạy học các bài Tập đọc theonội dung khá đa dạng và phong phú Đó là những bước đổi mới đầu giúp GVnắm chắc nội dung, mục tiêu Giáo dục

Ngoài ra, GS Nguyễn Quang Ninh cũng có những tài liệu cơ bản nghiêncứu về phương pháp dạy học Tập đọc và các phân môn khác nhằm nâng cao khả

năng tiếp thu tri thức ở HS Trong cuốn “Phương pháp dạy học Tiếng Việt

Tiểu học theo chương trình sách giáo khoa mới” (NXB Giáo Dục- 2008) đã đi

sâu nghiên cứu về các hướng mới trong phương pháp dạy học, cách tổ chức giờhọc tích cực nhằm nâng cao khả năng tiếp thu và vận dụng kiến thức của HS

Nhìn chung mỗi tác giả đều viết về những vấn đề liên quan đến phươngpháp dạy học Tập đọc một cách chung nhất, các biện pháp dạy học đặc trưngcho từng phân môn trong Tiếng Việt ở Tiểu học Tuy nhiên vấn đề dựa vào nétđặc trưng phong cách riêng của từng thể loại văn bản để có cách áp dụng vàophương pháp dạy học Tập đọc vẫn chưa nhận được sự quan tâm sâu sắc

Trang 5

Các công trình nghiên cứu của các tác giả đã tạo định hướng cho người

viết tiền đề cơ sở để quyết định lựa chọn đề tài: “Một số biện pháp nâng cao

hiệu quả dạy học Tập đọc theo đặc trưng văn bản cho HS Tiểu học” làm vấn

đề nghiên cứu

3 Mục đích nghiên cứu

Phân môn Tập đọc là một phân môn đặc biệt quan trọng trong chươngtrình Tiểu học nói chung và trong môn Tiếng Việt nói riêng Song hiệu quả dạyhọc Tập đọc chưa thực sự như mong muốn nhất là ở các vùng sâu, vùng xa,vùng khó khăn, miền núi

Thực hiện đề tài này, chúng tôi hi vọng đề xuất được các biện pháp hiệuquả nhằm nâng cao kết quả dạy học Tập đọc ở trường Tiểu học

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

Nhiệm vụ mà đề tài hướng tới là:

- Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học Tập đọc ở trườngTiểu học

- Đề xuất các biện pháp, các cách dạy học nhằm tích cực khả năng đọc, tiếp thubài học của HS theo đặc trưng một số thể loại văn bản

- Tiến hành thiết kế giáo án và thực nghiệm dạy học ở một số trường Tiểu học

5 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài khảo sát, nghiên cứu việc dạy học Tập đọc áp dụng theo đặc trưngcác thể loại văn bản ở các nhà trường Tiểu học

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nội dung phân môn Tập đọc trong SGK các lớp 2, lớp

3, lớp 4, lớp 5 Và trên học sinh một số trường Tiểu học: Tiểu học thị trấn ThuậnChâu, Tiểu học Quyết Thắng- Tỉnh Sơn La

Trang 6

6 Phương pháp nghiên cứu

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận: phương pháp đọc, phương phápphân tích, phương pháp tổng hợp hoá và khái quát hoá và các tài liệu có liên quanlàm cơ sở lí luận cho đề tài

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

Nếu được ứng dụng trong thực tế hi vọng đề tài sẽ góp phần nâng caohiệu quả dạy học Tập đọc theo nội dung chương trình mới cải cách, nhằm pháttriển không ngừng chất lượng Giáo dục- Đào tạo ngày nay

8 Cấu trúc của đề tài

Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, tài liệu tham khảo, mẫu phiếu điềutra, phần nội dung của đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của đề tài

1.1 Cơ sở lí luận của đề tài

1.2 Cơ sở thực tiễn của đề tài

Chương 2: Đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học theo đặc

Trang 7

2.1 Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học văn bản thơ

2.2 Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy đọc truyện cổ tích

2.3 Biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc một số văn bản khác

Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

3.1 Mục đích thực nghiệm

3.2 Nội dung thực nghiệm: dạy thực nghiệm hai bài Tập đọc

3.2.1 Bài Tập đọc: Hũ bạc của người cha (Truyện cổ tích Chăm)- Tiếng Việt

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 CƠ SỞ L Í LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi học sinh Tiểu học

Quan hệ của phương pháp dạy học Tiếng Việt và Tâm lí học, đặc biệt làTâm lí học lứa tuổi rất chặt chẽ Không có kiến thức về quá trình tâm lí ở conngười nói chung và ở trẻ em lứa tuổi Tiểu học nói riêng thì không thể giảngdạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS Bởi vì: trong quá trình dạy học ở Tiểuhọc, HS lứa tuổi này (thường là từ 6 đến 14 tuổi) được coi là đối tượng củahoạt động học, tự giác, tích cực và chủ động tiếp thu những tác động của GV

và nhận thức của bản thân, chế biến tri thức thu nhận từ GV thành hệ thốnggiá trị chuẩn mực mang đặc điểm và bản chất cá nhân HS vừa là đối tượngcủa hoạt động dạy học song cũng là chủ thể của quá trình tự nhận thức, chủthể tự giáo dục có tính tự giác, tích cực và chủ động tổ chức quá trình học tậpcủa bản thân Trong bất kì hoàn cảnh và điều kiện nào thì hiệu quả giáo dụccao hay thấp là do tự nhận thức của cá nhân chủ thể trực tiếp quyết định trên

cơ sở tác động tích cực của các yếu tố khách quan GV là quan trọng hàng đầuxong chưa đủ để trực tiếp quyết định chất lượng- hiệu quả của việc dạy học vàcần phải đặc biệt quan tâm đến đặc điểm tâm sinh lí HS lứa tuổi này

Bước vào trường Tiểu học là bước ngoặt quan trọng trong đời sống củatrẻ Từ đây hoạt động chủ đạo của trẻ- hoạt động vui chơi ở giai đoạn mẫugiáo đã chuyển sang loại hoạt động mới: hoạt động học tập với đầy đủ ý nghĩacủa nó Sự chuyển đổi hoạt động chủ đạo có tác động không nhỏ đến tâm sinh

lí của trẻ Vì vậy mà việc lựa chọn nội dung, hình thức của các bài Tập đọctrong chương trình Tiếng Việt cũng chịu sự chi phối căn bản

Trang 9

Ở giai đoạn HS Tiểu học (từ 6 đến 14 tuổi) các cơ quan của cơ thể pháttriển chưa đầy đủ, hoàn thiện, khả năng tri giác- giải mã các đơn vị ngôn ngữchữ viết thành âm thanh còn chậm, dẫn đến tình trạng các em đọc ấp úng, ê a,không rõ ràng, đôi khi còn dẫn đến việc đọc sai nghĩa nội dung văn bản dongắt nghỉ không đúng chỗ Dẫn đến việc các em hay mắc các lỗi: lỗi phát âm

(lỗi nhầm dấu thanh, phát âm ngọng n/l…), lỗi diễn đạt (lỗi dùng câu, lỗi dùng

từ, lỗi ngắt nghỉ…) Hệ thần kinh chưa ổn định cũng một phần tác động đếnquá trình đọc của HS, các em dễ bị xúc động, đặc biệt: chịu sự chi phối củađiều kiện ngoại cảnh, sự vật, sự việc bên ngoài tác động đến sự chú ý của các

em Chẳng hạn, khi đang học mà có một đối tượng khác đột nhiên tác độngvào các em (người đi lại, cây cối, con vật nào đó…) dẫn đến việc các em dễdàng mải để ý, theo dõi, quan tâm đến những vật đó mà quên đi việc học.Chúng ta cũng thấy rằng, tư duy của HS Tiểu học là tư duy cụ thể, mangtính hình thức bằng cách dựa vào những đặc điểm trực quan của đối tượng vàhiện tượng cụ thể Những gì cụ thể (vật thật, tranh ảnh, mô hình,…) thì trẻ dễnhận biết bằng mắt nhìn, tai nghe, mũi ngửi, tay sờ, miệng nếm hơn là những

gì trừu tượng, khái quát Do vậy khả năng phân biệt đối tượng của các emchưa chính xác và chưa rõ ràng Do ảnh hưởng này mà quá trình học phânmôn Tập đọc của các em gặp không ít khó khăn, các em khó có thể đọc nhanh,đọc hiểu văn bản, nhất là với những văn bản tự thuật dài, ngôn ngữ lôgic…

Ở lứa tuổi HS Tiểu học, đặc điểm về tri giác, chú ý, trí nhớ, tưởng tượngcủa HS đã phát triển song chưa cao

Tri giác của các em thường mang tính bao quát, tri giác về thời gian vàkhông gian còn hạn chế

Sự chú ý không chủ định chiếm ưu thế, chú ý chủ định còn yếu nên các

em rất khó tập trung, khó hứng thú với các thể loại văn bản dài Tuy nhiên,yếu tố này dần thay đổi theo sự nâng cấp ở các lớp (từ lớp 1 đến lớp 5)

Trí nhớ và sức tưởng tượng của các em không cao, do vậy khả năng tiếp

Trang 10

tưởng được những nội dung cụ thể, sát thực và chủ yếu là ghi nhớ máy móc,chưa có sáng tạo.

Một thực tế chứng minh cho điều này đó là việc một số em nhớ nội dungbài học, văn bản theo tranh minh hoạ kèm theo bài mà không nhớ gì đến vănbản nội dung bài học

Tuy nhiên, cũng phải chú ý rằng trên cơ sở ý thức đã hình thành, khả năng

tư duy bằng tín hiệu của các em cũng đang phát triển Đây chính là cơ sở đểcác em lĩnh hội chữ viết, là những tín hiệu thay thế ngữ âm “Ở độ tuổi mẫugiáo tư duy về cơ bản mang tính trực quan hành động Đứa bé phân tích vàtổng hợp đối tượng cần nhận thức trong quá trình nó dùng tay tách ra, chia cắtrồi ghép lại những sự vật khác nhau mà nó tri giác được trong lúc đó.” (Giáotrình Tâm lí học đại cương, A.V.pêtrôvxky, NXB Giáo Dục- 2000) Sau đó

“Những khảo cứu chuyên biệt và khảo nghiệm đã chỉ rõ từ khi bước vào lớpMột các em đã sẵn sàng tri giác các ngữ âm tách biệt, đã sẵn sàng thể hiện cáchoạt động tư duy phân tích, tổng hợp.”

Chính những đặc điểm đó kết hợp với đặc trưng của phân môn Tiếng Việt

là thứ ngôn ngữ có nhiều thanh điệu, độc lập, mang nghĩa Vì thế trong chuỗilời nói ranh giới giữa các âm tiết được thể hiện rõ ràng, các âm tiết không bịnối dính vào nhau như ngôn ngữ biến hình Điều đó cho thấy trong quá trìnhdạy học nếu được chú ý xem xét các loại văn bản Tập đọc theo sự phát triểnngôn ngữ tư duy của các em sẽ có tác dụng tích cực nhằm nâng cao khả năngtiếp nhận ngôn ngữ và giao tiếp ở các em

Từ những cơ sở tâm sinh lí trên khiến cho quá trình dạy học Tập đọc cónhiệm vụ từng bước nâng cao hiệu quả dạy học theo sự phát triển tâm lí củacác em Trong quá trình dạy học người GV cần đặc biệt chú ý đề xuất nhữngbiện pháp dạy học tích cực nhằm đạt đến kết quả dạy học tốt nhất

Trang 11

1.1.2 Một số loại văn bản và đặc trưng các loại văn bản

1.1.2.1 Một số khái niệm cơ bản

a Khái niệm đọc

Đọc được xem như là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết vớinhau, là việc sử dụng một bộ mã gồm hai phương diện Một mặt, đó là quátrình vận động của mắt, sử dụng bộ mã chữ - âm để phát ra một cách trungthành những dòng văn tự ghi lại lời nói âm thanh Ngoài ra, đó là sự vận độngcủa tư tưởng, các khái niệm chứa bên trong để nhớ và hiểu cho được nội dungnhững gì được đọc

Chính vì vậy mà có rất nhiều khái niệm về đọc, tuy nhiên chúng ta xemxét đọc theo nghĩa sau:

“Đọc là một dạng hoạt động ngôn ngữ, là quá trình chuyển dạng thức chữ viết sang lời nói có âm thanh và thông hiểu nó (ứng với các hình thức đọc thành tiếng), là quá trình chuyển trực tiếp từ hình thức chữ viết thành các đơn

vị nghĩa không có âm thanh (ứng với đọc thầm)” [ 6 tr 139 ]

Như vậy, Tập đọc với tư cách là một phân môn của môn Tiếng Việt ởTiểu học có nhiệm vụ đáp ứng yêu cầu hình thành và phát triển năng lực đọccho HS

b Khái niệm dạy học Tập đọc

Dạy học Tập đọc là một phân môn thực hành, nhiệm vụ quan trọng nhấtcủa nó là hình thành năng lực đọc cho HS Xuất phát từ đó mà ta nhận thấy

“Dạy học Tập đọc là quá trình tác động qua lại giữa hoạt động dạy của thầy vàhoạt động học của trò, qua đó các em rèn luyện được bốn kĩ năng cơ bản: Đọcđúng, đọc nhanh (đọc lưu loát, trôi chảy); đọc có ý thức (thông hiểu được nộidung điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm [6 tr 147] Bêncạnh đó dạy học Tập đọc sẽ giáo dục lòng ham đọc sách, hình thành phươngpháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho HS, tạo cho các

em một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển

Trang 12

Ngoài ra, việc dạy học Tập đọc gắn với nội dung văn bản nên nó còn cóvai trò làm giàu kiến thức về ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho HS,phát triển tư duy cho HS, giáo dục tư tưởng, đạo đức, tình cảm và thị hiếuthẩm mĩ cho các em một cách có hiệu quả.

1.1.2.2 Khái niệm văn bản

Có nhiều khái niệm khác nhau về văn bản, nhưng xét trong khuôn khổchung của văn bản dành cho trường Tiểu học, ta có thể hiểu:

“Văn bản là một sản phẩm của lời nói, một chỉnh thể ngôn ngữ, thường bao gồm một tập hợp các câu và có thể có một câu đề, nhất quán về chủ đề và trọn vẹn về nội dung, được tổ chức theo một kết cấu chặt chẽ nhằm một mục đích giao tiếp nhất định.” [ 6 tr 155 ]

Tính chỉnh thể của một văn bản thể hiện ở mặt nội dung Đó là sự nhấtquán về chủ đề Vì văn bản (bài) được dạy ở Tiểu học có nội dung không lớnnên cấp độ dưới văn bản thường chỉ là đoạn văn, khổ thơ Để xác định nộidung của bài lại phải tìm được nội dung của đoạn

Ngoài ra, tính nhất quán của văn bản còn được thể hiện ở mục tiêu của nó.Văn bản là sản phẩm của quá trình giao tiếp Hoạt động giao tiếp nhằm cácmục đích: thông tin, tự biểu hiện, giải trí, tạo lập quan hệ và đích hành động.Những mục tiêu này được thực hiện đồng thời trong từng văn bản, nhưngtrong từng phong cách, từng thể loại văn bản, các mục tiêu không được thểhiện đồng đều

1.1.2.3 Một số loại văn bản và đặc trưng các loại văn bản trong chương trình Tập đọc ở Tiểu học

Các thể loại văn bản trong SGK phần Tập đọc rất phong phú và đa dạng

Có các văn bản khoa học, hành chính, công vụ, báo chí (còn gọi là văn bảnnhật dụng hay văn bản thông thường) nhằm mục đích thông báo các tin tức

Đó là những bài như: Tự thuật, Danh sách học sinh, Mục lục sách, Thời khoá

biểu, Nhắn tin, Thời gian biểu (lớp 2, tập 1), Thông báo thư viện vườn chim,

Trang 13

Gấu trắng là chúa tò mò, Nội quy đảo khỉ, Dự báo thời tiết, Bạn có biết (lớp 2,

tập 2), Đơn xin vào đội (lớp 3, tập1), Báo cáo kết quả tháng thi đua “Noi

gương chú bộ đội”, Chương trình xiếc đặc sắc, Tin thể thao (lớp 3, tập 2), Vẽ

về cuộc sống an toàn, Tiếng cười là liều thuốc bổ (lớp 4, tập 2), Nghìn năm văn hiến, Sự sụp đổ của chế độ A- pác- thai, Trồng rừng ngập mặn (lớp 5, tập

1), Luật tục người Ê- đê, Luật bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em (lớp 5, tập2)

Các văn bản nghệ thuật mang sự biểu hiện nghệ thuật, tư tưởng, tình cảm,thái độ với những nét đặc sắc riêng Nội dung này chiếm số lượng lớn trongchương trình Tập đọc ở Tiểu học

Ngoài ra còn những câu chuyện phiếm hay văn bản truyện cười nhằmmục đích giải trí, thư giãn Ta nhận thấy trong SGK có những văn bản truyện

cười ở lớp 2 như: Vì bây giờ mới có mẹ, Mít làm thơ, Mua kính, Đổi giày, Đi

chợ, Há miệng chờ sung, Cá sấu sợ cá mập…

Tuy nhiên, trong khuôn khổ đề tài và khả năng bản thân chúng tôi chỉkhai thác nội dung văn bản nghệ thuật với ba dạng cơ bản đó là: văn bản thơ,văn bản truyện cổ tích và các văn bản khác (văn bản kịch, văn bản miêu tả,…)trong nội dung chương trình của phân môn Tập đọc

a Đặc trưng cơ bản của văn bản thơ

* Khái niệm thơ

Thơ là những sáng tác dùng lời lẽ để bộc lộ cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ,tình cảm một cách trực tiếp, cho ta thấy thái độ chủ quan của con người đốivới thế giới

Nói cách khác thơ là hình thức văn học phản ánh hiện thực cuộc sống mộtcách cô đọng, hàm xúc Thông qua hiện thực nhà thơ muốn người đọc nắm

Trang 14

được cảm xúc của mình và nội dung thơ thể hiện thế giới chủ quan mang tìnhcảm chung nhằm thuyết phục người đọc.

Thơ có tiết tấu, có nhịp điệu Ngữ pháp của thơ cũng khác với ngữ phápcủa văn xuôi Sự ngắt nhịp, sự ngừng nghỉ trong thơ cũng nhiều, liên tục hơn

so với văn xuôi Ngữ điệu, giọng điệu của thơ cũng có những nét riêng rất dễnhận thấy Tiết tấu của bài thơ, âm vang của vần điệu, sự hài hoà của âm thanh

là những tín hiệu nhằm diễn đạt nội dung thơ mà người ta chỉ có thể cảm nhậnđược thông qua việc đọc thành tiếng Vì thế, đọc diễn cảm là một biện phápquan trọng trong dạy đọc thơ Nhờ cách đọc của mình, người GV có thểtruyền cho các em cái vui náo nức của thời đi học, cái đẹp nên thơ của luỹ trelàng, cái yêu tha thiết của con người với đất mẹ yêu thương, cái nhớ đến cháyruột cháy lòng về người bà kính mến và tuổi thơ xa xăm của một người chiến

sĩ trên đường ra trận… “Qua đó HS cảm thụ được tâm tình của tác giả, thâutóm được hình tượng mà nhà thơ tạo ra, hoà nhịp với tâm hồn nhà thơ, vàphần nào đánh giá về nhà thơ nữa.” [9 tr 27]

Bên cạnh đó, chúng ta còn thấy ngôn ngữ thơ là ngôn ngữ có sự gọt giũa,chọn lọc ở mức độ cao Từ ngữ trong thơ là những từ ngữ giàu hình ảnh, thơ lànhạc, là hoạ, là nghệ thuật của ngôn từ Từ những nét tạo nên thơ ở trên sẽ ảnhhưởng rất lớn đến cách dạy, cách học các văn bản thơ đối với HS Tiểu học

* Những nét đặc trưng của văn bản thơ trong phân môn Tập đọc

Qua xem xét chương trình SGK chúng tôi nhận thấy: Do đặc điểm nhậnthức, đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi HS Tiểu học mà ảnh hưởng một phần đến

sự lựa chọn thể loại văn bản trong chương trình ở phân môn Tập đọc Đi sâuvào tìm hiểu chúng tôi nhận thấy, văn bản thơ được sử dụng chiếm một ưu thếlớn trong tất cả các lớp, ở hầu hết các chủ điểm (từ lớp 2 đến lớp 5) Với dunglượng ngắn, các bài học là thơ thường yêu cầu HS học thuộc lòng chứng tỏ rõ

Trang 15

nhịp nhàng như thể thơ lục bát, tứ tuyệt,… Sự nhận thức đó đã sát với quátrình nhận thức của các em HS lứa tuổi này, phù hợp với lượng thời gian mộttiết học ở Tiểu học Đặc biệt, các em dễ dàng học thuộc ngay trong tiết họcvăn bản thơ đó.

Về mặt nội dung, nhìn chung nội dung khá phong phú và đa dạng Trongtất cả các chủ điểm về cuộc sống, con người, hoà bình,… đều có các văn bảnthơ mang tình yêu quê hương, đất nước, con người, thiên nhiên tươi đẹp, hấpdẫn qua những hình ảnh rất gần gũi, thân thiết với các em Thông qua đó, đemlại cho các em cái “Nhạy bén của tình cảm, cái kì diệu của âm nhạc, cái tinhhoa của tiếng mẹ đẻ.” [9 tr 27] Giáo dục cho các em lòng yêu quý lao động,yêu quý thế giới sự vật sinh động xung quanh các em Thế giới đó gắn với các

em ngay từ khi lọt lòng qua câu hát ru, bài tục ngữ, ca dao,… mà bà, mẹ đọccho các em Đặc biệt cách dùng những hình ảnh nghệ thuật trong thơ được liêntưởng, nhân hoá một cách hấp dẫn, lí thú gây xúc động trong tâm hồn các em

b Đặc trưng cơ bản của văn bản truyện cổ tích

* Khái niệm truyện cổ tích

Văn bản truyện nói chung là loại tác phẩm kể về các sự vật, sự việc hoặc

kể về con người trong tính khách quan của nó Văn bản truyện là thể loại văn

học rất lớn, có khả năng phản ánh hiện thực sâu rộng, có vị trí quan trọng

trong đời sống tinh thần, nhất là thời hiện đại ngày nay Do vậy nó có nhiềuđặc điểm khác nhau về tính chất, dung lượng, về phương thức trần thuật, lời

kể Nhưng nói chung truyện có đặc điểm cơ bản đó là: nội dung truyện luônphản ánh hiện thực cuộc sống và hướng người đọc đến đó Dù là truyện cổtích tưởng tượng của dân gian, hay truyện kể hiện thực đời sống khách quancủa con người đều là phản ánh thế giới quan cuộc sống qua lăng kính chủquan của tác giả Do đặc thù của thể loại mà truyện có các yếu tố như: sự kiện,

Trang 16

cốt truyện vừa để bộc lộ tính cách nhân vật, vừa để nhà văn tái hiện các sựkiện Nhân vật trong truyện cũng được miêu tả rất kĩ về hình thức cũng nhưnội tâm và các mối quan hệ với xung quanh Bên cạnh đó chúng ta phải đặcbiệt chú ý đến lời kể Lời kể là lời miêu tả luôn hướng người đọc ra thế giớihiện thực ngoài cuộc sống Những nét trên của truyện sẽ tạo nên cách thâmnhập, cách đọc khác nhau của từng thể loại văn bản mới có thể đạt hiệu quảcao.

Xét về truyện cổ tích- một thể loại truyện khá quen thuộc và dễ đi sâu vàoviệc tiếp thu kiến thức văn học của lứa tuổi HS Tiểu học cũng có rất nhiềukhái niệm khác nhau GS Hoàng Tiến Tựu trong giáo trình văn học dân gian

Việt Nam có nêu: “Truyện cổ tích là một loại truyện kể dân gian ra đời từ

thời kì cổ đại, gắn liền với quá trình tan rã của chế độ công xã nguyên thuỷ hình thành của gia đình phụ truyền và phân hoá giai cấp trong xã hội, nó hướng vào những vấn đề cơ bản, những hiện tượng có tính phổ biến trong đời sống nhân dân, đặc biệt là xung đột có tính chất riêng tư giữa người với người trong phạm vi gia đình và xã hội

Nó dùng một thứ tưởng tượng và hư cấu riêng, kết hợp với thủ pháp nghệ thuật đặc thù phản ánh ước mơ và đời sống của nhân dân, đáp ứng nhu cầu nhận thức thẩm mĩ, giáo dục, giải trí của nhân dân trong những hoàn cảnh lịch sử khác nhau của xã hội có giai cấp.” [15]

* Những nét đặc trưng cơ bản của truyện cổ tích trong phân môn Tập đọc.

Từ khái niệm khá đầy đủ trên mà chúng ta có những nhận xét cơ bản vềthể loại truyện cổ tích trong chương trình học của bậc Tiểu học

Trong cuốn “Dạy văn cho học sinh Tiểu học” của tác giả Hoàng Hoà

Bình [2 tr 14] có một phần nội dung điều tra về hứng thú đọc sách văn họccủa các em HS Tiểu học và kết quả thu được khá thú vị: trong nhiều thể loại

Trang 17

văn bản truyện, thì truyện cổ tích được xem là thể loại hay hơn cả vì thế giớicủa truyện hấp dẫn, với những nhân vật có niềm say mê mãnh liệt, trong sáng,làm phong phú thế giới tinh thần và niềm mơ ước cao đẹp ở các em nên nóđược hơn 90% HS yêu thích.

Xuất phát từ đó mà chương trình Tiếng Việt ở Tiểu học có nhiều thể loạivăn bản truyện cổ tích sử dụng trong dạy học Tập đọc từ lớp 2 đến hết lớp 5

Ở mỗi thể loại có nét đặc trưng và tác dụng khác nhau, nên những câu truyện

cổ tích cũng đi sâu vào tâm hồn các em với những dấu ấn sâu đậm cho nhữngnăm về sau

Với đặc điểm của truyện cổ tích là thể loại truyện dùng hư cấu tưởngtượng và thủ pháp nghệ thuật đặc thù, phản ánh ước mơ và đời sống nhân dân,đáp ứng nhu cầu nhận thức thẩm mĩ, giáo dục,… của nhân dân Chính vì vậytrong quá trình dạy học văn bản truyện cổ tích người GV đặc biệt chú ý khaithác những nét đặc trưng riêng này là rất cần thiết, nó giúp cho chúng ta có cáchdạy đọc và nhận thức vào HS đạt hiệu quả cao nhất

c Đặc trưng cơ bản của các văn bản khác (kịch, miêu tả, …) trong phân môn Tập đọc

Trong phần nội dung của văn bản nghệ thuật, ngoài thơ và truyện là haidạng văn bản chiếm phần lớn chương trình thì chúng ta còn chú ý đến một sốdạng văn bản khác đó là: Kịch, miêu tả… Đây là các dạng văn bản nằm xen kẽvới nhau tạo nên sự hấp dẫn, phong phú cho các bài Tập đọc

Các sáng tác theo thể loại kịch được phân bố với một số tác phẩm ở lớp

cuối cấp (lớp 5) Cụ thể là: Lòng dân, Người công dân số Một, … Để phù hợp

với khả năng cảm thụ của đối tượng HS Tiểu học và dung lượng một tiết học,các trích đoạn chỉ tương ứng với một cảnh diễn và được chia, tách ra khá hợp lítheo bài giúp cho sự hiểu biết của các em thêm sâu sắc

Trang 18

Chúng ta có thể dễ thấy, kịch là loại hình nghệ thuật tổng hợp được thểhiện trên sân khấu, thuộc về phần văn học chỉ là kịch bản ngôn từ Kịch viết ranhằm mục tiêu để diễn chứ không chỉ để đọc “Trong khi xây dựng các vở kịchcủa mình ông nhìn thấy sân khấu trước khi viết chúng” (gớt)

Các sáng tác kịch trong chương trình Tiểu học là những trích đoạn ngắnkhông có lời kể, lời miêu tả mà chỉ có lời ghi chú, phần chủ yếu của kịch là lờiđối thoại, độc thoại Hầu hết trong các trích đoạn đều có xung đột kịch lên đếnđỉnh điểm cần được giải quyết, những mâu thuẫn đan xen tạo nên tính hấp dẫncủa vở kịch

Nhân vật kịch trong đó có vai trò quan trọng và chỉ có hành động, cử chỉ,

… Những nét riêng trên của kịch tạo nên cách dạy đọc, dạy đóng vai diễn đạtđược nội dung này của văn bản kịch rất khó và yêu cầu người GV phải cóphương pháp phù hợp mới giúp các em đọc tốt và hiểu sâu nội dung kịch

Bên cạnh đó còn những sáng tác miêu tả là những nét vẽ bằng lời nhữngđặc điểm nổi bật của cảnh, con người, hiện tượng,… giúp người khác cảm nhậnđược những điều đó Văn miêu tả là một thể loại văn học sử dụng ngôn từ xâydựng nên, được phân chia thành những câu, những đoạn vốn có lời nói thườngngày nhưng đã được tu chỉnh lại

Xem xét nội dung văn bản miêu tả trong chương trình SGK Tiểu họcchúng tôi nhận thấy phần lớn các bài văn tập trung vào miêu tả phong cảnh nonsông đất nước của quê hương gắn với muôn loài, với vẻ đẹp bình dị được gợicảm bằng những hình ảnh quen thuộc: con trâu, bến nước, mái đình, những cảnhsinh hoạt, lao động của nhân dân…

Chúng tôi nhận thấy rằng đa số các văn bản miêu tả thường ngắn tuynhiên nội dung thì phong phú, được truyền tải bằng nghệ thuật miêu tả tinh tế,gợi cảm, đặc sắc

Trang 19

VD: Đọc Cánh diều tuổi thơ- Tiếng Việt 4, tập 1, có đoạn: “Ban đêm,

trên bãi thả diều thật không còn gì huyền ảo hơn Có cảm giác diều đang trôi trên dải Ngân Hà Bầu trời tự do đẹp như một thảm nhung khổng lồ Có cái gì

cứ cháy lên, cháy mãi trong tâm hồn chúng tôi Sau này tôi mới hiểu đấy là khát vọng Tôi đã ngửa cổ suốt một thời mới lớn để chờ đợi một nàng tiên áo xanh bay xuống từ trời và bao giờ cũng hi vọng khi tha thiết cầu xin: “Bay đi diều ơi! Bay đi! Cánh diều tuổi ngọc ngà bay đi, mang theo nỗi khát khao của tôi.” Khi

dạy HS cách đọc chúng ta cần nhấn mạnh các từ: “huyền ảo”, “thảm nhung

khổng lồ”, “nàng tiên áo xanh”, “tuổi ngọc ngà” để thể hiện cánh diều khơi gợi

những mơ ước đẹp cho tuổi thơ Ngôn ngữ của bài văn được tác giả chọn lọc kĩcàng, chặt chẽ, dễ hiểu, dễ gần với tư duy của các em và mang tính thẩm mĩ cao

Chính vì vậy mà trong quá trình dạy học Tập đọc việc nắm vững nét đặctrưng riêng của từng văn bản là rất quan trọng và cần thiết để có cách dạy hợp lí,

và cách học có hiệu quả cao nhất

Nhìn chung, qua sự xem xét trên chúng ta nhận thấy những nét đặc trưng

cơ bản riêng của các thể loại văn bản có một ảnh hưởng lớn trong kết quả đạtđược của quá trình dạy học Tập đọc Ở các văn bản truyện nói chung và truyện

cổ tích nói riêng cần sự bám sát vào các yếu tố cốt truyện, nội dung, lời văn, tìnhtiết… để có thể đi sâu vào tác phẩm; còn các sáng tác thơ lại là sự chú ý đến kếtcấu nghệ thuật, ngôn từ, nhạc điệu, nhịp thơ, các biện pháp tu từ, những hìnhảnh đặc sắc, … tạo nên sắc thái riêng Các thể loại văn bản khác như kịch, miêutả… thì cũng luôn quan tâm đến ngôn ngữ, câu, đoạn,… để có cách đọc hợp lí.Khi dạy người GV cần xem xét các yếu tố đặc trưng ấy để có cách dạy học phùhợp, đáp ứng mục tiêu, nhiệm vụ của bài

1.2 CƠ SỞ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.2.1 Thực trạng dạy học Tập đọc ở các trường Tiểu học

Trang 20

Trong dạy học Tập đọc ở trường Tiểu học phải nắm được đặc trưng ngônngữ từng thể loại văn bản nghệ thuật, đặc trưng phản ánh nghệ thuật của văn bảnnghệ thuật sẽ giúp HS tiếp nhận vẻ đẹp của ngôn từ, vẻ đẹp của cách nói vănchương, cần hướng các em vào các tín hiệu nghệ thuật và đánh giá được giá trịcủa chúng trong việc biểu đạt nội dung Những tín hiệu nghệ thuật này là biểuhiện đặc trưng riêng của từng thể loại văn bản bằng các từ gợi tả, gợi cảm, cácbiện pháp tu từ, những tứ thơ, hình ảnh đẹp,… Trong quá trình dạy cho HS tiếpnhận được các văn bản nghệ thuật GV cần giúp các em nắm được cái làm nênchức năng của văn bản, cũng là cái làm nên sắc vẻ riêng của từng bài Tập đọc.

VD: Dạy một bài Tập đọc về: Cây gạo, cây sầu riêng,…GV không chỉ

hướng dẫn HS thấy được những cây này khác nhau như thế nào và thấy tác giảchất chứa vào đó những tình yêu, cảm xúc với cây, với đời, với quê hương, đấtnước như thế nào, mà còn hướng các em vào cách đọc, cách cảm nhận ý nghĩa

đó qua sự phân tích nét riêng của từng loại văn bản nghệ thuật

Chính vì vậy mà nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc dựa vào nét đặctrưng phong cách từng thể loại văn bản là rất cần thiết và có ý nghĩa lớn

Tuy nhiên, trên thực tế kết quả Giáo dục trong những năm gần đây vẫncòn nhiều hạn chế Đối với phân môn Tập đọc tuy đã có sự “cải cách” lớn trongtất cả các nội dung từ chương trình học (SGK), phương pháp dạy, quy trình giờhọc, phương tiện dạy học,… vẫn chưa đáp ứng mục tiêu đặt ra Đáng chú ý hơncho những vùng gặp nhiều khó khăn về điều kiện vật chất, vùng sâu vùng xa,nhất là một số khu vực miền núi Sơn La đó là khả năng đọc của HS còn kém, sựnhận thức mặt chữ, khả năng chuyển đơn vị ngôn ngữ chữ viết sang âm thanh,lời nói còn nhiều hạn chế cần khắc phục

Trước hết, chúng ta cần xem xét cấu trúc bài dạy mà các GV thường ápdụng trong các giờ Tập đọc và dễ nhận thấy đó là:

Trang 21

Bước 1: Luyện đọc thành tiếng

Bước 2: Tìm hiểu nội dung bài học

Bước 3: Luyện đọc diễn cảm (đọc hay, đọc thuộc)- cũng chính là luyện

đọc củng cố bài

Chính sự sắp xếp này mà giờ học Tập đọc được GV coi trọng năng lựcđọc của mình, tập trung cao độ vào người dạy và cảm nhận sâu sắc của mìnhvào văn bản Vì thế yếu tố quyết định đến chất lượng giờ học là người GV vềkhả năng cảm thụ văn chương, khả năng truyền đạt cái hồn, nội dung tác phẩmqua giọng đọc để tác động đến HS

Vì vậy mà trong giờ học đối tượng HS không được coi trọng Ngoài một

số em có khả năng đọc tốt được gọi đọc mẫu, thì chủ yếu các em chỉ được đọcthầm theo nội dung bổ ngang của bài học (khai thác theo từng đoạn, từng khổthơ) để tìm hiểu nội dung, ý nghĩa, tư tưởng bài học GV cũng chú ý quá nhiềuđến việc khai thác nội dung bằng các câu hỏi xoay quanh việc đưa ra nội dungchính của bài đọc, vì đưa ra cách dạy học như trên đã dẫn đến việc GV luôn tìmcách làm đơn giản hoá nội dung cần chú ý của giờ học Tập đọc, làm mất đi tínhlôgic, độc đáo, ý đồ nghệ thuật của tác giả Việc tìm hiểu nội dung bài học quá

chú trọng đến phần: “giải nghĩa từ khó, từ dễ lẫn, từ địa phương,…” và “tìm

hiểu bài” dẫn đến việc mất quá nhiều thời gian và dung lượng kiến thức, từ đó

mà nhiệm vụ hình thành những kĩ năng cơ bản của giờ học Tập đọc bị mờ nhạt

Chúng ta cùng đi sâu, cụ thể vào một bài Tập đọc trong một hội thi giảng

của một GV, bài Về miền đất đỏ Tiết dạy đã làm người dự có những ấn tượng

tốt về cô hơn là về HS của cô Cô duyên dáng, giọng nói, giọng đọc truyền đây cũng chính là một nhân tố quyết định đến hiệu quả giờ học Cô chuẩn bị bàicông phu: lời vào bài hấp dẫn, có đàm thoại, có dùng trực quan, có sự tác độngkhả năng, sự suy nghĩ của các em, nhưng phương pháp chủ yếu là thuyết trình,

Trang 22

cảm-giảng giải và áp đặt cách hiểu của cô cho HS VD: cô yêu cầu HS: “đọc thầm

đoạn 1 và xem quyết tâm của các anh bộ đội khi tiến về giải phóng miền đất đỏ”; “đọc đoạn 2 và suy nghĩ về suy tưởng của các anh bộ đội khi đặt chân lên miền đất đỏ”; “đọc đoạn 3: cảm xúc của các anh bộ đội khi về giải phóng miền đất đỏ” Ý của các đoạn văn đã được cô nói và viết sẵn lên bảng, HS chỉ diễn

giải khi tìm các từ ngữ chứng minh cho các ý này Có thể chọn cách dạy làm HSphải động não và tích cực hơn, nếu cô yêu cầu các em đọc và tự khái quát hoáchi tiết để đến được các ý Nhiệm vụ này HS có thể làm được vì nội dung vănbản đơn giản, ngắn gọn Theo cách này cũng không mất nhiều thời gian (với mộtgiờ học chỉ có một tiết từ 40- 45 phút) nếu có những câu hỏi cho HS suy nghĩtrước ở nhà Tốt nhất là cô giáo dùng phiếu giao việc (phiếu bài tập) trong nộidung bài giảng này

Trong tiết học, GV cũng yêu cầu HS tìm những từ ngữ khó hiểu, từ khó,

từ dễ lẫn, … với các em, nhưng phần lớn những từ khó này do cô đặt ra và tựgiải thích Mặc dù cô giải thích rất hay và giải thích như thế nhiều khi cần (đặc

biệt với những từ ngữ khó, từ giàu hình ảnh: “vòng kìm kẹp”, “nỗi đắng cay

ngọt ngào”, “kỉ niệm rưng rưng”), nhưng cũng cần và nên cho HS đặt câu với

những từ ngữ này, để các em nắm vững hơn những từ ngữ này ở mức độ có thểdùng chúng trong đời sống

Phần dạy đọc diễn cảm, cô cũng nói thay HS: cần đọc bài với giọng đọcnhư thế nào, cần nhấn giọng, ngắt giọng,… ra sao Kết thúc giờ học, cô hát bàihát ngợi ca chị Võ Thị Sáu- người anh hùng của miền đất đỏ

Trong giờ học, có đàm thoại giữa cô giáo và HS, có lúc cô còn yêu cầu

HS đặt câu hỏi để khai thác đoạn 1 HS đặt hai câu hỏi: “Ai về miền đất đỏ?”,

“Các anh bộ đội tiến về miền đất đỏ với quyết tâm như thế nào?” Sau đó cô

tiếp tục mạch thuyết giảng Như vậy, việc cố gắng phát huy tính tích cực, chủđộng của HS vẫn chỉ là hình thức, bản chất của giờ học Tập đọc này là dạy học

Trang 23

truyền thống Giờ học thành công do quan niệm cũ, vì HS được đọc và xúc độngvới bài văn, nhưng xúc động này có được là do lây cảm xúc của cô giáo nhiềuhơn, do cách tổ chức học văn bản đã gợi lên trong lòng HS những suy nghĩ, xúcđộng, giúp các em bộc lộ những suy nghĩ, xúc động ấy qua nghe, nói, viết đểnhững gì HS có được sẽ đọng lại mà không dễ trôi đi Đó là một thực tế đặt racho chúng ta những câu hỏi cần giải quyết trong cách dạy, phương pháp truyềnthụ và tác động vào HS nhằm thu được kết quả cao trong giờ học Tập đọc.

Một vấn đề nữa mà chúng ta cũng cần chú ý là thời gian dành cho một tiếthọc Tập đọc không nhiều Trong khi đó dung lượng, độ dài ngắn của các vănbản lại khác nhau, bước sang lớp 4, lớp 5 các văn bản thường lớn, nội dungphong phú hơn, không chỉ những văn bản Tiếng Việt mà còn có các văn bảnnước ngoài được dịch sang Vì vậy cần có thời gian để các em tiếp cận nội dung,cách đọc với thể loại văn bản đó Để đảm bảo cho giờ học Tập đọc đạt kết quảcao, mọi HS đều học tốt, cảm thụ được tác phẩm là một vấn đề khó khăn khiếncho nhiều GV lúng túng, bị động, không có cách đi thích hợp với từng thể loạibài cụ thể

Với thể loại văn bản thơ do đặc điểm riêng nên trong quá trình khám phámột bài thơ đòi hỏi phải công phu, phải đi từ các lớp hình ảnh, âm thanh, nhịpđiệu để tìm hiểu vẻ đẹp độc đáo của tác phẩm mà tác giả gửi gắm trong đó.Nhưng trong quá trình dạy học Tập đọc người GV thường chú ý đến nội dung

mà quên đi nhiệm vụ khai thác hình thức nghệ thuật và làm bài học trở nên khôkhan, HS dễ nhàm chán

Từ thực trạng này cũng đặt ra những vấn đề đáng quan tâm trong việc đổimới, cải tiến phương pháp, biện pháp dạy học thích hợp

1.2.2 Thực trạng dạy học Tập đọc dựa theo đặc trưng văn bản ở trường Tiểu học

Trang 24

Xuất phát từ thực trạng trong dạy học Tập đọc trên chúng tôi đã tiến hànhkhảo sát việc nhận thức và hiểu biết của GV về sự chú ý đến nét đặc trưng riêngtừng loại văn bản trong dạy học Tập đọc Kết quả thu được đã có sự phân biệt rõràng theo sự nhận thức của mỗi GV và mức độ nhận thức cũng khác nhau

Trước hết chúng ta cùng xem xét việc hiểu ý nghĩa đặc trưng của các thểloại văn bản đối với dạy học Tập đọc trên 12 GV trường Tiểu học Quyết Thắng-Thị xã Sơn La, thì có 9 GV (chiếm 75%) đánh giá cao về nét riêng biệt của cácthể loại văn bản, nhận thấy nếu nắm được những yếu tố đó thì sẽ phát huy tínhchủ động, tích cực lĩnh hội tri thức ở các em, nâng cao kĩ năng học hỏi, tiếp thunhanh nội dung, ý nghĩa bài học… Như vậy sự nhận thức của các GV về vấn đềnày khá được chú ý, quan tâm, các GV đã đánh giá một cách khá tốt đến hìnhthức nghệ thuật, cấu tạo của từng văn bản để đánh giá được ý nghĩa của nó trongchương trình dạy học Tập đọc

Tuy nhiên vẫn còn một khoảng số lượng nhỏ (chiếm 25 %) số GV chưa

có việc tìm hiểu kĩ, sâu về vấn đề này Họ cho rằng việc dạy học Tập đọc theođặc trưng văn bản là không cần thiết bởi quy trình dạy học bài Tập đọc là nhưnhau; nếu xem xét các đặc trưng văn bản sẽ tốn nhiều thời gian, GV phải chuẩn

bị công phu Hoặc có những GV lại cho rằng việc áp dụng những nét đặc trưng

đó chỉ nên dựa vào một số bài cụ thể, đặc biệt mà thôi Chính vì thế mà khi dạy,

GV chỉ đi sâu vào việc khai thác nội dung của bài học mà không tìm hiểu đặctrưng văn bản và áp đặt HS

Từ nhiều cách nhìn nhận, đánh giá này của các GV dẫn đến kết quả củaviệc áp dụng vấn đề nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc qua nét riêng từng loạivăn bản cũng khác nhau Ngay cả với những GV có những ý hiểu đúng đắn vấn

đề này cũng không tránh khỏi những lúng túng trong giờ dạy Tập đọc, họ khôngbiết làm bằng cách nào và như thế nào để có thể áp dụng nét riêng này vào giờhọc một cách có hiệu quả Phần lớn nội dung tiết học Tập đọc đều rập khuôn

Trang 25

theo một quy trình chung cho mọi loại văn bản không có sự phân chia phù hợp,thích đáng

Trong thực tế dự giờ ở các trường phổ thông chúng tôi nhận thấy rằng:khi dạy các bài thơ GV đã chú ý nhắc HS ngắt giọng đúng nhịp thơ, cuối mỗidòng thơ và giữa các khổ thơ Tuy nhiên, việc cảm nhận bài thơ thì chủ yếu savào tìm hiểu nội dung, câu chữ có sẵn trong bài, mà không chú ý đến khai tháccác từ ngữ mang giá trị biểu hiện nghệ thuật một cách đặc sắc HS thụ động chỉ

ra nội dung theo cách đọc lại cả câu thơ và quá chú ý đến sự nhấn giọng câuchữ, các em không có khả năng nhận ra nét đẹp trong từ ngữ mà nhà văn đã lựachọn một cách hàm xúc

VD: Khi dạy bài Vàm Cỏ Đông- Tiếng Việt 3, tập 1 Của nhà thơ Hoài

Vũ, ta có đoạn:

Ở tận sông Hồng, /em có biết / Quê hương anh /cũng có dòng sông / Anh mãi gọi /với lòng tha thiết: //

Vàm Cỏ Đông! //Ơi Vàm Cỏ Đông! //

Đây con sông /xuôi dòng nước chảy / Bốn mùa soi /từng mảnh mây trời / Từng ngọn dừa /gió đưa phe phẩy / Bóng lồng /trên sóng nước /chơi vơi //

Bài thơ này khá hay, do vậy khi dạy GV đã có cách ngắt nhịp đúng và

nhấn giọng các từ: “mãi gọi, tha thiết, ơi”, tạo cho bài thơ có điểm nhấn sâu

hơn, giúp người nghe cảm nhận cái hay của ý thơ như những nốt nhạc ngân

vang Tuy nhiên, khi tìm hiểu nội dung của khổ thơ người GV chỉ hỏi HS: “câu

thơ nào thể hiện tình cảm của tác giả đối với dòng sông?” và HS thụ động đọc

khổ thơ mà các em cho là nói lên tình cảm của nhà thơ với dòng sông:

Trang 26

Anh mãi gọi với lòng tha thiết Vàm Cỏ Đông! Ơi Vàm Cỏ Đông//

mà không cảm nhận được tình cảm, tình yêu tha thiết và lòng tự hào của tác giảđối với con sông như thế nào Câu thơ vừa nhẹ nhàng vừa có giai điệu, thể hiệnnỗi nhớ của tác giả về con sông đẹp đã ghi dấu ấn nhiều chiến công của đồngbào miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Tiếng gọi tha thiết của tác giảnếu được chú ý quan tâm HS sẽ có cách cảm nhận ý tứ của bài thơ một cách sâusắc nhất Đây là một hạn chế đáng tiếc nếu GV không chú ý đến việc xem xétnhững từ ngữ, hình ảnh độc đáo của bài thơ thể hiện cái hồn của bài thơ – cái màtác giả gửi gắm tới người đọc về tình cảm của mình về một dòng sông quêhương trường kì, có ý nghĩa với lịch sử với con người Việt Nam

Cũng trong thực trạng đó với các văn bản truyện cổ tích, người GV quátập trung vào việc khai thác nội dung truyện qua hệ thống câu hỏi trong SGK màchưa thực sự đi sâu vào ý nghĩa, giá trị và bài học rút ra của câu chuyện Chưathực sự đi sâu vào mục đích hướng ra ngoài bao hàm của câu chuyện mà chỉ chú

ý đến các tình tiết của truyện, các sự kiện sảy ra trong truyện và khai thác mộtchút sự sáng tạo trong cách nhìn nhận tên của tác phẩm

Chúng ta cùng xem xét nội dung của bài Tập đọc Mồ Côi xử kiện (Tiếng

Việt 3, tập 1) HS nắm được nội dung của bài do GV hướng dẫn, chỉ xoay quanhviệc đặt câu hỏi gắn với các sự kiện mà câu chuyện xảy ra Các câu hỏi khai thác

về: Truyện có những nhân vật nào?, Chủ quán kiện bác nông dân về việc gì?,

Mồ Côi đã có cách hỏi và xử kiện như thế nào?, Vì sao tên chủ quán sau khi Mồ Côi xử kiện không được cầm 20 đồng của bác nông dân mà vẫn phải tâm phục, khẩu phục? và: Em hãy thử đặt một tên khác cho câu chuyện? Qua cách phân

tích nội dung ở trên, HS chỉ có thể nắm được: nhờ sự thông minh, tài trí mà MồCôi đã bảo vệ được bác nông dân thật thà trước sự gian trá của tên chủ quán ăn

Và những khai thác nội dung trên chưa thể đạt được mục tiêu bài học theo yêucầu mới đề ra Vấn đề mà tác giả gửi gắm qua những câu chuyện có tính chất

Trang 27

tốt- kẻ xấu còn tồn tại trong cuộc sống con người, cho các em biết ước mơ củanhân dân lao động vươn tới, ngoài ra nó còn tạo cho các em thái độ học hỏi, cốgắng vươn tới tầm cao của trí tuệ Trong quá trình dạy, người GV biết kết hợp

sử dụng những đặc trưng riêng về nội dung cũng như nghệ thuật thường thấy ởthể loại văn bản này sẽ có tác dụng rất tốt nhằm đạt mục đích cao trong việc tiếpthu tri thức của HS mang lại hiệu quả cao

Bên cạnh những văn bản trên, các thể loại khác như kịch, miêu tả,… dođặc điểm thể loại không chỉ là ngôn bản dùng bằng mắt, bằng miệng để cảmnhận được cái hay, cái đẹp của nó Mà cần đến cả thái độ, cử chỉ, giọng điệu, nétmặt,… cùng phối hợp mới tạo nên giá trị tác phẩm thì đạt mục tiêu bài học là rấtkhó, cần có các biện pháp dạy học theo nhiều hướng khác nhau, nhiều đề xuấtmới mẻ để nâng cao hiệu quả giờ học

TIỂU KẾT

Qua việc xem xét, phân tích cơ sở lí luận các thể loại văn bản, chúng tanhận thức được tầm quan trọng trong việc chú ý đến nét đặc trưng của các loạivăn bản nghệ thuật là rất thiết thực Sự khác nhau cơ bản giữa các thể loại vănbản đó là: với văn bản thơ là thể loại phản ánh cuộc sống bằng ngôn từ gọt giũa,

cô đọng,… cần chú ý đến nhịp điệu, thể thơ, ngôn từ giàu hình ảnh tạo nên sựđặc sắc, gợi tả của bài thơ Với truyện cổ tích dân gian là cốt truyện, nhân vật,ngôi kể, lời kể,…; với các thể loại văn bản kịch, miêu tả,…lại là ngôn ngữ,giọng điệu, ngữ cảnh, vai nhân vật,… Chính vì vậy đặt ra cho chúng ta nhiệm vụquan tâm đến các nét riêng của từng thể loại bài đọc để có các biện pháp đổi mớitrong dạy học, nhằm nâng cao hiệu quả dạy học Tập đọc theo yêu cầu mới củathời đại

Bên cạnh đó, việc tìm hiểu thực trạng dạy học Tập đọc nói chung và việckhảo sát sự hiểu biết của GV về vấn đề dạy Tập đọc dựa vào nét đặc trưng thểloại văn bản nói riêng cho chúng ta thấy còn chưa sâu sắc, đôi khi đánh giá thấpvai trò này mà chúng ta cần phải nghiên cứu và đưa ra những giải pháp hợp lí

Trang 28

Do đó, chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số biện pháp dạy học Tập đọc theonhững nét đặc trưng của các thể loại văn bản

2.1 BIỆN PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC VĂN BẢN THƠ

Khác với các văn bản khác, thơ là văn bản nghệ thuật mang những nét đặctrưng riêng mà khi dạy học Tập đọc phải đặc biệt chú ý, đó là: nhịp điệu, thểthơ, hình ảnh thơ,… Ngôn ngữ thơ có sự gọt giũa, chọn lọc ở mức độ cao.Những hình ảnh trong thơ mang cảm xúc chủ quan của tác giả Vì vậy đọc thơ ởTiểu học không chỉ là việc dạy học luyện đọc một thể loại văn học mà còn làmột hoạt động có hiệu quả cao trong việc bồi dưỡng, nâng cao năng lực thẩm mĩcho các em Thơ sẽ làm giàu thế giới tinh thần của các em, giúp cho các en nhận

ra được cái đẹp của thiên nhiên, của lao động và của trí tuệ con người Tất cảnhững điều đó giúp cho HS dễ đọc, dễ nhớ, dễ học thuộc lòng các bài thơ Tuy

Trang 29

thơ thì HS cũng cảm nhận và học được tốt Điều quan trọng là GV phải có cáchiểu biết về đặc trưng của thơ để có các biện pháp phù hợp Có thể sử dụng một

số biện pháp sau:

2.1.1 Dạy đọc thơ truyền cảm theo nhịp điệu

Sự khác biệt giữa văn xuôi và thơ chính là nhịp điệu Nhịp thơ có thể hiểu

đó là sự luân phiên của vần thơ, sự luân phiên của các chỗ ngừng nghỉ, sự luânphiên của thanh điệu… Chính sự luân phiên đều đặn các yếu tố dòng thơ, vầnthơ, thanh điệu một cách có quy luật mà giọng đọc của thơ so với văn xuôithường chậm dãi hơn, lên bổng xuống trầm nhiều hơn, chỗ nhấn chỗ lướt cũngtrở nên đa dạng, nhiều hình vẻ hơn Nhịp điệu được coi là phương tiện truyềncảm nghệ thuật rất có hiệu lực của thơ Đọc thơ không thể hiện được nhịp điệuthì không phải là đọc thơ Đọc thể hiện đúng nhịp điệu là thể hiện đúng tưtưởng, tình cảm của bài thơ và truyền cảm được cách hiểu của người đọc đếncho người nghe Việc sử dụng các sắc thái khác nhau của nhịp điệu sẽ đem lạicho ngôn ngữ thơ một sức mạnh đặc biệt Với những nội dung khác nhau, tưtưởng, tình cảm khác nhau mà thơ sẽ có cách tạo nhịp khác nhau Có rất nhiềunhịp thơ như: nhịp 2/2; nhịp 2/3; nhịp 3/2; nhịp 4/4; … Sự ngắt nhịp khác nhaunhư vậy buộc người đọc cũng phải có ngữ điệu đọc khác nhau

Trước hết, GV phải đọc mẫu, yêu cầu của việc đọc mẫu đối với GV đó làđọc đúng, chuẩn ngôn ngữ, giọng đọc hay, truyền cảm, thể hiện được cái hồn và

ý của tác giả đến đối tượng HS Sau đó cho HS lắng nghe và nhận xét về nhịpcủa bài thơ GV đọc hai lần, lần hai đọc chậm hơn để HS phát hiện được nhịpthơ

GV cho HS làm việc theo nhóm, cho các em đọc thầm và tự thảo luận vớinhau để tìm ra cách ngắt nhịp cho bài thơ đúng nhất

VD: Bài Cô giáo lớp em- Tiếng Việt 2, tập 1 Sau khi GV đọc mẫu lần

một, cho HS định hình được nhịp điệu của bài thơ GV đọc lại lần hai (có thểcho một HS khá của lớp đọc)- đọc chậm và ngắt nghỉ đúng giọng điệu HS sẽ

Trang 30

lắng nghe và sau đó các em sẽ cùng thảo luận nhóm, đọc thầm trong nhóm và rút

ra kết luận cho nhịp điệu bài thơ là nhịp 3/2, cụ thể:

Sáng nào em /đến lớp //

Cũng thấy cô /đến rồi //

Đáp lời chào /cô ạ! //

Cô mỉm cười /thật tươi //

Cô dạy em /tập viết //

Gió đưa thoảng /hương nhài //

Nắng ghé vào /cửa lớp //

Xem chúng em /học bài //

Cách ngắt nhịp như vậy tạo ra giọng điệu nhẹ nhàng, tình cảm và thiết tha, diễn

tả sâu sắc tình cảm của cô và trò dành cho nhau thật ấm áp và gần gũi

Mỗi thể thơ, do những đặc tính khác nhau về câu chữ, về đặc trưng thểloại mà cũng có những nét khác nhau về nhịp điệu Do vậy sau khi cho HS thảoluận tìm ra cách ngắt nhịp GV cần tổ chức hoạt động trình bày bài thơ theo cáchngắt nhịp mà các em cho là hợp lí Có thể tiến hành bằng cách cho các nhóm thitrình bày bài thơ, sau đó các nhóm khác nhận xét, bổ sung

VD: Bài thơ Bầm ơi của nhà thơ Tố Hữu- Tiếng Việt 2, tập 2 Sau khi

thống nhất cách ngắt nhịp cho toàn bài, GV cho HS đọc ngắt đúng giọng mộtkhổ thơ tiêu biểu nhất Cho đại diện các tổ lần lượt đọc khổ thơ đó và các nhómkhác theo dõi, nhận xét cách ngắt nhịp, giọng đọc của nhóm đó Với bài thơ nàythì phải ngắt theo nhịp 2 để diễn tả tình mẹ con thắm thiết, sâu nặng giữa ngườichiến sĩ ngoài tiền tuyến với người mẹ tần tảo, giàu tình thương nơi quê nhà:

Bầm ơi, /sớm sớm /chiều chiều //

Thương con, /bầm chớ /lo nhiều /bầm nghe //

Con đi /trăm núi /ngàn khe //

Chưa bằng /muôn nỗi /tái tê /lòng bầm //

Trang 31

Chưa bằng /khó nhọc /đời bầm /sáu mươi //

Đặc biệt, thơ tự do khá đa dạng và phong phú vì thế trước khi đọc, GVcòn phải tìm hiểu kĩ nội dung và lựa chọn cách đọc sao cho phù hợp với nhịpđiệu chung của cả bài thơ, lẫn nhịp điệu riêng của từng câu thơ, dòng thơ

Như vậy, sự ngắt nhịp trong bài thơ chính là sự ngừng nhịp theo cảm xúc,theo ý nghĩa nội dung diễn tả Sự thay đổi nhịp điệu chính là sự tạo hoá tuỳthuộc vào nội dung câu thơ, dòng thơ và cảm xúc chung của toàn bài Vì vậy khidạy HS đọc, GV cần nghiên cứu tìm hiểu tổ chức của văn bản thơ, nắm nội dung

tư tưởng tác phẩm để hướng dẫn, giúp các em có thể ngắt nhịp đúng cách vànắm được ý nghĩa bao trùm của bài thơ

2.1.2 Nâng cao hiệu quả đọc thơ của học sinh dựa vào đặc điểm từng thể thơ

Đây là những hình thức biểu hiện cụ thể và xác định của nhịp điệu Mỗithể thơ tạo nên một nhịp điệu riêng cho sự quy định về câu, về từ và về vần củathể thơ đó Trong SGK Tiếng Việt Tiểu học, các dạng thơ khá đa dạng:

VD: Bài Đàn gà mới nở- của Phạm Hổ, Tiếng Việt 2, tập 1 Chúng ta

phải ngắt nhịp 2/2 để thể hiện sự vui mừng, sung sướng, bên cạnh đó tốc độ đọcphải nhanh và giọng đọc hồ hởi hơn:

Con mẹ /đẹp sao

Trang 32

Chạy như /lăn tròn

Trên sân, /trên cỏ…//

để thấy được mối quan hệ chặt chẽ của sự gieo vần của câu thơ

VD: Bài Nhớ Việt Bắc - Tiếng Việt 3, tập 1.

nhịp 4/2, nhịp 3/3 hoặc nhịp 3/4, nhịp 4/3, nhịp 4/4, nhịp 3/5… Với bài thơ Vàm

Trang 33

Ở tận sông Hồng, /em có biết / Quê hương anh /cũng có dòng sông / Anh mãi gọi /với lòng tha thiết: //

Vàm Cỏ Đông! //Ơi Vàm Cỏ Đông! //

Cách ngắt nhịp này mới thể hiện một cách rõ nhất tình cảm nhớ thương da diếtcủa tác giả dành cho dòng sông quê hương

Đối với thể thơ tự do, do không tuân theo một quy tắc nào về câu chữ,luật bằng, trắc… nên khi đọc chúng ta phải căn cứ vào dòng cảm xúc, vào ngữnghĩa, cấu tứ của cả bài và của câu thơ, dòng thơ…sao cho phù hợp VD: Bài:

Khi mẹ vắng nhà - Trần Đăng Khoa - Tiếng Việt 3, tập 1; khổ thơ cuối rất khó

ngắt giọng:

Mẹ bảo em: // Dạo này ngoan thế! //

- Không, /mẹ ơi ! //con đã ngoan đâu! //

Áo mẹ mưa bạc màu / Đầu mẹ nắng cháy tóc /

Mẹ ngày đêm khó nhọc / Con chưa ngoan, /chưa ngoan! //

Mỗi câu thơ lại có sự ngắt giọng khác nhau vì vậy cần dựa vào thể thơ, cảm xúccủa từng bài, từng câu mà đọc cho hợp lý, nêu bật ý nghĩa mà tác giả muốn nói

VD: khi dạy bài: Đất nước - Nguyễn Đình Thi (Tiếng Việt 5, tập 2) GV

hỏi HS bài thơ thuộc thể thơ nào? Sau đó yêu cầu các em cho biết với thể thơ đótheo em nên đọc toàn bài với giọng như thế nào? Các em sẽ tự nghiên cứu vàtìm ra cách đọc hợp lí cho bài để thể hiện cảm hứng của tác giả trước mùa thuthắng lợi của đất nước giải phóng

Như vậy, khi dạy học những văn bản thơ người GV cần biết khai thác ở

HS khả năng cảm nhận cái hay, cái đẹp, ý nghĩa của câu chữ mà nhà thơ muốntruyền đạt đến người nghe, qua đó rèn luyện cho các em kĩ năng đọc thơ nóiriêng, kĩ năng đọc các thể loại văn bản nói chung

Trang 34

2.1.3 Giúp HS cảm nhận cái hay của bài thơ qua những hình ảnh đặc sắc

Bên cạnh việc giúp HS đọc đúng, đọc diễn cảm bài thơ thì việc đi sâu tìmhiểu nội dung, ý nghĩa bài thơ và cái đẹp trong ngôn từ thơ cũng rất quan trọng.Hầu hết, những bài thơ trong chương trình Tiểu học đều mang ý nghĩa giáo dụcnhẹ nhàng, nó thể hiện đặc sắc thông qua những hình ảnh thơ gần gũi, thânthuộc với tuổi thơ Việc tìm hiểu, khai thác những hình ảnh đẹp trong thơ là rấtcần thiết giúp cho quá trình dạy học Tập đọc đạt hiệu quả cao

Sau khi cho HS luyện đọc, GV cho các em thảo luận nhóm tìm ra những

từ ngữ, hình ảnh đặc sắc của bài thơ

Sau đó GV yêu cầu các em giải thích cái hay, ý nghĩa của những hình ảnhthơ đó qua sự hiểu biết của bản thân, GV cũng có thể cho các em đặt câu vớinhững hình ảnh thơ đó GV rút ra kết luận chung nhất về nét nghĩa của hình ảnhđặc sắc đó Và cuối cùng cho HS luyện đọc câu thơ, khổ thơ hoặc cả bài thơ đó,chú ý nhấn giọng những hình ảnh thơ hay để diễn tả cảm xúc, tạo cho bài thơ lôicuốn người nghe

VD: Khi dạy bài thơ Mẹ vắng nhà ngày bão của nhà thơ Đặng

Hiển-Tiếng Việt 3, tập 1 Khổ thơ cuối bài có một hình ảnh so sánh rất hay đó là:

Mẹ về như nắng mới Sáng ấm cả gian nhà

GV phải cho các em phát hiện ra hình ảnh đặc sắc của câu thơ và yêu cầu các

em giải thích vì sao lại so sánh mẹ như nắng mới làm sáng ấm cả gian nhà? Qua

đó chúng ta cũng có thể rút ra được ý nghĩa chung của cả bài thơ: Ca ngợi tìnhcảm yêu thương nhau của mọi người trong gia đình, đặc biệt là mẹ có ý nghĩalớn lao Khi mẹ vắng nhà, nhất là vắng nhà vào ngày bão, cả ngôi nhà cũng buồn

và ướt lạnh vì mưa, ba bố con đều nhớ mẹ Khi mẹ về, cả nhà đều vui, cũng làlúc cơn bão qua, bầu trời xanh trở lại, chính vì thế có thể so sánh mẹ như nắngmới làm sáng ấm cả gian gian nhà

Ngày đăng: 17/03/2022, 20:58

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê A- Thành Thị Yên Nữ- Lê Phương Nga- Nguyễn Trí- Cao Đức Tiến (1996), Phương pháp dạy học Tiếng Việt- Giáo trình chính thức đào tạo giáo viên Tiểu học- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê A- Thành Thị Yên Nữ- Lê Phương Nga- Nguyễn Trí- Cao Đức Tiến
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 1996
2. Hoàng Hoà Bình (2002), Dạy văn cho HS Tiểu học- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy văn cho HS Tiểu học
Tác giả: Hoàng Hoà Bình
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
3. Lê Cận (chủ biên) và nhiều tác giả (2002): Tiếng Việt 5 tập 1+2- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 5
Tác giả: Lê Cận (chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: NXB GiáoDục
Năm: 2002
4. Tạ Đức Hiền- Phạm Minh Tú- Nguyễn Việt Nga (2006), Nâng cao Tiếng Việt 5 NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao TiếngViệt 5
Tác giả: Tạ Đức Hiền- Phạm Minh Tú- Nguyễn Việt Nga
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006
5. Nguyễn Sinh Huy ( 1997), Giáo trình tâm lý học Tiểu học, nxb giáo Dục 6. Lê Phương Nga- Đặng Kim Nga (2007): Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học- Tài liệu Đào tạo giáo viên- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình tâm lý học Tiểu học", nxb giáo Dục6. Lê Phương Nga- Đặng Kim Nga (2007): "Phương pháp dạy học Tiếng Việt ởTiểu học
Tác giả: Nguyễn Sinh Huy ( 1997), Giáo trình tâm lý học Tiểu học, nxb giáo Dục 6. Lê Phương Nga- Đặng Kim Nga
Nhà XB: nxb giáo Dục6. Lê Phương Nga- Đặng Kim Nga (2007): "Phương pháp dạy học Tiếng Việt ởTiểu học"- Tài liệu Đào tạo giáo viên- NXB Giáo Dục
Năm: 2007
7. Lê Phương Nga- Nguyễn Trí (2002), Phương pháp dạy học Tiếng Việt NXBĐHSP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt
Tác giả: Lê Phương Nga- Nguyễn Trí
Nhà XB: NXBĐHSP
Năm: 2002
8. Trần Đức Niềm - Lê Thị Nguyên - Ngô Lê Hương Giang ( 2006), Tiếng Việt nâng cao Tiểu học 5 NXB ĐHQG TP HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việtnâng cao Tiểu học 5
Nhà XB: NXB ĐHQG TP HCM
9. Nguyễn Quang Ninh (2008) Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theo chương trình SGK mới- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học Tiếng Việt Tiểu học theochương trình SGK mới
Nhà XB: NXB Giáo Dục
10. Đinh Thị Oanh - Vũ Thị Kim Dung - Phạm Thị Thanh ( 2006) Tiếng Việt và phương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học - Tài liệu bồi dưỡng giáo viên – NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt vàphương pháp dạy Tiếng Việt ở Tiểu học
Nhà XB: NXBGiáo Dục
11. Trần Thị Minh Phương- Nguyễn Đắc Diệu Lam (2006): Dạy lớp 1, 2, 3 theo chương trình Tiểu học mới- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy lớp 1, 2, 3 theochương trình Tiểu học mới
Tác giả: Trần Thị Minh Phương- Nguyễn Đắc Diệu Lam
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2006
12. Nguyễn Minh Thiết (chủ biên) và nhiều tác giả (2002), Tiếng Việt 3, Tiếng Việt 2 tập 1+2- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiếng Việt 3, TiếngViệt 2
Tác giả: Nguyễn Minh Thiết (chủ biên) và nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2002
13. Nguyễn Trí (2003), Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trìnhmới
Tác giả: Nguyễn Trí
Nhà XB: NXB Giáo Dục
Năm: 2003
14. Vũ Khắc Tuân (2003): Bồi dưỡng văn- Tiếng Việt 5- tập 1- NXB ĐH Quốc Gia TPHCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bồi dưỡng văn- Tiếng Việt 5- tập 1
Tác giả: Vũ Khắc Tuân
Nhà XB: NXB ĐH QuốcGia TPHCM
Năm: 2003
15. Hoàng Tiến Tựu (1990) Văn học dân gian Việt Nam- NXB Giáo Dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn học dân gian Việt Nam
Nhà XB: NXB Giáo Dục

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w