1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC VỀ GIA ĐÌNH VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

20 108 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 62,44 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN KHOA NGỮ VĂN ANH QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC VỀ GIA ĐÌNH VÀ SỰ VẬN DỤNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY (Tiểu luận môn Chủ nghĩa xã hội khoa học) Sinh viên thực hiện: Cao Minh Hạnh Mã số sinh viên: 2057011040 Giảng viên hướng dẫn: TS. Đào Tuấn Hậu TP. HỒ CHÍ MINH 2021 TP. HỒ CHÍ MINH 2021 LỜI MỞ ĐẦU CHƯƠNG I Khái niệm gia đình MỤC LỤC Những giá trị lí luận và thực tiễn từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hôn nhân và gia đình Quan điểm về gia đình trong mối quan hệ với xã hội Các hình thái hôn nhân và hình thái gia đình của các giai cấp CHƯƠNG II Ý nghĩa của quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình đối với việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay Chính sách của Đảng và Nhà nước về định hướng gia đình Việt dựa trên quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề gia đình Trích văn bản quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 QUAN ĐIỂM MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU Định hướng xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay LỜI KẾT TÀI LIỆU THAM KHẢO LỜI MỞ ĐẦU Gia đình được mệnh danh là cái nôi của xã hội. Đó không chỉ là lĩnh vực có lịch sử lâu đời mà còn là lĩnh vực phức tạp, đầy mâu thuẫn và biến động. Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại. Đặc biệt trong vài năm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giới hàn lâm và giới chính trị quan tâm. Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, người ta nói nhiều đến truyền thống gia đình, văn hoá gia đình như một giải pháp để ngăn trở hiện tượng phương Tây hóa gia đình Á châu. Và không chỉ có thế, các quốc gia châu Á trong đó có Việt Nam đang trải nghiệm trong một cuộc chuyển mình vĩ đại: thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá với quy mô và tốc độ ngày càng gia tăng. Đồng thời với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Nam là sự chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường. Để có được những biến chuyển kinh tế xã hội mạnh mẽ đó chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của gia đình. Xuất phát từ thực trạng trên chúng ta đặt ra câu hỏi: Lấy tiền đề là chủ nghĩa xã hội khoa học, Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ làm như thế nào để phát huy vai trò tối quan trọng của gia đình? Với mục đích đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên em chọn đề tài: “Quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay” cho tiểu luận của mình. Với kiến thức đang có cộng với tinh thần tìm tòi học hỏi, em hy vọng bài viết sẽ đưa ra được các ý trả lời xác đáng với vấn đề đã đặt ra. Kết cấu của bài tiểu luận gồm 2 chương, 6 tiết cùng với Lời mở đầu, Mục lục, Lời kết và Tài liệu tham khảo. CHƯƠNG I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC VỀ GIA ĐÌNH 1. Khái niệm gia đình Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành sớm trong lịch sử loài người. Từ thuở sơ khai của lịch sử, khi loài người tách khỏi giới động vật và tổ chức cuộc sống của mình thành một cộng đồng. Khi con người độc lập, cũng là lúc con người tổ chức cuộc sống của mình trong những cộng đồng nhỏ và những gia đình nguyên thủy. Gia đình ban đầu chỉ gồm những thành viên có quan hệ họ hàng trực tiếp với nhau, chủ yếu là mẹ với con cháu (gia đình mẫu hệ). Sau đó, nó được mở rộng để bao gồm các thành viên khác có thể có cùng huyết thống nhưng cũng có thể không có quan hệ huyết thống. Còn về quy mô gia đình thì lúc đầu có nhiều gia đình có khi lên đến hàng trăm người. Về sau, với nhu cầu thích nghi với sự phát triển của đời sống xã hội con người, số lượng thành viên trong gia đình ngày càng giảm dần. Trong gia đình hiện đại ngày nay, đôi khi chỉ có một đến ba thành viên. Từ trước đến nay có nhiều khác biệt trong định nghĩa về gia đình, đồng thời các quan điểm cơ bản về gia đình dường như cũng còn nhiều bất đồng, thậm chí là mâu thuẫn. Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha mẹ và con cái”. Quan niệm này chỉ mới dừng lại ở một quan niệm đại khái nhất về các loại gia đình trong lịch sử, đồng thời cũng chưa bao gồm các hình thức gia đình mới đang phát sinh trong các xã hội hiện đại ngày nay, như gia đình mà người nam và người nữ sống với nhau không có giấy hôn thú, gia đình thuộc cộng đồng LGBT, ... Nho giáo cho rằng mỗi gia đình là một nước nhỏ. Cho nên khi “Một nhà nhân hậu thì cả nước nhân hậu. Một nhà lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễ nhượng. Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, Chương 9). Trong đó, gia đình hòa thuận là quan trọng nhất. Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọi thành viên luôn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Người lớn phải làm gương cho trẻ. Ngược lại, con cái phải luôn kính trọng ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng ông bà, cha mẹ; biết làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, cha mẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng. Gia đình hòa thuận cũng là gia đình mà anh chị em biết bảo ban nhau, cùng nhau trưởng thành, biết yêu thương chăm sóc nhau, biết “anh em như thể tay chân”. Có thể nói, Nho giáo ở một khía cạnh nào đó tương ứng với Cương lĩnh xây dựng nhà nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của nước ta. Chúng ta cũng quan niệm rằng: “Gia đình là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người, là môi trường quan trọng trong giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách”. Chính vì vậy, Đảng ta yêu cầu: “Các chính sách của Nhà nước phải chú ý tới xây dựng gia đình no ấm, hoà thuận, tiến bộ. Nâng cao ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người”. Gia đình là nơi ươm mầm, là nơi đào tạo ra những con người mới cho tương lai. Gia đình có vai trò quan trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cái tốt hay cái xấu của mỗi gia đình đều ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội. Tất nhiên, gia đình mới mà chúng ta đang xây dựng là một gia đình hòa thuận, có nền tảng dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng nhau, cùng nhau bàn bạc để giải quyết những vấn đề quan trọng nhất trong gia đình. Gia đình mới mà chúng ta đang xây dựng rất cần sự chung thủy của vợ chồng; sự nhân từ của người làm cha mẹ, đức hiếu kính của người làm con, sự thương yêu nhường nhịn của anh chị em. Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàng cùng sống chung và có ngân sách chung. Từ những định nghĩa trên, em xin tạm thời đưa ra một khái niệm phổ quát về gia đình: gia đình là một tập hợp những người cùng chung sống với nhau dựa trên quan hệ hôn nhân được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục và huyết thống. Họ có trách nhiệm đạo đức đối với nhau, có chung tài sản và cùng có trách nhiệm xã hội hóa thế hệ mai sau. Đó là các quan hệ vợ chồng, cha mẹ concái, anh chị em ruột. 2. Những giá trị lí luận và thực tiễn từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hôn nhân và gia đình 2.1. Quan điểm về gia đình trong mối quan hệ với xã hội Khi phân tích quá trình tiến hóa của lịch sử loài người, C.Mác khẳng định gia đình là một trong ba mối quan hệ của con người đã được hình thành trong lịch sử loài người: Mối quan hệ đầu tiên là giữa con người với tự nhiên; mối quan hệ thứ hai là giữa con người với con người trong quá trình sản xuất; và mối quan hệ thứ ba là gia đình. Ba mối quan hệ này tồn tại đan xen, hợp nhất. Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác đã đưa ra khái niệm về gia đình: “Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra những người khác, sinh sôi nảy nở đó là quan hệ giữa chồng và vợ, cha mẹ và con cái, đó là gia đình... Sự sản xuất ra đời sống ra đời sống của bản thân mình bằng lao động, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ cái biểu hiện ra là một quan hệ song trùng; một mặt là quan hệ tự nhiên, mặt khác là quan hệ xã hội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân, không kể là trong những điều kiện nào, theo cách nào và nhằm mục đích gì”. Quan niệm này thể hiện rõ: Thứ nhất, gia đình nảy sinh cùng với sự ra đời và tồn tại của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo của bản thân con người; thứ hai, gia đình nảy sinh từ hai mối quan hệ cơ bản (quan hệ hôn nhân và quan hệ huyết thống); thứ ba, gia đình có hai nhiệm vụ chính (tạo ra của cải vật chất đáp ứng nhu cầu của cá nhân và gia đình, góp phần phát triển xã hội, đồng thời sinh ra con người để bảo tồn nòi giống, đảm bảo sự tồn vong của xã hội). Bằng cách nghiên cứu sự phát triển của gia đình dưới các hình thái kinh tế xã hội khác nhau, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho thấy vai trò quan trọng của gia đình trong mối quan hệ biện chứng đối với xã hội: “Theo quan điểm duy vật, nhân tố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sống trực tiếp. Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại. Một mặt là sản xuất ra tư liệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ra những thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòi giống. Những trật tự xã hội, trong đó những con người của một thời đại lịch sử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định: một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triển của gia đình”. C.Mác nhấn mạnh vai trò to lớn của gia đình đối với sự phát triển của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cho rằng gia đình là “quan hệ xã hội duy nhất” trong lịch sử sơ khai của xã hội loài người. Nhờ mối quan hệ với chức năng sinh sản này mà gia đình đã tạo dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội khác. Theo nghĩa này, gia đình là một xã hội thu nhỏ: gia đình sản sinh ra cá nhân, kết nối cá nhân với xã hội. Sau này, khi dân số tăng lên, nhiều nhu cầu mới phát sinh. Khi nhu cầu của con người phát triển, các mối quan hệ xã hội mới nảy sinh làm chuyển gia đình từ “quan hệ duy nhất” sang “quan hệ phụ thuộc”. Sự biến đổi này gắn với quá trình phân công lao động xã hội, quá trình phát triển xã hội dẫn đến sự độc lập tương đối của gia đình với xã hội, thậm chí là sự đối lập giữa gia đình và xã hội. 2.2. Các hình thái hôn nhân và hình thái gia đình của các giai cấp Về hôn nhân thời cổ: C.Mác và Ph.Ăngghen viết rằng: “Trong suốt thời cổ, các cuộc hôn nhân đều do cha mẹ quyết định thay cho con cái, và con cái đều yên tâm vâng theo”. Hôn nhân thời Trung cổ, hôn nhân của quý tộc phong kiến, của thị dân các phường hội: Các ông đã chỉ rõ: “... Đối với kị sĩ hoặc nam tước, cũng y như đối với bản thân hoàng tử, hôn nhân là một hành vi chính trị, là một cơ hội để tăng cường thế lực của mình bằng những cuộc thông gia mới; chính lợi ích của vương triều quyết định, chứ không phải nguyện vọng cá nhân quyết định”. “Đối với người thị dân các phường hội ở các thành thị thời Trung cổ thì cũng như thế... hoàn toàn không phải nguyện vọng cá nhân, mà chính lợi ích gia đình quyết định xem người phụ nữ nào thích hợp với anh ta hơn hết... Vậy là trong tuyệt đại đa số các trường hợp, cho đến tận cuối thời Trung cổ, hôn nhân vẫn giữ nguyên tính chất mà nó đã có ngay từ đầu: một việc không phải do bản thân những người kết hôn quyết định”. Hôn nhân tư sản gia đình tư sản: C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng một trong những công trình quan trọng nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là việc tạo ra những người “tự do” và “bình đẳng” để giao kết một “hợp đồng hôn nhân”. Do đó tính chất xã hội của hôn nhân và gia đình là hôn nhân giai cấp, hôn nhân có “tính toán” về lợi ích và thỏa thuận. Các ông viết: “Theo quan niệm tư sản, hôn nhân là một hợp đồng, một giao kèo có tính chất pháp lý, hơn nữa lại là một giao kèo quan trọng nhất trong tất cả mọi giao kèo, vì nó định đoạt cả thể xác lẫn tinh thần của hai con người trong suốt cả đời họ. Thật vậy, hồi bấy giờ, giao kèo pháp lý đó, về hình thức, đã được ký kết trên cơ sở tự nguyện: công việc đó không thể giải quyết được nếu không có sự đồng ý của đôi bên. Nhưng người ta đã thấy quá rõ cái cách để có được một sự đồng ý ấy rồi và những kẻ thật sự định đoạt việc kết hôn là những ai rồi”. Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghen khẳng định rằng với sự ra đời của máy móc hiện đại, nền công nghiệp tư bản chủ nghĩa với lực lượng sản xuất mới dẫn đến đại công nghiệp hiện đại thay cho công trường thủ công... và với vòng xoáy của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, sự “yên ấm” của mọi gia đình đã bị phá vỡ. Không chỉ vậy, đại công nghiệp cũng đang làm thay đổi vị thế và hoàn cảnh sống của gia đình, thay đổi nhu cầu hưởng thụ cuộc sống của mọi thành viên trong gia đình. Nếu trước đây nhu cầu của người tiêu dùng là “được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong nước” thì nay “nảy sinh ra những nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm đưa từ những miền và xứ xa xôi nhất về” và “sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thần cũng không kém như thế”, nó làm cho “những thành quả của hoạt động tinh thần của một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc”. Theo C.Mác và Ph.Ăngghen, nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng xóa bỏ tình trạng cát cứ của các địa phương và các dân tộc để thay thế nó bằng những quan hệ phổ biến giữa các dân tộc, hơn nữa đại tư bản chủ nghĩa còn phá vỡ quan hệ sản xuất phong kiến, thay đổi cơ cấu xã hội, thay đổi quan hệ giữa các giai cấp xã hội, quan hệ giữa “người tự do và nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả và phường hội và thợ bạn”, bị xóa bỏ để tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của hai giai cấp đối kháng lớn là giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng đã tạo ra một hệ thống chính trị xã hội thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở hạ tầng mới, nó đã xóa bỏ mọi phẩm chất và đức hạnh mà chế độ phong kiến tạo ra. “Giai cấp tư sản tước hết hào quang thần thánh của hết thảy những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tôn sùng”; biến đổi toàn bộ mối quan hệ gia đình vốn được coi là thiêng liêng nhất, “giai cấp tư sản xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình và làm cho những quan hệ ấy chỉ còn là những quan hệ tiền nong đơn thuần thôi”. Hôn nhân của giai cấp vô sản và gia đình vô sản: C.Mác và Ph.Ăngghen đã nêu quan điểm về gia đình trong xã hội sau này: “... Chỉ có trong giai cấp vô sản, thì tình yêu nam nữ mới có thể trở thành một quy tắc trong các quan hệ đối với người phụ nữ... Hơn nữa, từ ngày đại công nghiệp đã giật được người đàn bà ra khỏi nhà, đem họ ra thị trường lao động và vào công xưởng, và thường biến họ thành người nuôi dưỡng của gia đình, thì trong gia đình người vô sản những tàn tích cuối cùng của quyền thống trị của người đàn ông đã mất mọi cơ sở”. C.Mác và Ph.Ăngghen tán thành ly hôn khi hạnh phúc gia đình không còn là nhu cầu cần thiết cho nam và nữ và cho toàn xã hội; nó là biểu hiện của đạo đức và phép tắc trong mối quan hệ mới và giữa nam và nữ... Trong xã hội tương lai, đảm bảo cho mọi người có quyền được dựa trên sự bình đẳng của nam và nữ để kết hôn tự do và ly hôn tự do, đây là một bước tiến rõ ràng trong thời hiện đại. Trong gia đình này “họ đã tự nguyện kết hôn với nhau”, không ép buộc, áp đặt theo lợi ích kinh tế, quyền lợi của gia đình; thực hiện quyền bình đẳng giữa nam và nữ thay vì duy trì sự thống trị của nam giới; Chế độ một vợ một chồng được thực hành theo nghĩa chân thực nhất của từ này. CHƯƠNG II SỰ VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC VỀ GIA ĐÌNH Ở VIỆT NAM HIỆN NAY 1. Ý nghĩa của quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình đối với việc xây dựng gia đình ở Việt Nam hiện nay Ở nước ta, vai trò của gia đình được thể hiện trong Hiến pháp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và trong Chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam. Sau hơn 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước đã gặt hái được nhiều thành công. Những thành tựu quan trọng trong phát triển kinh tế, xã hội góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của mọi gia đình. Thực tiễn xây dựng gia đình ở Việt Nam trong những năm qua đã đạt được những kết quả đáng ghi nhận. Mức sống của hầu hết các gia đình được cải thiện đáng kể, xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm đã giúp hàng triệu gia đình thoát nghèo, nâng cao mức sống, chất lượng cuộc sống. Mặt khác, gia đình Việt Nam cũng chịu tác động tiêu cực của những mặt trái của nền kinh tế thị trường, của quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập thế giới. Gia đình thay đổi sâu sắc từ quy mô cấu trúc đến các mối quan hệ và giá trị. Gia đình Việt Nam phải đối mặt với nhiều thách thức lớn: mặt tối của cơ chế thị trường tạo nên lối sống thực dụng; tuyệt đối hoá các giá trị vật chất; một số giá trị đạo đức truyền thống của gia đình đã bị đảo lộn. Đặc biệt, sự du nhập của các loại văn hóa phẩm độc hại từ nước ngoài đã gây ra nhiều bất bình trong xã hội và làm nguy hại đến nếp sống truyền thống của gia đình Việt Nam. Đứng trước thực trạng đó, việc bảo tồn và phát huy các giá trị truyền thống của gia đình ngày càng trở nên quan trọng và cấp thiết hiện nay, chính vì vậy mà quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về gia đình, vị trí của gia đình các mối quan hệ, sự tác động biện chứng của những yếu tố ấy và sự cần thiết phải giải quyết những bất công còn tồn tại trong gia đình là những định hướng có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc. Các biện pháp phù hợp để giải quyết các vấn đề của quản lý nhà nước về gia đình ở nước ta là một trong những nội dung có ý nghĩa quan trọng đối với sự phát triển bền vững hiện nay. Tại Đại hội Đảng toàn quốc, Đảng ta khẳng định lại mục tiêu “xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh” cũng là thể hiện quyết tâm cao trong việc thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 ở Việt Nam. 2. Chính sách của Đảng và Nhà nước về định hướng gia đình Việt dựa trên quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình 2.1. Quan điểm của Đảng và Nhà nước về vấn đề gia đình Chỉ thị số 49CTTW ngày 2122005 của Ban Bí thư về xây dựng gia đình trong thời kỳ mới (Chỉ thị 49) nêu rõ: “Mục tiêu chủ yếu của công tác gia đình trong thời kỳ công nghiệp hoá và hiện đại hoá là ổn định, củng cố và xây dựng gia đình theo tiêu chí ít con (mỗi cặp vợ chồng chỉ một hoặc hai con), no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, để mỗi gia đình Việt Nam thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. Tầm nhìn này của Đảng xuất phát từ những vấn đề của gia đình trong điều kiện hiện nay là sự suy đồi đạo đức, lệch lạc trong hành vi và lối sống, những vấn đề mới và phức tạp trong chăm sóc trẻ em và người cao tuổi, bạo lực gia đình, ly hôn, ... nếu không được giải quyết sẽ làm suy yếu gia đình và giảm động lực cho quá trình phát triển. Sau 15 năm áp dụng Chỉ thị 49, xây dựng gia đình đã trở thành một nội dung quan trọng trong chương trình của các cấp ủy đảng và chính quyền các cấp, các đoàn thể, tổ chức xã hội và đã đạt được những thành công nhất định. Gia đình đã phát huy được những chức năng cơ bản, đóng góp quan trọng vào sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đất nước. Nhìn lại lịch sử phát triển cho thấy, từ sau Đổi mới, Đảng ta luôn khẳng định vị trí quan trọng của gia đình. Bước sang thế kỷ 21, trước tình hình văn hóa ứng xử, giá trị đạo đức trong gia đình và ngoài xã hội có nhiều thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, Đảng yêu cầu phải “nêu cao trách nhiệm của gia đình trong việc xây dựng và bồi dưỡng các thành viên của mình có lối sống văn hóa, làm cho gia đình thực sự là tổ ấm của mỗi người và là tế bào lành mạnh của xã hội”. 2.2. Trích văn bản quyết định của Thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chiến lược xây dựng gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 Điều 1. Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 (sau đây gọi tắt là Chiến lược) với các nội dung chủ yếu sau đây: I. QUAN ĐIỂM 1. Gia đình là tế bào của xã hội, là môi trường quan trọng hình thành, nuôi dưỡng và giáo dục nhân cách, bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống tốt đẹp, chống lại các tệ nạn xã hội, tạo nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. 2. Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong các mục tiêu quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội giai đoạn 2011 2020, đồng thời cũng là trách nhiệm của mọi gia đình trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. 3. Ưu tiên, tạo điều kiện để các gia đình khu vực nông thôn, miền núi, khu vực khó khăn, đặc biệt khó khăn nâng cao thu nhập, cải thiện cuộc sống. II. MỤC TIÊU VÀ CÁC CHỈ TIÊU 1. Mục tiêu chung: Xây dựng gia đình Việt Nam no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thực sự là tổ ấm của mỗi người, là tế bào lành mạnh của xã hội. 2. Các mục tiêu cụ thể: a) Mục tiêu 1: Nâng cao nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình. Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 90% và đến năm 2020 đạt 95% trở lên hộ gia đình được phổ biến, tuyên truyền và cam kết thực hiện tốt các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội xâm nhập vào gia đình. Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 90% và đến năm 2020 đạt 95% nam, nữ thanh niên trước khi kết hôn được trang bị kiến thức cơ bản về gia đình, phòng, chống bạo lực gia đình. Chỉ tiêu 3: Hằng năm, trung bình giảm từ 10 15% hộ gia đình có bạo lực gia đình. Chỉ tiêu 4: Hằng năm, trung bình giảm từ 10 15% hộ gia đình có người mắc tệ nạn xã hội. Chỉ tiêu 5: Hằng năm, trung bình giảm 15% (khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn giảm 10%) hộ gia đình có người kết hôn dưới tuổi pháp luật quy định. b) Mục tiêu 2: Kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống tốt đẹp của gia đình Việt Nam; tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển; thực hiện đầy đủ các quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ. Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 80% trở lên (khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn đạt 70% trở lên) và đến năm 2020 đạt 85% trở lên (khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn đạt 75% trở lên) hộ gia đình đạt tiêu chuẩn gia đình văn hóa. Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 85% và năm 2020 đạt 95% hộ gia đình dành thời gian chăm sóc, dạy bảo con, cháu, tạo điều kiện cho con, cháu phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, đạo đức và tinh thần, không phân biệt con, cháu là trai hay gái. Chỉ tiêu 3: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 85% và năm 2020 đạt 95% hộ gia đình thực hiện chăm sóc, phụng dưỡng chu đáo ông, bà, chăm sóc cha, mẹ, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ. Chỉ tiêu 4: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 95% và năm 2020 đạt từ 98% trở lên hộ gia đình có người trong độ tuổi sinh đẻ được tuyên truyền và thực hiện đúng chính sách dân số và kế hoạch hóa gia đình, không phá thai vì giới tính của thai nhi. c) Mục tiêu 3: Nâng cao năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai và khủng hoảng kinh tế; tạo việc làm, tăng thu nhập và phúc lợi, đặc biệt đối với các hộ gia đình chính sách, hộ nghèo và cận nghèo theo quy định. Chỉ tiêu 1: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 90% và đến năm 2020 đạt 95% trở lên hộ gia đình được cung cấp thông tin về chính sách, pháp luật phúc lợi xã hội dành cho các gia đình chính sách, gia đình nghèo. Chỉ tiêu 2: Phấn đấu đến năm 2015 đạt 90% và đến năm 2020 đạt 95% trở lên hộ gia đình nghèo, hộ cận nghèo được cung cấp kiến thức, kỹ năng để phát triển kinh tế gia đình, ứng phó với thiên tai, khủng hoảng kinh tế. Chỉ tiêu 3: Hằng năm, tăng 10% hộ gia đình, thành viên trong gia đình được thụ hưởng các dịch vụ y tế, văn hóa, giáo dục và dịch vụ hỗ trợ gia đình, hỗ trợ thành viên gia đình. Từ đây chúng ta thấy rõ, Đảng và Nhà nước luôn dành sự quan tâm đặc biệt dành cho vấn đề xây dựng gia đình Việt Nam. 2.3. Định hướng xây dựng gia đình Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Vấn đề xây dựng gia đình xã hội chủ nghĩa, gia đình văn hóa ở nước ta là nền tảng vững chắc bảo đảm cho sự ổn định và phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Để nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta, cần có những giải pháp thiết thực, hiệu quả. Việc đầu tiên cần làm là nâng cao trách nhiệm của cấp quản lý. Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức về vai trò của công tác xây dựng gia đình ở các cấp, các ngành, đoàn thể, gia đình, cá nhân và cộng đồng. Văn hóa gia đình với mục tiêu gia đình bình đẳng, giàu có, hạnh phúc và tiến bộ. Phát triển kinh tế gia đình nhằm nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, là cơ sở để đạt được các mục tiêu đề ra: giữ gìn, bảo tồn và phát huy truyền thống cao đẹp của dân tộc; xây dựng con người mới, con người xã hội chủ nghĩa. LỜI KẾT Qua tiểu luận này, chúng ta thấy được quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình cũng như sự vận dụng quan điểm này của Đảng và Nhà nước trong việc xây dựng gia đình Việt Nam ngày nay. Ở chương I, chúng ta đã có cái nhìn tổng quát về khái niệm gia đình; quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về vấn đề gia đình. Chương II trình bày ý nghĩa của quan điểm chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình cũng như chính sách của Nhà nước về vấn đề gia đình lấy tiền đề là chủ nghĩa này. Như vậy, quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối với sự phát triển bền vững của gia đình Việt Nam trong thời đại công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Đồng thời, đây cũng là điều kiện tiên quyết để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Nhìn vào thực tế, những năm qua Đảng và Nhà nước ta đã vận dụng thành công quan điểm của chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình bằng những công tác chăm lo gia đình toàn diện, chu đáo, kịp thời. Tuy nhiên, chúng ta cũng không thể phủ nhận vai trò chủ động của bản thân mỗi gia đình. TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Nguyễn Đức Bình (1995), C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập – tập 21, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, https:tulieuvankien.dangcongsan.vncmac angghenleninhochiminhbookphangghentacphamcmacvaphangghen toantaptap21191 2. Nguyễn Đức Bình (1995), C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập – tập 3, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia – Sự thật, https:tulieuvankien.dangcongsan.vncmacangghen leninhochiminhbookcmactacphamcmacvaphangghentoantaptap3140 3. Hà Hoàng Giang (09062015), Quan điểm của chủ nghĩa Mác Lênin về gia đình và vận dụng xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta, Tạp chí Dân tộc, http:tapchidantoc.ubdt.gov.vn20150609744df70048ada0fdbe53beeacb721bf3 cema.htm 4. Phạm Quốc Nhật – Nguyễn Hoài Sơn (23062020), Cần một tầm nhìn mới về gia đình, Tạp chí Tuyên giáo, https:tuyengiao.vndansovaphattriencanmottam nhinmoivegiadinh128380 5. Nguyễn Thị Tuyết (27062018), Những giá trị lí luận và thực tiễn từ quan điểm của C. Mác về hôn nhân và gia đình, Tạp chí Mặt trận, http:tapchimattran.vnnghiencuunhunggiatrilyluanvathuctientuquan diemcuacmacvehonnhanvagiadinh12890.html 6. Thủ tướng Chính phủ (29052012), Quyết định Phê duyệt Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Cổng thông tin điện tử Chính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, http:chinhphu.vnportalpageportalchinhphunoidungchienluocphattrienkinhtex a hoi?docid=1314substract=strutsAction=ViewDetailAction.do

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒCHÍ MINHTRƯỜNGĐẠIHỌCKHOAHỌCXÃHỘIVÀNHÂ

NVĂNKHOANGỮVĂNANH

QUANĐIỂMCỦACHỦNGHĨAXÃHỘIKHOAHỌCVỀGIAĐÌN

HVÀSỰVẬNDỤNGỞVIỆTNAM HIỆN NAY

(TiểuluậnmônChủnghĩaxãhộikhoahọc)

Sinhviênthựchiện:CaoMinhHạnhMãs ốsinhviên:2057011040

Giảngviênhướngdẫn:TS.ĐàoTuấnHậu

TP.HỒCHÍMINH-2021

Trang 2

TP.

HỒCHÍ MINH -

2021 LỜI M Ở Đ Ầ U CHƯ

ƠNG I

Khái niệmgia đình

Những giátrị lí luận và thực tiễn từ quan điểm của C.Mác và Ph.Ăngghen về hônnhân và gia đình Quan điểm vềgia đìn

h trongmối quan hệvới xã hội

Các

hình thái hôn nhân và hình thái gia đình của các giaicấp CHƯƠNG II

Ý

nghĩacủaquan điểm củachủnghĩa xã hộikhoa học vềgiađình đối vớiviệcxây dựng giađình ở Việt Nam hiện nay

Chính sách củaĐảngvàNhànướcvềđịnhhướnggiađình Việt dựatrên quan điểmcủachủnghĩaxãhộikhoa học về giađình Quan điểm củaĐảngvàNhànướcvềvấnđề gia đình

Trích vănbản quyết địnhcủa Thủ tướng chính phủvề việc phê duyệt chiếnlược xây dựnggia đình Việt Nam đến năm 2020,tầmn hìnđếnnăm 2030

QUAN ĐIỂM

MỤC TIÊUVÀ CÁC CHỈ TIÊU

Định hướngxâydựnggiađình Việt Nam trong giaiđoạnhiệnnay LỜI KẾT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Trang 3

Gia đình được mệnh danh là cái nôi của xã hội Đó không chỉ là lĩnh vực cólịchsửlâuđờimàcònlàlĩnhvựcphứctạp,đầymâuthuẫnvàbiếnđộng

Có thể nói gia đình là vấn đề của mọi dân tộc và thời đại Đặc biệt trong vàinăm trở lại đây, vấn đề gia đình nổi lên như một tiêu điểm trọng yếu được cả giớihàn lâm và giới chính trị quan tâm Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng,ngườita nói nhiều đến truyền thống gia đình, văn hoá gia đình như một giải phápđể ngăn trở hiện tượng phương Tây hóa gia đình Á châu Và không chỉ có thế, cácquốc gia châu Á trong đó có Việt Nam đang trải nghiệm trong một cuộc chuyểnmình vĩ đại: thực hiện công nghiệp hoá – hiện đại hoá với quy mô và tốc

độ ngàycàng gia tăng Đồng thời với quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở Việt Namlà sự chuyển đổi sang cơ chế kinh tế thị trường Để có được những biến chuyểnkinh tế - xã hội mạnh mẽ đó chúng ta không thể không nhắc đến vai trò của giađình Xuất phát từ thực trạng trên chúng ta đặt ra câu hỏi: Lấy tiền đề là chủ nghĩaxã hội khoa học, Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ làm như thế nào để phát huyvaitròtốiquantrọngcủagiađình?

Với mục đích đi tìm câu trả lời cho câu hỏi trên em chọn đề tài: “Quan điểmcủa chủ nghĩa xã hội khoa học về gia đình và sự vận dụng ở Việt Nam hiện nay”cho tiểu luận của mình Với kiến thức đang có cộng với tinh thần tìm tòi học hỏi,emhyvọngbàiviếtsẽđưarađượccácýtrảlờixácđángvớivấnđềđãđặtra

Kết cấu của bài tiểu luận gồm 2 chương, 6 tiết cùng với Lời mở đầu, Mụclục,LờikếtvàTàiliệuthamkhảo

Trang 4

CHƯƠNGI QUANĐIỂMCỦACHỦNGHĨAXÃHỘIKHOAHỌCVỀGIAĐÌNH

1 Kháiniệmgiađình

Gia đình là một tổ chức xã hội được hình thành sớm trong lịch sử loài người.Từ thuở sơ khai của lịch sử, khi loài người tách khỏi giới động vật và tổ chức cuộcsống của mình thành một cộng đồng Khi con người độc lập, cũng là lúc con ngườitổ chức cuộc sống của mình trong những cộng đồng nhỏ và những gia đình nguyênthủy Gia đình ban đầu chỉ gồm những thành viên có quan hệ họ hàng trực tiếp vớinhau, chủ yếu là

mẹ với con cháu (gia đình mẫu hệ) Sau đó, nó được mở rộng đểbao gồm các thành viên khác có thể có cùng huyết thống nhưng cũng có thể khôngcó quan hệ huyết thống Còn về quy mô gia đình thì lúc đầu có nhiều gia đình cókhi lên đến hàng trăm người Về sau, với nhu cầu thích nghi với sự phát triển củađời sống xã hội con người, số lượng thành viên trong gia đình ngày càng giảm dần.Trong gia đình hiện đại ngày nay, đôi khi chỉ có một đến ba thành viên Từ trướcđến nay có nhiều khác biệt trong định nghĩa

điểmcơbảnvềgiađìnhdườngnhưcũngcònnhiềubấtđồng,thậmchílàmâuthuẫn

Theo Từ điển tiếng Việt: “Gia đình là tập hợp những người cùng sống chungthành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân vàdòng máu, thường gồm có vợ chồng, cha

mẹ và con cái” Quan niệm này chỉ mớidừng lại ở một quan niệm đại khái nhất về các loại gia đình trong lịch sử, đồng thờicũngchưabaog ồ m c á c h ì n h t h ứ c g i a

đ ì n h m ớ i đ a n g p h á t s i n h t r o n g c á c x ã

h ộ i hiệnđạingàynay,n h ư g i a đ ì n h m à n g ư ờ i n a m v à n g ư ờ i

n ữ s ố n g v ớ i n h a u k h ô n g cógiấyhônthú,giađìnhthuộccộngđồngLGBT,

Nho giáo cho rằng mỗi gia đình là một nước nhỏ Cho nên khi “Một nhànhân hậu thì cả nước nhân hậu Một nhà lễ nhượng thì cả nước ăn ở đều có lễnhượng Một người tham lam thì cả nước bị rối loạn” (Đại học, Chương 9) Trongđó, gia đình hòa thuận là quan trọng nhất Gia đình hòa thuận là gia đình mà mọithành viên luôn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau Người lớn phải làm gương cho

Trang 5

trẻ.Ngược lại, con cái phải luôn kính trọng ông bà, cha mẹ, biết phụng dưỡng ông bà,chamẹ;biết

Trang 6

làm cho ông bà, cha mẹ được rạng rỡ và không làm việc gì khiến cho ông bà, chamẹ phải tủi hổ với hàng xóm láng giềng Gia đình hòa thuận cũng là gia đình màanh chị em biết bảo ban nhau, cùng nhau trưởng thành, biết yêu thương chăm sócnhau, biết “anh em như thể tay chân” Có thể nói, Nho giáo ở một khía cạnh nào đótươngứngv ớ i C ư ơ n g l ĩ n h x â y d ự n g n h à n ư ớ c t r o n g

t h ờ i k ỳ q u á đ ộ l ê n c h ủ n g h ĩ a xã hội của nước ta Chúng ta cũng quan niệm rằng: “Gia đình là tế bào của xã hội,là cái nôi nuôi dưỡng cả đời người,

nếpsốngvàhìnhthànhnhâncách”.Chính vìvậy,Đảngtayêucầu:“Cácchínhsá chcủaNhànướcphảichúýtớixâydựnggiađìnhnoấm,hoàthuận,tiếnbộ.Nângca

o ý thức về nghĩa vụ gia đình đối với mọi lớp người” Gia đình là nơi ươm mầm,lànơiđàotạoranhữngconngườimớic h o t ư ơ n g l a i G i a đ ì n h c ó

v a i t r ò q u a n trọng trong việc xây dựng thành công nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cáitốt hay cái xấu của mỗi gia đình đều ảnh hưởng đến sự ổn định của xã hội Tấtnhiên, gia đình mới

mà chúng ta đang xây dựng là một gia đình hòa thuận, có nềntảng dân chủ: vợ chồng, cha con anh em tôn trọng nhau, cùng nhau bàn bạc để giảiquyếtnhữngvấnđềquantrọngnhấttronggiađình.Giađìnhmớimàchúngtađangxây dựng rất cần sự chung thủy của vợ chồng; sự nhân từ của người làm cha mẹ,đứchiếukínhcủangườilàmcon,sựthươngyêunhườngnhịncủaanhchịem

Liên Hợp Quốc định nghĩa: gia đình là một nhóm người có quan hệ họ hàngcùngsốngchungvàcóngânsáchchung

Từ những định nghĩa trên, em xin tạm thời đưa ra một khái niệm phổ quát vềgia đình: gia đình là một tập hợp những người cùng chung sống với nhau dựa trênquan hệ hôn nhân được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay luật tục và huyếtthống Họ có trách nhiệm đạo đức đối với nhau, có chung tài sản và cùng có tráchnhiệm xã hội hóa thế hệ mai sau Đó là các quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái,anhchịemruột

nhânvàgiađình

2.1 Quanđiểmvềgiađìnhtrongmốiquanhệvớixãhội

Trang 7

Khiphântíchquátrìnhtiếnhóacủalịch sửloàingười,C.Máckhẳngđịnh gia đình là một trong ba mối quan hệ của con người đã được hình thành trong lịchsử loài người: Mối quan hệ đầu tiên là giữa con người với tự nhiên; mối quan hệthứ hai là giữa con người với con người trong quá trình sản xuất; và mối quan hệthứbalàgiađình.Bamốiquanhệnàytồntạiđanxen,hợpnhất

Trong tác phẩm “Hệ tư tưởng Đức”, C.Mác đã đưa ra khái niệm về gia đình:“Hàng ngày tái tạo ra đời sống của bản thân mình con người còn tạo ra nhữngngườik h á c , s i n h s ô i

n ả y n ở - đ ó l à q u a n h ệ g i ữ a c h ồ n g v à v ợ , c h a m ẹ v à

c o n c á i , đó là gia đình… Sự sản xuất ra đời sống - ra đời sống của bản thân mình bằng laođộng, cũng như ra đời sống của người khác bằng việc sinh con đẻ

ralàmộtquanhệsongtrùng;mộtmặtlàquanhệtựnhiên,mặtkháclàquanhệxãhội, quan hệ xã hội với ý nghĩa đó là hoạt động kết hợp của nhiều cá nhân, khôngkểlàtrongnhữngđiềukiệnnào,theocáchnàovànhằmmụcđíchgì”

Quan niệm này thể hiện rõ: Thứ nhất, gia đình nảy sinh cùng với sự ra đời vàtồn tại của xã hội loài người, cùng với quá trình tái tạo của bản thân con người; thứhai, gia đình nảy sinh từ hai mối quan hệ cơ bản (quan

hệ hôn nhân và quan hệhuyết thống); thứ ba, gia đình có hai nhiệm vụ chính (tạo ra của cải vật chất đápứng nhu cầu của cá nhân và gia đình, góp phần phát triển xã hội, đồng thời sinh raconngườiđểbảotồnnòigiống,đảmbảosựtồnvongcủaxãhội)

Bằng cách nghiên cứu sự phát triển của gia đình dưới các hình thái kinh tế

-xã hội khác nhau, C.Mác và Ph.Ăngghen đã cho thấy vai trò quan trọng của giađình trong mối quan hệ biện chứng đối với xã hội: “Theo quan điểm duy vật, nhântố quyết định trong lịch sử, suy đến cùng, là sản xuất và tái sản xuất ra đời sốngtrực tiếp Nhưng bản thân sự sản xuất đó lại có hai loại Một mặt là sản xuất

ra tưliệu sinh hoạt: thực phẩm, quần áo, nhà ở và những công cụ cần thiết để sản xuất ranhững thứ đó; mặt khác là sự sản xuất ra bản thân con người, là sự truyền nòigiống.Nhữngtrậtt ự x ã

h ộ i , t r o n g đ ó n h ữ n g c o n n g ư ờ i c ủ a m ộ t t h ờ i đ ạ i l ị c h

s ử nhất định và của một nước nhất định đang sống, là do hai loại sản xuất quyết định:một mặt là do trình độ phát triển của lao động và mặt khác là do trình độ phát triểncủagiađình”

Trang 8

C.Mác nhấn mạnh vai trò to lớn của gia đình đối với sự phát triển của lựclượng sản xuất và quan hệ sản xuất, cho rằng gia đình là “quan hệ xã hội duy nhất”trong lịch sử sơ khai của xã hội loài người Nhờ mối quan hệ với chức năng sinhsản này mà gia đình đã tạo dựng và duy trì các mối quan hệ xã hội khác Theonghĩa này, gia đình là một xã hội thu nhỏ: gia đình sản sinh ra cá nhân, kết nối cánhânvớixãhội.Saunày,khidânsốtănglên,nhiềunhucầumớiphátsinh.Khi nhu cầu của con người phát triển, các mối quan hệ xã hội mới nảy sinh làm chuyểngia đình từ “quan hệ duy nhất” sang “quan hệ phụ thuộc” Sự biến đổi này gắn vớiquá trình phân công lao động xã hội, quá trình phát triển xã hội

lậptươngđốicủagiađìnhvớixãhội,thậmchílàsựđốilậpgiữagiađìnhvàxãhội

2.2 Cáchìnhtháihônnhânvàhìnhtháigiađìnhcủacácgiaicấp

Về hôn nhân thời cổ:C.Mác và Ph.Ăngghen viết rằng: “Trong suốt thời

cổ,các cuộc hôn nhân đều do cha mẹ quyết định thay cho con cái, và con cái đều yêntâmvângtheo”

Hôn nhân thời Trung cổ, hôn nhân của quý tộc phong kiến, của thị dâncác phường hội:Các ông đã chỉ rõ: “ Đối với kị sĩ hoặc nam tước, cũng y

nhưđối với bản thân hoàng tử, hôn nhân là một hành vi chính trị, là một cơ hội để tăngcường thế lực của mình bằng những cuộc thông gia mới; chính lợi ích của vươngtriềuquyếtđịnh,chứkhôngphảinguyệnvọngcánhânquyếtđịnh”

“ĐốivớingườithịdâncácphườnghộiởcácthànhthịthờiTrungcổthìcũngnhư thế… hoàn toàn không phải nguyện vọng cá nhân, mà chính lợi ích gia đìnhquyếtđịnhxemngườiphụnữnàot h í c h

h ợ p v ớ i a n h t a h ơ n h ế t … V ậ y l à t r o n g tuyệt đại đa số các trường hợp, cho đến tận cuối thời Trung cổ, hôn nhân vẫn giữnguyên tính chất mà

nó đã có ngay từ đầu: một việc không phải do bản thân nhữngngườikếthônquyếtđịnh”

Hôn nhân tư sản - gia đình tư sản:C.Mác và Ph.Ăngghen chỉ ra rằng

mộttrong những công trình quan trọng nhất của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa là việctạo ra những người “tự do” và “bình đẳng” để giao kết một “hợp đồng hôn nhân”.Do

Trang 9

đótính chất xã hội của hôn nhân và gia đình là hôn nhân giai cấp, hôn nhân có“tính toán” về lợi ích và thỏa thuận Các ông viết: “Theo quan niệm tư sản, hônnhân là một hợp đồng, một giao kèo có tính chất pháp lý, hơn nữa lại là một giaokèo quan trọng nhất trong tất cả mọi giao kèo, vì nó định đoạt cả thể xác lẫn tinhthầnc ủ a h a i c o n n g ư ờ i t r o n g s u ố t c ả đ ờ i h ọ T h ậ t

v ậ y , h ồ i b ấ y g i ờ , g i a o k è o p h á p lý đó, về hình thức, đã được ký kết trên cơ sở tự nguyện: công việc đó không thểgiải quyết được nếu không có sự đồng ý của đôi bên Nhưng người ta đã thấy quárõ cái cách để có được một sự đồng ý ấy rồi và những kẻ thật sự định đoạt việc kếthônlànhữngairồi”

Trong tác phẩm “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản”, C.Mác và Ph.Ăngghenkhẳng định rằng với sự ra đời của máy móc hiện đại, nền công nghiệp

tư bản chủnghĩa với lực lượng sản xuất mới dẫn đến đại công nghiệp hiện đại thay cho

côngtrườngthủcông vàvớivòngxoáycủanềnsảnxuấttưbảnchủnghĩa,sự“ yênấm” của mọi gia đình đã bị phá vỡ Không chỉ vậy, đại công nghiệp cũng đang làmthay đổi vị thế và hoàn cảnh sống của gia đình,

cuộcsốngc ủ a m ọ i t h à n h v i ê n t r o n g g i a đ ì n h N ế u t r ư ớ c đ â y nhucầucủangư ờitiêudùng là “được thỏa mãn bằng những sản phẩm trong nước” thì nay “nảy sinh ranhững nhu cầu mới, đòi hỏi được thỏa mãn bằng những sản phẩm đưa từ nhữngmiền và xứ xa xôi nhất về”

và “sản xuất vật chất đã như thế thì sản xuất tinh thầncũng không kém như thế”,

nó làm cho “những thành quả của hoạt động tinh thầncủa một dân tộc trở thành tài sản chung của tất cả các dân tộc” Theo C.Mác vàPh.Ăngghen, nền đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng xóa bỏ tình trạng cát cứcủa các địa phương và các dân tộc để thay thế nó bằng những quan hệ phổ biếngiữa các dân tộc, hơn nữa đại

tư bản chủ nghĩa còn phá vỡ quan hệ sản xuất phongkiến,thayđổicơcấuxãhội,thayđổiquanhệgiữacácgiaicấpxãhội,qua nhệgiữa “người tự do và nô lệ, quý tộc và bình dân, chúa đất và nông nô, thợ cả vàphường hội và thợ bạn”, bị xóa

bỏ để tạo điều kiện cho sự lớn mạnh của hai giaicấpđốikhánglớnlàgiaicấptưsảnvàgiaicấpvôsản

Trang 10

Đại công nghiệp tư bản chủ nghĩa cũng đã tạo ra một hệ thống chính trị xãhội thích ứng với quan hệ sản xuất mới, với cơ sở hạ tầng mới, nó đã xóa bỏ mọiphẩmchấtvàđứchạnhmàchếđộphongkiếntạora.“Giaicấptưsảntướchếthào

Trang 11

quang

Trang 12

thần thánh của hết thảy những hoạt động xưa nay vẫn được trọng vọng và tônsùng”; biến đổi toàn bộ mối quan hệ gia đình vốn được coi là thiêng liêng nhất,“giai cấp tư sản xé toang tấm màn tình cảm bao phủ những quan hệ gia đình

và làmchonhữngquanhệấychỉcònlànhữngquanhệtiềnnongđơnthuầnthôi”

Hônnhâncủagiaicấpvôsảnvàgiađìnhvôsản:C.MácvàPh.Ăngghenđã

nêu quan điểm về gia đình trong xã hội sau này: “… Chỉ có trong giai cấp vôsản, thì tình yêu nam nữ mới có thể trở thành một quy tắc trong các quan hệ đối vớingười phụ nữ Hơn nữa, từ ngày đại công nghiệp đã giật được người đàn bà rakhỏi nhà, đem họ ra thị trường lao động và vào công xưởng, và

họthànhngườinuôidưỡngcủagiađình,thìtronggiađìnhngườivôsản nhữngt àntích cuối cùng của quyền thống trị của người đàn ông đã mất mọi cơ sở” C.Mác vàPh.Ăngghentánthànhlyhônk h i

h ạ n h p h ú c g i a đ ì n h k h ô n g c ò n l à n h u c ầ u c ầ n thiết cho nam và nữ và cho toàn xã hội; nó là biểu hiện của đạo đức và phép tắctrong mối quan hệ mới và giữa nam và nữ Trong xã hội tương lai, đảm bảo chomọi người

có quyền được dựa trên sự bình đẳng của nam và nữ để kết hôn tự do vàly hôn tự do, đây

là một bước tiến rõ ràng trong thời hiện đại Trong gia đình này“họ đã tự nguyện kết hôn với nhau”, không

ép buộc, áp đặt theo lợi ích kinh tế,quyềnl ợ i c ủ a g i a đ ì n h ; t h ự c

h i ệ n q u y ề n b ì n h đ ẳ n g g i ữ a n a m v à n ữ t h a y v ì d u y

t r ì sự thống trị của nam giới; Chế độ một vợ một chồng được thực hành theo nghĩachânthựcnhấtcủatừnày

Ngày đăng: 17/03/2022, 20:57

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Đức Bình (1995),C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập – tập 21, NhàxuấtbảnChínhtrịQuốcgia–Sựthật,https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/book/ph-angghen/tac-pham/c-mac-va-ph-ang-ghen-toan-tap-tap-21-191 Sách, tạp chí
Tiêu đề: C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập – tập 21
Tác giả: Nguyễn Đức Bình
Nhà XB: NhàxuấtbảnChínhtrịQuốcgia–Sựthật
Năm: 1995
2. NguyễnĐứcBình(1995),C.Mácv à P h . Ă n g g h e n t o à n t ậ p – t ậ p 3 , NhàxuấtbảnChínhtrịQuốcgia–Sựthật,https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen-lenin-ho-chi-minh/book/c-mac/tac-pham/c-mac-va-ph-angghen-toan-tap-tap-3-1403.Hà Hoàng Giang (09/06/2015),Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềgia đình và vận dụng xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta, Tạp chí Dântộc,http://tapchidantoc.ubdt.gov.vn/2015-06-09/744df70048ada0fdbe53beeacb721bf3-cema.htm Sách, tạp chí
Tiêu đề: C.Mácv à P h . Ă n g g h e n t o à n t ậ p –t ậ p 3", NhàxuấtbảnChínhtrịQuốcgia–Sựthật,https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/c-mac-angghen- lenin-ho-chi-minh/book/c-mac/tac-pham/c-mac-va-ph-angghen-toan-tap-tap-3-1403. Hà Hoàng Giang (09/06/2015),"Quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin vềgiađình và vận dụng xây dựng gia đình văn hóa ở nước ta
Tác giả: NguyễnĐứcBình
Nhà XB: NhàxuấtbảnChínhtrịQuốcgia–Sựthật
Năm: 1995
4. Phạm Quốc Nhật – Nguyễn Hoài Sơn (23/06/2020),Cần một tầm nhìn mớivềgia đình, Tạp chí Tuyêngiáo,https://tuyengiao.vn/dan-so-va-phat-trien/can-mot-tam-nhin-moi-ve-gia-dinh-128380 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cần một tầm nhìn mớivề"gia đình
5. NguyễnThịTuyết(27/06/2018),Nhữnggiátrịlíluậnvàthựctiễntừquanđiểm của C. Mác về hôn nhân và gia đình, Tạp chí Mặt trận,http://tapchimattran.vn/nghien-cuu/nhung-gia-tri-ly-luan-va-thuc-tien-tu-quan-diem-cua-cmac-ve-hon-nhan-va-gia-dinh-12890.html Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhữnggiátrịlíluậnvàthựctiễntừquanđiểm của C. "Mác về hôn nhân và gia đình
6. Thủ tướng Chính phủ (29/05/2012),Quyết định Phê duyệt Chiến lược pháttriển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, Cổng thông tin điện tửChính phủ nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa ViệtNam,http://chinhphu.vn/portal/page/portal/chinhphu/noidungchienluocphattrienkinhtexa hoi?docid=1314&substract=&strutsAction=ViewDetailAction.do Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định Phê duyệt Chiến lược pháttriển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w