Học thuyết kinh tế hình thái kinh tế-xã hội cung cấp cơ sở khách quan để nghiên cứu xã hội: sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, điều đó cho thấy
Trang 1Phần Mở Đầu Hơn một trăm năm kể từ khi học thuyết hình thái kinh
tế-xã hội của C.Mác ra đời, lịch sử loài người đã có những bước phát triển to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhưng học thuyết hình thái kinh tế xã hội vẫn giữ nguyên những giá trị to lớn và bền vững trong việc nhận thức về xã hội Học thuyết kinh tế hình thái kinh tế-xã hội cung cấp cơ sở khách quan để nghiên cứu xã hội: sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội là một quá trình lịch sử tự nhiên, điều đó cho thấy các hình thái kinh tế xã hội vận động theo những quy luật khách quan cón có của nó chứ không phải của con người Chính
vì vậy, nó đem đến cho con người phương pháp nhận thức đúng
về xã hội, đó là đi từ nhận thức các quy luật vận động phát triển khách quan của xã hội loài người để giải thích về các hiện tượng xã hội, găn với một hình thái kinh tế xã hội cụ thể
Trên cơ sở nhận thức và vận dụng sáng tạo lý luận “Sự phát triển hình thái kinh tế xã hội là quá trình lịch sử tự nhiên”
và lý luận về hình thái kinh tế xã hội, Đảng đã thực hiện các chủ trương, chính sách phù hợp trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa Để làm rõ luận điểm của mình, tác giả đã lựa chọn nghiên cứu đề tài: “ Phân tích lý luận Phân tích lý luận Triết học Mác-Lênin: “Sự phát triển hình thái kinh tế - xã hội là quá trình lịch sử - tự nhiên” và sự vận dụng lý luận trong cách mạng XHCN ở nước ta” cho bài tiểu luận của mình
Với thời gian tìm hiểu không nhiều, cũng như kiến thức trong lĩnh vực này còn hạn chế nên tiểu luận không tránh khỏi những thiếu xót Tác giả rất mong nhận được đánh giá góp ý từ quý thầy cô
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Trang 2Phần Nội Dung
1 Hình thái kinh tế xã hội
1.1 Khái niệm hình thái kinh tế xã hội
“Hình thái kinh tế xã hội là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử dùng để chỉ xã hội ở một giai đoạn lịch sử nhất định, với một kiểu quan hệ sản xuất đặc trưng, tương ứng với lực lượng sản xuất ở một trình độ phát triển nhất định và một kiến trúc thượng tầng được xây dựng trên những quan hệ sản xuất đó.”
Ngoài những mặt cơ bản như lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng thì hình thái kinh tế- xã hội còn có những quan hệ dân tộc, quan hệ gia đình và các quan
hệ xã hội khác Các quan hệ đó gắn bó chặt chẽ với quan hệ sản xuất, biến đổi cùng với sự biến đổi của các quan hệ xã hội
Trước khi lo nghĩ đến những vấn đề chính trị, nghệ thuật, khoa học, thì nhu cầu tối thiểu của một con người là phải ăn, uống, ở, mặc Đây là những nhu cầu đơn giản nhất nhưng là thiết yếu nhất để con người có thể tồn tại Tại sao lại bàn đến con người ở đây Bởi con người chính là trung tâm, là nguyên nhân, là một trong những nhân tố tạo nên hình thái KT - XH
Những thứ cơ bản cho nhu cầu tồn tại của con người hoàn toàn không có sẵn trong tự nhiên, mà con người muốn sống phải sáng tạo lại hiện thực, những sản phẩm cần thiết để sống phải được tạo ra chứ không có trong tự nhiên dưới dạng trực tiếp sẵn có Sống là phải sáng tạo và sáng tạo một cách thực tiễn hay nói cách khác là phải sản xuất để mà sống Mỗi một con người có sự suy nghĩ sáng tạo khác nhau, nên cách thức sáng tạo làm việc khác nhau, vì vậy mỗi xã hội lại có phương thức sản xuất khác nhau
Phương thức sản xuất là cách thức sản xuất ra của cải vật chất mà trong đó lực lượng sản xuất đạt đến một trình độ nhất định, thống nhất với các quan hệ sản xuất tương ứng với nó
1.2 Cấu trúc của hình thái kinh tế xã hội
1.2.1 Lực lượng sản xuất
Trang 3Lực lượng sản xuất là là mối quan hệ giữa con người với tự nhiên được hình thành trong quá trình sản xuất, lực lượng sản xuất bao gồm người lao động và tư liệu sản xuất
Tư liệu sản xuất gồm có đối tượng lao động và tư liệu lao động Đối tượng lao động là những cái mà con người muốn tác động vào để biến nó trở thành những sản phẩm con người mong muốn Nó là toàn bộ những tài nguyên thiên nhiên có sẵn
mà con người đã, đang và sẽ trực tiếp sử dụng và đưa vào sản xuất; nó còn là những sản phẩm không có sẵn trong tự nhiên
mà do con người bằng lao động của mình đã tạo ra như: các loại hoá chất, sợi tổng hợp, các chất hợp kim, các loại nguyên vật liệu mới, giống và cây con mới Con người không bao giờ chỉ bằng lòng với những thứ đang hiện có, việc tìm kiếm ra những đối tượng lao động mới, việc tạo ra những sản phẩm mới luôn là động lực cuốn hút mọi hoạt động sáng tạo của con người Vì vậy đối tượng lao động luôn luôn được biến đổi, đổi mới không ngừng
Tư liệu lao động chính là công cụ lao động (máy móc, thiết
bị, hệ thống công nghệ, ) để con người tác động vào đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm mà mình mong muốn Ngoài ra, tư liệu lao động còn có cả phương tiện lao động, đó là những cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho quá trình sản xuất như: nhà xưởng, kho bãi, bến cảng, sân ga, phương tiện liên lạc, đường xá, cầu cống, Tư liệu lao động luôn luôn được cải thiện, biến đổi theo sự phát triển sáng tạo của con người Chính công cụ lao động và phương tiện lao động là cơ sở để đánh giá
sự phát triển của mỗi thời đại kinh tế, mỗi chế độ chính trị xã hội
Người lao động là nhân tố trung gian nối kết tư liệu lao động với đối tượng lao động Nếu một xã hội dù có tư liệu lao động hiện đại đến đâu không có người lao động thì tác dụng tích cực của tư liệu lao động cũng chẳng có ý nghĩa gì Hơn nữa,
tư liệu lao động cũng là do con người lao động tạo ra Chính vì vậy con người luôn cần được quan tâm giáo dục và đào tạo để phát huy sức mạnh trí tuệ của mình
1.2.2 Quan hệ sản xuất
Trang 4Quan hệ sản xuất là toàn bộ mối quan hệ giữa người với người trong quá trình sản xuất và tái sản xuất vật chất của xã hội Nó thể hiện ở 3 mặt quan hệ cơ bản: quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất; quan hệ trong tổ chức và quản lý sản xuất; quan hệ phân phối sản phẩm lao động
Ba mặt kinh tế nói trên là một thể thống nhất hữu cơ, tạo thành quan hệ sản xuất, trước đó quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất có ý nghĩa quyết định đối với các mặt quan hệ khác
Quan hệ sản xuất cũng thay đổi tuỳ thuộc vào trình độ phát triển nhất định của các lực lượng sản xuất vật chất của con người, chứ không phụ thuộc vào ý thức của con người Sự phụ thuộc và tác động lẫn nhau giữa quan hệ sản xuất với tích chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trong những quy luật cơ bản nhất của đời sống xã hội Tính chất của lực lượng sản xuất là tính chất của tư liệu và sức lao động Khi công cụ sản xuất được sử dụng bởi từng cá nhân riêng biệt để sản xuất ra một sản phẩm cho xã hội, không cần đến lao động của nhiều người thì lực lượng sản xuất mang tính chất xã hội Trình độ của lực lượng sản xuất được thể hiện ở trình độ tinh xảo và hiện đại của công cụ sản xuất; trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng, kỹ xảo của người lao động, trình độ phân công lao động xã hội, tổ chức quản lý sản xuất và quy mô của nền sản xuất
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất càng cao thì chuyên môn hoá và phân công lao động càng sâu Trình độ phân công lao động và chuyên môn hoá là thước đo trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
1.2.3 Kiến trúc thượng tầng
Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những tư tưởng xã hội, những thiết chế tương ứng và những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một cơ sở hạ tầng nhất định Toàn bộ tư tưởng xã hội là chính trị, pháp luật, triết học, đạo đức, khoa học, trong đó hệ tư tưởng chính trị, pháp luật là sự phản ánh trực tiếp cơ sở hạ tầng và có vị trí chi phối toàn bộ đời sống tư tưởng xã hội Những tổ chức thiết chế tương ứng bao gồm cơ quan quản lý Nhà nước các cấp từ Trung ương tới địa phương,
bộ máy bạo lực, quan đội, cảnh sát, toà án, nhà tù, các Đảng
Trang 5phái chính trị, các tổ chức tôn giáo, và tổ chức quần chúng khác Những mối quan hệ nội tại giữa các bộ phận của kiến trúc thượng tầng với nhau trong đó quan trọng hơn cả là mối quan
hệ giữa hệ tư tưởng chính trị với bộ máy quản lý Nhà nước; hệ
tư tưởng chính trị, bộ máy quản lý Nhà nước với các tổ chức chính trị xã hội, các lĩnh vực khác nhau của đời sống tinh thần
Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những mối quan hệ sản xuất hợp thành cơ cấu kinh tế của một hình thái KT - XH nhất định Cơ sở
hạ tầng chính là tổng hợp các kiểu quan hệ sản xuất, đó là những quan hệ vật chất, là cơ sở kinh tế của đời sống xã hội Trong xã hội có giai cấp, tính chất đối kháng về mặt kinh tế của
cơ sở hạ tầng chính là cơ sở nảy sinh những đối kháng trong kiến trúc thượng tầng, giai cấp nào thống trị về kinh tế sẽ thống trị về chính trị và thiết lập cả sự thống trị về mặt tinh thần đối với xã hội, trong đó hệ tư tưởng chính trị và bộ máy quản lý Nhà nước có vị trí quan trọng nhất Cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng có mối quan hệ biện chứng với nhau Cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng Và kiến trúc thượng tầng có tính độc lập tương đối, tác động trở lại cơ sở hạ tầng
2 Sự phát triển của hình thái kinh tế xã hội
Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển tiếp nối nhau từ thấp đến cao Tương ứng với mỗi giai đoạn là một hình thái kinh tế xã hội Sự vận động thay thế nhau của các hình thái kinh tế xã hội trong lịch sử đều
do tác động của các quy luật khách quan, đó là quá trình lịch sử tất yếu
Trong bộ “Tư bản” và các tác phẩm khác của Mác, theo Mác, sự phát triển của xã hội loài người là một quá trình lịch sử
tự nhiên, trong đó bản thân con người làm ra lịch sử của mình, nhưng không phải con người làm ra lịch sử một cách tuỳ tiện, một sự lựa chọn tuỳ ý, mà làm ra lịch sử phụ thuộc vào toàn bộ
sự phát triển đã qua của sinh hoạt vật chất của xã hội Ngay cả sinh hoạt tinh thần của xã hội cũng phản ánh sinh hoạt vật chất của xã hội Từ đây Mác & Ăng ghen đã nêu lên hàng loạt những quy luật chi phối xã hội, đó là quy luật về quan hệ sản xuất phù hợp với tính chất và trình độ của lực lượng sản xuất, quy luật về
Trang 6tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, về cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc hạ tầng
Trong tác phẩm “Góp phần phê phán chính trị kinh tế học”, Mác viết: “Trong sản xuất xã hội, để cung cấp cho đời sống của mình, con người hình thành những quan hệ nhất định, tất yếu không phụ thuộc vào ý chí của mình - những quan hệ sản xuất phù hợp với một trình độ phát triển nhất định của những lực lượng sản xuất vật chất của mình Tập hợp những quan hệ sản xuất ấy hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội cơ sở hiện thực trên đó dựng lên kiến trúc thượng tầng về pháp lý và chính trị và phù hợp với cơ sở đó là những hình thái nhất định của ý thức xã hội Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình đời sống xã hội, chính trị và tinh thần nói chung Nhưng trong phương thức sản xuất thì công cụ lao động đánh giá trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, còn con người - người công nhân giữ vai trò quyết định cho sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất ổn định tương đối, ngày càng mâu thuẫn với lực lượng sản xuất không ngừng phát triển được biểu hiện về mặt xã hội, là mâu thuẫn giai cấp dẫn đến cuộc đấu tranh giai cấp Đấu tranh giai cấp là động lực phát triển của xã hội có giai cấp đối kháng
Các mặt hợp thành của hình thái kinh tế-xã hội không tách rời nhau mà có mối liên hệ biện chứng với nhau hình thành nên những quy luật vận động, phát triển khách quan và phổ biến của xã hội Đó là quy luật về sự phù hợp của quan hệ xã hội với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật cơ sở hạ tầng với kiến trúc thượng tầng và các quy luật xã hội khác
Chính sự tác động của các quy luật khách quan đó mà các hình thái kinh tế xã hội vận động và phát tiển từ thấp đến cao như một quá trình lịch sử tự nhiên, không phụ thuộc vào mong muốn của con người Trong các quy luật khách quan chi phối sự vận động và phát triển của các hình thái kinh tế xã hội thì quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất có vai trò quan trọng nhất
Sự tác động của các quy luật khách quan làm cho các hình thái kinh tế xã hội phát triển thay thế nhau từ thấp đến cao đó
là con đường phát triển chung của nhân loại Con đường phát
Trang 7triển của mỗi dân tộc không chỉ bởi các quy luật chung mà còn
bị tác động bởi điều kiện về tự nhiên, chính trị, truyền thống văn hóa, điều kiện quốc tế, Chính vì vậy lịch sử phát triển cũng hết sức phong phú và đa dạng Mỗi dân tộc đều có những nét độc đáo riêng trong sự phát triển của mình Lịch sử nhân loại là lịch sử kế tiếp nhau của các hình thái KT - XH, song không vì vậy mà cho rằng sự phát triển và thay thế các hình thái KT - XH ở mọi quốc gia, mọi lục địa đều diễn ra giống nhau
và tiến trình như nhau Lịch sử không phát triển theo đường thẳng và ở mỗi nước khác nhau có thể sẽ có những hình thái KT
- XH và trình độ phát triển khác nhau Tuy nhiên mỗi nước không phải là sự phát triển riêng biệt, sự tác động và ảnh hưởng lẫn nhau giữa chúng được diễn ra dưới nhiều hình thức
sẽ có tác động quan trọng đến sự phát triển của các dân tộc và của lịch sử nói chung Tính chất không đồng đều này biểu hiện
ở một số dân tộc tiến lên phía trước, một số dân tộc khác lại ngưng trệ do rất nhiều nguyên nhân chi phối, một số nước do những điều kiện cụ thể lại bỏ qua một hình thái kinh tế đó Tuy nhiên, sự bỏ qua đó cũng diễn ra theo một quá trình lịch sử xã hội chứ không phải theo ý muốn chủ quan của con người
C.Mác từng lưu ý rằng: “Một số dân tộc, một số quốc gia
bỏ qua một vào giai đoạn để đến với một giai đoạn xã hội cao hơn không phải là không có điều kiện mà nó phải tuân theo các điều kiện như: Phương thức sản xuất định bỏ qua đã lạc hậu, lỗi thời; Phương thức mà xã hội ấy muốn thiết lập thì nó đã hình thành hoặc ít ra nó cũng đang hình thành và tỏ rõ được tính ưu việt của nó; Phải có sự giúp đỡ của quốc tế; Ngoài ra bản thân dân tộc đó phải có được lực lượng cách mạng-một chính đảng
có đầy đủ năng lực để lãnh đạo cuộc cách mạng ấy.”
Như vậy, quá trình phát triển lịch sử tự nhiên của sự phát triển
xã hội chẳng những diễn ra bằng con đường phát triển tuần tự,
mà còn bao hàm cả sự bỏ qua một vài hình thái kinh tế xã hội trong những điều kiện nhất định Với những giá trị khoa học và cách mạng như vậy, học thuyết hình thái kinh tế - xã hội là cơ
sở triết học đặc biệt quan trọng để xác lập lý luận về con đường
đi lên chủ nghĩa xã hội
3 Sự vận dụng lý luận trong cách mạng XHCN ở Việt Nam
Trang 8Tin tưởng sắt đá vào nguyên lý phát triển macxit, Hồ Chí Minh đã khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là đường đi tất yếu của lịch sử nhân loại Người viết: “Loài người đã trải qua sự phát triển từ xã hội nguyên thuỷ sang xã hội chiếm hữu nô lệ, xã hội phong kiến rồi đến xã hội tư bản, xã hội tư bản với bản chất vô nhân đạo và đầy mâu thuẫn trong lòng nó, cũng giống như những quy luật của lịch sử xã hội, xã hội tư bản sẽ chuyển sang
xã hội chủ nghĩa - cộng sản chủ nghĩa” Tư tưởng sâu xa của HCM không chỉ là ở sự lựa chọn hướng đi của dân tộc phù hợp với quy luật phát triển của lịch sử Giá trị nhân văn trong cách nhìn mới của HCM là ở chỗ người xem xã hội XHCN là hướng đi tối ưu của loài người Chính vì vậy, ngay từ khi đất nước còn chìm đắm trong vòng nô lệ, HCM đã quyết chọn con đường cách mạng dân quyền để thực hiện dân sinh, tiến lên CNXH CNXH, với bản chất nhân đạo và đầy sức sống của nó, nơi thể hiện lý tưởng cao đẹp của con người, có khả năng tự tạo ra sức mạnh nội sinh để thúc đẩy xã hội đi lên phù hợp với lý tưởng chân chính của nhân dân Việt Nam Độc lập dân tộc & CNXH đã trở thành nhân lõi xuyên suốt lý tưởng xây dựng XH mới và triết lý phát triển xã hội Hồ Chí Minh
Việc xác định mục tiêu, nội dung, biện pháp thực hiện con đưòng đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong mấy chục năm qua là kết quả của sự vận dụng sáng tạo các nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của nước ta, trong đó rõ nét nhất là học thuyết hình thái kinh tế - xã hội và
lý luận của các nhà kinh điển chủ nghĩa Mác-Lênin, về con đường quá độ gián tiếp lên chủ nghĩa xã hội Sự vận dụng sáng tạo đó thể hiện rõ nét trong thời kỳ đổi mới ở Việt Nam (từ 1986
Trang 9đến nay), đã có thể tạo ra sự biến đổi sâu sắc về vật chất, về kinh tế - xã hội của xã hội nước ta trên tất cả các lĩnh vực Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp rất khó khăn phức tạp, cho nên nhất định phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều chặng đường, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội có tính chất quá độ Quá trình thực hiện con đuờng đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta cũng nhất định diễn ra sự đan xen và đấu tranh
giữa cái mới và cái cũ trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung và phát triển năm 2011) đã xác định Mục tiêu tổng quát khỉ kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây
dựng được về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở để nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh, hạnh phúc Trước mắt, từ nay đến giữa thế kỷ XXI, cần phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa
Trong Cương lĩnh cũng xác định, để thực hiện thành công các mục tiêu đó, cần phải thực hiện tốt tám phương hướng cơ bản: 1 Đẩy mạnh công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước gắn
với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên, môi trường; 2 Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa;
3 Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; xây dựng con người, nâng cao đời sống nhân dân thực hiện tiến bộ
và công bằng xã hội; 4 Bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; 5 Thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; 6 Xây dựng nền tảng xã
Trang 10hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường
và mở rộng mặt trận dân tộc thống nhất; 7 Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì
nhân dân: và, 8 Xây dựng đảng trong sạch, vững mạnh Cương lĩnh cũng nhấn mạnh: Trong quá trình thực hiện các phương
hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tất cả mối quan hệ lớn: quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; không phiến diện, cực đoan, duy ý chí;
Trong 8 phương hướng cơ bản đã được xác định trong Cương lĩnh thì đẩy mạnh công nghiệp hóa được xác định là phương
hướng đầu tiên, đồng thời cùng với phương hướng đó là phương hướng phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Thực chất, hai phương hướng này là nhằm xác lập phương thức sản xuất công nghiệp - thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa - nhân tố quyết định trình độ phát triển của nền sản xuất vật chất xă hội chủ nghĩa, nhân tố quyết định thắng lợi của một chế độ xã hội mới - xã hội chủ nghĩa
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là nhiệm vụ trọng tâm cùa
thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội Theo học thuyết hình thái kinh tế - xã hội, mỗi xã hội đều được xác lập trên cơ sở của