1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO CỦA NHÀ VĂN NAM CAO (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT LỚP 11 BAN CƠ BẢN)

58 15 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 58
Dung lượng 1,87 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đọc hiểu là yếu tố cốt lõi trong quá trình dạy học văn, biến học sinh (HS) từ bị động trở nên chủ động và sáng tạo hơn khi tiếp nhận văn bản. Đọc là nền tảng, nhưng hiểu được vẻ đẹp của ngôn ngữ mới là yếu tố quyết định để một tác phẩm sống được trong lòng bạn đọc hay không. Chính vì vậy, vai trò định hướng của giáo viên (GV) là cần thiết khi tìm hiểu một tác phẩm tự sự để HS có thể tự mình cảm nhận được vẻ đẹp mà tác giả muốn gửi gắm trong “đứa con tinh thần” của mình. M. Gorki đã từng nói: “Mỗi cuốn sách đều là bậc thang nhỏ mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên gần tới con người”, nên có thể nói rằng, sách là kho báu của tri thức và cũng là của cảm xúc. Hiện nay, các tác phẩm văn chương xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng trong cách tiếp nhận, nhưng chất lượng nội dung không được đảm bảo, một bộ phận còn gây nên thái độ thiếu tích cực với suy nghĩ và nhận thức của HS. Chính vì thế, các nhà nghiên cứu đã chú trọng nhiều hơn đến việc xác định vai trò của hoạt động đọc hiểu văn bản để HS có thể hiểu được vẻ đẹp, sự trong sáng và thanh lọc tâm hồn của một tác phẩm văn chương chân chính và có giá trị thực sự. Nắm được phương pháp dạy đọc hiểu, giáo viên sẽ giúp HS trang bị công cụ quan trọng nhất để vào đời tự đọc và tự học, đọc suốt đời và học suốt đời. Những tác phẩm văn học thuộc các thể loại khác nhau, do đó cách đọc hiểu khác nhau. Vấn đề đặt ra là làm thế nào để HS có thể đọc hiểu nó tức là tiếp xúc với một hệ thống tín hiệu, giải mã tín hiệu ấy để chỉ ra được nội dung và ý nghĩa của văn bản một cách chính xác, lí giải khoa học và có sức thuyết phục. Đọc hiểu theo loại thể là một trong những cơ sở quan trọng giúp HS hiểu văn bản một cách có cơ sở, trang bị cho HS công cụ, phương thức, cách thức để khám phá văn bản. Để vấn đề đọc hiểu đạt hiệu quả, phương pháp dạy học phải đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS; từ đó hình thành phương pháp đọc cho HS, đặc biệt là đọc hiểu theo loại thể để HS tự đọc, tự học và biết giải quyết những vấn đề đặt ra. Trong số các tác phẩm thuộc chương trình THPT, văn bản tự sự chiếm một vị trí không nhỏ trong suốt chương trình học với nội dung đặc sắc, những sử thi, sử kí, những tiểu thuyết, truyện ngắn hay và tiêu biểu cho cả một giai đoạn văn học. Chính vì vậy, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài vận dụng phương pháp đọc hiểu tác phẩm tự sự để làm đề tài nghiên cứu lần này. Và tác phẩm chúng tôi quyết định lựa chọn khảo sát chính là truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đổi mới trong dạy học tác phẩm Ngữ văn trong nhà trường THPT. Đây là một truyện ngắn lôi cuốn, hấp dẫn cả về nội dung lẫn biện pháp nghệ thuật, chính tác phẩm này đã làm nên tên tuổi cho nhà văn Nam Cao.

Trang 1

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ VÀO DẠY HỌC TRUYỆN NGẮN CHÍ PHÈO CỦA NHÀ

VĂN NAM CAO (CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT LỚP 11 BAN

CƠ BẢN)

Trang 3

KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU

Nội dung công việc Người thực hiện Thời gian

1 Hướng nghiên cứu hoặc xác định chính xác tên đề tài:

2 Những tài liệu đã sưu tầm được: (cụ thể hóa trong đề

cương nghiên cứu – phần Tài liệu tham khảo)

- Sách: (cách viết như sau)

Họ và tên tác giả (năm xuất bản) Tên sách Nhà xuất

bản, nơi xuất bản, trang

Ví dụ Phạm Minh Hạc (chủ biên).(1998) Tâm lý học

NXB Giáo dục, Hà Nội, trang 10-16

- Báo/đề tài các cấp: (Cách viết như sau)

Họ và tên tác giả (năm xuất bản) Tên bài báo, đề tài.Tạp

chí/trường, số, trang

Ví dụ: Trịnh Văn Cường (2013) Thực trạng giáo dục

hướng nghiệp cho học sinh trong dạy học môn công nghệ

ở trường trung học phổ thông Tạp chí Giáo dục, 310,

22-23

- Đường link bài báo (nếu tham khảo tài liệu trên

internet)

3 Xây dựng lý do chọn đề tài (cụ thể hóa trong đề cương

nghiên cứu – phần Lý do chọn đề tài)

4 Xây dựng tổng quan tình hình nghiên cứu (cụ thể hóa

trong đề cương – phần Cơ sở lý luận, mục tổng quan

5 Xây dựng các khái niệm có liên quan của đề tài(cụ thể

hóa trong đề cương nghiên cứu- phần cơ sở lý luận của

đề tài,mục những khái niệm công cụ)

6 Sưu tầm hoặc/và xây dựng công cụ nghiên cứu: Trắc

nghiệm/Phiếu điều tra/Phiếu quan sát(cụ thể hóa trong đề

cương nghiên cứu – phần phương pháp nghiên cứu)

Trang 4

Chí Phèo Thị Nở Phương pháp dạy học

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1 Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích của nghiên cứu 2

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu 2

3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

3.2 Khách thể nghiên cứu 2

4 Phương pháp nghiên cứu 2

5 Giả thuyết khoa học 3

6 Kết cấu của đề tài 3

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 4

1.1 Cơ sở lý luận 4

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước 4

1.1.2 Những khái niệm công cụ của đề tài 5

1.2 Cơ sở thực tiễn 8

1.2.1 Thực trạng dạy học văn bản tự sự hiện nay ở trường THPT 8

1.2.2 Thực trạng về dạy học truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao 10

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHÍ PHÈO CỦA NHÀ VĂN NAM CAO 11

2.1 Đặc điểm thể loại của tác phẩm tự sự trong tác phẩm Chí Phèo 11

2.1.1 Cốt truyện 11

2.2.2 Kết cấu 12

2.1.3 Nhân vật 12

2.1.4 Ngôn ngữ 13

2.1.5 Không gian nghệ thuật 14

2.1.6 Thời gian nghệ thuật 15

2.2 Định hướng tiếp nhận truyện ngắn "Chí Phèo" 17

2.3 Dạy đọc - hiểu tác phầm Chí Phèo 19

2.3.1 Hoạt động chuẩn bị của Giáo viên 19

2.3.2 Hoạt động chuẩn bị của HS-người đọc 27

2.3.3 Hoạt động tương tác trên lớp 27

CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 30

3.1 Mục đích thực nghiệm 30

3.2 Yêu cầu thực nghiệm 30

3.3 Đối tượng - Thời gian thực nghiệm 30

3.4 Triển khai thực nghiệm 30

3.4.1 Giáo án thực nghiệm 30

3.4.2 Các bước tiến hành thực nghiệm 41

3.5 Đánh giá thực nghiệm 41

3.5.1 Các tiêu chí đánh giá 41

3.5.2 Phương tiện đánh giá 42

3.5.3 Phân tích kết quả thực nghiệm 42

3.5.4 Đánh giá 44

3.5.5 Bài học kinh nghiệm 45

KẾT LUẬN 46

TÀI LIỆU THAM KHẢO 47

PHỤ LỤC 48

GIÁO ÁN ĐỐI CHỨNG 48

Trang 6

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Đọc hiểu là yếu tố cốt lõi trong quá trình dạy học văn, biến học sinh (HS) từ bị động trở nên chủ động và sáng tạo hơn khi tiếp nhận văn bản Đọc là nền tảng, nhưng hiểu được vẻ đẹp của ngôn ngữ mới là yếu tố quyết định để một tác phẩm sống được trong lòng bạn đọc hay không Chính vì vậy, vai trò định hướng của giáo viên (GV) là cần thiết khi tìm hiểu một tác phẩm tự sự để HS có thể tự mình cảm nhận được vẻ đẹp mà tác giả muốn gửi gắm trong

“đứa con tinh thần” của mình M Gorki đã từng nói: “Mỗi cuốn sách đều là bậc thang nhỏ

mà khi bước lên, tôi tách khỏi con thú để lên gần tới con người”, nên có thể nói rằng, sách là kho báu của tri thức và cũng là của cảm xúc Hiện nay, các tác phẩm văn chương xuất hiện ngày càng nhiều, đa dạng trong cách tiếp nhận, nhưng chất lượng nội dung không được đảm bảo, một bộ phận còn gây nên thái độ thiếu tích cực với suy nghĩ và nhận thức của HS Chính

vì thế, các nhà nghiên cứu đã chú trọng nhiều hơn đến việc xác định vai trò của hoạt động đọc hiểu văn bản để HS có thể hiểu được vẻ đẹp, sự trong sáng và thanh lọc tâm hồn của một tác phẩm văn chương chân chính và có giá trị thực sự

Nắm được phương pháp dạy đọc - hiểu, giáo viên sẽ giúp HS trang bị công cụ quan trọng nhất để vào đời - tự đọc và tự học, đọc suốt đời và học suốt đời Những tác phẩm văn học thuộc các thể loại khác nhau, do đó cách đọc hiểu khác nhau Vấn đề đặt ra là làm thế nào để HS có thể đọc hiểu nó - tức là tiếp xúc với một hệ thống tín hiệu, giải mã tín hiệu ấy

để chỉ ra được nội dung và ý nghĩa của văn bản một cách chính xác, lí giải khoa học và có sức thuyết phục

Đọc - hiểu theo loại thể là một trong những cơ sở quan trọng giúp HS hiểu văn bản một cách có cơ sở, trang bị cho HS công cụ, phương thức, cách thức để khám phá văn bản Để vấn đề đọc - hiểu đạt hiệu quả, phương pháp dạy học phải đổi mới nhằm phát huy tính tích cực, chủ động của HS; từ đó hình thành phương pháp đọc cho HS, đặc biệt là đọc - hiểu theo loại thể để HS tự đọc, tự học và biết giải quyết những vấn đề đặt ra

Trong số các tác phẩm thuộc chương trình THPT, văn bản tự sự chiếm một vị trí không nhỏ trong suốt chương trình học với nội dung đặc sắc, những sử thi, sử kí, những tiểu thuyết, truyện ngắn hay và tiêu biểu cho cả một giai đoạn văn học Chính vì vậy, nhóm chúng tôi quyết định chọn đề tài vận dụng phương pháp đọc - hiểu tác phẩm tự sự để làm đề tài nghiên cứu lần này Và tác phẩm chúng tôi quyết định lựa chọn khảo sát chính là truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao để góp một phần nhỏ bé của mình vào việc đổi mới trong dạy học tác phẩm Ngữ văn trong nhà trường THPT Đây là một truyện ngắn lôi cuốn, hấp dẫn cả về nội dung lẫn biện pháp nghệ thuật, chính tác phẩm này đã làm nên tên tuổi cho nhà văn Nam Cao

Trang 7

2 Mục đích của nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu nhằm thực hiện những mục đích sau:

- Nghiên cứu về dạy học theo phương pháp đọc - hiểu văn bản tự sự, chú ý đến những

ưu điểm và tính khả dụng của phương pháp này trong việc vận dụng vào thực tế dạy học đọc văn, đáp ứng yêu cầu đổi mới dạy học hiện nay

- Có những bước đầu về quy trình, cách thức tổ chức một hoạt động dạy học theo phương pháp đọc - hiểu văn bản theo loại thể tự sự

- Thiết kế một giáo án theo thể loại tự sự (truyện ngắn Chí Phèo - Nam Cao) trong dạy học theo phương pháp đọc - hiểu dựa trên cơ sở những kinh nghiệm sư phạm của GV hướng dẫn dạy học cũng như trải nghiệm của bản thân trong kỳ kiến tập vừa qua và các sách tham khảo cần thiết trong việc thiết kế giáo án phần đọc văn trong trường THPT

- Khảo sát thực nghiệm nhằm kiểm chứng tính khả thi của giáo án, lấy đó làm kinh nghiệm, tài liệu hữu ích cho việc giảng dạy môn Ngữ văn sau này

3 Đối tượng, khách thể nghiên cứu

Trong đề tài nghiên cứu, chúng tôi giới hạn phạm vi nghiên cứu như sau:

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Vận dụng PP đọc hiểu văn bản tự sự vào dạy học tác phẩm truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam cao (Chương trình Ngữ văn THPT, lớp 11, ban cơ bản)

3.2 Khách thể nghiên cứu

Học sinh lớp 11 và giáo viên dạy môn Ngữ văn lớp 11 (gồm 5 lớp), ban cơ bản, Trường THCS và THPT Đống Đa, TP Đà Lạt, Lâm Đồng

4 Phương pháp nghiên cứu

Để đạt được những mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:

- PP phân tích - tổng hợp: được sử dụng để nghiên cứu cơ sở lý luận, cơ sở thực tiễn thông qua việc tìm hiểu các tài liệu, giáo trình, các bài luận khoa học thuộc nhiều lĩnh vực liên quan đến đề tài như: Giáo dục học, lý luận và phương pháp dạy học

- PP điều tra - khảo sát: được sử dụng để thu thập dữ liệu thực tế về tình hình dạy học văn đang diễn ra ở khối 11 trường THCS và THPT Đống Đa, Thành phố Đà Lạt, Tỉnh Lâm Đồng

- PP so sánh - đối chiếu: được vận dụng để so sánh việc áp dụng và hiệu quả của thiết

kế giáo án theo cách truyền thống với giáo án theo cách đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại để thấy được ưu, nhược điểm của chúng

- PP thống kê: được sử dụng để xử lý các số liệu thu thập được trong quá trình khảo sát, kết hợp phân tích, tổng hợp nhằm đánh giá kết quả và đưa ra kết luận chính xác, khách quan

Trang 8

5 Giả thuyết khoa học

Đề tài nhằm kiểm tra tính hiệu quả, những ưu điểm cần phát huy và hạn chế cần khắc phục của PP đổi mới trong dạy học Ngữ văn theo định hướng đọc - hiểu văn bản tùy thuộc vào loại thể (chủ yếu là thể loại tự sự), phát triển năng lực HS và cung cấp một phương hướng tiếp cận mới cho người tiếp nhận đối với các tác phẩm văn chương có giá trị

6 Kết cấu của đề tài

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, phần nội dung luận văn gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn

- Chương 2: Tổ chức dạy đọc - hiểu văn bản tự sự ở trường THPT, với tác phẩm chính

là Chí Phèo (Nam Cao)

- Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 9

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 1.1 Cơ sở lý luận

1.1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu thuộc lĩnh vực của đề tài ở trong và ngoài nước

Vấn đề đọc - hiểu một tác phẩm văn chương đã xuất hiện từ rất lâu và được rất nhiều học

giả chú ý J P Satre nhận định: “Tác phẩm như một con quay kỳ lạ, chỉ có thể xuất hiện và vận

động Muốn làm cho nó xuất hiện cần phải có một hoạt động cụ thể gọi là sự đọc Và tác phẩm văn học chỉ kéo dài chừng nào sự đọc còn có thể tiếp tục Ngoài sự đọc ra, nó chỉ là những vệt đen trên giấy trắng” GS Đỗ Hữu Châu trong quá trình nghiên cứu những cách tiếp cận ngôn ngữ học các sự kiện văn học đã đưa đến kết luận: “Tác phẩm văn học động vì nó luôn luôn hành chức, nó hành chức trong tiếp nhận của từng độc giả và trong từng thế hệ độc giả” Quan điểm

này cùng đồng ý kiến với J P Satre Ngay như nhà văn Nam Cao, ông cũng từng khẳng định

vai trò của người đọc như thế này: "Văn chương chỉ dung nạp được những người biết đào sâu,

biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có… Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương rồi, nhưng sự cẩu thả trong văn chương thì thật

là đê tiện." Chính vì vậy, đọc sao cho đúng vẫn chưa đủ, mà phải đọc để hiểu, để cảm thụ và

sáng tạo nhiều tầng nghĩa mới là yếu tố cốt lõi của một tác phẩm hay và có giá trị

1.1.1.1 Những công trình nghiên cứu về tự sự

Những giáo trình, những chuyên luận về giảng dạy văn học trong nhà trường theo loại thể

không nhiều Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể do nhóm tác giả Trần Thanh Đạm, Huỳnh Lư, Hoàng Như Mai và Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể

của NguyễnViết Chữ là những tài liệu cần thiết cho GV và HS

Gần đây có xuất hiện một số chuyên đề về đặc trưng thể loại hay các sách lý luận văn học của Nxb Đại học Sư Phạm do các giáo sư đầu ngành như Trần Đình Sử, Phương Lựu tham gia biên soạn, trong đó có nói một phần về thể loại cũng như tầm quan trọng của bạn đọc trong quá trình tiếp nhận văn bản, đã đóng góp không nhỏ cho quá trình tham khảo tài liệu dạy học cho

GV Những vấn đề các tác giả đặt ra, một mặt giúp cho người giáo viên ở trường phổ thông có được những kiến thức cơ bản, hệ thống về đặc trưng thi pháp của các thể loại để từ đó giúp cho công việc giảng dạy thuận lợi và có hiệu quả

Hiện nay, trên các tạp chí, các đợt tập huấn đổi mới phương pháp dạy học văn, tập huấn

thay sách… đều có đề cập đến vấn đề giảng dạy văn theo đặc trưng thể loại (Đời sống thể loại

văn học Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX – Vũ Tuấn Anh; Mô hình đọc hiểu theo đặc trưng thể loại với việc hình thành và bồi dưỡng kĩ năng đọc hiểu văn bản văn chương cho học sinh trung học phổ thông – Trần Thị Thu Hồng) Từ đó ta có thể thấy, sự quan tâm đến việc dạy học đổi mới,

sáng tạo của ngành Văn học đang có những chuyển biến tích cực, phù hợp với việc dạy học theo phương pháp đọc - hiểu theo đặc trưng loại thể mà tiêu biểu ở đây là tự sự

Trang 10

1.1.1.2 Những công trình nghiên cứu về dạy học tác phẩm tự sự

Những công trình nghiên cứu về dạy học tác phẩm tự sự trên các sách báo đã có khá

nhiều; đặc biệt chúng tôi quam tâm đến một số luận văn để tham khảo Có thể kể đến “Tiếp

nhận văn học (qua một số tiểu thuyết của Khái Hưng – Nhất Linh – Hoàng Đạo)” của Lâm

Nhựt Thuận; Nguyễn Thị Yến Trinh (2008), “Tổ chức hoạt động đọc – hiểu tác phẩm tự sự Việt

Nam theo đặc trưng loại thể trong chương trình Ngữ văn lớp 11”; Nguyễn Duy Thanh (2009),

“Thiết kế một số bài đọc – hiểu văn bản văn học Việt Nam hiện đại theo thể loại” Những luận

văn này trình bày góp phần thiết thực trong việc đổi mới phương pháp dạy học, cụ thể là trong giảng dạy văn bản tự sự theo nguyên tắc tích hợp và tích cực nhằm phát huy tính sáng tạo, chủ động của người học

1.1.1.3 Những công trình nghiên cứu, giảng dạy tác phẩm Chí Phèo

Có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu về tác giả Nam Cao cũng như truyện ngắn Chí Phèo với hàng loạt ấn phẩm được xuất bản đã khẳng định vị trí của nhà văn trong tiến trình văn

học Đáng chú ý là chuyên luận của Hà Minh Đức: “Nam Cao- nhà văn hiện thực xuất sắc”

(1961), chương trình viết riêng về Nam Cao trong giáo trình Đại học Tổng hợp của Phan Cư Đệ (1961), các bài viết của Phong Lê, Lại Nguyên Ân, Vũ Tuấn Anh

Đối với các công trình nghiên cứu hướng dẫn dạy học tác phẩm Chí Phèo, cũng có rất nhiều, nhưng đi sâu vào PP dạy đọc - hiểu theo đặc trưng thể loại văn bản tự sự thì vẫn còn ít và khá mới mẻ

1.1.2 Những khái niệm công cụ của đề tài

1.1.2.1 Thế nào là thể loại? Tại sao phải phân chia như vậy?

Thể loại văn học được hiểu là phương thức tái hiện đời sống và thể thức cấu tạo văn bản Thể loại văn học là một hình thức tổ chức ngôn từ theo nội dung nhất định nào đó để thể hiện cảm xúc, tư tưởng của con người trước các hiện tượng đời sống Thế kỉ XIX nhà lí luận văn học Nga là Belinski đã chia văn học thành 3 loại là: tự sự, trữ tình và kịch, xuất phát từ ý nghĩa của việc nhận thức chân lí

- Thể loại trữ tình: biểu hiện phương diện chủ quan của một con người, là cảm xúc chân thật của con người được phơi bày cho độc giả qua hệ thống cảm xúc nhất định

- Thể loại tự sự: miêu tả khách quan một sự kiện đã hoàn thành, nghệ sĩ đã chọn một thời điểm thích hợp để bày tỏ tất cả mọi phương diện, sau đó tái hiện cho độc giả xem

- Thể loại kịch: là sự điểu hòa giữa hai phương diện trên, chủ quan, trữ tình và khách quan, tự sự nhưng đó không phải là một sự kiện đã hoàn thành mà là đang thực hiện nhà thơ không thông báo sự việc cho độc giả mà để tự thân nhân vật, sự kiện xuất hiện trước độc giả

Sở dĩ phân chia thành 3 loại nêu trên bởi mỗi thể loại mang trong mình một đặc trưng riêng biệt nhằm tạo ra dấu ấn riêng cho từng thể loại tuy nhiên 3 loại hình văn học trên có sự

Trang 11

đan xem các yếu tố lẫn nhau nhằm tạo nên nét đặc sắc trong thể loại văn học nói chung và mỗi thể loại nói riêng

1.1.2.2 Văn bản tự sự là gì?

Khái niệm:

- Văn bản tự sự: Là loại văn bản tái hiện sự việc và miêu tả nhân vật trong các mối quan hệ nào đó nhằm gửi gắm những tư tưởng tình cảm, thái độ, sự suy nghĩ, đánh giá của mình về cuộc đời

Mục đích: Biểu hiện con người, quy luật đời sống, bày tỏ thái độ

Cấu trúc: gồm ba phần:

- Mở bài: Giới thiệu nhân vật và sự việc chính của câu chuyện

- Thân bài: Diễn biến sự việc theo một trìmh tự nhất định, thể hiện được tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt

- Kết bài: Kết thúc câu chuyện, thái độ của người kể

Đặc điểm:

- Nhân vật: Nhân vật trong văn tự sự là kẻ thực hiện các sự việc và là kẻ được thể hiện

trong văn bản Nhân vật chính đóng vai trò chủ yếu trong việc thể hiện tư tưởng của văn bản, nhân vật phụ chỉ giúp nhân vật chính hoạt động Nhân vật được thể hiện qua các mặt: tên gọi, lai lịch, tính nết, hình dáng, việc làm,…

- Sự việc: Sự việc trong văn tự sự được trình bày một cách cụ thể: sự việc xảy ra trong

thời gian, địa điểm cụ thể, do nhân vật cụ thể thực hiện, có nguyên nhân, diễn biến, kết quả,… Sự việc trong văn tự sự được sắp xếp theo một trật tự, diễn biến sao cho thể hiện được

tư tưởng mà người kể muốn biểu đạt

- Chủ đề: Mỗi câu chuyện đều mang một ý nghĩa xã hội nhất định Ý nghĩa đó được

toát lên từ những sự việc, cốt truyện Mỗi văn bản tự sự thường có một chủ đề; cũng có văn bản có nhiều chủ đề, trong đó có một chủ đề chính

- Lời văn tự sự: chủ yếu là kể người, kể việc Khi kể người thì có thể giới thiệu tên, lai

lịch, tính tình, tài năng, ý nghĩa của nhân vật Khi kể việc thì kể các hành động, việc làm, kết quả và sự đổi thay do các hành động ấy đem lại Đoạn trong văn tự sự thường là đoạn diễn dịch

- Thứ tự kể: Khi kể chuyện, có thể kể các sự việc liên tiếp nhau theo thứ tự tự nhiên,

việc gì xảy ra trước kể trước, việc gì xảy ra sau kể sau, cho đến hết Nhưng để gây bất ngờ, gây chú ý, hoặc thể hiện tình cảm nhân vật, người ta có thể đem kết quả hoặc sự việc hiện tại

kể ra trước, sau đó mới dùng cách kể bổ sung hoặc để nhân vật nhớ lại mà kể tiếp các việc đã xảy ra trước đó

- Ngôi kể: Người đứng ra kể chuyện có thể xuất hiện dưới nhiều hình thức khác nhau,

Trang 12

với những ngôi kể khác nhau Ngôi kể trong văn tự sự có thể là ngôi thứ nhất, bộc lộ được những tâm tư tình cảm, suy nghĩ trực tiếp của nhân vật một cách sâu sắc; có thể được kể theo ngôi thứ ba, thể hiện được sự khách quan với câu chuyện được kể, phạm vi câu chuyện được

kể trong không gian lớn hơn và có thể cùng lúc Người kể giấu mình nhưng lại có mặt khắp nơi trong văn bản

- Người kể chuyện có vai trò dẫn dắt người đọc đi vào câu chuyện, như giới thiệu nhân vật tình huống, tả người, tả cảnh, đưa ra các nhận xét, đánh giá hay bộc lộ thái độ, cảm xúc trước những điều được kể

Mỗi ngôi kể đều có những ưu điểm và hạn chế nhất định, nên cần lựa chọn ngôi kể cho phù hợp và cóthể chuyển đổi ngôi kể trong câu chuyện

1.1.2.3 PP đọc - hiểu là gì?

Về khái niệm, dạy đọc hiểu là việc giáo viên (GV) hướng dẫn học sinh (HS) sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu VB thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó Đọc hiểu VB đề cao vai trò của chủ thể tích cực, sáng tạo của HS trong hoạt

động đọc Trong bài “Đọc – hiểu văn bản như một khâu đột phá dạy học văn học trong nhà

trường”, Trần Đình Sử khẳng định: “Dạy văn là dạy cho HS năng lực đọc, kĩ năng đọc để HS

có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc – hiểu mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn

từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho HS năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mĩ Do đó, hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể HS” Song điều quan trọng là chúng ta cần thay đổi quan điểm về việc sử dụng

phương pháp dạy học (PPDH) ngữ văn nói chung và PPDH đọc hiểu nói riêng, nghĩa là không có một PPDH đọc hiểu duy nhất nào cả Tùy thuộc vào loại VB, mục đích đọc và đối tượng HS, người thầy được tự do lựa chọn bất kỳ phương tiện giảng dạy và cách hướng dẫn nào mà họ muốn

Trong dạy đọc hiểu VB, GV chỉ là người hướng dẫn, dìu dắt, nêu vấn đề để HS trao đổi, thảo luận; là người dạy về phương pháp đọc chứ không phải đọc thay, đọc giùm, biến HS thành thính giả thụ động của mình Giáo án của GV chủ yếu phải là giáo án về phương pháp đọc cho HS Cái nhầm chủ yếu của người thầy hiện nay là giáo án nội dung dùng cho người dạy chứ không phải là giáo án để dạy phương pháp đọc cho người học

Tuy nhiên, dù sử dụng phương pháp và phương tiện nào thì GV cũng cần thiết kế các hoạt động sao cho có thể giúp HS tự đọc VB và biết vận dụng các kỹ năng phân tích, suy luận

để đưa ra được các dẫn chứng trong VB làm cơ sở cho các nhận định, phân tích của mình Đồng thời có lúc phải để cho mỗi HS có quyền đọc hiểu theo kinh nghiệm cảm xúc của mình

Trang 13

Từ đó hình thành cho các em khả năng phân tích và tổng hợp VB Ngoài ra, GV cũng nên tạo thật nhiều cơ hội cho HS nghiên cứu, thử sức mình qua các bài tập lớn về VB được đọc Tuy nhiên, không phải HS nào cũng có khả năng làm được như vậy Cụ thể, với những HS yếu hơn, GV có thể gợi ý hoặc đưa ra các yêu cầu đơn giản hơn Và dù sử dụng phương pháp gì, dạy đọc hiểu VB nào trong môn ngữ văn cũng cần tổ chức các hoạt động hướng dẫn HS sử dụng các kỹ năng thao tác để đọc chính xác và đọc có tính đánh giá về các yếu tố hình thức, nội dung và ý nghĩa của VB Từ đó ứng dụng kiến thức và kỹ năng đã đọc vào thực tiễn đời sống Như vậy, đọc hiểu là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của HS Đọc hiểu là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Với quan điểm phát huy vai trò chủ thể của HS, xuất phát từ đặc thù của văn chương (nghệ thuật ngôn từ), mà phương pháp dạy học Văn thay bằng khái niệm “Đọc hiểu văn bản”

GV có nhiều cách hướng dẫn HS đọc hiểu những VB khác nhau Đầu tiên GV lựa chọn

VB thích hợp để hướng dẫn HS đọc VB đó phải đáp ứng được yêu cầu về đề tài, chủ đề, dung lượng và phù hợp với đối tượng HS Sau đó sẽ giới thiệu qua về VB như xuất xứ, tác giả, đề tài… để làm rõ các khái niệm hoặc các từ mới có thể khó đối với HS; gợi ý các em đọc theo một chiến lược nhất định hoặc theo một mục đích khái quát, chuẩn bị cho HS tự đọc

VB Tiếp theo, HS sẽ đọc thầm hoặc đọc thành tiếng VB Trong khi nghe đọc, GV sẽ quan sát

và hỗ trợ các em những kiến thức cần thiết Sau khi HS kết thúc việc đọc, GV sẽ yêu cầu các

em thảo luận về những điều đã đọc bằng cách nhắc lại những chi tiết trong VB hoặc đưa ra những suy nghĩ của cá nhân về những điều đã đọc Đây cũng là lúc để thảo luận bất kỳ một câu hỏi nào mà HS gặp hoặc phải làm trong quá trình đọc, nhất là những vấn đề liên quan đến đặc trưng thể loại, đề tài, chủ đề, nội dung tư tưởng… của VB Trao đổi xong, GV cũng có thể gợi ý HS xem lại VB để khẳng định lại những điều đã phân tích và tổng hợp về VB hoặc

có thể sử dụng VB để dạy một kỹ năng hoặc một khái niệm mới nào đó Các hoạt động mở rộng ra ngoài VB từ nội dung hoặc ứng dụng những điều đã đọc vào thực tiễn cũng có thể được thực hiện trong thời điểm này Một điều đáng chú ý là trong và sau khi HS đọc VB, GV quan sát và ghi chép lại những kết quả liên quan đến thái độ và sự tiến bộ của các em ở các khía cạnh như sử dụng chiến lược đọc, sự chủ động trong các hoạt động, sự chính xác trong các câu trả lời để làm tư liệu đánh giá HS sau này

1.2 Cơ sở thực tiễn

1.2.1 Thực trạng dạy học văn bản tự sự hiện nay ở trường THPT

Dạy học Ngữ văn, đặc biệt là dạy học theo phương pháp đọc - hiểu văn bản tự sự ở trường THPT đã có nhiều đổi mới về hình thức và phương pháp giảng dạy, tuy nhiên vẫn còn

Trang 14

1.2.1.1 Vai trò của người GV trong việc hướng dẫn HS đọc - hiểu văn bản tự sự trong trường THPT

GV đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong việc hướng dẫn, định hướng cho HS khi học các tác phẩm tự sự, kể cả trên lớp, trước và sau tiết học Để việc học đạt hiệu quả cao,

GV cần hướng dẫn và hỗ trợ HS trong việc hình thành một số kỹ năng như: kỹ năng tóm tắt ý chính, kỹ năng tra cứu tài liệu, xây dựng dàn bài khái quát Sự có mặt của GV, cũng như sự tương tác giữa GV và HS, sẽ giúp cho việc cảm thụ trở nên dễ dàng và hiệu quả hơn Bên cạnh đó, GV cũng biết được HS đã hiểu những gì về tác phẩm, có sự kiểm tra, bổ sung những thiếu sót, sửa chữa lỗi sai và nâng cao hơn kiến thức đối với HS khá giỏi

1.2.1.2 Việc tự học tác phẩm tự sự của HS ở nhà

Đọc và chuẩn bị trước nội dung bài học của HS là yếu tố tiên quyết để có được một tiết dạy hiệu quả và đạt chất lượng Ngày nay có rất nhiều cách khác nhau để tiếp cận một tác phẩm văn chương, có thể là sách, báo theo phương thức truyền thống, hoặc cũng có thể là phim ảnh, trình chiếu hiện đại để HS có thể tiếp cận nhanh chóng thông tin mình muốn tìm hiểu Đây là điểm sáng cần phát huy hiểu quả, nếu biết cách chọn lọc kết quả thu được sẽ rất tốt

Tuy nhiên, xu thế hiện nay là phát triển kinh tế, khoa học kỹ thuật, nên dường như những môn khoa học xã hội nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng bị bỏ ngỏ, lép vế Đại bộ phận HS vẫn cảm thấy nhàm chán với các tác phẩm văn chương, chúng thường lơ là hoặc không tìm hiểu nếu bài ấy không ra để kiểm tra đánh giá chúng

Đối với các tác phẩm tự sự, mực độ chữ nhiều trong một văn bản, một số thể loại gây khó hiểu (chiếu, cáo, ), nội dung đơn giản, kém thu hút hay có quá nhiều nội dung cần thiết

để nhớ, là những lý do cản trở cho việc HS tìm được hứng thú trong việc học văn, chưa xét đến việc đọc - hiểu chúng

Trang 15

1.2.2 Thực trạng về dạy học truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao

Qua khảo sát về việc dạy và học tác phẩm Chí Phèo ở khối 11 trường THCS và THPT Đống Đa, chúng tôi thấy rằng:

- Đây là đoạn trích lôi cuốn, hấp dẫn người học Tuy nhiên, dung lượng hơi dài, nhưng thời gian chỉ hai tiết, dẫn đến việc tìm hiểu hết nội dung và nghệ thuật trở nên gấp gáp, thiếu tính biểu cảm khi tiếp nhận

- Truyện ngắn Chí Phèo chỉ là một truyện nhỏ trong một chuỗi các tác phẩm của nhà văn Nam Cao viết về cuộc sống của người nông dân bị áp bức trong bối cảnh xã hội phong kiến thối nát, nơi con người bị dồn ép trở nên bần cùng hóa, lưu manh hóa, cho nên, việc khái quát, mở rộng vấn đề khi HS không chuẩn bị bài trước ở nhà sẽ khó khăn và mất thời gian

- HS chỉ mới cảm nhận là “tác phẩm hay”, nhưng hay ở đâu, chi tiết nào đặc sắc, nghệ thuật nào được tác giả sử dụng thì còn rất mù mờ, hạn chế

Từ thực tế trên, nhằm giúp HS hiểu rõ về tác phẩm, đặc biệt là một tác phẩm có chiều sâu cả về giá trị hiện thực lẫn giá trị nhân đạo thì vận dụng phương pháp đọc - hiểu tác phẩm

tự sự vào truyện ngắn này là điều hợp lý và cần được kiểm chứng cụ thể

Trang 16

CHƯƠNG 2 TỔ CHỨC DẠY HỌC ĐỌC - HIỂU VĂN BẢN TỰ SỰ CHÍ PHÈO CỦA

NHÀ VĂN NAM CAO 2.1 Đặc điểm thể loại của tác phẩm tự sự trong tác phẩm Chí Phèo

Tác phẩm tự sự tái hiện đời sống toàn bộ trong tính khách quan của nó qua bức tranh

mở rộng của đời sống không gian, qua các sự kiện, biến cố xảy ra trong cuộc đời con người phương thức phản ánh hiện thực qua các biến cố, sự kiện và hành vi con người làm cho tác phẩm tự sự luôn trở thành câu chuyện về ai đó hay về một cái gì đó Vì vậy, tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, kết cấu, hệ thống hình tượng (nhân vật, không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật) Đây chính là những yếu tố chứa đựng nhiều điểm không xác định và do

đó, chú ý đến cốt truyện, nhân vật, không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là ưu tiên hàng đầu trong quá trình tiếp nhận văn bản tự sự

2.1.1 Cốt truyện

Là một hệ thống cụ thể những sự kiện, biến cố hành động trong tác phẩm tự sự và tác phẩm kịch thể hiện mối quan hệ qua lại giữa các tính cách trong một mối qua lại trong một hoàn cảnh xẫ hội nhất định nhằm thể hiện chủ đề tư tưởng của tác phẩm

Nhìn chung, các cốt truyện thường có các thành phần chính sau: “trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào), và kết thúc (mở nút) Có thể thấy Chí Phèo của Nam Cao có một cốt truyện đầy đủ các thành phần trên:

- Phần mở đầu: Nam Cao mô tả Chí Phèo từ lúc hắn ra đời cho đến lúc hắn trở thành người làm thuê cho nhà Bá Kiến

- Phần thắt nút: Trong truyện xung đột giữa Chí Phèo và Bá Kiến bắt đầu từ chố Bá Kiến vì ghen tuông nên đã đầy Chí Phèo vào tù

- Phần phát triển: Nhà tù và sự độc ác của bọn cường hào đã biến Chí Phèo từ người thành quỷ dữ, và rồi tình yêu của Thị Nở lại làm cho Chí Phèo muốn chuyển biến từ quỷ dữ của làng Vũ Đại thành con người bình thường trong xã hội

Phần đỉnh điểm: Chí Phèo cầm dao đến nhà Bá Kiến đòi làm người lương thiện, xung đột giữa Chí Phèo (nạn nhân) và Bá Kiến (thủ phạm) đã lên đến tột đỉnh

- Phần kết thúc: từ sự căm thù cao độ và trong phần thái bế tắc hoàn toàn

Ta có thể thấy, tuy cốt truyện Chí Phèo có đầy đủ 5 phần nhưng chủ yếu được tổ chức trên hai trục tình tiết chính: trục thứ nhất xoay quanh mối quan hệ Chí Phèo – Bá Kiến, gắn liền với

sự hủy diệt linh hồn của Chí; trục thứ hai xoay quanh quan hệ Chí Phèo – Thị Nở, gắn liền với

sự thức tỉnh linh hồn Chí Phèo

Tóm lại, cốt truyện là phương tiện để nhà văn tái hiện các xung đột xã hội, thể hiện cái nhìn của nhà văn đối với cuộc sống, có sức mạnh hấp dẫn và lôi cuốn người đọc Chuỗi sự kiện, biến cố ấy được hình thành chủ yếu dựa trên hành động của nhân vật, được tổ chức theo quan

Trang 17

hệ nhân quả hoặc quan hệ bộc lộ ý nghĩa, có như vậy việc phân tích các thành phần cốt truyện mới đem lại hiệu quả thiết thực cho nghiên cứu và cảm thụ nghệ thuật

2.2.2 Kết cấu

Một tác phẩm văn học, dù dung lượng lớn hay nhỏ cũng đều là những chỉnh thể nghệ thuật, bao gồm nhiều yếu tố, bộ phận Tất cả những yếu tố, bộ phận đó được nhà văn sắp xếp, tổ chức theo một trật tự, hệ thống nhất định nhằm biểu hiện một nội dung nghệ thuật gọi là kết cấu

Kết cấu thông thường của tác phẩm tự sự bao gồm chuỗi các sự kiện xảy ra liên tiếp trong không gian và thời gian, tạo thành một câu chuyện có mở đầu, có phát triển, có kết thúc, thể hiện những quan hệ, mâu thuẫn và quá trình nhất định của cuộc sống theo một trình tự logic rõ ràng Tuy nhiên kết cấu logic không có nghĩa là tất cả các sự kiện đều diễn ra theo một trình tự thời gian hay trật tự tuyến tính Để làm nổi bật một vấn đề nào đó, tác giả hoàn toàn có thể phá vỡ trật tự tuyến tính để thiết lập một trật tự mới có tính sáng tạo Đây là hiện tượng lạ hoá kết cấu

Trong tác phẩm Chí Phèo, Nam Cao sử dụng một kết cấu độc đáo, cùng với cốt truyện để

hợp thành một thể thống nhất nhằm tôn giá trị tư tưởng, nội dung của tác phẩm Truyện được kết cấu theo lối vào ngay cao trào, một phần tính cách nhân vật đã được giới thiệu ngay từ đầu

câu chuyện qua trường đoạn “Hắn vừa đi vừa chửi…”

Kết cấu mở: kết thúc tác phẩm Thị Nở sinh ra một đứa con trong cái lò gạch cũ Hoàn cảnh ra đời của đứa bé giống như Chí Phèo thuở trước Thị nhìn về xa xa, nghĩ về một “Chí Phèo” con sẽ xuất hiện

Kết cấu vòng tròn: sự việc Chí Phèo ra đời,lớn lên, trưởng thành, đau khổ cho đến kết thúc là con của Chí Phèo đời lại sẽ tiếp tục cái vòng luẩn quẩn ấy

Kết cấu đầu-cuối tương ứng: mở đầu là sự ra đời của Chí Phèo trong cái lò gạch cũ bỏ hoang, kết thúc tác phẩm là sự ra đời của con Chí Phèo cũng trong cái lò gạch cũ

Như vậy, kết cấu của tác phẩm bao giờ cũng tăng cường sức mạnh nghệ thuật của tác phẩm văn học, tạo nên sức hấp dẫn cho người đọc Phân tích kết cấu tác phẩm, người đọc có thể

so sánh nó với các hình thức, thủ pháp kết cấu chung nhưng điều quan trọng là phải xuất phát từ bản thân tác phẩm, chú ý đến những hiện tượng lạ hoá kết cấu và xem nó có thể hiện tốt nhất chủ đề tư tưởng của tác phẩm hay không

2.1.3 Nhân vật

Trong tác phẩm văn học, nhân vật là phương tiện khái quát những quy luật của cuộc sống, khái quát các tính cách, số phận con người và thể hiện những hiểu biết, ước mong, kì vọng về con người Nhân vật luôn luôn gắn bó chặt chẽ với cốt truyện và là một chỉnh thể vận động, tính cách được bộc lộ dần trong không gian, theo thời gian như một quá trình phát triển Nhân vật là

Trang 18

điều kiện thiết yếu đảm bảo cho sự miêu tả thế giới của văn học có được chiều sâu và tính hình tượng Nhờ có nhân vật với những lời nói, hành động, tương tác mà cốt truyện được hình thành Xung quanh tác phẩm Chí Phèo với bao la nhân vật, có thể nói những nhân vật được xem là khơi nguồn, làm nên “chuyện”, rồi tạo sự kịch tính, sự xung đột trong tác phẩm được đẩy lên cao trào như: Bá Kiến hay vợ Bá Kiến Hoặc nhân vật được nhắc đến chỉ sau Chí Phèo đó là Thị Nở, Thị Nở được nhắc đến trong tác phẩm như “đồng hình,đồng dạng” với Chí Phèo và là nhân vật quan trọng, điểm nhấn trong tác phẩm, chính Thị Nở đã đẩy cuộc đời Chí sang một ngã rẽ khác, một kết cục khác… Thị Nở xứng đáng là nhân vật tiêu biểu Thế nhưng, tất cả chi tiết trên, những nhân vật đó không thể che lấp hay thay vị trí hình ảnh Chí, rất riêng của Chí Phèo trong tác phẩm Nhân vật Chí là nhân vật trung tâm, là “con quỷ dữ” của làng Vũ Đại và cũng thật táo bạo khi cho Chí Phèo là “một thiên thần” trong vô số các nhân vật trong tác phẩm Nhân vật Chí không thể là điểm nhấn, cũng không phải chi phối tác phẩm,… nhưng là quyết định của tác phẩm, có Chí Phèo, có cuộc đời của Chí thì mới có tác phẩm Vì thế không có sự bất ngờ khi Nam Cao chọn lấy tên nhân vật làm nhan đề cho tác

phẩm của mình Chí Phèo và nhân vật trung tâm là Chí

2.1.4 Ngôn ngữ

Nói đến ngôn từ trong tác phẩm văn học, chúng ta thường nhắc đến luận đề quen thuộc của M Gorki: “Ngôn từ là yếu tố thứ nhất của văn học” Ngôn từ của văn bản văn học là sự tái tạo ngôn ngữ thường ngày theo quy luật của cái đẹp Vẫn là những từ ngữ thường ngày nhưng trong văn bản văn học chúng được liên kết theo những nguyên tắc riêng (về vần, nhịp, từ ngữ, kết cấu câu, đoạn,…) để vừa đảm bảo chức năng thông tin, vừa đảm bảo chức năng thẩm mĩ Đoạn văn ở đầu truyện Chí Phèo thể hiện cái cô đơn trống trải tột cùng của nhân vật, thể hiện một cách tha thiết nguyện vọng được giao lưu giao tiếp của Chí Phèo, dù là thông qua một hình thức giao tiếp rất đặc biệt: tiếng chửi, bởi mọi ngõ ngách giao tiếp đều đã bị bịt kín Trong đoạn văn này, ngoài tiếng chửi của Chí Phèo còn là lời thông báo bình luận của người kể

chuyện: “Hắn vừa đi vừa chửi, bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi…” Ngôn ngữ tác giả tạo ra nhiều nhiếu lối diễn đạt, có ngôn ngữ trần thuật, có ngôn ngữ bình luận: “có hề gì”,

“thế cũng chẳng sao”, “không ai ra điều”… tạo ra môt đoạn văn đa giọng điệu Cách trần thuật

gián tiếp xen lẫn với những đoạn văn nửa trực tiếp, nửa gián tiếp tô đậm hoàn cảnh nhân vật

“Ờ thế này thì tức thật! tức chết đi mất! Mẹ kiếp! Thế này thì có phí rượu không? ” Ta

thấy tác giả vừa ở bên ngoài nhân vật, vừa nhập thân nhân vật Có sự chuyển hóa từ ngôn ngữ người kể chuyện sang ngôn ngữ nhân vật Nam Cao xây dựng những đoạn vừa kể chuyện vừa

kể tâm trạng (chẳng hạn đoạn kể về chuyện bà Tư nhưng cũng kể về tâm trang cụ Bá) làm cho truyện chứa đựng những cặp đặc điểm đối nghịch, vừa sắc lạnh, vừa tình cảm; tỉnh táo, nghiêm

Trang 19

ngặt vừa chứa chan trữ tình, làm khơi gợi trong người đọc cả phần lí trí lẫn phần tình cảm Mối giao hòa giữa người kể, nhân vật và người đọc thường xuyên được diễn ra

Đoạn văn nói về tiếng chửi của Chí Phèo là một đoạn văn hay và lạ cho ta thấy đặc điểm ngôn ngữ kể chuyện của văn tự sự cũng như của nhà văn Nam Cao: Mở đầu truyện ngắn là tiếng chửi của Chí Phèo

Cách giới thiệu nhân vật của Nam Cao rất độc đáo và hấp dẫn Người đọc bị cuốn hút vào câu chuyện Cả làng Vũ Đại chẳng ai thèm nghe Nhưng người đọc chúng ta lại thích nghe Cái tài của Nam Cao là ở chỗ ấy Có năm đối tượng mà Chí Phèo đã chửi, luôn luôn chửi trong mười mấy năm trời Hắn đã chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi đứa chết cha mẹ nào đã đẻ ra thân hắn cho hắn khổ! Đoạn văn trích ở đây chỉ nói đến bốn đối tượng đầu mà Chí Phèo đã chửi Tiếng chửi của Chí Phèo cho thấy thân hắn là một kẻ say rượu điên khùng, gần như mất trí, đang quằn quại trong bi kịch, đã lưu manh hoá, trở thành một trong hai con quỷ dữ làng Vũ Đại

2.1.5 Không gian nghệ thuật

Hình tượng không gian là một trong những yếu tố quan trọng của tác phẩm văn học Vai trò của nó trong văn bản không đơn giản ở việc xác định vị trí, nơi diễn ra các sự kiện, nơi gặp

gỡ các nhân vật, cũng không đơn giản là việc tái hiện những đặc trưng của vùng quê này hay miền đất kia Không gian nghệ thuật không đồng nhất với không gian hiện thực vốn tồn tại khách quan mà là mô hình nghệ thuật về cái thế giới mà con người đang sống, đang cảm thấy vị trí và số phận của mình trong đó

Không gian nghệ thuật trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao:

- Không gian làng Vũ Đại:

Khác với nhiều truyện ngắn cùng đề tài của tác giả, “Chí Phèo” có phạm vi hiện thực

được phản ánh trải ra trên cả bề rộng không gian (một làng quê) Có thể nói, làng Vũ Đại trong truyện chính là hình ảnh thu nhỏ của xã hội phong kiến nông thôn Việt Nam đương thời

Vị trí “xa phủ, xa tỉnh” chính là điều kiện tốt để bọn cường hào hoành hành, thống trị, áp bức,

đè nén nhân dân Chẳng phải vì đất làng Vũ Đại có cái thế “quần ngư tranh thực” như lời ông thầy địa lí nào đó nói “hồi năm nọ” nên bọn cường hào làng này chia thành năm bè bảy cánh đối nghịch nhau, mà chính là do bọn chúng “chỉ là một đàn cá tranh mồi”, “mồi thì ngon đấy,

nhưng mà năm bè bảy mối, bè nào cũng muốn ăn Ngoài mặt thì tử tế với nhau nhưng trong bụng lúc nào cũng muốn cho nhau lụn bại để cưỡi lên đầu lên cổ” Nhà nghiên cứu Nguyễn

Hoành Khung nhận xét: “ Không khí truyện “Chí Phèo” tuy không sôi sục náo động như

trong “Tắt Đèn” nhưng là bầu không khí có tích địện trước lúc giông bão”

Trang 20

Có thể nói, không khí oi nồng, ngột ngạt đã bao trùm lên toàn bộ thiên truyện và bao trùm lên cả làng Vũ Đại Không gian làng Vũ Đại đã thể hiện rõ giá trị hiện thực sâu sắc của tác phẩm

- Không gian túp lều ven sông:

Túp lều ven sông – tài sản duy nhất của Chí Phèo được miêu tả với không gian: “ẩm

thấp” và ánh sáng “hơi lờ mờ” “Ở đâu người ta thấy chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng” Túp lều ấy “Ở gần một con sông con, nước lặng và trong, khắp bãi trồng toàn dâu, gió đưa đẩy những thân mềm oặt ẹo, cuộn theo nhau thành làn” Khu vườn nhà hắn

có một lối đi nhỏ ra sông “trước kia, cả xóm vẫn dùng cái ngõ ấy để ra sông tắm giặt hay kín

nước Nhưng từ khi hắn đến người ta thôi dần, tìm một lối đi khác xa hơn” Như vậy, không

gian sống của Chí Phèo đã hoàn toàn bị cô lập, bị tách ra hẳn không gian sống của loài người

Không gian ấy thật đẹp, thật lãng mạn: “những đêm trăng … cái vườn phẳng ngổn ngang

những bóng chuối đen đen như những cái áo nhuộm vắt tung trên bãi” nhưng cũng có gì đó

lạnh lẽo, rợn ngợp bởi thiếu vắng hơi thở của sự sống con người

- Không gian đêm trăng:

Không gian đêm trăng nơi bờ sông gần nhà Chí Phèo được Nam Cao miêu tả thật hữu

tình với: “Những tàu chuối đen nằm ngửa, ưỡn cong cong lên hứng lấy trăng xanh rời rợi

như là ướt nước, thỉnh thoảng bị gió lay lạy giãy lên đành đạch như là hứng tình” “Trăng tỏa trên sông và sông gợn biết bao nhiêu gợn vàng”

Khung cảnh thiên nhiên tuyệt đẹp, tuyệt thơ mộng thường được dùng làm bối cảnh cho các

mối tình lãng mạn Vậy mà ở đây, Nam Cao đã để Chí Phèo gặp Thị Nở - người đàn bà “ngẩn

ngơ, dở hơi, xấu xí” dưới thiên nhiên vô tư, trong trẻo đầy thi vị ấy Phải chăng, đây chính là

tấm lòng nhân đạo cao cả của nhà văn Nam Cao đã dành cho cuộc gặp gỡ của đôi trai gái

“ khốn khổ” những trang văn thấm đẫm chất thơ Thì ra, trong mắt ông, những con người bị

cả xã hội loài người xa lánh, hắt hủi vẫn có thể đến được với nhau và cuộc gặp gỡ giữa họ vẫn đầy lãng mạn thi vị như bao lứa đôi khác

2.1.6 Thời gian nghệ thuật

Cũng như không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là một phạm trù thuộc về thi pháp tác phẩm Đây vừa là một hình thức hiện hữu, vừa là một hình thức tư duy của con người trong quá trình miêu tả tính cách, hoàn cảnh, đường đời của nhân vật

Trong thời gian nghệ thuật luôn tồn tại hai lớp là thời gian trần thuật và thời gian được trần thuật Trong thời gian trần thuật lại bao gồm nhiều thời gian khác nhau như thời gian nhân vật, thời gian tâm lí, thời gian tập thể, thời gian lịch sử, thời gian sự kiện Các thời gian này đi cùng với các chiều (quá khứ - tương lai - hiện tại) để tạo nên cấu trúc thời gian hoàn chỉnh cho mỗi tác phẩm

Trang 21

Khi tìm hiểu hình tượng thời gian, người đọc không chỉ miêu tả lại sự miêu tả thời gian

mà còn phải tìm cách thiết lập mối quan hệ giữa thời gian đó với những phạm trù, ý nghĩa triết lí khác

Trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao, thời gian nghệ thuất được biểu hiện rõ như sau:

- Thời gian hiện thực hàng ngày:

Đối với Chí thời gian không chỉ tàn phá nhân hình mà còn hủy hoại cả nhân tính “ bây

giờ thì hắn đã thành người không tuổi rồi,ba mươi tám hay ba mươi chín? Bốn mươi hay ngoài bốn mươi? Cái mặt hắn không trẻ cũng không già,nó không phải là mặt người, nó là mặt một con vật, nhìn mặt những con vật có bao giờ biết tuổi?” những trận say vô tận, những

việc “ ức hiếp, đâm chém mưu hại người ta giao cho hắn làm” là “ chính cuộc đời hắn,cuộc

đời mà hắn cũng chả biết là đã dài bao nhiều năm rồi” Hắn đã mất ý thức về thời gian

Sau cái đêm gặp Thị Nở, ý niệm về thời gian đã trở lại với Chí, còn trước đó hắn đã

hoàn toàn mất ý thức về thời gian, về bản thân, “chưa bao giờ hắn tỉnh…để nhớ rằng có hắn

ở đời” Chỉ nhận ra cái hiện tại hàng ngày qua ánh nắng và mặt trời ấm áp, tiếng chim hót,

tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng anh thuyền chài gõ mái đuổi cá Quá khứ, tương lai dồn dập hiện về trong suy nghĩ của hắn, nhưng quan trọng hơn hết, chỉ nghĩ về cái hiện tại,về

bát cháo hành của Thị Nở, về việc “Thị Nở sẽ mở đường cho hắn” trở về với lương thiện, về với nguyện vọng “ hay mình sang ở với tớ một nhà cho vui”, hay về cái ước mơ đơn giản “giá

cứ thế này mãi thì thích nhỉ” Sống sâu sắc ở hiện tại, Chí đã cảm nhận hết ý nghĩa của cuộc

sống lương thiện Hắn khao khát thèm lương thiện muốn làm hòa với mọi người, hắn muốn

mọi người “lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương

thiện”

- Thời gian hồi tưởng:

Trong thế giới nghệ thuật của Nam Cao, hồi tưởng hiện ra từ từ, không cố ý, ngỡ như

vô tình, thậm chí ngay cả khi nhà văn chú tâm đi vào thế giới hồi tưởng của nhân vật Nó không tồn tại một cách độc lập mà trong mối liên hệ thường xuyên chặt chẽ với hệ thống thời gian nghệ thuật thời gian hồi tưởng thường là thời gian đã mất, có thể nói đây là nhân vật vô hình xuyên suốt câu chuyện nhận thấy thời gian trôi đi một cách tàn nhẫn, Chí Phèo suy

ngẫm về thời gian với sự xúc động nối tiếc,với tình cảm cây đắng không gì bù đắp nổi “ hình

như đã có một thời gian hắn đã ước ao có một gia đình nho nhỏ Chồng cuốc mước cày thuê,

vợ dệt vải Chúng bỏ lại một con lợn nhỏ nuôi đẻ làm vốn liếng, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm” Đây là lần đầu tiên trong chuỗi ngày bi kịch, Chí tỉnh để nghĩ về quá khứ, để nhớ

lại ước mơ của mình

- Thời gian tương lai:

Trang 22

Hiện tại tối tăm, còn tương lai thì nhuốm màu xám xịt, khủng khiếp hơn: “Chí Phèo

dường như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đâu, và cô độc cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”

Không dừng lại sau hành động nhân vật đâm chết kẻ thù và tự hủy chính mình, Nam Cao đã giành khúc vĩ thanh để nói lên thái độ của mọi người sau hai cái chết bất ngờ, cuộc sống vẫn tiếp diễn, những phe cánh cường hào hí hửng vì loại được đối thử mạnh không tốn công đổ sức Cũng có nghĩa là làng Vũ Đại vẫn như xưa, vẫn cái cảnh đám cường hào chức

dịch: “hè nhau bóc lột con em đến tận xương tủy và nhè từng chổ hớ của nhau để trị” Một

màu xám ảm đạm vẫn bao trùm lên cuộc sống, nó khiến những người lương thiện phải lo âu:

“tre già măng mọc, thằng ấy chết, còn thằng khác…” Và như vậy, cái chết của Chí Phèo - Bá

Kiến thật vô nghĩa

- Thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai đan xen:

Cốt truyện được đặt trong khung thời gian hiện tại,quy ngược thời gian kể chuyện phần

mở đầu và kết tác phẩm thuộc thời gian hiện tại, tức là gắn với những gì diễn ra trước mắt, tương ứng với những người kể quan sát được Phần giữa có sự đảo chiều thời gian, đó là quy ngược về quá khứ, kể về gốc gác,lai lịch của Chí Thời gian hiện tại, quá khứ, tương lai xen

kẽ gắn với việc thay đổi điểm nhìn trần thuật đã tạo nên tiếng nói đa âm trong câu chuyện

Có nhiều đoạn ta thấy thời gian quá khứ hội tụ tring hiện tại và hiện tại dường như gợi

lại hình ảnh quá khứ “hắn húp một húp và nhận ra những người suốt đời không ăn cháo hành

không biết háo hành ăn rất ngon… đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay đàn

bà Hắn nhớ tới bà Ba, một con quỷ cái chuyên bắt hắn bóp chân hồi ấy hắn hai mươi” Ở

đây, quá khứ hiện tại soi sáng cho nhau tạo nên sự cộng hưởng về mặt cảm xúc và gây ấn tượng cho người đọc

“Tỉnh dạy sau cơn say,hắn mơ hồ nhận ra thực tại xung quanh hắn, nghe “những tiếng

quen thuộc hôm nay hắn mới nghe thấy” Rồi hắn nhớ lại quá khứ, nghĩ về thực tại đã trải

qua một trận ốm, hắn nghĩ đến tương lai: “Chí phèo hình như đã trông thấy được tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc, cái này đáng sợ hơn là đói rét ốm đau”

Từ không gian vui vẻ của buổi sớm đã vẻ nên một không gian tương lai Ở đoạn văn này là sự cầu thành của cả không gian quá khứ- hiện tại- tương lai tạo nên một không gian đa chiều trong tác phẩm phù hợp với tâm lý nhân vật

2.2 Định hướng tiếp nhận truyện ngắn "Chí Phèo"

Bước tiếp cận, giảng dạy tác phẩm bao giờ cũng phải đi từ hình thức nghệ thuật đến nội dung tư tưởng của tác phẩm Hướng tiếp vận như vậy mới phân tích, khám phá đến tận cùng chiều sâu của tác phẩm Để tiếp cận được đầy đủ giá trị của tác phẩm thì không thể bỏ qua khâu đọc, có đọc mới có thể hiểu, nắm bắt được tác phẩm Cái khó khăn là GV phải làm sao

Trang 23

cho HS đọc, tóm tắt tác phẩm, phải phân bố thời gian cho hợp lí,lựa chọn nội dung cần phân tích cho đúng, đủ sâu sắc, xây dựng hệ thống câu hỏi phải tiêu biểu, hợp với nội dung cần truyền tải

Cái độc đáo, đặc sắc của truyện ngắn này chính là ở: ngôn ngữ kể chuyện biến hoá khôn lường, kết câu chuyện, kiểu xây dựng nhân vật, khả năng phản ánh hiện thực một cách chân thực, rộng lớn Từ tính cảm thái độ của tác giả biểu hiện ở chính bản thân câu chuyện,

ở xu hướng phát triển và kết thúc sự việc

Chí Phèo là một truyện đa tính cách, đa giọng điệu Dựng lên hình ảnh Chí Phèo trong chuyện ngắn cùng tên, Nam Cao đã phản ánh rất trung thực tình trạng lưu manh tha hoá của một bộ phận nông dân nghèo khổ, sự tha hoá ở hình ảnh người lẫn tính người Ở nhân vật Chí Phèo tập trung nhiều nét khác nhau: đó là một con người phá phách, nhưng cũng là một con người biết yêu thương Tính cách, giọng điệu của nhân vật Chí Phèo được Nam Cao phát triển một cách logic qua quá trình tác động lẫn nhau giữa các tính cách của nhân vật khác nhau Ngay ở cái tên của truyện đã cho người ta thấy một sự cô đơn cái tên Chí Phèo thật khác người

Bá Kiến - một nhân vật với tính cách - giọng điệu của một con người gang hùng, nhiều

âm mưa, xảo quyệt với những thủ đoạn giang ác, “biết mềm nắn rắn vuông một người khôn

ngoan chỉ bóp đến nữa chừng”

Thị Nở cũng được nhà văn xây dựng một tính cách giọng điệu riêng biệt: những thay đổi

trong tâm lí khi gặp Chí Phèo Con người “ngớ ngẩn”, “xấu ma chê quỷ hờn” Ấy đâu có

lắm lời Ấy thế mà giọng nàng cũng rành mạch lắm, nàng cũng có cá tính đó, nghe tên là biết đích thị ai rồi

Nam Cao đã cho người đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống đau lòng nhân dân

ta trước Cách mạng tháng Tám Xót thương cho nhân vật, ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãng liệt, tha thiết Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở đã làm thất tỉnh con người Chí Phèo sau bao

ngày thánh bị dập vùi hắt hủi hình ảnh “bát cháo hành” chính là hình ảnh nhân đạo, là điều

khiến cho Chí Phèo muốn hoàn lương một cách mãnh liệt Nhưng bi kịch và đau đớn thay Thị

Nở không thể gắn bó với Chí Phèo Hình ảnh giết Bá Kiến, tự kết liễu cuộc đời mình là lời kết tội đanh thép của cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là

tiếng kêu gọi thảm thiết cấp bách của nhà văn: “ hãy cứu lấy người, hãy yêu thương con

người”

Trang 24

2.3 Dạy đọc - hiểu tác phầm Chí Phèo

2.3.1 Hoạt động chuẩn bị của Giáo viên

* Tìm hiểu một số tri thức liên quan

- Một số khái niệm

Văn học hiện thực: Văn học hiện thực chủ trương phản ánh bản chất và quy luật khách

quan của đời sống xã hội Nhà văn hiện thực xây dựng hình tượng theo nguyên tắc khách quan, cụ thể, không tô vẽ, không né tránh các hiện tượng xấu xa, đen tối, thậm chí còn lấy việc bóc trần các thứ mặt nạ giả dối làm nhiệm vụ nghệ thuật chủ yếu của mình Từ đó, tác phẩm ra đời chính là kết quả của quá trình tích lũy, thai nghén mang nặng đẻ đau Nhà văn đưa tác phầm tới tay bạn đọc như đặt đứa con vào cuộc đời với bao hi vọng lo toan vì tác phẩm chính là điểm tiếp xúc giữa thế giới bên trong của người nghệ sĩ với thế giới quan bên ngoài

Yêu cầu cao nhất của văn học hiện thực, theo quan niệm truyền thống, là sáng tạo ra những tính cách điển hình trong hoàn cảnh điển hình Tính cách điển hình là những tính cách

có cá tính sắc nét, khó quên, nhưng có sức khái quát lớn, tiêu biểu cho một hạng người hay một khuynh hướng tư tưởng lớn trong đời sống Hoàn cảnh điển hình là cụm từ chỉ xuất hiện khi chủ nghĩa hiện thực ra đời Hoàn cảnh điển hình chính là môi trường, hoàn cảnh nhân vật được tái hiện trong tác phẩm Hoàn cảnh ấy phản ánh được bản chất hoặc một số khía cạnh bản chất của xã hội

Các tác phẩm văn học như: Chí Phèo của Nam Cao, Số đỏ của Vũ Trọng Phụng, Tắt đèn của Ngô Tất Tố,… là những tác phẩm hiện thực xuất sắc ở nước ta giai đoạn 1930 – 1945, rất gần với chủ nghĩa hiện thực phê phán nói trên

Tha hoá: là biến đổi thành cái khác Trong truyện Chí Phèo, tình trạng con ngườI bị tha

hoá có thể hiểu ở hai phương diện Một là không được sống như bản chất người của mình: Chí Phèo vốn là một nông dân lương thiện mà phải sống như một con quỷ dữ của làng Vũ Đại Hai là những sản phẩm do mình tạo ra lại trở thành xa lạ, thậm chí thù địch với chính mình: những người nông dân như Chí Phèo đã xây dựng nên làng Vũ Đại cần lao và lương thiện, nhưng cái làng ấy không chấp nhận Chí Phèo quay về, thậm chí còn thù ghét và sợ hãi anh

Bi kịch: ở đây chỉ con người rơi vào một tình huống bi thảm, không lối thoát, nhưng người

ta chỉ cảm thấy tình huống đó khi ý thức được Chí Phèo tuy bị tha hoá từ lâu, nhưng trước khi gặp thị Nở, anh sống triền miên trong những cơn say và chưa thấy mình khổ, nghĩa là chưa thật sự có bi kịch nội tâm Cho đến lúc bị ốm, gặp thị Nở, Chí Phèo tỉnh ra, mới ý thức được tình trạng tha hoá của mình và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm của anh Sức hấp dẫn của tác phẩm không chỉ do tài năng của Nam Cao đã tạo dựng được cốt

Trang 25

truyện theo kết cấu rất hiện đại, mà trước hết xuất phát từ sự quan tâm sâu sắc của nhà văn với đồng loại của mình Đằng sau lối kể chuyện lạnh lùng tỉnh táo là cả một trái tim nhân hậu đằm thắm đối với người nông dân - những người sống cùng tác giả Những vấn đề Nam Cao đề cập trong tác phẩm đâu chỉ là cái nhìn sắc sảo, cách phân tích hiện thực tinh tế, mà còn gắn với quan niệm của nhà văn về cuộc sống, sáng lên tình cảm gắn bó, yêu thương trân trọng tất cả những giá trị cao đẹp gắn với con người của nhà văn

Ánh sáng của tình người nhân hậu ấy đã giúp nhà văn phát hiện ra nguyên nhân của những tấn bi kịch đời người trong xã hội cũ, thắp sáng lên khát vọng mãnh liệt muốn trở về cuộc sống lương thiện Nhưng trong bóng đêm dày đặc của xã hội cũ, ánh sáng ấy đã tắt ngấm với bao buồn thương bế tắc, trước khi ánh sáng của một ngày mới bừng lên quét sạch bóng đêm Tuy vậy, ngọn lửa của khát vọng làm người vẫn âm ỉ nhức nhối trong từng câu chữ Nam Cao

Bi kịch của Chí Phèo chỉ thật sự bắt đầu cùng với lần tỉnh rượu đầu tiên của nhân vật,

chứa đựng tất cả sóng gió đi qua cuộc đời Chí Phèo, sau đêm trăng huyền thoại - cái đêm “trăng

rắc bụi trên sông và sông gợn biết bao nhiêu vàng” - đã đem đến cho Chí một người đàn bà

đích thực trong cái lốt xấu xí “ma chê, quỷ hờn”: Thị Nở

Một số tri thức về tác phẩm Chí Phèo

Những năm 40 của thế kỷ, trên văn đàn hiện thực Việt Nam, Nam Cao nổi bật với những trang viết khai phá sâu sắc bi kịch của những kiếp người khổ đau trong bóng đêm của xã hội cũ Những cuộc đời lầm than đi vào trang sách của Nam Cao đã sống mãi với thời gian Gắn những nhân vật của mình vào không khí ngột ngạt tối tăm của chế độ thực dân phong kiến, nhà văn đã lột trần bộ mặt tàn bạo của giai cấp thống trị, cảm thương sâu sắc nổi đau của con ngưòi Tấm lòng nhà văn hướng về cuộc sống lầm than cơ cực của người nông dân, phát hiện trong những quẩn quanh bế tắc là bi kịch khủng khiếp hủy hoại cả nhân tính lẫn nhân hình Chí Phèo, sáng tác đầu tiên của Nam Cao ra mắt người đọc từ tháng 2 năm 1941, đã có sức tố cáo bộ mặt vô nhân đạo của xã hội và phản ánh bế tắc cùng cực của người nông dân Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua, những trang viết sâu sắc đầy tình người vẫn sống mãi, gợi nhớ một quá khứ tủi nhục đau thương của dân tộc

Hoàn cảnh sáng tác: Truyện ngắn Chí Phèo nguyên có cái tên là Cái lò gạch cũ; khi in

thành sách lần đầu (NXB Đời mới, Hà Nội, 1941), Nhà xuất bản tự ý đổi tên là Đôi lứa xứng đôi Đến khi in lại trong tập Luống cày (Hội Văn hóa cứu quốc xuất bản, Hà Nội, 1946), tác giả đặt lại tên là Chí Phèo

Nam Cao sáng tác từ năm 1936, nhưng đến tác phẩm Chí Phèo, nhà văn mới khẳng định được tài năng của mình Chí Phèo là một kiệt tác trong văn xuôi Việt Nam hiện đại, một truyện ngắn có giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc, mới mẻ, chứng tỏ trình độ nghệ thuật bậc thầy của một nhà văn lớn

Trang 26

Chủ đề: Khám phá số phận bi thảm của người nông dân nghèo bị tha hoá trong xã hội cũ

và thể hiện tinh thần nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc

Giá trị nội dung: Qua truyện ngắn Chí Phèo, Nam Cao đã khái quát một hiện tượng xã

hội ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng: một bộ phận nông dân lao động lương thiện bị đẩy vào con đường tha hóa, lưu manh hóa Nhà văn đã kết án đanh thép cái xã hội tàn bạo tàn phá cả thể xác lẫn tâm hồn người nông dân lao động, đồng thời, khẳng định bản chất lương thiện của

họ, ngay trong khi họ bị vùi dập mất cả nhân hình, nhân tính Chí Phèo là một tác phẩm có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc, mới mẻ

Giá trị nghệ thuật: Chí Phèo là một tác phẩm xuất sắc, thể hiện nghệ thuật viết truyện độc

đáo cùa Nam Cao

Trước hết là cách xây dựng nhân vật điển hình Bá Kiến, Chí Phèo vừa tiêu biểu cho những loại người có bề dầy trong xã hội, vừa là những cá tính độc đáo và có sức sống mạnh mẽ Tâm lí nhân vật được miêu tả thật tinh tế sắc sảo, tác giả có khả năng đi sâu vào nội tâm để diễn

tả những diễn biến tâm lí phức tạp của nhân vật

Cách dẫn dắt tình tiết toàn truyện thật linh hoạt, không theo trật tự thời gian mà vẫn rành mạch, chặt chẽ, lôi cuốn: cảnh Chí Phèo trở về làng, lai lịch Chí Phèo, cảnh Chí Phèo gây sự, nằm vạ ở nhà Bá Kiến, từ tên cường hào bá Kiến dẫn tới các tên sừng sỏ khác ở làng Vũ Đại, rồi Chí Phèo biến thành tay chân đắc lực cho Bá Kiến, bị tha hoá

Ngôn ngữ thật tự nhiên sống động, khẩu ngữ được sử dụng nhuần nhị, mang hơi thở của đời sống Ngôn ngữ kể chuyện vừa là ngôn ngữ tác giả, có khi vừa là ngôn ngữ nhân vật Giọng văn biến hoá, không đơn điệu, tác giả như nhập vai vào từng nhân vật, chuyển từ vai này sang vai khác một cách linh hoạt, tự nhiên

* Thiết kế thiếu học tập

- Phiếu học tập hướng dẫn học sinh chuẩn bị bài

Bài: CHÍ PHÈO (Phiếu 1)

Học và tên HS:………

Lớp:………

1 Đọc Tiểu dẫn và văn bản “Chí Phèo” (khuyến khích HS xem phim “Làng Vũ Đại ngày ấy”)

2 Ghi lại những nét cơ bản về tác giả Nam Cao

Tiểu sử và con người

của Nam Cao

Quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Các đề tài chính Phong cách nghệ

thuật

Trang 27

3 Giới thiệu ngắn gọn về tác phẩm Chí Phèo

4 Chia đoạn và nêu nội dung cơ bản từng đoạn của tác phẩm Chí Phèo

5 Theo em ai đẻ ra Chí Phèo?

Đặc điểm

Nhân vật

Từ ngữ, câu văn miêu tả nhân vật

Nghệ thuật sử dụng

Trang 28

7 Nêu ngắn gọn nội dung, nghệ thuật của tác phẩm “Chí Phèo”

Nội dung:

Nghệ thuật:

- Phiếu học tập dùng trong hoạt động dạy học

Sắp xếp các ý sau theo trình tự đúng diễn ra sự việc trong tác phẩm Chí Phèo

(1) Lớn lên như một cây cỏ dại, hết đi ở cho nhà này đến đi ở cho nhà khác

(2) Chí Phèo đâm chết Bá Kiến rồi tự sát

(3) Một đêm trăng, Chí Phèo say khướt thì gặp thị Nở Được sự tận tình chăm sóc của thị

Nở, Chí khao khát muốn làm người lương thiện

(4) Năm 20 tuổi, Chí làm tá điền cho nhà Lí Kiến Bị Lí Kiến ghen và hãm hại, Chí phải vào tù

(5) Chí Phèo là một đứa con hoang bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ

(6) Khi ra tù, Chí Phèo trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại, là tay sai đắc lực cho Bá Kiến

(7) Bị bà cô thị Nở ngăn cản, Chí rơi vào tuyệt vọng, uất ức, Chí đến nhà Bá Kiến đòi quyền làm người

Trang 29

Chí Phèo trong đoạn mở đầu truyện?

2 Chi tiết cái lò gạch cũ xuất hiện ở đầu tác phẩm và trở lại ở cuối tác phẩm đã tạo nên một kết cấu đặc biệt cho tác phẩm Em suy nghĩ gì về kết cấu này và ý nghĩa của chi tiết đó?

3 Hoàn thành bảng sau:

Đặc điểm

Nhân vật

Từ ngữ, câu văn miêu tả nhân vật

Nghệ thuật sử dụng Bản chất nhân vật Ý nghĩa

Đọc kĩ các câu hỏi sau và trả lời bằng cách khoanh tròn vào chữ cái trước câu đúng:

1) Tác phẩm Chí Phèo đã từng có những tên nào sau đây?

a Cái lò gạch cũ

b Đôi lứa xứng đôi

Ngày đăng: 17/03/2022, 20:42

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2007), Ngữ văn 11 (tập 1), Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Ngữ văn 11 (tập 1)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2007
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 11(tập 1), Nxb Giáo dục. Bộ 3. Giáo dục và Đào tạo (2003), Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn Trung học phổ thông (Tài liệu tham khảo), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Sách giáo viên Ngữ văn 11(tập 1)", Nxb Giáo dục. Bộ 3. Giáo dục và Đào tạo (2003), "Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học môn Ngữ văn Trung học phổ thông (Tài liệu tham khảo)
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Sách giáo viên Ngữ văn 11(tập 1), Nxb Giáo dục. Bộ 3. Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Giáo dục. Bộ 3. Giáo dục và Đào tạo (2003)
Năm: 2003
4. Nguyễn Viết Chữ (2006), Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (Theo thể loại), Nxb Đại học Sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học tác phẩm văn chương (Theo thể loại)
Tác giả: Nguyễn Viết Chữ
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
5. Trần Thanh Đạm – Hoàng Như Mai – Huỳnh Lư (1970), Chuyên đề Giảng dạy tác phẩm văn học Theo loại thể (tập II), Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề Giảng dạy tác phẩm văn học Theo loại thể
Tác giả: Trần Thanh Đạm – Hoàng Như Mai – Huỳnh Lư
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1970
6. Hà Minh Đức (2003), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Hà Minh Đức
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2003
7. Phương Lựu (2002), Lí luận văn học, Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2002
8. Phương Lựu (2012), Lí luận văn học (tập 1) - Văn học, nhà văn, bạn đọc, Nxb Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận văn học (tập 1) - Văn học, nhà văn, bạn đọc
Tác giả: Phương Lựu
Nhà XB: Nxb Đại học sư phạm
Năm: 2012

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w