1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THÀNH TỰU VĂN HÓA TINH THẦN VIỆT NAM THỜI KỲ LÝ TRẦN HỒ GIAI ĐOẠN CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC VÀ GIAI ĐOẠN HẬU LÊ

36 62 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 36
Dung lượng 615,2 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, chính trị các vương triều Lý Trần Hồ Hậu Lê đã có sự phát triển rực rỡ về văn hóa. Đây là giai đoạn phát triển thịnh đạt của văn hóa Đại Việt. Như Lê Qúy Đôn đã nhận định “Nước Nam ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh”. Cùng với sự phục hưng, văn hóa Đại Việt thời Lý Trần Hồ Hậu Lê đã trở nên phong phú và phát triển ở một tầm cao mới qua quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa. Trên cơ sở nền văn hóa Việt cổ, với tư cách là những vương triều phong kiến độc lập các triều đại đã tự nguyện, chủ động tiếp thu và cải biến những yếu tố văn hóa Đông Á, Trung Hoa cũng như các nền văn hóa Chămpa, phần nào đó đã có thể tích hợp vào nền văn hóa dân tộc. Cũng như mặt xã hội, văn hóa Đại Việt thời Lý Trần Hồ Hậu Lê đã pha trộn và tổng hợp những yếu tố Nam Á và Đông Á trong một vị thế cân bằng văn hóa. Sự cân bằng ấy thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và đan xen giữa Phật, Đạo và Nho giáo, giữa văn hóa dân gian làng xã và văn hóa quan liêu cung đình. Chính vì sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đại Việt dưới thời Lý Trần Hồ Hậu Lê nên chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu.

Trang 1

THÀNH TỰU VĂN

HÓA TINH THẦN

VIỆT NAM THỜI KỲ

LÝ - TRẦN - HỒ GIAI ĐOẠN CHỐNG QUÂN MINH XÂM LƯỢC VÀ GIAI ĐOẠN HẬU LÊ

Trang 2

MỤC LỤC

1.Lý do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu đề tài 1

3 Phạm vi nghiên cứu 1

4 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

5 Phương pháp nghiên cứu 2

6 Đóng góp của đề tài 2

7 Bố cục 2

1 Thành tựu về văn hóa tinh thần dưới thời lý 3

1.1 Tư tưởng và tôn giáo 3

1.2 Giáo dục và khoa cử 5

1.3 Văn học và chữ viết 5

1.4 Khoa học và kỹ thuật 6

1.5 Nghệ thuật diễn xướng 6

1.6 Nghệ thuật tạo hình 8

2 Thành tựu văn hoá tinh thần thời trần 11

2.1 Cơ sở chính trị 11

2.2 Tư tưởng và tôn giáo 11

2.3 Giáo dục và khoa cử 13

2.4 Văn học và chữ viết 14

2.5 Nghệ thuật diễn xướng 15

3 Thành tựu văn hóa tinh thần dưới triều nhà Hồ 17

4 Nhà Minh chủ trương hủy diệt văn hóa của nước ta 19

4.1 Cuộc chiến tranh xâm lược Đại Việt của nhà Minh 19

4.2 Chính sách hủy diệt văn hóa Đại Việt của nhà Minh 20

5 Thành tựu văn hóa tinh thần thời Hậu Lê 23

5.1 Tư tưởng và tôn giáo 23

5.2 Giáo dục và khoa cử 24

5.3 Thành tựu về văn học 26

5.4 Thành tựu về khoa học 28

5.5 Nghệ thuật diễn xướng 29

KẾT LUẬN 33

TÀI LIỆU THAM KHẢO 34

Trang 3

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Cùng với sự lớn mạnh về kinh tế, chính trị các vương triều Lý - Trần -

Hồ - Hậu Lê đã có sự phát triển rực rỡ về văn hóa Đây là giai đoạn phát triển

thịnh đạt của văn hóa Đại Việt Như Lê Qúy Đôn đã nhận định “Nước Nam ở hai triều Lý, Trần nổi tiếng là văn minh” Cùng với sự phục hưng, văn hóa

Đại Việt thời Lý - Trần - Hồ - Hậu Lê đã trở nên phong phú và phát triển ở một tầm cao mới qua quá trình tiếp biến và tích hợp văn hóa Trên cơ sở nền văn hóa Việt cổ, với tư cách là những vương triều phong kiến độc lập các triều đại đã tự nguyện, chủ động tiếp thu và cải biến những yếu tố văn hóa Đông Á, Trung Hoa cũng như các nền văn hóa Chămpa, phần nào đó đã có thể tích hợp vào nền văn hóa dân tộc

Cũng như mặt xã hội, văn hóa Đại Việt thời Lý - Trần - Hồ - Hậu Lê đã pha trộn và tổng hợp những yếu tố Nam Á và Đông Á trong một vị thế cân

bằng văn hóa Sự cân bằng ấy thể hiện trong tính đối trọng lưỡng nguyên và

đan xen giữa Phật, Đạo và Nho giáo, giữa văn hóa dân gian làng xã và văn hóa quan liêu cung đình

Chính vì sự phát triển rực rỡ của nền văn hóa Đại Việt dưới thời Lý - Trần - Hồ - Hậu Lê nên chúng tôi đã chọn đề tài này để nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu đề tài

Là sinh viên ngành Việt Nam học chúng tôi muốn đi sâu tìm hiểu nền văn hóa của nước nhà với những thành tựu văn hoá tinh thần rực rỡ thời Lý, Trần, Hồ, Hậu Lê Qua đề tài này chúng tôi mong muốn được giới thiệu đến mọi người những thành tựu văn hóa đặc sắc của Đại Việt dưới những triều đại phong kiến

Trang 4

triều đại phong kiến, hoặc nghiên cứu mỗi một triều đại riêng Chứ vẫn còn ít công trình nghiên cứu về văn hoá tinh thần thời Lí - Trần - Hồ - Hậu Lê

5 Phương pháp nghiên cứu

Đối với đề tài này chúng tôi đã thực hiện một số phương pháp nghiên cứu như:

7 Bố cục

Đề tài được thực hiện gồm có phần mở đầu, nội dung, kết luận và tài

liệu tham khảo

1 Thành tựu văn hoá tinh thần thời Lí

2 Thành tựu văn hoá tinh thần thời Trần

3 Thành tựu văn hoá tinh thần thời Hồ và giai đoạn kháng chiến chống quân Minh xâm lược

4 Thành tựu văn hoá tinh thần thời hậu Lê

Trang 5

1 Thành tựu về văn hóa tinh thần dưới thời lý

1.1 Tư tưởng và tôn giáo

Dười thới Lý - Trần, Phật giáo có điều kiện phát triển mạnh mẽ Thời bấy giờ, Phật giáo đã được truyền bá rộng rãi trong mọi tầng lớp nhân dân, được vua, quan lẫn dân chúng tôn sùng, và đã có ảnh hưởng sâu sắc trong đời sống của xã hội, in rõ dấu ấn trong mọi lĩnh vực của văn hóa

Thời Lý là giai đoạn bắt đầu cho sự thịnh đạt của Phật giáo ở Việt Nam Nhiều nhà sư đã tham gia tích cực vào các hoạt động chính trị của đất nước và giữ những cương vị quan trọng trong triều đình Nhà vua và tầng lớp quý tộc rất tôn sùng đạo Phật, nhiều người đã bỏ tiền ra dựng chùa, cúng ruộng đất cho nhà chùa

Các chùa tháp mọc lên ở khu vực kinh thành và khắp nơi danh lam thắng cảnh trong nước Sử chép: Vua Lý Công Uẩn mới lên ngôi đã cho phát 2 vạn quan tiền và thuê thợ xây dựng 8 ngôi chùa ở quê hương của mình, lại phát thêm 2 vạn quan tiền để dựng nhiều chùa chiền tại Kinh đô (như chùa Thắng Nghiêm - 1010, chùa Chân Giáo - 1024, chùa Báo Thiên - 1056,…)

Vào năm 1031, vua Lý Thái Tông đã bỏ tiền ra xây dựng 100 ngôi chùa

Bài Văn bia chùa Linh Xứng đă thừa nhận: “Từ khi có Phật giáo đến nay đã hơn 2000 năm, mà sự thợ phụng ngày càng thêm mới Hễ có cảnh đẹp, núi non thì không nơi nào là không mở mang để xây dựng chùa chiền, nếu không

có các bậc vương công, đại thần giúp đỡ thì sao mà nên được.”

Các vua Lý - Trần không chỉ là người hâm mộ đạo Phật, mà còn có những trường hợp đã thoát tục đi tu Các vua Lý Thái Tông, Lý Thánh Tông,

Lý Cao Tông, Lý Huệ Tông đều đã từng đi tu Nhiều quý tộc, vương hầu cũng theo đó tham gia tu học để trở thành những sư sãi Trong nhân dân, số sư sãi

và tín đồ đạo Phật chiếm một tỷ lệ khá đông Theo sách Thiền uyển tập anh, ở chùa Kiến Sơ có hơn 100 tăng đồ, ở chùa Tùng Minh có hàng nghìn người theo học đạo Phật, ở chùa Quang Minh có hơn 1000 tăng chúng…

Ngay vào năm mở đầu triều đại nhà Lý (1010) sau khi làm việc dời đô,

vua Lý Thái Tổ đã cho lập trai đàng và “độ dân làm tăng” đến năm 1014, vua

Lý Thái Tổ đã cho phép Tăng thống Thẩm Văn Uyển lập đàn chay ờ chùa Vạn Tuế trong kinh thành Thăng Long để các tăng đồ đến thụ giới

Trong quá trình phát triển của Phật Giáo lúc bấy giờ, phái Phật giáo Thiền Tông có những thành tựu nổi bật Vua Lý Thánh Tông đã tham gia

Trang 6

cùng với sư Thảo Đường sáng lập ra một phái Thiền học mới ở Việt Nam: Thiền phái Thảo Đường

Nho giáo vốn là một công cụ đồng hóa của bọn phong kiến Phương Bắc

du nhập sang nước ta từ thời Bắc thuộc Trong buổi đầu, Nho giáo chưa chiếm được địa vị đáng kể, nhưng khi giai cấp thống trị Việt Nam dựng nhà nước quân chủ độc lập thì Nho giáo lại dần dần có mặt trong đời sống chính trị của quốc gia Nhu cầu xây dựng chế độ trung ương tập quyền đã thúc đẩy việc sử dụng và phát triển Nho giáo, cùng với chế độ đào tạo nhân tài theo con đường thi cử Nho học có nhiều phù hợp Quan lại xuất thân từ Nho sĩ ngày càng chiếm ưu thế

Vào năm 1070, nhà Lý đã bắt đầu cho dựng Văn Miếu, đắp tượng Khổng

Tử, Chu Công, Tứ Phối và 72 người hiền của đạo Nho Nhà Lý mở trường Quốc Tử Giám để đào tạo tầng lớp trí thức cho triều đại Con em của giới quý tộc, quan lại cao cấp đã được đưa vào đó học tập Trong nhân dân, người đi học cũng ngày càng một nhiều Do đó, dưới triều Lý bắt đầu xuất hiện tầng lớp Nho sĩ được đào tạo theo ý thức hệ Nho giáo và họ tham gia vào đời sống chính trị và văn hóa của quốc gia

Mặc dù vậy, ở thời Lý, số Nho sĩ đươc đào tạo hãy còn ít

Ngoài Phật giáo và Nho giáo, lúc bấy giờ Đạo giáo cũng được lan truyền các vua chúa Việt Nam thời độc lập đã coi trọng vai trò của Đạo giáo trong đời sống tinh thần bên cạnh Nho, Phật Ở thời Lý tổ chức thi Tam giáo để chọn người có kiến văn rộng về cả 3 hệ tư tưởng Phật, Nho, Đạo nhằm đứng

ra giúp vua trị nước Các đền đài, đạo quán nguy nga tráng lệ cũng được các vua bỏ tiền ra xây dựng Đạo giáo đã thâm nhập sâu vào trong nhân dân và giới trí thức, có sự đan xen với Phật giáo và Nho giáo

Nhìn chung, dưới thời Lý - Trần, Phật giáo, Nho giáo, Đạo giáo đều

đồng thời phát triển và có mặt thâm nhập trong tinh thần “Tam giáo đồng nguyên” Người dân làng xã ở thời Lý đã kết hợp chặt chẽ giữa ý thức bảo vệ

xóm làng, quê hương cùng với ý thức quốc gia dân tộc, họ gắn liền làng với nước và vẫn duy trì những quan hệ cộng đồng bền chặt, cùng với những phong tục tập quán cổ truyền và tín ngưỡng dân gian của một cư dân nông nghiệp trồng lúa nước

Trang 7

1.2 Giáo dục và khoa cử

Ở thế kỷ XI, các chùa vẫn là những trung tâm văn hóa giáo dục Nhu cầu

tổ chức bộ máy nhà nước đòi hỏi phải phát triển giáo dục Do đó, cũng dưới thời Lý bắt đầu mở mang việc học tập và thi cử để đào tạo nhân tài và tuyển chọn đội ngũ quan lại Vào năm 1075, nhà Lý cho mở khoa thi Tam trường

chọn những “minh kinh bác sĩ”, tức những người có học thức rộng, hiểu rõ

kinh truyện, để ra làm việc cho nhà nước Đây là khoa thi đầu tiên được tổ chức ở nước ta Trong khoa thi này, Lê Văn Thịnh, người huyện Gia Bình (Gia Lương-Bắc Ninh) đã đỗ đầu Sau đó, nhà Lý có mở thêm một số kỳ thi cho con em các quan lại

Sang năm sau (1076), vua Lý Nhân Tông cho mở trường Quốc Tử Giám

ở kinh đô và chọn con em của quý tộc quan chức vào học Đây là trường đại học quốc gia đầu tiên của nước ta

Như vậy là nền đại học Việt Nam đã bắt đầu được hình thành Thỉnh thoảng, nhà Lý còn cho mở các khoa thi tuyển chọn nhân viên hành chính các cấp cho nhà nước với các môn thì về viết chữ đẹp, làm toán giỏi và thông thạo pháp luật

1.3 Văn học và chữ viết

Cùng với sự phát triển của giáo dục và khoa cử, nền văn học bác học được sáng tác bằng chữ Hán của dân tộc có điều kiện phát triển Bên cạnh thơ văn của các nhà sư, lúc này còn có thơ văn của vua quan và những trí thức dân tộc

Ra đời trong khí thế hào hung chống ngoại xâm, nền văn học thời Lý - Trần đã chứa đựng một tinh thần độc lập dân tộc mạnh mẽ và một ý thức tự hào dân tộc sâu sắc Tiêu biểu cho chủ nghĩa yêu nước của văn học chữ Hán

thời này là bài thơ “Nam quốc sơn hà” của Lý Thường Kiệt, ra đời trong cuộc

kháng chiến chống Tống, phản ánh cao độ ý chí và quyết tâm bảo vệ nền độc lập dân tộc của nhân dân ta hồi nửa sau thế kỷ XI

Bên cạnh niềm rạo rực tự hào của những con người giàu tinh thần bất khuất, còn có một tư trào làm thơ văn ca ngợi về thiên nhiên, đất nước, ca

ngợi khung cảnh thái bình Mở đầu là “Chiếu dời đô” của Lý Công Uẩn, đây

là một áng văn vừa mang tinh thần chính luận, vừa mang tính chất trữ tình xuất sắc, ca ngợi về vẻ đẹp của thiên nhiên Việt Nam và niềm tư hào về non song đất nước ta

Trang 8

1.4 Khoa học và kỹ thuật

Sự phát triển của khoa học và kỹ thuật cũng là một biểu hiện đáng chú ý

ở thời Lý - Trần Dưới thời Lý, nhà nước phong kiến dân tộc đã bắt đầu đặt cơ

sở cho việc biên soạn Quốc sử của nước nhà Ở trong triều đình, vua Lý đặt một chức quan chuyên ghi chép các sự kiện lịch sử diễn ra

Cũng dưới triều Lý, công việc ghi chép các hiện tượng thiên văn, khí tượng, địa lí, thủy văn cũng được nhà nước đặt ra, đồng thời toán học và luật học cũng được đưa vào trong chương trình thi cử Đó là những tiền đề để sang thời Trần, khoa học và kỹ thuật có những bước phát triển nở rộ

Đỉnh cao của việc phát triển khoa học ở thời Lý - Trần là khoa học về quân sự

1.5 Nghệ thuật diễn xướng

a Tổng quan

Sau hơn một thế kỷ giành được độc lập, đời sống văn hóa của dân tộc có điều kiện phục hồi và phát triển Đến thời Lý - Trần, nền văn nghệ đã tiến một bước dài với nhiều thành tựu mới mang những nét đặc sắc Nếu ở thời Lý, nghệ thuật Đại Việt có tiếp thu một vài ảnh hưởng của nghệ thuật Champa, thì sang thời Trần, nó đã tiếp thu thêm một số ảnh hưởng của nghệ thuật sân khấu phương Bắc

Nhân dân Đại Việt lúc bấy giờ rất yêu thích ca hát, nhảy múa, thể dục thể thao Hát ả đào đã xuất hiện và trở nên phổ biến Nghệ thuật tuồng, chèo, múa rối đều phát triển Trong cung đình, nghệ thuật biểu diễn ca múa nhạc được dùng để giúp vui cho các buổi chầu, những ngày lễ và các dịp tiếp đãi sứ thần nước ngoài Trên các phù điêu ở thời Lý còn thấy cảnh những vũ nữ múa dâng hoa hay nhạc công vừa múa vừa sử dụng các nhạc cụ như đánh trống, thổi sáo, gảy đàn, gảy nhị…

Lúc bấy giờ, cả giới quý tộc và nhân dân, các vua quan đều ham thích văn nghệ Nhiều ông vua Lý đã múa khiên để góp vui trong các buổi lễ yến tiệc Sử chép, vào năm 1060, vua Lý Thánh Tông cho phiên dịch các khúc nhạc Champa và cho nhạc công ca hát

Ở thời Lý - Trần chưa có sự phân biệt rạch ròi giữa nghệ thuật dân tộc và nghệ thuật dân gian

Ngoài ra, các môn thể thao dân tộc như đánh phết, đá cầu, đấu vật, đua thuyền, cướp cù cũng đều phát triển rộng rãi, vừa giúp vui cho các ngày hội,

Trang 9

vừa khuyến khích việc rèn luyện sức khỏe và tinh thần dũng cảm cho nhân dân và quân sĩ Ở thời Lý - Trần, môn thể thao đua thuyền rất được ưa chuộng

b Âm nhạc

Ở thời Lý, nền âm nhạc cung đình, nhất là về nhã nhạc, đã bắt đầu phát triển Chính sự ra đời của giai cấp quý tộc phong kiến đã đồng thời dẫn đến sự nãy sinh của một môi trường sinh hoạt ca nhạc riêng biệt nhằm phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt chính trị - triều chính và nhu cầu thẩm mỹ - giải trí của tầng lớp vua quan và những nghi thức ngoại giao, nên từ đó đã bắt đầu xuất hiện dòng âm nhạc cung đình

Qua một số sử liệu cho biết, quy mô của tổ chức ca nhạc cung đình dưới triều Lý khá lớn: ở thời Lý Thái Tông số nhạc kỹ trong cung đã lên tới 100 người Nền âm nhạc cung đình thời này bám rễ vững chắc vào nguồn âm nhạc dân gian truyền thống Riêng trên lĩnh vực nhạc khí cho thấy nền âm nhạc dưới triều Lý đã tiếp thu từ âm nhạc Trung Hoa các loại đàn cầm (đàn tranh), đàn nguyệt, đàn tỳ bà, phách bản, của Ấn Hoa, gồm trống tầm bông (phong yêu cổ), mõ và đàn hồ

Sự phát triển của Phật giáo cung đình dưới triều Lý cũng đã dẫn đến sự hình thành của dàn nhạc cung đình phục vụ cho tế lễ Phật giáo gồm trống da,

mõ, phách bản, trống phong yêu…Tốp nhạc công được khắc trên bệ đá chùa Phật Tích (Bắc Ninh) có thể xem là một hình ảnh của một dàn nhạc Phật giáo, đồng thời cũng là dàn nhạc cung đình phục vụ cho các sinh hoạt lễ hội Phật giáo vào thời đó

Theo sách Đại Việt sử ký toàn thư, trong cuộc đại thắng quân Nguyên lần thứ hai (1285), nhà Trần có bắt được một kép hát nổi tiếng người Trung Quốc tên là Lý Nguyên Cát Sau chiến tranh, Lý Nguyên Cát đã ở lại và tiếp tục làm kép hát mua vui cho triều đình

Trang 10

d Trò diễn

Múa rối nước là một hình thức nghệ thuật trò diễn đặc sắc của dân tộc, đến thời Lý đã khá phát triển Bài văn bia chùa Sùng Thiện Diên Linh (chùa Đọi-Nam Hà) đã mô tả hoạt cảnh múa rối nước ở thời Lý như sau: “Hàng trăm chiếc thuyền bơi giữa dòng, nhanh như chớp, muôn tiếng trống khua, hòa nhịp với tiếng nước như sấm động, sóng nước rập rờn, rùa vàng nổi lên đội 3 quả núi, nước chảy nhịp nhàng, lộ vân trên cỏ, rùa xòe bốn chân, nhe răng, trợn mắt, phun nước biểu diễn, hướng tới ngài vua mà cúi đầu chào” Trong các trò tạp kỹ, ở thời Lý còn xuất hiện loại trò khẩu thuật Sách

Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Tân Dậu năm thứ 12 (1021), mùa Xuân tháng

2, lấy ngày sinh nhật của vua Lý Thái Tổ làm tiết Thiên Thành, người ta lấy tre kết thành ngọn núi Vạn Thọ Nam Sơn ở ngoài cửa Quảng Phúc, trên núi làm hình chim bay, muông chạy, với muôn vẻ kỳ lạ, lại sai người bắt chước tiếng cầm thú để làm vui, và ban yến cho bầy tôi…” Sách Đại Việt sử ký toàn

thư còn cho biết một trò ảo thuật khác đã có mặt ờ thời này, được gọi là trò Tàng Câu

Đến năm Đinh Dậu (1117), vua Lý Nhân Tông xuống chiếu cho bãi bỏ trò chơi Tàng Câu Bài Văn bia chùa Sùng Thiện Diên Linh (tức chùa Long Đọi ở Lý Nhân - Hà Nam), dựng năm Thiên Phù Duệ Vũ thứ 2 (1121) ở thời

Lý, còn cho biết về một trò ảo thuật khác được gọi là máy Kim ngao

Ngoài ra, ở thời Lý còn có nhiều trò khéo khác như tại chùa Thầy, xây

dựng vào thế kỷ XII, theo hình chữ “Tam” gồm 3 lớp là: Chùa Hạ, Chùa

Trung và Chùa Thượng

và cung tần

Trang 11

Bên cạnh đó là những cung điện, dinh thự nhằm phục vụ cho hoạt động của bộ máy nhà nước: nơi làm lễ thiết triều là điện Thiên An, nơi vua nghe chính sự là điện Thiên Khánh, nơi để khí giới quân dụng là điện Trường Xuân, nơi xem giờ khắc là lầu Chính Dương…

Về các loại hình kiến trúc khác phải kể đến kiến trúc chùa tháp Phật giáo

do nhà nước và nhân dân làng xã bỏ tiền ra xây dựng Chùa tháp thời Lý thường được dựng ở giữa đồng bằng hoặc nơi ít núi non hiểm trở để giúp cho Phật giáo chinh phục được quần chúng trong một vùng rộng lớn

Các ngôi tháp ở thời Lý cũng là nơi thờ Phật, công trình kiến trúc mang tính sáng tạo và độc đáo ở thời Lý là chùa Một Cột (tức Diên Hựu tự), được xây dựng vào năm 1049 Toàn bộ ngôi chùa được dựng trên một cột đá lớn nổi lên giữa hồ tượng trưng cho một đóa sen nở trên mặt nước, bắt nguồn từ giấc mơ của vua Lý Thái Tổ được gặp Phật Bà Quan Âm và Phật Bà đưa tay dắt nhà vua lên một đài sen, điều này cho thấy sự tin vào Phật ở các vua thời

Ngoài các công trình kiến trúc Phật giáo, ở thời Lý còn có những công trình kiến trúc về đền miếu Đền miếu thời Lý có hai loại là đền thờ các anh hùng dân tộc như đền Nhị Nữ (thờ Hai Bà Trưng ở làng Đồng Nhân-Hà Nội), đền Bà Triệu, đền Phùng Hưng, đền Lý Thường Kiệt… Đền miếu ở thời Lý thường được bố cục giống với ngôi chùa, tức là có sân hành lễ, có hành lang, cổng lớn để kiểm soát sự xuất nhập của khách

Về đền miếu Đạo giáo ở thời Lý có quán Bắc đế (đền Trấn Vũ - 1102), đền Linh Lang (còn gọi là đền Voi Phục) Đền miếu và chùa tháp Phật giáo cũng đã góp phần làm phong phú cho đời sống tinh thần của nhân dân Đại Việt

Về kiến trúc Nho giáo, nổi lên ở thời Lý là Văn Miếu Có ý kiến cho rằng, Văn Miếu được vua Lý Thái Tổ xây dựng tại Thăng Long ngay từ năm

1010 để làm nơi thờ Khổng Tử và các tiên hiền

b Điêu khắc

Phần lớn các công trình kiến trúc ở thời Lý đều bị mất mát, nhưng chúng cũng đã để lại những di vật điêu khắc bằng đá Qua đó cho thấy các đề tài điêu khắc trong trang trí ở thời Lý thường là hoa sen, hoa cúc, cây dương xĩ, sóng nước, mây trời…, chúng được cách điệu hóa; các con vật huyền thoại như rồng, phượng, lân, hình ảnh các con vật hiện thực như sư tử, rùa, voi, trâu,

Trang 12

cá sấu…; những hình tượng về Phật A Di Đà, Phật Thích Ca Mâu Ni, Bồ Tát Quán Thế Âm, tượng Kim Cương…; tượng tiên nữ, nhạc công, vũ nữ đang làm nhiệm vụ ca múa; tượng đầu người mình chim v.v…

Nhìn chung, đề tài điêu khắc ở thời Lý thường là Thần, Phật, Tiên, Thánh; những phong cảnh thiên nhiên với các họa tiết như mây trời, sóng nước, hoa sen, hoa cúc được cách điệu hóa; những hình ảnh các con vật như rồng, voi, trâu, sư tử, cá sấu…; hoặc là hình ảnh mô tả những con người với các nhân vật hầu hạ thần phật như nhạc công, vũ nữ,…

Mật độ hoa văn trang trí thời Lí thường gọn gàng, cân xứng nhưng không trùng lặp, đơn điệu Đằng sau những hình ảnh là sự chuyển tải chiều sâu triết lí Chẳng hạn khi nhìn vào hoa văn sóng nước người ta thấy chúng có hình dáng của nấm và của núi mọc lên từ biển, qua đó gợi tả về mối quan hệ giao hòa trời và đất, giữa âm và dương để sinh thành nên vạn vật

Tuy nhiên, các ảnh hưởng đó không mang tính ồ ạt, mà có sự chừng mực, vừa phải, được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau và chúng được nhào nặn dựa nên các chất liệu đến từ nhiều khác nhau Chẳng hạn, con rồng thời

Lý vốn chịu ảnh hưởng của rồng Trung Quốc nhưng lại được nhào nặn với những ảnh hưởng đến tứ Ấn Độ và Champa Do đó rồng thời Lý có thân hình rắn, chân chim, đầu phản phất bóng dáng con Makara của Ấn Độ, nhưng lại tượng trưng cho mây nước, niềm mơ ước của cư dân nông nghiệp trồng lúa nước ở Đại Việt Rõ ràng ở đây, các ảnh hưởng bên ngoài đã được nghệ nhân thời Lý nhào nặn lại trên nền tư duy mang tính chất bản địa

Nhưng ảnh hưởng rõ nhất của nền nghệ thuật Ấn Độ và Champa trong điêu khắc thời Lý là bộ ba tiên nữ Apsara, nhạc công Gandhava và nữ thần chim Kinari Các nữa thần chim ở tường pháp Phật Tích, Chương Sơn thường được thấy trong kiến trúc của Champa

Nhìn chung, mỹ thuật thời Lý là một nền mỹ thuật hoàn chỉnh, vững chãi

về đường nét, mẫu mực của sự trau chuốt, nhưng toàn bộ đã bị bó chặt vào trong các quy phạm khắt khe và loại hình kém đa dạng hơn điêu khắc của các thời đại sau Ở đây, yếu tố tôn giáo và quân quyền luôn khăng khít với nhau

và sự sáng tạo đã được gắn chặt với ý nghĩa đề cao vương quyền, thể hiện qua hình tượng của rồng và phượng

Trang 13

2 Thành tựu văn hoá tinh thần thời trần

2.1 Cơ sở chính trị

Nhà Trần các vua có lệ nhường ngôi sớm cho con và tự xưng mình là Thái thượng hoàng, cùng con trông nom việc nước Thời Trần chức tướng công được đổi thành hai chức Tả, Hữu Tướng quốc Bên cạnh nhà vua còn có các chức Tam thái (Thái sư, Thái phó, Thái bảo) và Tam thiếu (thiếu sư, thiếu phó, thiếu bảo) là những chức quan cao cấp của triều đình Nhà vua còn cho đặt thêm các chức Tam tư (tư đồ, tư mã, tư không)

Dưới thời Trần, việc tuyển dụng quan lại bằng khoa cử ngày càng đi vào

Cùng với sự văn minh mạnh mẽ của dân tộc ta về các mặt, nền văn hoá dưới thời Lí - Trần đã đạt đến trình độ phát triển rực rỡ, thực hiện một cách sâu sắc ở chính sách và tâm hồn của dân tộc

2.2 Tư tưởng và tôn giáo

Cùng với tinh thần yêu nước, trọng võ, chuộng nghĩa khí, con người thời Trần còn ra sức bảo tồn các phong tục tập quán cổ truyền của dân tộc ta như xăm mình, ăn trầu, giữ gìn các tín ngưỡng truyền thống như việc thờ cúng tổ tiên, sùng bái các hiện tượng tự nhiên liên quan đến đời sống nông nghiệp… Sang thời Trần, Phật giáo vẫn giữ địa vị Quốc giáo và được phần đông

dân chúng tin theo Nhà Sử học Lê Văn Hưu ở thế kỉ XIV cho biết: “ Những người cắt tóc làm sư bằng nửa số dân thường, nhất là ở huyện Đông Triều, làng lớn có đến hơn 10 chùa, làng nhỏ cũng có khoảng 5, 6 chùa, đàn tràng cúng bái rất nhộn nhịp”’

Vua Trần Thái Tông - người lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên lần thứ nhất, cũng đồng thời là nhà Thiền học lớn của Việt Nam, tác giả của các sách khoá hư lục và Thiền Tông chỉ nam Tuệ Trung Thượng sĩ, 1 quý tộc Trần, cũng đồng thời là nhà Thiền học xuất sắc, được xem như vị Bồ tác sống, người đã đưa tinh thần nhập thể của Thiền học Việt Nam lên đến

đỉnh cao nhất của nó: tinh thần “đồng trần” (hoà kì quang, đồng kỳ trần)

Trang 14

Đặc điểm giai cấp lãnh đạo quốc gia ở thời Trần đã tiến một bước dài trong việc phong kiến hoá và dân tộc hoá đối với Phật giáo Vua Trần Nhân Tông, là vị vua lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Nguyên lần thứ 2 và thứ 3 sau ngày kháng chiến thắng lợi đã nhường ngôi cho con trai và đi tu ở chùa núi Yên Tử (Đông Triều - Quảng Ninh)

Trên cơ sở ba thiền phái gồm Tỳ Ni Đa Lưu Chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Đường đang hiện diện ở nước ta và dưới ảnh hưởng lớn lao của Thiền nhập thế Trần Thái Tông và Tuệ Trung Thượng sĩ, Thượng hoàng Trần Nhân Tông đã thống nhất các phái thiền học đã có và phát triển thành một phái thiền học duy nhất ở Việt Nam dưới thời Trần: Thiền phái Trúc Lâm – Yên

Tử Và vua Trần Nhân Tông đã trở thành vị tổ khai sáng của dòng thiền Trúc Lâm, được tôn là Trúc Lâm Đầu Đà Đây là dòng thiền đậm chất nhập thế và cũng là dòng thiền mang đặc chất Việt Nam

Ngoài ra, dưới thời Trần, Vua Trần Thánh Tông (1258 – 1278) cũng từng trút bỏ hoàng bào để mặc áo cà sa, tu theo phái thiền Lâm Tế Trong hoàng tộc nhà Trần có nhiều người sung mộ đạo Phật như Bảo Vân công chúa, Hoa Dương công chúa, Tá Thiên đại vương Trần Đức Việp, Văn Huệ vương Trần Quang Triều…

Đến cuối thời Trần, cuộc xung đột của Phật giáo và Nho giáo bắt đầu diễn ra Bước sang thế kỉ XIV, ưu thế của Phật giáo ngày một giảm sút, để rồi nhường chỗ cho Nho giáo Sang thời Trần, tầng lớp Nho sĩ ngày một đông và

họ tìm cách đẩy lùi thế lực của tầng lớp tăng lữ trên lĩnh vực chính trị cũng như tư tưởng Quan lại xuất thân từ Nho sĩ ngày một chiếm ưu thế trong bộ máy chính quyền và họ nắm giữ các chức vụ quan trọng trong triều đình Lực lượng sáng tác văn học đã chuyển dần sang tay tầng lớp nho sĩ

Ngoài Phật giáo và Nho giáo, lúc bấy giờ Đạo giáo cũng được lan truyền dưới thời nhà Trần Khi bất lực trước thời đại đen tối, một số nhà Nho đã chọn con đường “ lui về ở ẩn”, như Chu Văn An, sau khi dâng sớ chém đầu bảy nịnh thần không được vua Trần nghe theo, ông đã từ chức về quê ẩn dật, lấy việc dạy học để đóng góp cho đời Còn trong dân gian, Đạo giáo đã lan tràn mạnh mẽ với những tiên thánh cho xăm, phát thuốc, cầu đảo, bùa phép, trừ yểm, đồng bóng…

Trang 15

Nhìn chung dưới thời Trần, Phật giáo, Đạo giáo và Nho giáo đều đồng

thời phát triển và có mặt thâm nhập lẫn nhau trong tinh thần “ tam giáo đồng nguyên”

2.3 Giáo dục và khoa cử

Sang thời Trần, chế độ học hành và thi cử càng ngày càng có quy cũ và chính quy hoá Tại Kinh thành, nhà nước cho lập Quốc Học viện, dành riêng cho con em quý tộc, quan chức vào học và về sau mở rộng thêm cho các Nho

sĩ Chức học quan dần dần được đặt đến các cấp lộ, phủ, châu Bên cạnh hệ thống giáo dục nhà nước, các trường lớp tư thục cũng xuất hiện trong các làng

xã do các nhà Nho đứng ra tổ chức

Các kì thi quốc gia được tổ chức đều đặn hơn trước Vào năm 1232, dưới thời vua Trần Thái Tông, nhà Trần cho đặt học vị Thái học sinh (đến thời Trần Duệ Tông đổi thành tiến sĩ), và chia những người đỗ đạt thành 3 hạng Tam giáp Đến năm 1247, nhà Trần còn định ra lệ Tam khôi, cho 3 người đỗ theo thứ tự 1, 2, 3 trong kì thi Đình gọi là Trạng Nguyên, Bảng nhãn và Thám hoa Nhưng lúc bấy giờ những người đi thi phải là con cháu của nhà quan, dân thường chưa được tham dự Đến năm 1305, nhà Trần đặt them học vị Hoàng giáp dành cho người đỗ vào hàng thứ tư (sau Thám hoa và trên Thái học sinh) 7 năm tổ chức thi Hội một lần

Ban đầu đo sự phát triển của giáo dục còn chưa được đầy đủ trên khắp mọi miền đất nước, do đó để khuyến khích việc học ở những vùng xa, vào năm 1256 nhà Trần cho đặt lệ lấy hai Trạng Nguyên (gồm Trạng Nguyên kinh

và Trạng Nguyên trại): người đỗ đầu đất Tứ Trấn gọi là Kinh Trạng Nguyên, người đỗ đầu đất Thanh Nghệ gọi là Trại Trạng Nguyên Đến năm 1275, khi hoạt động giáo dục đã phát triển đồng đều, nhà Trần cho hợp nhất Kinh Trại làm một, và chỉ có một Trạng Nguyên cho mỗi khoa thi

1374, vua Trần Duệ Tông bắt đầu mở khoa thi Đình (thi ở sân vua), đầu tiên lấy đỗ Tiến sĩ (thay cho Thái học sinh), danh hiệu Tiến sĩ bắt đầu có từ đây

1374 nhà Trần quy định rõ về cấp bật đỗ đạt: Tam khôi, Hoàng giáp, Cập

Trang 16

- Kỳ 1 thi ám tả để giảm bớt những người kém

- Kỳ 2 thi kinh, lễ, nghĩa, thơ, phú

- Kỳ 3 thi chiếu, chế, biểu

- Kỳ 4 thi văn sách, trình bày những kiến thức mưu lược, kế sách của bản thân mình nhằm giải đáp một số câu hỏi được nêu ra trong đề tài

Những người đỗ đạt nỗi tiếng như: Trạng Nguyên Nguyễn Hiền, Trạng Nguyên Mạc Đĩnh Chi(Lưỡng quốc Trạng Nguyên), Bảng Nhãn Lê Văn Hưu (tác giả Đại Việt Sử Kí)…Trong các nhà Nho cũng có nhiều người tiếng tăm như Lê Quát, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh… nhà Nho Chu Văn An là bậc thầy của thiên hạ vào cuối thế kỉ XIV

Ngoài thi văn học, nhà Trần còn tổ chức các khoa thi võ, nhưng bằng cấp chưa quy định rõ ràng như các triều đại về sau Đồng thời nhà Trần cũng tổ chức thi lại viên, chọn những người viết chữ đẹp, thông hiểu về pháp luật để làm văn tại các cơ quan Cuối thế kỉ XIV, giáo dục phát triển mạnh mẽ, số nhân tài ra đời ngày càng nhiều

2.4 Văn học và chữ viết

Từ trong cuộc kháng chiến chống Mông – Nguyên, đã ra đời bài “Hịch tướng sĩ” của vị anh hùng dân tộc Trần Quốc Tuấn, một tác phẩm chứa chan tình cảm yêu nước và long nhân ái bao dung, thấm đẫm hào khí “Đông A”

“Phú sông Bạch Đằng” của Trương Hán Siêu và một số tác phẩm mang đậm

tình yêu quê hương đất nước của Trần Nhân Tông, Trần Quang Khải, Phạm

Ngũ Lão, Nguyễn Trung Ngạn… “Hạ cảnh và Thiên trường vãn vọng” của Trần Nhân Tông, “Phiếm Chu” của Huyền Quang, “Vãn canh” của Mạc Đỉnh Chi, “Linh sơn tạp hứng” của Chu Văn An…

Một số bài thơ thiền mang tính triết lí sâu sắc như: “Thị đệ tử” của Vạn Hạnh thiền sư, “Vô tật thị chúng” của Viên Chiếu thiền sư, “Cáo tật thị chúng” của Mãn Giác thiền sư, “Cư trần lạc đạo phú” của Trần Nhân Tông,

“Thị tật” của Quảng Nghiêm thiền sư…

Chữ Nôm đã được sử dụng phổ biến và vận dụng trong sáng tác văn học

Bài “Văn tế cá sấu” của Nguyên Thuyên được xem là tác phẩm văn học chữ

Nôm đầu tiên ở Việt Nam Ngoài Nguyễn Thuyên thì Nguyễn Sĩ Cố, Trần Nhân Tông, Hồ Quý Ly cũng là những người đã làm thơ phú bằng chữ Nôm

Vua Trần Nhân Tông đã để lại ba bài thơ đặc sắc bằng chữ Nôm: “Cư trần lạc đạo phú”, “Đắc phú lâm tuyên thành đạo ca”, “Vịnh Hoa Yên tự phú” Một

Trang 17

số bản nhạc cũng được sáng tác bằng lời thơ Nôm Sự ra đời của văn Nôm đã thể hiện một sự cố gắng lớn của dân tộc nhằm nâng cao địa vị của tiếng Việt

và phát triển văn hoá dân tộc

Trên lĩnh vực văn học dân gian, dưới thời Trần, kho tàng thần thoại và

truyện cổ dân gian rất phong phú được sưu tầm và tập hợp lại trong Việt điện

u linh tập của Lí Tế Xuyên và Lĩnh Nam chích quái của Trần Thế Pháp

2.5 Nghệ thuật diễn xướng

Lúc bấy giờ, cả giới quý tộc và nhân dân đều rất yêu thích nghệ thuật tuồng chèo và hát múa Các trò chơi dân gian mang tính phổ biến như: leo dây, đua thuyền, múa xiếc, trồng cây đu, tung còn, đá cầu, thi nấu cơm, đánh đu…

rất được nhân dân ưa chuộng

Nhà Trần tiếp thu thêm một số ảnh hưởng nghệ thuật sân khấu phương Bắc

Nhiều quan lại quý tộc Trần đã tham gia sáng tác các điệu múa, điệu nhảy và sau các buổi chầu, vua tôi nhà Trần thường cùng nhau nhảy múa, ca hát

Các môn thể thao rất được ưa chuộng Đấu vật đã trở thành môn thể thao mang tính phổ biến đối với nhà Trần Vào những ngày đầu xuân, hay dịp lễ hội nhân dân thường tổ chức chơi các trò chơi, thăm hỏi lẫn nhau

a Âm nhạc

Âm nhạc cung đình đã có bước phát triển mới với nhiều điệu khúc và bài

hát phong phú Sách Đại Việt sử kí toàn thư cho biết tên của một số bài hát

như: Nam thiên nhạc, Ngọc lâu xuân, Đạp thanh du, Mộng du tiên, Canh lậu trường… So với thời Lí nền nghệ thuật âm nhạc cung đình ở thời Trần ngày càng chính quy hoá và kéo theo là quự quy chế hoá khắt khe giữa các đối tượng và môi trường khác nhau trong việc sử dụng loại nhạc Theo biên chế

tổ chức dàn nhạc ở thời Trần được chia làm hai loại: Đại nhạc được dành riêng cho quốc vương, còn đối với tôn thất quý quan thì chỉ khi nào có việc tế

lễ mới được dùng Còn về Tiểu nhạc thì ai cũng có thể dùng được

Dòng ca nhạc cung đình ở thời Trần vẫn bám chắc rễ và giữ được mối liên hệ khắn khít với nguồn nhạc dân gian truyền thống, mặt khác nó còn tiếp thu thêm những yêu tố của nền âm nhạc Chămpa và Trung Hoa

Về phương tiện nhạc khí, sử liệu thời Trần cho biết, ngoài những nhạc cụ

đã thấy xuất hiện ở thời Lí trước đây, còn có thêm loại trống cơm, kèn tất tiểu,

Trang 18

tiểu quản (sáo đôi), trống đại cốc, đàn 7 dây, đàn 1 dây (tiền thân của đàn bầu)

b Sân khấu

Nghệ thuật hát chèo và tuồng đang trên đường hình thành và hoàn thiện nhằm đáp ứng nhu cầu giải trí của nhân dân

Có loại hình chèo chải được sử dụng trong việc thờ cúng tổ tiên, chúng

được sử dụng trước linh cữu người đã khuất, hoặc được hát trong đám giỗ và

có cả loại hình chèo của nhà Phật (Trong đám tang của Phật hoàng Trần Nhân Tông, người ta đã diễn hát chèo với bài Long Ngâm)

Về nghệ thuật hát tuồng, theo sách Đại Việt sử kí toàn thư, trong cuộc đại thắng quân Nguyên lần thứ hai (1285), nhà Trần có bắt được một tên lính Toa Đô là kép hát nổi tiếng người Trung Quốc là Lý Nguyên Cát, nhà Trần đã giữ ông ấy lại để truyền dạy về nghệ thuật hát tuồng cho triều đình Ông ấy là tác giả của nhiều tuồng tích được nhân dân ta rất yêu thích (Tây Vương Mẫu

hiến bàn đào)

c Trò diễn

Nghệ thuật tạp kĩ ngày càng phát triển mạnh mẽ Sách Dại Việt Sử kí toàn thư, chép lại sách Đại Việt sử kí ở thời Trần cho biết “vào năm Canh Dần (1350), Thiệu Phong năm thứ 10, đời vua Trần Dụ Tông, màu Xuân tháng Giêng, có người nước Nguyên là Đinh Bàn Đức, nhân trong nước bị loạn, đã đem cả gia quyến đi thuyền vượt biển sang nước ta Đinh Bàn Đức giỏi về nghề leo dây, làm trò ca múa và người nước ta đa bắt chước theo trò múa leo dây của Đinh Bàn Đức”

Lối diễn với thú cũng được nói đến ở thời nhà Trần

Ngày đăng: 17/03/2022, 20:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w