Ở Việt Nam, cây cà phê là một trong những cây công nghiệp phổ biến và được áp dụng trồng với diện tích lớn nhằm mục đích cải thiện đời sống cho nhân dân và xuất khẩu ra nước ngoài. Ngày nay kinh doanh cà phê đã kiếm một vị trí quan trọng trên phạm vi toàn thế giới. Tại Việt Nam, cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực sau gạo, việc xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp đã đem một nguồn lợi nhuận cho nền kinh kinh tế cũng như đồng thời cũng giải quyết việc làm cho người lao động trong nước. Ở Việt Nam trồng trồng hai loại cà phê chính: cà phê Robusta và cà Arabica trong đó diện tích Robusta chiếm 93% diện tích. Lâm Đồng là một trong những vùng có điều kiện địa lý thích hợp để canh tác cây cà phê. Cây cà phê mang lại giá trị kinh tế cũng như việc làm cho các nông hộ, do đó diện tích cà phê ở đây khá lớn 164000 ha với năng suất 2.7 tấnnăm, đứng thứ 2 chỉ sau Đaklak. Lâm Hà (Xã Đinh Văn) là một huyện của tỉnh Lâm Đồng ở đây cũng có những điều kiện tự nhiên thích hợp để trồng cà phê, lúa, cây ăn quả...nhưng lúa và cà phê là cây trồng mang lại nguồn thu nhập chúng cho người dân. Hiện nay năng suất cà phê đang có xu hướng giảm xuống do một số nguyên nhân như diện tích cà phê già cỗi năng suất thấp, kỹ thuật canh tác của nông hộ còn hạn chế theo kinh nghiệm… do đó nên tìm ra giải pháp hợp để giả quyết vấn đề này. Với mong muốn tìm hiểu rõ hơn về cây cà phê tại Đinh Văn Lâm Hà tôi chọn làm đề tài “đánh giá tình hình sản xuất và thu hoạch cà phê tại xã Đinh Văn Lâm Hà” để làm chuyên đề của mình.
Trang 1ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ THU
HOẠCH CÀ PHÊ TẠI XÃ ĐINH VĂN HUYỆN
LÂM HÀ
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
VICOFA Vietnam Coffee - Cocoa Association Hiệp hội Cà phê
ICO International Coffee Organition Tổ chức cà phê thế giới
Bộ NN&PTNT Bộ Nông Nghiệp Phát Triển Nông Thôn
IHCAFE Viện Cà Phê Quốc Gia
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1 Định lượng phân bón cho 1 h cà phê Robusta 7
Bảng 2 Sản lượng cà phê thế giới (Đơn vị tính: Nghìn bao - loại 60kg/bao) 14
Bảng 3 Sự biến động về diện tích cà phê trong 2 năm gần đây 19
Bảng 4 Nguồn cung cấp giống cho nông hộ 20
Bảng 5 Số nông hộ tham gia lớp tập huấn kỹ thuật 21
Bảng 6 Định lượng phân bón trên 1 ha (kg/ ha/ năm) 23
Bảng 7 Số lần bón phân trong năm 23
Bảng 8 Số hộ sử dụng cây chắn gió và che bóng 24
Bảng 9 Các phương pháp trừ cỏ dại 25
Bảng 10 Các biện pháp phòng sâu bệnh hại 26
Bảng 11 Thống kê phương thức theo dõi giá thị trường của các nông hộ 27
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Đặt vấn đề 1
2 Mục tiêu đề tài: 1
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2
1.1 Giới thiệu 2
1.1.1 Nguồn gốc 2
1.1.2 Đặc điểm 2
1.1.3 Quy trình sản xuất cây cà phê 4
1.1.4 Cách thức thu hoạch và chế biến 10
1.5 Tổng quan huyện Lâm Hà 11
1.6 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới 13
1.6.1 Tình hình sản xuất 13
1.6.2 Tiêu thụ 14
1.6.3 Dự báo 15
1.7 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam 15
1.7.1 Tình hình sản xuất 15
1.7.2 Tiêu thụ 15
1.7.3 Dự báo 16
CHƯƠNG II: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 17
2.1 Thời gian và địa điểm 17
2.2 Nội dung nghiên cứu: 17
2.3 Phương pháp nghiên cứu và xử lý liệu số 17
2.3.1 Phương pháp chọn địa điểm nghiên cứu 17
2.3.2 Phương pháp thu thập số liệu: 17
2.3.3 Phương pháp xử lý số liệu: 18
CHƯƠNG III: KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 19
3.1 Tình hình sản xuất cà phê tại xã Đinh Văn, Lâm Hà 19
3.1.1 Diện tích, năng suất 19
3.1.2 Giống và kinh nghiệm trồng 20
3.2 Kỹ thuật trồng và chăm sóc 22
3.2.1 Phân bón 22
Trang 53.2.2 Kỹ thuật trồng cây chắn gió và cây che bóng 24
3.2.3 Số lần cắt tỉa cành 24
3.2.4 Kỹ thuật cào bồn 25
3.2.5 Làm cỏ 25
3.2.5 Nước tưới 26
3.3 Côn trùng, sâu, bệnh hại cà phê 26
3.4 Cách thức thu hoạch 27
3.5 Những khó khăn và biện pháp của các nông hộ sản xuất cà phê 28
3.5.1 Những khó khăn của các nông hộ sản xuất cà phê: 28
3.5.2 Một số giải pháp 28
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 30
4.1 Kết luận 30
4.2 Kiến nghị 30
TÀI LIỆU THAM KHẢO 31 PHỤ LỤC
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, cây cà phê là một trong những cây công nghiệp phổ biến và được áp dụng trồng với diện tích lớn nhằm mục đích cải thiện đời sống cho nhân dân và xuất khẩu ra nước ngoài Ngày nay kinh doanh cà phê đã kiếm một vị trí quan trọng trên phạm vi toàn thế giới Tại Việt Nam, cà phê là mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực sau gạo, việc xuất khẩu cà phê của các doanh nghiệp đã đem một nguồn lợi nhuận cho nền kinh kinh tế cũng như đồng thời cũng giải quyết việc làm cho người lao động trong nước Ở Việt Nam trồng trồng hai loại cà phê chính: cà phê Robusta và cà Arabica trong đó diện tích Robusta chiếm 93% diện tích
Lâm Đồng là một trong những vùng có điều kiện địa lý thích hợp để canh tác cây cà phê Cây cà phê mang lại giá trị kinh tế cũng như việc làm cho các nông hộ,
do đó diện tích cà phê ở đây khá lớn 164000 ha với năng suất 2.7 tấn/năm, đứng thứ
tìm hiểu rõ hơn về cây cà phê tại Đinh Văn- Lâm Hà tôi chọn làm đề tài “đánh giá
tình hình sản xuất và thu hoạch cà phê tại xã Đinh Văn - Lâm Hà” để làm chuyên
đề của mình
2 Mục tiêu đề tài:
Điều tra đánh giá tình hình sản xuất và thu hoạch cây cà phê tại Đinh Văn- Lâm Hà từ đó tìm ra biện pháp nhằm sản xuất cà phê hiệu quả
Trang 7CHƯƠNG I: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Giới thiệu
1.1.1 Nguồn gốc
Cà phê vối (danh pháp hai phần: Coffea canephora hoặc Coffea robusta) là
cây quan trọng thứ hai trong các loài cà phê Khoảng 39% các sản phẩm cà phê được sản xuất từ loại cà phê này Nước xuất khẩu cà phê vối lớn nhất thế giới là Việt Nam Các nước xuất khẩu quan trọng khác gồm Brasil, Indonesia, Ấn Độ, Malaysia, Uganda Ở Brasil cà phê vối được gọi với tên là Conilon
Coffea canephora – Cà phê Robusta được phát hiện lần đầu tiên ở Congo –
Bỉ (thuộc châu Phi) vào những năm 1800 Coffea canephora còn là một loại cây bản địa của các khu rừng nhiệt đới xung quanh Hồ Victoria ở Uganda Cà phê Robusta được đưa vào Đông Nam Á vào những năm 1900, sau khi bệnh gỉ sắt đã quét sạch toàn bộ giống Arabica ở Sri Lanka năm 1869, đồng thời tấn công hầu hết các đồn điền ở Java – Indonesia năm 1876 Hiện tại Robusta chiếm từ 30% đến 40% tổng sản lượng cà phê thế giới, phổ biến ở Tây và Trung Phi, Đông Nam Á, Trung – Nam Mỹ chủ yếu là Brazil (Nguyễn Thọ, 2009)
1.1.2 Đặc điểm
Đặc điểm sinh thái của cây cà phê
Thân lá rễ cà phê: Thân cà phê thuộc kiểu thân gỗ, nếu để phát triển tự nhiên
có thể cao đến 15m Trong điều kiện trồng làm kinh tế người ta thường hãm ngọn ở chiều cao 2-4 m để tiện chăm sóc, thu hoạch Lá cà phê hình ô-van (mũi mác) có sự khác biệt nhẹ tùy theo giống, mặt trên thường đậm màu, xanh bóng, mặt dưới nhạt hơn và nhám Cuống lá ngắn Tên gọi cà phê chè, cà phê vối, cà phê mít… thường
từ hình dạng có nét tương đồng với lá chè xanh, lá vối, lá mít mà ra Rễ cà phê thuộc dạng rễ cọc ăn sâu 1-2 dưới mặt đất, rễ nhánh xòe ngang, có nhiều rễ cám để hút chất dinh dưỡng ở tầng mặt
Hoa cà phê: Hoa cà phê màu trắng, dạng chùm, có 5 cánh Nếu để cây mọc hoang dại, cây sẽ ra hoa quanh năm khi gặp trời mưa Do đó để cây cho trái đồng loạt, người ta thường tiến hành tưới tập trung vào đầu mùa khô, vừa có tác dụng chống hạn, vừa giúp cây ra hoa tập trung tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch Vào khoảng tháng 1-3 dương lịch, nếu có dịp du lịch Tây Nguyên, bạn sẽ dễ dàng bắt gặp những vườn cà phê bạt ngàn trổ hoa trắng mướt và thơm dịu dàng đặc trưng
Trang 8Thời gian hoa nở thường vào buổi sáng, mỗi đợt hoa khoảng 3-4 ngày, thời gian thụ phấn trong mỗi đợt ra hoa chỉ vài giờ đồng hồ
Quả cà phê: Có hình bầu dục hoặc tròn, có kích thước to nhỏ tùy theo giống Nhìn giống quả anh đào, cuống ngắn nên thường khít lại thành chùm Thời gian từ lúc ra hoa đến khi thu hoạch từ 8-10 tháng Khi chín quả chuyển từ màu xanh sang vàng rồi đỏ Mỗi quả thường có 2 hạt, còn gọi là nhân Nhân có một mặt phẳng ép sát vào nhân còn lại Phần hướng ra ngoài có hình cầu Bên ngoài nhân là một lớp
vỏ cứng màu trắng, khi phơi khô sẽ giòn Tỷ lệ tươi nhân (số kg cà phê tươi tương ứng với số kg cà phê nhân thu được) thường ở mức 3.8kg/1kg – 5kg/1kg
Tuổi thọ và thời gian thu hoạch: Cà phê sau khi trồng thường cho bói vào năm thứ 3, nếu trồng cà phê ghép có thể thu bói từ năm thứ 2 Giai đoạn từ năm 1 đến năm thứ 3 gọi là giai đoạn kiến thiết cơ bản Từ năm thứ 4 trở đi gọi là giai đoạn kinh doanh Năm thứ 8 đến năm thứ 15 là giai đoạn cây sung sức nhất, năng suất đạt đến đỉnh điểm, sau đó giảm dần Cây cà phê có tuổi thọ lên đến 50 năm Tuy nhiên người ta chỉ thu hoạch đến 25-30 năm Vì sau giai đoạn này cây trở nên già cỗi và năng suất cực kém, cần cưa đốn phục hồi hoặc nhổ bỏ trồng mới
Thời vụ thu hoạch cà phê là vào khoảng tháng 10 đến tháng 12 dương lịch, một số giống chín muộn như cà phê xanh lùn Lâm Đồng, Cà phê dây Đăk Nông có thể thu muộn hơn, vào khoảng tháng 1-2 dương lich Do đó khi trồng cần để ý đến khâu chọn giống để tiện cho việc chăm sóc và thu hoạch Cà phê sau khi thu hoạch thường được phơi, sấy cho thật khô sau đó xay để tách lấy nhân Việc bảo quản cà phê nhân thường kéo dài tối đa 6 tháng Riêng loại được phân loại để làm hạt giống
cà phê không được bảo quản quá lâu, tỷ lệ nảy mầm sẽ giảm dần (Phạm Ánh Hồng, 2011)
Yêu cầu điều kiện sinh thái cho cây cà phê
Nhiệt độ là yếu tố khí hậu có tình giới hạn đối với đời sống của cây cà phê Phạm vi nhiệt độ thích hợp phụ thuộc vào từng loài, từng giống cà phê và điều kiện sinh sống của tổ tiên chúng Nhiệt độ thấp nhất 10oC- 22oC, nhiệt độ trung bình thích hợp 22 – 22oC, biên độ nhiệt hàng ngày không lớn Nhìn chung, cây cà phê chè có khả năng chịu rét và chịu nóng tốt hơn so với cà phê vối
Ánh sáng: Cà phê vối là cây thích ánh sáng trực xạ yếu nguyên quán cà phê vối mọc rải rác ven bìa rừng ở Châu Phi Ở những nơi có ánh sáng trực xạ với
Trang 9cường độ mạnh thì cây cà phê vối cần lượng cây che nóng để điều hòa ánh sáng, điều hòa quá trình quang hợp của vườn cây
Lượng mưa: Sau nhiệt độ, nước là yếu tố có tính chất quyết định sự sinh trưởng và năng suất cà phê Lượng mưa thích hợp hàng năm từ 1200 – 2500 mm, thích hợp nhất từ 1500– 1800 mm với vài tháng ít mưa trước vụ ra hoa và mưa phân
ố đều trong năm, lượng mưa thấp nhất không dưới 800 – 1000 mm Cà phê vối thích nghi với lượng mưa 2.000 mm cao hơn so với cà phê chè)
Độ ẩm: Có khả năng ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh trưởng của cây cà phê vì nó liên quan trực tiếp đến quá trình bốc hơi của cây Yêu cầu độ ẩm không khí từ 70 – 90% Cà phê chè cần độ ẩm không khí thấp hơn cà phê vối (Phạm Ánh Hồng, 2011)
1.1.3 Quy trình sản xuất cây cà phê
1.1.3.1 Thời vụ trồng và Kỹ thuật trồng
Bắt đầu vào đầu mùa mưa và kết thúc trước khi bắt đầu mùa khô từ 1,5 – 2 tháng Thời vụ trồng cà phê ở Tây Nguyên và Đông Nam bộ từ tháng 5 đến tháng 8 hàng năm
Kỹ thuật trồng: Tiến hành đào chính giữa hố một lỗ có đường kính lớn hơn đường kính của bầu và chiều sâu bằng với chiều cao của bầu, sử dụng 5 - 7 gam thuốc chống mối rải xuống đáy và xung quanh miệng lỗ; dùng dao cắt một lát cách đáy bầu 1 - 2 cm để loại bỏ phần rễ cọc bị cong ở đáy, sau đó rạch xé bầu, chú ý cẩn thận tránh làm bể bầu đất; đặt bầu vào lỗ đã được đào sao cho mặt bầu ngang bằng với mặt hố và thấp hơn mặt đất 10 - 15 cm, lấp đất và nén chặt đất xung quanh bầu Sau khi trồng mới, tiến hành xăm xới đất sau những trận mưa lớn và trồng dặm kịp thời những cây bị chết (Trần Danh Sửu và cs., 2017)
1.1.3.2 Tạo bồn
Khi cây cà phê đã sinh trưởng ổn định (khoảng 1 - 2 tháng sau khi trồng) Thời gian tạo bồn tiến hành trước khi mùa mưa chấm dứt 1 - 2 tháng Trong năm đầu tiên, có thể đào bồn với đường kính 80 - 100 cm, sâu 15 - 20 cm Những năm tiếp theo, kích thước của bồn được mở rộng theo tán của cây cà phê cho đến khi đạt được kích thước ổn định (2 - 2,5 m) Khi vét đất tạo bồn, cần hạn chế gây tổn thương cho rễ cây cà phê Đối với những nơi đất dốc, công việc tạo bồn có thể tiến hành hàng năm (Trần Danh Sửu và cs., 2017)
Trang 101.1.3.3 Làm cỏ
Làm cỏ từ 3 - 4 lần ở trên hàng cà phê; diện tích làm cỏ rộng ra ngoài tán cây
cà phê mỗi bên 0,5 m Đối với đất dốc, chỉ làm cỏ theo băng trên hàng cà phê, không làm cỏ toàn bộ diện tích
Phương pháp làm cỏ trắng: Đối với cà phê kinh doanh, làm cỏ trên toàn bộ diện tích vườn cây cà phê
Phương pháp làm cỏ theo băng: Đối vối cà phê kiến thiết cơ bản, phải làm sạch cỏ theo băng, dọc theo hàng cà phê với chiều rộng lớn hơn tán cà phê mỗi bên 0,5 m Mỗi năm làm cỏ 5 - 6 lần diệt trừ các loại cỏ có phương thức sinh sản vô tính như cỏ tranh, cỏ gấu, …có thể dùng các loại thuốc diệt cỏ chứa hoạt chất glyphosate để phun (Trần Danh Sửu và cs., 2017)
1.1.3.4 Trồng cây chắn gió, cây che bóng
Cây chắn gió (cây đai rừng)
Cây đai rừng được bố trí thẳng góc với hướng gió chính trong năm hoặc chếch một góc 600 và cách cây cà phê 4 – 6 m Khoảng cách giữa các hàng cây
chắn gió 100 m Cây muồng đen (Cassia siamea) là loại cây đai rừng thích hợp
trong vườn cà phê
Cây che bóng
Cây che bóng có tác dụng sau: Cải thiện tiểu khí hậu trong vườn cây, bảo vệ cây trồng chính, hạn chế thiệt hại do mưa đá và gió hại, hạn chế sự mất nước do bốc thoát hơi nước, bảo vệ và nâng cao độ phì đất Nhược điểm của cây che bóng: Tốn công rong tỉa hàng năm, là chỗ trú ẩn của một số loại dịch hại, hạn chế năng suất cà phê và không có sản phẩm thu hoạch hàng năm
Một số loại cây che bóng phổ biến: Cây keo dậu (Leucaena sp) được trồng với khoảng cách 9 x 12 m đến 12 x12 m Cây muồng đen (Cassia siamea) với
khoảng cách trồng 12 x 24 m đến 24 x24 m Thời vụ trồng cây chắn gió, cây che bóng là đầu mùa mưa Có thể trồng trước 1 năm so với cà phê trồng mới (Trần Văn Khởi và cs., 2018)
1.1.3.5 Nước tưới:
Sau khi thu hoạch cà phê cần để hạn một thời gian sau đó sẽ cần đến một lượng nước lớn để cây phân hóa mầm hoa và cho đến giai đoạn cây ra trái non và trái phát triển nước cần rất nhiều Trong hai giai đoạn này nếu tưới nước quá ít hoa
Trang 11sẽ không nở đồng đều không tập trung khi thu hoạch khiến hộ trồng tốn chi phí cho việc thuê nhân công thu hoạch nhiều lần hoặc khi cây ra trái thiếu nước trái không
to nhân không đạt phẩm chất không cao Để hạn chế những điều này hộ trồng cần xác định đúng chính xác thời điểm tưới nước cho cây cà phê để vụ thu hoạch tiết kiệm nhân công, trái đạt phẩm chất tốt Chọn thời điểm tưới nước cho cây cà phê
Giai đoạn tưới nước đầu tiên là giai đoạn ngay sau khi cây cà phê thu hoạch đây là giai đoạn tưới nước quan trọng nhất quyết định khả năng phân hóa mầm hoa cùng với khả năng đậu trái và cho năng suất cao Nếu tưới nước muộn cây khô hạn quá mức sẽ khó hồi phục và khả năng phân hóa mầm hoa không tốt
Khi tưới nước quá sớm thì cây sẽ chưa phân hóa mầm hoa bông sẽ nở không đồng đều và việc thu hoạch về sau sẽ không được thuận tiện vì trái chín rời rạc tốn nhân công thu hoạch Ngoài ra việc tưới nước sớm cây sẽ phát triển lá và những đợt tưới sau sẽ phải tưới nước nhiều hơn rất tốn chi phí
Xác định đúng chu kì tưới và lượng nước tưới cần đảm bảo những yêu cầu sau:
Với loại đất thành phần cơ giới nặng hộ trồng nên tưới nước nhiều hơn đất cát và chu kì tưới lập lại dài ngày hơn Lượng nước tưới vừa đủ thấm khoảng chừng
50 cm Cà phê trồng mới lượng nước tưới là 120 lít chu kì 22 ngày lập lại lần kế là
160 lít và lần thứ ba là 200 lít/ gốc Cà phê có độ tuổi 2-3 năm tuổi lượng nước tưới
240 lít/ gốc chu kì tưới 24 ngày lần 2 tưới 320 lít/ gốc và lần 3 là 400 lít/ gốc
Đối với giai đoạn đầu khi cà phê bước vào thời kì kinh doanh đợt tưới 1 là
390 lít/ gốc chu kì tưới lập lại là 25 ngày lần thứ 2 tưới 520 lít/ gốc lần thứ 3 tưới
650 lít/ gốc Những giai đoạn sau tưới 600 lít/ gốc và chu kì tưới cách nhau 25 ngày chu kì tưới nước và lượng nước tưới cho cây cà phê (Bộ NN&PTNT, 2016)
1.1.3.6 Phân bón:
Phân hữu cơ:
Phân chuồng hoai mục được bón định kỳ 4-5 năm một lần với khối lượng khoảng 25-30 tấn/ha đối với đất tốt (hàm lượng mùn trên 3%), trên đất xấu bón định
kỳ 2-3 năm một lần với liều lượng 10-15 kg/ gốc Nếu không có phân chuồng có thể
bổ sung nguồn hữu cơ cho đất bằng các loại phân xanh hay phân hữu cơ khác Hằng năm tiến hành chôn vùi các tàn dư thực vật trong lô như cành nhỏ, lá và vỏ quả cà phê
Trang 12Phân hữu cơ được bón theo rãnh vào đầu hay giữa mùa mưa, rãnh được đào dọc theo một bên thành bồn rộng 20 cm, sâu 25-30 cm và sau khi bón phân cần lấp đất lại Các năm sau rãnh được đào theo hướng khác (Bộ NN&PTNT, 2016)
Phân hóa học:
Liều lượng: bón phân cân đối và hợp lý cho từng lô cần căn cứ vào độ phì của đất và khả năng cho năng suất của vườn cây Những vùng chưa có điều kiện phân tích đất, lá có thể áp dụng định lượng phân bón sau:
Bảng 1 Định lượng phân bón cho 1 h cà phê Robusta
(Nguồn: Bộ NN&PTNT, 2016)
Định lượng phân bón trên được bón làm 4 lần trong năm
Lần 1 (giữa mùa khô, kết hợp với tưới nước): Bón 100% phân SA Lần 2 (đầu mùa mưa): 30% phân urê, 30% phân kali và 100% phân lân Lần 3 (giữa mùa mưa): 40% phân urê, 30% phân kali Lần 4 (trước khi kết thúc mùa mưa 1 tháng): 30% phân urê, 40% phân kali
Riêng năm thứ nhất (trồng mới): toàn bộ phân lân được bón lót Phân urê và phân kali được chia đều và bón 2 lần trong mùa mưa
Cách bón: Phân lân rải đều trên mặt cách gốc 30-40 cm Không được trộn phân lân nung chảy với phân đạm Phân kali và đạm có thể trộn đều và bón ngay Đào rãnh chung quanh tán, rộng 10-15 cm, sâu 5 cm rải phân đều và lấp đất (Bộ NN&PTNT, 2016)
1.1.3.7 Về côn trùng sâu bệnh hại:
Côn trùng sâu hại:
Rệp vảy xanh, nâu
Tên khoa học: Coccus viridis, Saissetia hemisphaerica
Phòng trừ rệp vảy xanh Coccus viridis và rệp vảy nâu Saissetia hemisphaerica: Rệp có một số thù địch thiên nhiên như ong, bọ rùa và nấm Verticillium Trong nhiều trường hợp, chúng sẽ làm giảm mức độ phá hoại của rệp
Biện pháp hóa học - có thể áp dụng chung hoặc tương tự Rệp sáp - Pseudococcus mercaptor Phun Dầu Khoáng với liều lượng 200 ml / 20 lít nước phải
Trang 13phun ướt đều khắp cành là cây Không sử dụng dầu ô tô Dùng hoạt chất Dimethoat như Dimecide 40% phối trộn với Cypersect 10% (50ml Dimecide + 50ml Cypersect + 20 lít nước) phun ướt đều toàn cây khi rệp mới xuất hiện Nếu mật độ rệp cao cần phun lặp lại sau 7-15 ngày Dùng các thuốc có hoạt chất Chlorpyrifos Ethyl hoặc Carbosulfan
Sâu đục thân mình hồng (Zeuzera coffeara)
Biện pháp quản lý sâu đục thân mình hồng (đỏ) Zeuzera coffeara: Trồng cây che bóng làm giảm cường độ ánh sáng Tạo hình sửa cành cho cây có một dạng hình cân đối Thân cây được che phủ từ trên xuống dưới Cắt bỏ những cành khô chết, dùng móc sắt để bắt sâu Với cây bị hại nặng cần cưa cắt đoạn thân có sâu đem đốt tiêu hủy
Ngoài ra sử dụng một số hoạt chất sau để phòng trừ: Profenofos hay hỗn (Profenofos + Cypermethrin) Nitox 30EC (Dimethoate 27% + Cypermethrin 3%)
sử dụng ở nồng độ 0.25% - 0.3% (25 - 30ml thuốc + 10ml nước) Nibas (Fenobucarb 50%) sử dụng ở nồng độ 0.30% - 0.35% (30 - 35ml thuốc + 10 lít nước) Bini 58 (Dimethoate 40%) sử dụng ở nồng độ 0.25% - 0.35% (25 - 35ml thuốc + 10 lít nước) Bonus 40EC (Chlorpyrifos Ethyl 40%): sử dụng ở nồng độ 0.2 – 0.25% hoặc Dùng ống tiêm thuốc vào lỗ đục sau đó bịt kín lỗ bằng đất sét bằng các loại thuốc như: Fastac 5EC; Cyper 5EC; Sumi Alpha 5EC; Oncol 20EC; Nurelle D 25/ 2.5EC; Hopsan 75ND; Ofunack 40EC; Sumithion 50EC,
Mọt đục cành:
Khả năng gây hại của mọt đục cành cà phê: Mọt (thành trùng) đục vào mặt dưới của cành bằng một lổ nhỏ (1mm), xâm nhập vào giữa, đào thành một hầm ngầm, mỗi con cái có thể đẻ khoảng 30-50 trứng vào đó Sâu non phát triển ở thành vách của hầm ngầm
Biện pháp quản lý và phòng trừ mọt đục cành cà phê trồng cây che bóng mát Nên cắt bỏ đồng loạt trong vườn phần bị mọt hại và đốt tiêu hủy Phun một trong các hoạt chất sau để diệt thành trùng: Lamda-cyhalothrin, Cypermethrin, Profenofos…
Có thể dùng các loại thuốc gốc: Abamectin (Tungatin 3.6EC); Abamectin 50g/l + Matrine 5g/l (Amara 5EC) Emamectin benzoate (Tungmectin 1.9EC), Diazinon (Diaphos 50EC), Chlorpyrifos Ethyl + Cypermethrin (Tungcydan 55EC)
Trang 14Ve sầu:
Biện pháp canh tác: Chăm sóc cây sinh trưởng tốt tăng sức đề kháng cho cây Tạo tán, tỉa cành thông thoáng để hạn chế trưởng thành đẻ trứng Hàng năm sau khi thu hoạch xong cần cào bồn tạo môi trường sống bất lợi cho ấu trùng ve sầu tuổi nhỏ (tuổi 1-2) Tỉa bỏ và thu gom tiêu huỷ các cành nhỏ mà ve sầu đã đẻ trứng Dùng các lưới nylon bao quanh thân, cành cây ngăn không cho ve sầu đẻ trứng vào thời kỳ vũ hoá hàng năm (tháng 5-6) Dùng màng nilon phủ dưới đất xung quanh gốc cây không cho ấu trùng ve sầu sau khi nở chui xuống đất (tháng 6-9) Dùng các loại keo dính: có thể dùng keo dính chuột hoặc một số loại keo khác có độ dính cao
có tẩm thuốc BVTV bôi xung quanh thân cà phê ở đoạn gốc cách mặt đất 10-20cm, nhằm ngăn chặn và tiêu diệt ấu trùng ve sầu từ dưới đất leo lên cây vũ hoá Dùng tăm xe chọc sâu 25-30cm vào lỗ trong đất để giết ấu trùng ve sầu
Biện pháp sinh học Dùng bẫy đèn thu hút trưởng thành ở giai đoạn vũ hoá rộ (tháng 5-9) vào bẫy để tiêu diệt Hạn chế tối đa việc dùng thuốc BVTV tiêu huỷ trắng thảm thực vật (cỏ dại) nhằm duy trì hệ sinh vật đất và giữ phong phú hệ rễ thực vật, tạo nhiều nguồn thức ăn cho ấu trùng
Biện pháp hoá học: Thường xuyên kiểm tra rễ cà phê, khi phát hiện có nhiều
ấu trùng gây hại thì phải tiến hành xử lý bằng các loại thuốc sau: Diazinon (Cazinon
10 GR), Fipronil (Regent 0.3GR, Suphu 10GR), Chlorpyrifos Methyl (Sago – Super
3 GR), Chlorpyrifos Ethyl + Permethrin (Tasodant 6GR) (Bộ NN&PTNT, 2016)
Một số bệnh hại cà phê:
Gỉ sắt (Hemileia vastatis)
Biện pháp quản lý: Trồng giống kháng hay chống chịu bệnh, tỉa cành cho cây thông thoáng Vệ sinh vườn cà phê, làm cỏ sạch để hạn chế sự lây lan và phát triển bệnh, chăm sóc và bón phân cân đối Phun thuốc khi bệnh chớm xuất hiện, phun lại khi điều kiện áp lực bệnh cao Phun ướt đều cả hai mặt lá bằng 1 trong các loại
thuốc sau: Anvil 5SC, Tilt Super 300EC hay hỗn hợp các hoạt chất (Azoxystrobin +
Difenoconazole); (Mandipropamid + Chlorothalonil) …
Bệnh nấm hồng (Corticium salmonicolor)
Biện pháp quản lý: Cắt tỉa, tạo thông thoáng cho vườn được Khi bệnh hại nặng cần cắt bỏ những đoạn cành bị bệnh đốt tiêu hủy kết hợp phun luân phiên các
Trang 15loại thuốc Anvil 5SC hay hỗn hợp các hoạt chất (Propiconazole +Difenoconazole);
(Azoxystrobin + Difenoconazole); (Mandipropamid + Chlorothalonil)
Bệnh vàng lá rụng trái cà phê
Điều kiện phát sinh, phát triển: Bệnh vàng lá rụng trái xuất hiện trên vườn bón phân không đầy đủ hoặc không kịp thời, thiếu trung, vi lượng, các vườn cây già cỗi, có dấu hiệu sinh trưởng chậm, ít cành non và chồi vượt, trái nhỏ, ít rễ tơ, cây cằn cỗi… dù được bón phân đầy đủ lá vẫn bị vàng hàng loạt
Biện pháp quản lý: Cắt tỉa các cành khô, già cỗi, chồi vượt, cành tăm, cành bị sâu bệnh… cho vườn thông thoáng, cây phát triển tốt, tăng sức chống chịu sâu bệnh, hạn chế sự lây lan của dịch hại gây rụng trái Thường xuyên thu gom tiêu hủy các cành, lá, hoa quả bị bệnh, bón phân cân đối, tăng cường bón phân chuồng Nếu thiệt hại xuất phát từ các tác nhân sinh học, cần chẩn đoán kỹ và sử dụng thuốc hóa học đúng theo từng tác nhân một (Sygenta, 2017)
1.1.4 Cách thức thu hoạch và chế biến
Quả cà phê là đối tượng thu hoạch, nó là sản phẩm của quá trình trồng trọt nhưng lại là nguyên liệu cho chế biến Thu hoạch là khâu chuẩn bị nguyên liệu cho chế biến; nguyên liệu có chất lượng tốt có thể chế biến ra sản phẩm chất lượng cao hoặc thấp, nhưng nguyên liệu có chất lượng kém thì không thể chế biến ra loại cà phê chất lượng cao Vì vậy khâu thu hoạch có vai trò rất quan trọng trong chuỗi sản xuất và chế biến cà phê
Thời điểm thu hoạch: Thông thường, ở vùng Tây Nguyên, thời vụ thu hoạch
cà phê chè từ tháng 8 -tháng 10; thời vụ thu hoạch cà phê vối từ tháng 10 - tháng 1 năm sau, tập trung nhất vào khoảng tháng 11 - 12
Về nguyên tắc, khi thu hoạch bằng tay, việc chọn hái các quả chín thực hiện bằng cách nhìn màu sắc Quả chín thường có màu đỏ hoặc vàng, các quả chưa chín thì cómàu xanh, trong khi các quá chín nẫu thường có màu đỏ sẫm đến đen hoàn toàn Có các phương pháp hái như: Tuốt một lần tất cả các cành có quả Tuốt chọn hái tuốt nhiều lần, chỉ hái ở những cành mang nhiều quả chín, hái chọn nhiều lần, chỉ hái những quả chín Lựa chọn phương pháp thu hái phụ thuộc vào điều kiện lao động, chi phí cho phép yêu cầu về nguyên liệu của phương pháp chế biến
Phương pháp hái chọn được khuyến khích Khi thực hiện hái chọn cần chú ý các điểm sau: Trải bạt xuống dưới tán cây sao cho che phủ hết bề mặt đất dưới tán;
Trang 16chú ý không để khe hở giữa hai tấm bạt Hái quả và cho rơi xuống bạt Hái quả ở các cành bên trên trước rồi đến các cành giữa và cuối cùng là các cành phía dưới Trong khi hái, cần tránh làm văng quả ra ngoài đất Cần hạn chế sử dụng cả bàn tay
để tuốt cành không lựa chọn Chỉ dùng các ngón tay của cả 2 bàn tay thì mới hái chọn được các quả chín Sau khi hái hết quả chín ở một cây, dồn quả vào giữa mỗi tấm bạt và kéo sang cây tiếp theo trên cùng một hàng Công việc thu hái trên cây tiếp theo được thực hiện tương tự như trên cây vừa hái Trong mỗi đợt thu hái cần
đi theo từng hàng, hái xong hàng này mới hái sang hàng khác Tránh bỏ sót cây có quả chín mà không được hái Khi khối lượng quả trên bạt đủ lớn (có thể dồn được vài bao và kéo thấy nặng tay) thì thực hiện việc dồn bao
Việc lưu giữ quả tươi lâu làm khối quả bốc nóng và tạo nguy cơ hại chất lượng nhân, làm nhiều hạt bị mốc, bị biến màu; đồng thời làm hao hụt khối lượng nhân Vì vậy, trong trường hợp chế biến không kịp, cần đổ quả trên nền khô ráo, sạch sẽ và thoáng mát, chiều dày lớp quả không quá 30cm để tránh khối quả bốc nóng Phơi đến khi nhân khô là được Cách kiểm tra: Lấy một số quả và tách hạt bên trong, cắn thử, nếu hạt cứng và không còn dấu răng trên hạt thì coi như đã khô Ngoài ra có thể dùng máy để xát dập quả, không dùng nước, tạo ra một hỗn hợp cả
cà phê thóc, nửa quả và vỏ quả rồi đem phơi khô Xát dập trước khi phơi giúp phơi
cà phê nhanh khô hơn việc phơi quả Quả xanh khi xát dập có thể làm lột toàn bộ hay một phần vỏ thóc ra khỏi nhân cà phê (Lê Ngọc Báu và cs., 2016)
1.5 Tổng quan huyện Lâm Hà
Lâm Hà là huyện kinh tế mới và vùng đồng bào dân tộc của tỉnh Lâm Đồng, được thành lập theo Quyết định số 157 QĐ/HĐBT ngày 24- 10-1987 của Hội Đồng
Bộ trưởng nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Vị trí: Phía Bắc giáp huyện Đam Rông, phía Nam giáp huyện Di Linh, phía Đông và Đông Nam giáp thành phố Đà Lạt và huyện Đức Trọng, phía Tây giáp tỉnh Đắk Nông Diện tích tự nhiên của huyện Lâm Hà là 97.852,49 ha (978,52 km²) Dân
số huyện Lâm Hà đến cuối năm 2019 là 144.707 người
Điều kiện tự nhiên khá thuận lợi, huyện Lâm Hà phát triển mạnh kinh tế nông nghiệp với trồng và chế biến các loại cây lâu năm như trà, cà phê và dâu tằm Lâm Hà có một số đặc sản nổi tiếng như: gạo thơm Tân Văn, nếp Tân Hà, chè Lán Tranh, chuối La Ba, cà phê Phú Sơn, rượu Cát Quế v.v… Cây công nghiệp dài ngày
Trang 17phát triển nhanh, đã hình thành các vùng chuyên canh với sản lượng hàng hoá ngày càng lớn, tạo vùng nguyên liệu cho công nghiệp chế biến và xuất khẩu Rừng của huyện Lâm Hà chiếm 57,34% diện tích tự nhiên với 90.977,21 ha Độ che phủ của rừng còn lớn, trữ lượng gỗ đạt 7 triệu mét khối và 85 triệu cây tre nứa Ngoài các loại gỗ thông dụng còn có nhiều loại gỗ quý hiếm như cẩm lai, trắc, gõ, sao, xá xị Đặc biệt trong rừng còn có nhiều loại dược liệu tự nhiên và có khả năng trồng với diện tích lớn như: sâm Bố Chính, sâm cau, sâm chân rết, tam thất, sa nhân, đỗ trọng, canh ki na, quế v
Huyện Lâm Hà có địa hình nữa cao nguyên, chia làm ba dạng địa hình chính: dạng địa hình đồi núi cao, dạng địa hình đồi núi thấp, dạng địa hình vùng bằng và trũng
Huyện Lâm Hà nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nhưng do ở độ cao trên 800m so với mặt nước biển nên khí hậu có những nét độc đáo Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 210C, biên độ dao động nhiệt giữa ngày và đêm lớn, nắng nhiều, độ ẩm không khí trung bình 80% thích hợp với tập đoàn cây á nhiệt đới
và nhiều loại cây trồng vùng ôn đới, tiềm năng năng suất cao, chất lượng sản phẩm tốt Mùa mưa từ tháng 5-10; riêng tháng 8 lượng mưa giảm và có các đợt hạn ngắn nên khá thuận lợi cho thu hoạch vụ hè thu Mùa khô kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau
Nguồn nước mặt chủ yếu của huyện Lâm Hà là hệ thống sông Đa Dâng bao gồm dòng chính chảy bao quanh ranh giới phía Nam (cón gọi là sông Đồng Nai), Tây Nam và một nhánh lớn chảy trong nội địa huyện (còn có tên là sông Đạ Đờn),
là nguồn cấp chính cho tưới tiêu Mật độ suối khá dày (từ 0,52-1,1Km/Km2), trong
đó có suối Cam Ly chảy qua phía Đông Nam của huyện Đập thuỷ nông Đạ Đờn bảo đảm nước tưới cho khoảng 2.000 ha lúa 2 vụ và hàng ngàn hecta vườn cây công nghiệp khác Đập Cam Ly Thượng có thể bảo đảm nước tưới cho vùng cây công nghiệp của thị trấn Nam Ban và 3 xã trong khu vực này Hệ thống mặt nước được phân bố đều khắp bảo đảm giữ ẩm, tăng mạch nước ngầm, điều hòa hệ sinh thái, giúp cho rừng và tập đoàn cây trồng khá phong phú của huyện Lâm Hà phát triển thuận lợi
Cây lâu năm: Tổng diện tích cây lâu năm toàn huyện đạt 45.908 ha, tăng 1,2% so cùng kỳ Trong đó, 3 loại cây chủ lực như: cây cà phê đạt 40.290 ha, giảm
Trang 180,1% so với cùng kỳ, do chủ yếu được chuyển đổi sang trồng dâu và rau hoa nhà kính; cây dâu tằm đạt 3.036 ha, tăng 15,2% so với cùng kỳ; cây chè 220 ha, giảm 1,9% so cùng kỳ và một số loại cây trồng chính khác như: Cây ăn quả các loại đạt
914 ha, tăng 3,9% so với cùng kỳ; cây hồ tiêu đạt 400 ha, giảm 10,8% so cùng kỳ Chuyển đổi cơ cấu cây trồng: Thường xuyên kiểm tra chất lượng, nguồn gốc cây giống và hướng dẫn nông dân chuyển đổi cơ cấu cây trồng Đối với cây cà phê, người dân đã chủ động bằng nhiều nguồn giống cây, mầm chồi thực hiện tái canh, ghép cải tạo trên những diện tích cà phê già cỗi Kết quả thực hiện: tái canh, trồng mới ước đạt 580 ha/500 ha KH, đạt 116%, ghép cải tạo đạt 600 ha/500 ha KH, đạt 120% (Nguyễn Chí Tuấn, 2012)
1.6 Tình hình sản xuất cà phê trên thế giới
1.6.1 Tình hình sản xuất
Theo ICO (Tổ chức Cà phê Quốc tế) (2019), sản lượng cà phê thế giới niên
vụ 2018 – 2019 ước tăng gần 4% so với niên vụ 2017 – 2018 lên 169.7 triệu bao Trong đó, sản lượng cà phê của Nam Mỹ ước tăng 5% lên hơn 81 triệu bao Sản lượng cà phê của châu Á và châu Đại Dương ước tăng 4% lên lên gần 48,7 triệu bao
và từ châu Phi cũng tăng 3% lên 18,2 triệu bao Sản lượng cà phê tại Mexico và Trung Mỹ ước tăng 0.4% lên 21.7 triệu bao Trong nhiên vụ 2018 - 2019, sản lượng
cà phê arabica ước đạt 104,6 triệu bao, tăng 3.5% so với niên vụ 2018 - 2019 Sản lượng cà phê robusta tăng 0.7% hơn 65 triệu bao (Bảng 2)
Brazil sản xuất nhiều cà phê hơn bất kì nước nào trên thế giới Nước này đặt mục tiêu vượt qua Colombia, trở thành đất nước sản xuất cà phê thượng hạng số 1 thế giới Hiệp hội Cà phê Thượng hạng châu Mỹ cho cà phê đặc sản Brazil 80 trên
100 điểm Brazil dự kiến đạt khoảng 50 triệu bao cà phê trong niên vụ 2019 - 2020, thấp hơn so với mức 62 triệu bao của niên vụ 2018 - 2019 Mặc dù sản lượng niên
vụ hiện nay thấp hơn nhưng Brazil kì vọng lợi nhuận đem lại nhiều hơn niên vụ trước nhờ chất lượng cà phê đã được cải thiện đáng kể
Reuters trích số liệu của Viện cà phê quốc gia IHCAFE, xuất khẩu cà phê của Honduras giảm 28.3% trong tháng 8/2019 so với cùng kì 2018 Xuất khẩu cà phê từ Honduras, nhà xuất khẩu cà phê hàng đầu của Trung Mỹ, đạt 339566 bao (loại 60 kg/bao) trong tháng 8 (ICO, 2019)
Trang 19Bảng 2 Sản lượng cà phê thế giới (Đơn vị tính: Nghìn bao - loại 60kg/bao)
Vụ mùa
2018 (ước tính)
% (2018-2019)
Tổng lượng cà phê xuất khẩu trong 10 tháng của niên vụ 2018 - 2019 tăng 10,2% lên 109.4 triệu bao Trong đó, xuất khẩu cà phê Arabica của Brazil tăng 27.6% lên 35 triệu bao Xuất khẩu cà phê arabica của Colombia tăng 7.6% lên 12.6 triệu bao Xuất khẩu cà phê arabica của các nước khác trong 10 tháng đầu niên vụ giảm 3.7% xuống 22.8 triệu bao Xuất khẩu cà phê robusta tăng gần 7% lên 38.9 triệu bao trong 10 tháng đầu niên vụ 2018 - 2019
Xuất khẩu cà phê xanh trong 10 tháng đầu niên vụ 2018 - 2019 chiếm 91.3% tổng lượng cà phê xuất khẩu trên toàn thế giới đạt 99.8 triệu bao Mức này chỉ thấp hơn một chút so với cách đây 30 năm, thời điểm xuất khẩu cà phê xanh chiếm khoảng 95% tổng lượng cà phê xuất khẩu toàn cầu Lượng cà phê hòa tan xuất khẩu chiếm đạt 9 triệu bao trong khi cà phê rang chỉ đạt hơn 48000 bao trong niên vụ
2018 - 2019 (ICO, 2019)
Trang 201.6.3 Dự báo
ICO dự báo lượng tiêu thụ trong cà phê trong niên vụ 2018 – 2019 tăng hơn 2% lên 164,7 triệu bao So với mức tăng trưởng mạnh hơn từ sản lượng, tính đến cuối niên vụ 2018 – 2019, ICO dự báo thế giới có thể thặng dư gần 5 triệu bao cà phê Tuy nhiên, theo Công ty tư vấn Safras và Mercado, sản lượng cà phê của Brazil năm 2019 dự báo đạt 58.9 triệu bao, giảm nhẹ so với mức kỉ lục 62 triệu bao trong năm 2018 (ICO, 2019)
1.7 Tình hình sản xuất và tiêu thụ cà phê tại Việt Nam
1.7.1 Tình hình sản xuất
Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Chủ đầu tư dự án Chuyển đổi nông nghiệp bền vững tại Việt Nam (VnSAT) cho biết theo mục tiêu đến cuối dự án cần đạt là 10000 ha được tái canh đúng kỹ thuật, sử dụng nguồn giống đạt tiêu chuẩn và áp dụng các kỹ thuật canh tác bền vững Thông qua các hoạt động hỗ trợ tích cực, đến nay diện tích cà phê tái canh trong vùng dự án đã thực hiện được
14133 ha, đạt 141% mục tiêu đề ra
Theo Bộ NN&PTNT, tính đến hết tháng 9/2019, diện tích cà phê cả nước ước đạt 688300 ha, năng suất đạt trung bình 2,6 tấn/ha, sản lượng cà phê nhân năm
2018 ước đạt 1623 triệu tấn, tăng 94000 tấn so với năm trước Cây cà phê hiện được trồng tại 20 tỉnh, nhiều nhất là Đắk Lắk với gần 210000 ha, Lâm Đồng hơn 170000
ha, Đắk Nông khoảng 130000 ha (Bộ Công Thương, 2019)
1.7.2 Tiêu thụ
Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, năm 2018 xuất khẩu cà phê sang khu vực ASEAN đạt 198851 tấn, trị giá 375 triệu USD, tăng 135.7% về lượng
và tăng 92.1% về trị giá so với năm 2017
Trong khối ASEAN, In-đô-nê-xi-a là thị trường xuất khẩu cà phê lớn nhất của Việt Nam với lượng đạt 62.3 nghìn tấn trong năm 2018, trị giá 123.48 triệu USD, tăng 343.5% về lượng và tăng 273.2% về trị giá so với năm 2017 Thái Lan là thị trường xuất khẩu cà phê lớn thứ 2 trong khu vực ASEAN, đạt 58.85 nghìn tấn, trị giá 105.13 triệu USD năm 2018, tăng 99% về lượng và tăng 54.8% về trị giá so với năm 2017
Xuất khẩu cà phê năm 2018 sang Lào giảm mạnh, giảm 46.1% về lượng và giảm 17.9% về trị giá so với năm 2017, đạt 2.27 nghìn tấn, trị giá 10.27 triệu USD
Trang 21Giá xuất khẩu bình quân cà phê sang khu vực ASEAN năm 2018 đạt mức 1886 USD/tấn, giảm 18.5% so với năm 2017 Trong đó, giá xuất khẩu bình quân cà phê sang Lào đạt mức cao 4517 USD/tấn, tăng 52.4% so với năm 2017 do chủ yếu là xuất khẩu cà phê chế biến Giá xuất khẩu bình quân cà phê của Việt Nam sang các thị trường khác như In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Phi-líp-pin giảm mạnh
Việt Nam là nguồn cung cà phê lớn nhất cho Thái Lan với tốc độ nhập khẩu tăng trưởng khả quan 42,3% về lượng và 11,1% về trị giá so với năm 2017 Thị phần cà phê Việt Nam trong tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan tăng mạnh, từ 72,4% tỷ trọng năm 2017, lên 92,4% tỷ trọng năm 2018 (Bộ công thương, 2019)
1.7.3 Dự báo
Bộ Nông nghiệp Mỹ dự báo sản lượng cà phê của Việt Nam tăng thêm
100000 bao so với năm ngoái với mức kỉ lục 30.5 triệu bao Trong 4 tháng đầu năm nay, các vùng sản xuất cà phê chính ở Tây Nguyên phải trải qua thời tiết khô và nắng Mùa mưa đến hơi chậm nhưng vẫn đủ để cây ra hoa và đậu quả tốt
Cục Chế biến và Phát triển Thị trường Nông sản dự báo giá cà phê thế giới
và trong nước trong ngắn hạn sẽ giảm do dự báo thị trường cà phê toàn cầu tiếp tục
dư thừa nguồn cung
Theo ICO, xuất khẩu cà phê toàn cầu trong 6 tháng đầu niên vụ 2018-2019 đạt gần 3.8 triệu tấn, tăng 4.1% so với cùng kỳ năm trước Trong đó, cà phê arabica chiếm 2.5 triệu tấn, tăng 7.1% và robusta đạt 1.3 triệu tấn, giảm 0.9%
Mặc dù sản lượng giảm, Việt Nam vẫn là nước xuất khẩu cà phê lớn thứ hai thế giới trong năm 2018 - 2019 Xuất khẩu trong 9 tháng đầu niên độ giảm 3,9% xuống còn 21,1 triệu bao Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, lương tồn kho trong nước không nhiều nên người giữ hàng có tâm lý kỳ vọng giá cà phê nội địa sẽ tăng lên 35 - 36 triệu đồng/tấn Tuy nhiên, do lượng cà phê Việt Nam còn ít nên mức độ ảnh hưởng lên giá kỳ hạn tại sàn London rất hạn chế Dự báo, sự kháng giá hiện hành tại thị trường nội địa của các nước xuất khẩu sẽ sớm kéo giá cà phê trong nước và thế giới ra khỏi vùng giá thấp Tuy vậy, áp lực bán robusta từ Brazil vẫn lớn sẽ gây sức ép đáng kể cho giá cà phê trên thị trường London (Trần Đức Quỳnh và cs., 2019)