Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc về tất cả mọi mặt, không chỉ yêu cầu giá trị kinh tế về cuộc sống chỉ đủ ăn nữa, mà con người ngày càng hướng về xu hướng “ăn ngon – mặc đẹp” chính vì thế giá trị tinh thần ngày càng được nâng cao. Trong đó hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, hoa Baby có thể sử dụng làm vật trang trí trong nhà, tạo cảnh quan và giúp không khí trong lành. Bên cạnh đó, hoa Baby cũng là một trong những loại hoa được nhiều người ưa chuộng và là một trong những loài hoa đem lại giá trị kinh tế cao cho người trồng. Đối với hoa Baby ở Việt Nam nói chung và thành phố hoa Đà Lạt nói riêng thì diện tích trồng hoa Baby chưa nhiều nên vẫn còn thiếu hụt hàng trên thị trường cao, chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng. Tuy nhiên khó khăn cho người dân Đà lạt là vấn đề về giống. Đa số giống thì sẽ được cung cấp từ công ty Dalat Hasfarm hợp đồng với nông dân ở Đà Lạt, nhập khẩu từ các nước như Hà Lan, … trên thị trường rất khan hiếm giống, đặc biệt là cung cấp cho các vườn diện tích lớn, mà đặc biệt đối với loài cây này thì ta khó có thể sử dụng các biện pháp nhân giống như giâm cành, chiết cành. Chính vì thế xuất phát từ những khó khăn trên thì việc lựa chọn kỹ thuật nuôi cấy mô hoa Baby là thích hợp nhất để nhân giống cây trồng này. Cùng với đó việc nghiên cứu để làm sao nhân nhanh số lượng giống và đem lại nguồn giống chất lượng cao để phục vụ nhu cầu cho nông dân canh tác hoa của thành phố Đà Lạt là rất cần thiết. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, công nghệ vi nhân giống cây hoa Baby ra đời là giải pháp quan trọng phát triển cây giống hoa thương mại và cùng với mong muốn thúc đẩy ngành trồng hoa Baby như một loại nông sản có giá trị cao trong cơ cấu cây trồng tại Đà Lạt, tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA và ánh sáng đèn led đến quá trình nhân giống hoa Baby (Gypsophila paniculata) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật”.
Trang 1ẢNH HƯỞNG CỦA CHẤT ĐIỀU
HÒA SINH TRƯỞNG BA (6-BENZYLAMINO PURINE) VÀ ÁNH SÁNG ĐÈN LED ĐẾN QUÁ TRÌNH NHÂN CHỒI GIỐNG HOA
BABY (Gypsophila paniculata) BẰNG
KỸ THUẬT NUÔI CẤY MÔ TẾ BÀO
THỰC VẬT
Trang 3DANH MỤC BẢNG
Bảng 1: Các nhóm vitamin 15
Bảng 2: Ngưỡng sử dụng chất điều hòa sinh trưởng 15
Bảng 3: Môi trường MS (Murashige – Skoog) 19
Bảng 4: Các yếu tố thí nghiệm 20
Bảng 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 22
Bảng 6 Tỷ lệ cây ra chồi của cây hoa baby trong 14 ngày nuôi cấy 23
Bảng 7 Số chồi của cây hoa baby trong 28 ngày nuôi cấy 25 Bảng 8 Chiều cao cây trung bình của cây hoa Baby trong 28 ngày nuôi cấy 27
Trang 4DANH MỤC HÌNH ẢNH
Hình 1: Gypsophila paniculata (Thomé, 1885) 3
Hình 2: Các loại khác nhau của hoa Baby 4 Hình 3: Thân, rễ, lá và hoa của hoa Baby 7 Hình 4: Ảnh hưởng của BA lên chiều cao của cây hoa Baby trên nghiệm thức ánh sáng 10 vàng: 10 xanh: 80 đỏ sau 28 ngày nuôi cấy 29 Hình 5: Ảnh hưởng của BA lên chiều cao của cây hoa Baby trên nghiệm thức ánh sáng 10 vàng: 20 xanh: 70 đỏ sau 28 ngày nuôi cấy 30 Hình 6: Ảnh hưởng của BA lên chiều cao của cây hoa Baby trên nghiệm thức ánh sáng 100% LED vàng sau 28 ngày nuôi cấy 30 30 Hình 7: Ảnh hưởng của BA lên chiều cao của cây hoa Baby trên nghiệm thức ánh sáng đèn huỳnh quang sau 28 ngày nuôi cấy 30
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Tính cấp thiết của đề tài 1
2 Mục đích của đề tài 1
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài 2
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
1.1 Khái quát về cây hoa Baby 3
1.1.1 Phân loại và nguồn gốc 3
1.1.2 Giá trị sử dụng hoa Baby 5
1.1.3 Đặc điểm thực vật học 5
1.1.4 Yêu cầu sinh thái cây hoa Baby 7
1.2 Đặc tính sinh lý của chất kích thích sinh trưởng thực vật cytokinin 9
1.3 Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật 10
1.3.1 Bóng đèn huỳnh quang 10
1.3.2 Đèn LED (Light – Emitting – Diode) 11
1.3.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của đèn LED đến sinh trưởng của cây nuôi cấy mô 12
1.4 Khái quát về môi trường nuôi cấy 12
1.4.1 Môi trường nuôi cấy 12
1.4.2 Thành phần môi trường 13
1.4.3 Các muối khoáng vi lượng 14
1.4.4 Các vitamin 14
1.4.5 Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật 15
1.4.6 Chất bổ sung vào môi trường 16
1.4.7 Độ pH của môi trường 16
1.5 Tình hình nghiên cứu hoa Baby trên thế giới và Việt Nam 16
1.5.1 Trên thế giới 16
1.5.2 Ở Việt Nam 17
CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 18
2.1 Địa điểm, thời gian, vật liệu nghiên cứu 18
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 18
2.1.2 Thời gian nghiên cứu 18
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu 18
Trang 62.2 Nội dung nghiên cứu 18
Nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA và ánh sáng đèn LED đến nhân nhanh giống hoa BaBy bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật 18
2.3 Mục đích nghiên cứu 18
2.4 Phương pháp nghiên cứu 19
2.4.1 Môi trường nuôi cấy 19
2.4.2 Điều kiện nuôi cấy: 20
2.4.3 Phương pháp bố trí thí nghiệm 20
2.5.2 Chỉ tiêu theo dõi 22
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu: 22
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 23
3.1 Ảnh hưởng của BA và nghiệm thức ánh sáng lên tỷ lệ phần trăm cây ra chồi của cây hoa Baby 23
3.2 Ảnh hưởng của BA và nghiệm thức ánh sáng lên số chồi của cây hoa Baby 25
3.3 Ảnh hưởng của BA và nghiệm thức ánh sáng lên chiều cao cây trung bình của cây hoa Baby 27
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 31
TÀI LIỆU THAM KHẢO 32 PHỤ LỤC
Trang 7MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ngày nay, với sự phát triển vượt bậc về tất cả mọi mặt, không chỉ yêu cầu giá trị kinh tế về cuộc sống chỉ đủ ăn nữa, mà con người ngày càng hướng về xu hướng
“ăn ngon – mặc đẹp” chính vì thế giá trị tinh thần ngày càng được nâng cao
Trong đó hoa là một sản phẩm đặc biệt của cây trồng, hoa Baby có thể sử dụng làm vật trang trí trong nhà, tạo cảnh quan và giúp không khí trong lành Bên cạnh đó, hoa Baby cũng là một trong những loại hoa được nhiều người ưa chuộng
và là một trong những loài hoa đem lại giá trị kinh tế cao cho người trồng Đối với hoa Baby ở Việt Nam nói chung và thành phố hoa Đà Lạt nói riêng thì diện tích trồng hoa Baby chưa nhiều nên vẫn còn thiếu hụt hàng trên thị trường cao, chưa đáp ứng được nhu cầu người tiêu dùng
Tuy nhiên khó khăn cho người dân Đà lạt là vấn đề về giống Đa số giống thì
sẽ được cung cấp từ công ty Dalat Hasfarm hợp đồng với nông dân ở Đà Lạt, nhập khẩu từ các nước như Hà Lan, … trên thị trường rất khan hiếm giống, đặc biệt là cung cấp cho các vườn diện tích lớn, mà đặc biệt đối với loài cây này thì ta khó có thể sử dụng các biện pháp nhân giống như giâm cành, chiết cành
Chính vì thế xuất phát từ những khó khăn trên thì việc lựa chọn kỹ thuật nuôi cấy mô hoa Baby là thích hợp nhất để nhân giống cây trồng này Cùng với đó việc nghiên cứu để làm sao nhân nhanh số lượng giống và đem lại nguồn giống chất lượng cao để phục vụ nhu cầu cho nông dân canh tác hoa của thành phố Đà Lạt là rất cần thiết
Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, công nghệ vi nhân giống cây hoa Baby ra đời
là giải pháp quan trọng phát triển cây giống hoa thương mại và cùng với mong muốn thúc đẩy ngành trồng hoa Baby như một loại nông sản có giá trị cao trong cơ
cấu cây trồng tại Đà Lạt, tôi thực hiện đề tài: “Ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA và ánh sáng đèn led đến quá trình nhân giống hoa Baby (Gypsophila paniculata) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật”
2 Mục đích của đề tài
Xác định được nồng độ chất điều hòa sinh trưởng BA phù hợp với cây hoa Baby để nhân chồi kết hợp với điều kiện ánh sáng khác nhau để tìm điều kiện phù
Trang 83 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Góp phần vào việc nhân nhanh giống hoa Baby nhằm phục vụ nhu cầu trong cuộc sống của con người, làm đẹp cho cảnh quan thiên nhiên
Trang 9CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Khái quát về cây hoa Baby
1.1.1 Phân loại và nguồn gốc
a Phân loại
Chi Gypsophila bao gồm khoảng 125 loài, với Gypsophila paniculata được
trồng nhiều nhất và được thương mại hóa như một bông hoa cắt cành Nó có nguồn gốc ở châu Âu, được đặc trưng như một loại lá thân thảo, lâu năm, nhẹ, màu xanh xám, được sử dụng chủ yếu như là một bổ sung cho các loại hoa cắt khác để sắp xếp
và đặc biệt là để làm cho bó hoa, và hoa của nó là một hoa có nhiều hoa nhỏ màu trắng và hồng
Gypsophila paniculata là loài thực vật có hoa thuộc họ Cẩm chướng Trong
hệ thống phân loại, cây hoa được xếp vào nhóm thực vật hai lá mầm (dicotyleon),
thuộc bộ Caryophyllales, xếp vào họ Caryophyllaceae và có tên khoa học là
Gypsophila paniculata
Giới (regnum): Plantae
Bộ (ordo): Caryophyllales
Họ (familia): Caryophyllaceae
Chi (genus): Gypsophila
Loài (species): Gypsophila paniculata
Nguồn: Handley (2001)
Hình 1: Gypsophila paniculata (Thomé, 1885)
Trang 10b Nguồn gốc
Hoa Baby (bibi) có nguồn gốc ở Châu Âu và vùng ôn đới Châu Á, được đưa vào Bắc Mĩ như loài cây cảnh trang trí vườn vào cuối thế kỉ 19 Sau đó, hoa phân bố rộng khắp ở Canada và Bắc Mĩ Và hiện nay hoa được phổ biến và được trồng đa phần ở khắp mọi nơi trên thế giới Vào năm 1992, công ty hoa Hasfarm của Hà Lan lần đầu đưa hoa Bibi về Việt Nam trồng thử nghiệm tại Đà Lạt Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp ở Đà Lạt, hoa phát triển mạnh và cho năng suất cao Hoa Baby là loài thực vật sinh trưởng lưu niên ra hoa quanh năm, tùy vào từng giống mà nó có những đặc điểm khác nhau về: năng suất, chất lượng, sinh trưởng và phát triển, kích thước, màu sắc và khả năng chống lại các yếu tố bất lợi (nhiệt độ khắc nghiệt, cần ánh sáng và chất dinh dưỡng, khả năng chống lại bệnh tật, v.v.) Trong số các giống được biết đến nhiều nhất là (hình 2):
Bristol Fairy: Hoa nhỏ (đường kính 5-7 mm), bán kép và màu trắng Ra hoa sớm và rất năng suất
Perfecta : Hoa kép, màu trắng và lớn hơn (đường kính 10-13 mm) so với Bristol Fairy
Flamingo: Hoa nhỏ và màu hồng Hoa tăng trưởng ít và sản xuất thấp
Pink Fairy: Màu hồng nhưng hoa kép
Million Star: Hoa nhỏ, lý tưởng cho bó hoa
Golan: Hoa màu trắng, hoa sáng, lá dài và thưa Rất năng suất và thích hợp với khí hậu của Việt Nam
Trang 11Ở Việt Nam hiện này được trồng phổ biến nhất là giống Golan Cây cho năng xuất và giá trị kinh tế cao
1.1.2 Giá trị sử dụng hoa Baby
Hoa Baby có hình dáng nhỏ nhắn nên có thể sử dụng làm vật trang trí trong nhà, tạo cảnh quan và giúp không khí trong lành Hoa Baby được sử dụng như một loại hoa cắm kèm với những loại hoa khác như hoa hồng, hoa đồng tiền, hoa ly,… Ngoài ra hoa còn được sử dụng làm hoa khô tự nhiên, không cần phải sử dụng thuốc bảo quản cũng có thể để được lâu
Hoa Baby là một loại hoa có giá trị sản lượng và giá trị cao Ở điều kiện thích hợp có thể ra hoa quanh năm, tỷ lệ cành cắt và tỷ lệ hoa thương phẩm đều có chất lượng cao Giá trị kinh tế đem lại lợi nhuận cao cho người sản xuất
Hơn nữa đối với cây hoa Baby khi trồng trọt, chăm sóc đơn giản, ít tốn công, đầu tư một lần có thể cho thu liên tục từ 1 đến 2 năm Hình dáng cân đối, hài hòa giá trị thẩm mĩ cao, tươi lâu, dễ tiêu thụ, chính vì thế mà loài hoa này đang được nhân giống và trồng với diện tích canh tác ngày càng tăng
Gypsophila là một chi quan trọng về mặt thương mại Ngoài việc sử dụng làm
hoa cắm chính, cắm kèm trong ngành công nghiệp hoa cắt cành thì nó cũng được dùng như là sinh vật mô hình trong các nghiên cứu và sự hình thành của hoa, ngoài
ra việc sử dụng hoa trong việc tìm và tạo ra thuốc nhuộm màu (xanh, đỏ, vàng….) cho hoa cũng đang được phát triển mạnh
1.1.3 Đặc điểm thực vật học
a Thân, lá
Cây thân thảo lâu năm, phát triển đến 1,2 m, phân nhiều cành nhánh, thân cây
có màu hơi xanh Thân non có nhiều lông nhỏ Lá mọc đối, hình mũi mác hẹp, rộng
2 – 9 mm Đây là loài thực vật sinh trưởng theo hướng ưu thế ngọn, vì vậy cần phải thực hiện cắt tỉa đỉnh để buộc sự phân nhánh của một số lượng lớn thân cây (Darwent, 1975)
Trang 12nước tốt, vì nó dễ bị nấm đất phát triển khi có nước thừa trong đất hoặc trong giá thể (Darwent, 1975)
Gypsophila có nhu cầu nước tương đối thấp và giảm tốc độ thoát hơi nước,
phát triển rộng, dự trữ nhiều chất dinh dưỡng phong phú cho quá trình phát sinh chồi mới vào cuối tháng tư Hoa nở từ đầu tháng bảy và tháng tám Cây mất hầu hết
lá vào thời điểm ra hoa
Đặc biệt, rễ của hoa Baby chứa nhiều chất Gypsophila paniculata saponin Có các tính chất đặc trưng của saponin như chất tẩy rửa, làm tan máu bầm và chống viêm,…
Đây là một loại cây dễ quản lý có thể được trồng trong suốt cả năm Giống Golan có thân cây khỏe, ổn định và chắc chắn, đó là một đặc tính rất quan trọng của giống cây trồng Sự phát triển của nó có thể được chia thành bốn giai đoạn: giai đoạn sinh dưỡng, cảm ứng ra hoa, kéo dài và bắt đầu ra hoa và ra hoa Điều kiện ngày, tức là ngày dài, là bắt buộc để cho phép cây chuyển từ giai đoạn sinh dưỡng sang giai đoạn ra hoa (Darwent, 1966)
c Hoa
Hoa có màu trắng, nhỏ bao phủ khắp nhánh cây Đường kính hoa khoảng 0,6 –
1 cm, với nhiều tầng cánh hoa nhỏ xếp chồng lên nhau theo một vòng tròn, dài 2 – 4
mm, không có lông Hoa lưỡng tính, có mười nhị và hai vòi nhụy trong mỗi hoa Trong tự nhiên, hoa chỉ xuất hiện sau 3 năm cây sinh trưởng sinh dưỡng Vào năm đầu tiên, mỗi cây chỉ có một chồi phát triển, không có sự phân nhánh Rễ phát triển nhanh trong suốt 2 năm đầu Khi trưởng thành, cây có hệ thống rễ khỏe, đâm sâu xuống đất (Darwent, 1975)
Trong trồng trọt, hoa xuất hiện sau từ 3 đến 4 tháng sau khi trồng, vào năm đầu tiên cây cho ra từ 3 đến 5 cành bông, càng về sau cây có sự phân nhánh (cây tự phân nhánh tự nhiên hoặc sử dụng phương pháp ngắt ngọn để làm mất hiện tượng
ưu thế ngọn tạo nhiều chồi mới cho cây) số lượng cành bông càng tăng lên nhiều hơn trước
Hoa thu hút nhiều loài ong và ruồi Cây thường được trồng trong vườn và luống hoa, có thể phát tán ra bên ngoài vườn trồng và xâm lấn vào đồng cỏ
Trang 13Giống Gypsophila paniculata Golan có hoa trắng gấp đôi kích thước trung bình, đường kính 0,9 cm, có thời gian ra hoa sớm, vào mùa hè nó có thể đạt 7 – 8 tuần, trong khi vào mùa đông nó đạt 10 – 11 tuần
d Quả
Quả được hình thành vào giữa tháng bảy Quả nang, hình cầu, chứa 2 – 5 hạt Một cây thường cho trung bình 14.000 hạt Hạt có màu đen, dài 1 – 2 mm, hình hạt đậu Phần lớn các hạt được phát tán gần cây, một số hạt theo gió phát tán đến các địa điểm xa hơn Gió có khả năng vận chuyển hạt khoảng 1 km Hạt nảy mầm tối đa
ở nhiệt độ từ 10°C đến 28°C (Darwent, 1975)
Hình 3: Thân, rễ, lá và hoa của hoa Baby
1.1.4 Yêu cầu sinh thái cây hoa Baby
Cây phát triển trong cả đất tốt và đất khô nhưng không chịu được đất chua Cây thường sống trên các thảo nguyên ở những nơi khá khô, cát và đá, thường trên đất đá vôi, dưới ánh nắng mặt trời đầy đủ, có thể tồn tại trong mùa đông ẩm ướt, có thể chịu được sự thay đổi đáng kể của nhiệt độ và độ ẩm Tại Canada, hoa Baby phát triển mạnh mẽ nhất trong khu vực lượng mưa thấp (Darwent, 1966)
a Nhiệt độ
Nhiệt độ tác động mạnh mẽ đến hoạt động quang hợp, hô hấp, hấp thụ các chất dinh dưỡng trong đất của cây trồng… Nhiệt độ không khí cao thúc đẩy quang hợp, làm cho hoa nở nhanh hơn… nhưng quá cao (>40°C) thì lại ức chế sự sinh trưởng của cây Nhiệt độ không khí thấp làm cho cây con chậm lớn, hoa khó nở, cành nhánh phát triển kém, cây khó hấp thụ dinh dưỡng khoáng
Nhiệt độ ban đêm ảnh hưởng đến việc bắt đầu ra hoa để cây phát triển trong
Trang 14phát triển ở 7°C chỉ ra hoa 40% Ngoài ra, nhiệt độ ảnh hưởng đến số que hoa, do
đó, với nhiệt độ ban đêm từ 16 đến 20°C, thời gian bắt đầu ra hoa được rút ngắn và
tỉ lệ ra hoa tối đa
Nhiệt độ trong đất cao giúp bộ rễ cây phát triển mạnh, tăng khả năng hút nước
và các chất dinh dưỡng trong đất Chênh lệch biên độ nhiệt ngày và đêm không quá lớn giúp cho việc trồng hoa Baby có chất lượng cao Trong đó nhiệt độ ban đêm rất quan trọng đối với chất lượng hoa
b Ánh sáng
Là nguồn năng lượng giúp cây trồng chuyển hóa dinh dưỡng, tạo nên những
bộ phận dự trữ trong cây Đối với cây hoa, cường độ ánh sáng và thời gian chiếu sáng (trong ngày) ảnh hưởng lớn đến sự tăng trưởng và ra hoa, cường độ ánh sáng thấp hay quá cao đều gây tác động xấu đến quá trình quang hợp Thời gian chiếu sáng trong ngày ảnh hưởng rất lớn đến quá trình ra hoa của cây và phụ thuộc vào đặc tính của từng nhóm cây (cây ngày ngắn, cây ngày dài)
Hoa Baby là một cây phải có ngày dài Để cây ra hoa vào mùa thu – đông, khi những ngày có ít hơn 12 giờ ánh sáng, cần phải tăng thời lượng trong ngày bằng cách sử dụng ánh sáng nhân tạo
Vì độ ẩm có liên quan mật thiết đến nhiệt độ, do đó, khi nhiệt độ tăng thì độ
ẩm giảm, vào mùa hè, cần phải hạ nhiệt độ môi trường xung quanh hoặc tăng bằng cách làm ướt hành lang và bồn hoa trong nhà kính
Trang 15Thông thường cây hoa phát triển tốt ở pH = 6 – 7 Đất quá chua (pH thấp) hoặc quá kiềm (pH cao) đều làm rễ khó phát triển, một số dinh dưỡng trong đất chuyển qua dạng khó tiêu làm cho cây không hấp thụ được
1.2 Đặc tính sinh lý của chất kích thích sinh trưởng thực vật cytokinin
Trong sinh lý thực vật về chất kích thích sinh trưởng thực vật bao gồm các hợp chất có tác dụng điều tiết các khía cạnh sinh trưởng và phát triển của thực vật Nhóm hợp chất này bao gồm các hợp chất: auxin, cytokinin, gibberellin, acid abscicic, ethylene
Cytokinin là nhóm phytohormon thứ ba được phát hiện vào năm 1963 Loại cytokinin đầu tiên được phát hiện và cũng là dạng phổ biến nhất là zeatin tách từ hạt ngô Ngoài ra còn có hàng loạt các cytokinin khác như kinetin, dihydrozeatin, benzyladenin, chlorephenylurea…trong đó, kinetin không có mặt trong tự nhiên mà người ta thu nhận nó bằng cách xử lý nhiệt AND
Chứng minh về khả năng ngăn cản sự vàng lá của benzyladenin BA là một phát hiện thu hút nhiều nhà sinh lý học từ những năm 1950 Những năm 1960, các nhà nghiên cứu thấy rằng BA có thể kích thích nhiều quá trình được điều khiển bởi hormone thực vật zeatin Với vai trò kiểm soát và thúc đẩy sự phân chia tế bào, BA được sử dụng trong nuôi cấy mô để kéo dài chồi và phát sinh phôi với các nồng độ khác nhau tùy theo đối tượng thực vật nuôi cấy và mục đích nuôi cấy
Nhóm chất cytokinin có mặt trong mọi thực vật với hàm lượng cao nhất trong phôi và trong quả đang phát triển Hoạt tính của chúng tăng cường khi chúng tương tác với myo-inositol, nhưng có thể bị mất trong thành phần của glycoside
Tác động sinh lý của cytokinin trong nuôi cấy mô tế bào:
Kích thích sự phân chia tế bào một cách mạnh mẽ:
Cytokinin cần thiết cho sự điều hòa sinh tổng hợp protein trong quá trình tăng trưởng và phát triển của tế bào Trong môi trường nuôi cấy mô, khi tế bào chưa đủ khả năng tổng hợp cytokinin, nếu không có hoặc bị thiếu lượng cytokinin thì quá trình phân chia tế bào sẽ bị chặn lại tại một giai đoạn trong chu trình tế bào Khi cấy chuyền mô sang môi trường mới có đủ lượng cytokinin thì tế bào sẽ phân chia liên tục sau giai đoạn nghỉ
Trang 16Cytokinin là hocmon hình thành chồi:
Cytokinin rất có hiệu quả trong vai trò kích thích sự tạo chồi trực tiếp hoặc gián tiếp trên thực vật nguyên vẹn cũng như thực vật nuôi cấy in vitro Tác dụng này đôi khi trở nên hiệu quả khi phối hợp với auxin
Nó kích thích mạnh mẽ sự phân hóa chồi Chính vì vậy mà cùng với auxin, nó điều chỉnh hiện tượng ưu thế ngọn, giải phóng các chồi bên khỏi sự ức chế tương quan của chồi ngọn Hiệu quả này của cytokinin là đối kháng với auxin (sự cân bằng của auxin/cytokinin)
Trong môi trường nuôi cấy mô, nếu chỉ có cytokinin mà không có sự xuất hiện của auxin thì mô nuôi cấy chỉ hình thành chồi Lợi dụng hiệu quả này mà người ta
sử dụng cytokinin để tăng sự hình thành chồi trong môi trường nuôi cấy mô để tăng
hệ số nhân giống Trong quy trình nhân giống invitro, giai đoạn đầu người ta tạo thật nhiều chồi bằng cho cytokinin vào môi trường nuôi cấy Sau đó người ta tạo cây hoàn chỉnh bằng xử lí auxin
Cytokinin cản trở sự tạo rễ khi nồng độ cao (0,5 – 10 mg/1) đồng thời làm giảm hiệu quả kích thích tạo rễ của auxin Nhưng đôi khi người ta cũng nhận thấy rằng cytokinin cũng cảm ứng sự tạo rễ hoặc kích thích sự tăng trưởng rễ bất định khi không có sự hiện diện của auxin
1.3 Ánh sáng ảnh hưởng đến sinh trưởng của thực vật
Ánh sáng có ảnh hưởng nhất định đến hình thái và cấu tạo của cây Những cây mọc riêng lẽ ngoài rừng hay những cây mọc trong rừng có thân phát triển đều thẳng có tán cân đối Những cây mọc ở bìa rừng hoặc trên đường phố có tường nhà cao tầng, do có tác dụng không đồng đều của ánh sáng ở 4 phía nên tán cây lệch về phía có nhiều ánh sáng hơn Đặc tính này gọi là tính hướng ánh sáng của cây Ánh sáng còn ảnh hưởng đến hệ rễ của cây Đối với một số loài cây có rễ trong không khí (rễ khí sinh) thì ánh sáng giúp cho quá trình tạo diệp lục trong rễ nên rẽ thể quang hợp như một số loài phong lan trong họ Lan (Orchidaceae) Còn hệ rễ ở dưới đất chịu sự tác động của ánh sáng, rễ của các cây ưa sáng phát triển hơn rễ của cây
ưu bóng
1.3.1 Bóng đèn huỳnh quang
Đèn huỳnh quang là loại đèn huỳnh quang áp suất thấp, sử dụng bột huỳnh quang đất hiếm 3 màu So với đèn sợi đốt, đèn huỳnh quang có hiệu suất sáng cao
Trang 17hơn đối với mất người, nhưng đối với phổ quang hợp của thực vật, đèn huỳnh quang có ít thành phần đỏ (660 nm) và không có đỏ xa (730 nm)
Quang phổ của ánh sáng huỳnh quang thì rộng và một phần của chúng không cần thiết để quang hợp Để cải thiện tính quang hợp của đèn huỳnh quang, các nhà sản xuất nguồn sáng nước ngoài và trong nước đã đưa ra thí nghiệm đèn huỳnh quang 2 phổ xanh đỏ để tăng hiệu suất quang hợp của cây trồng Hiệu suất quang hợp của loại 2 phổ tăng hiệu suất lên 20% so với loại 3 phổ
1.3.2 Đèn LED (Light – Emitting – Diode)
Ánh sáng đèn LED được phát minh năm 1962, đèn LED (một diode phát sáng)
là một thiết bị bán dẫn phát ra ánh sáng nhìn thấy được khi có dòng điện đi qua, hầu hết các đèn LED nó là đơn sắc, xảy ra tại một bước sóng duy nhất Các đầu ra từ một đèn LED có thể dao động từ màu đỏ (ở bước sóng khoảng 700 nm) sáng màu xanh tím (ở bước sóng khoảng 400 nm)
Tăng Đức Tiến (2016), Với mỗi phương pháp nuôi cấy mô, mỗi loại đối tượng cây, mỗi giai đoạn sinh trưởng lại cần mức độ chiếu sáng khác nhau nhằm cung cấp đủ lượng ánh sáng cho cây quang hợp Trái với mắt người có phổ nhạy cảm tối đa ở bước sóng 555 nm, phổ hấp thụ diệp lục của cây chủ yếu tập trung ở 2 vùng ánh sáng màu đỏ có phổ (600 nm ÷ 700 nm) và vùng ánh sáng màu xanh có
phổ (400 nm ÷ 500 nm) Ở những bước sóng này quang phổ của đèn Led tạo ra có
bước sóng gần trùng với quang phổ hấp thụ của diệp lục tố trong cây trồng Do vậy việc sử dụng nguồn sáng thông thường trong chiếu sáng phòng nuôi cấy mô hiện nay không phải là giải pháp tối ưu giúp cây sinh trưởng tốt
Đèn LED có ưu điểm là có bước sóng xác định, phát ra ánh sáng màu đơn sắc, hiệu quả cao, sinh nhiệt thấp, tuổi thọ lâu dài và tiết kiệm năng lượng Hầu hết các phòng nuôi cây mô hiện tại sử dụng đèn huỳnh quang (có bước sống 350 – 750 nm) chất lượng thấp, tiêu thụ điện năng lớn nên chi phí sản xuất cuối cùng tăng
Nhược điểm đèn LED đắt hơn so với các loại đèn chiếu sáng khác Mặc dù các nhà sản xuất luôn cải tiến quy trình sản xuất, tối giản các công đoạn để giảm thiểu tối đa chi phí sản xuất nhằm hạ giá thành sản phẩm nhưng với phần lớn người tiêu dùng tại thị trường Việt Nam thì giá của bóng đèn LED vẫn đất gấp 2 – 3 lần bóng đèn truyền thống
Trang 18Do vậy công nghệ đèn LED đã được quan tâm và ứng dụng khả rộng trong chiếu sáng nông nghiệp
1.3.3 Một số nghiên cứu về ảnh hưởng của đèn LED đến sinh trưởng của cây nuôi cấy mô
Theo Nguyễn Bá Nam và ctv (2012), đã nghiên cứu ảnh hưởng của hệ thống
chiếu sáng đơn sắc lên khả năng tái sinh chồi cây hoa Cúc (Chysanthemum
Morifolum Ramat CV “Jimba”) trong in vitro cho kết quà 70% ánh sàng LED đỏ
kết hợp với 30% ánh sáng LED xanh là tỉ lệ phù hợp cho sự tái sinh chồi trực tiếp
từ mẫu lá và gián tiếp từ lớp mỏng tế bào thân cây Cúc
Theo Trần Ngọc Trồi và ctv (2017), đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng của
hệ thống chiếu sáng đơn sắc đến quá trình nhân giống in vitro cây hoa chuông
(Sinningia speciosa) cho kết quả 70% ánh sáng LED đỏ kết hợp với 30% ánh sáng
LED xanh, cho tỉ lệ mẫu tái sinh chồi từ mô lá cao nhất Tỉ lệ 80% ánh sáng LED
đỏ kết hợp với 20% ánh sáng LED xanh thích hợp nhất cho quá trình nhân nhanh chồi và giai đoạn cây hoàn chỉnh thì tỷ lệ 70% ánh sáng LED đỏ kết hợp với 30% ánh sáng LED xanh là thích hợp nhất
Nguyễn Thanh Phương và ctv (2014), đã nghiên cứu về tác động của phổ ánh sáng trên các loại bình nuôi cấy đến sự sinh trưởng, phát triển của giống cẩm chướng Hồng Hạc đã được tiến hành trong giai đoạn nhân nhanh và tạo cây hoàn chỉnh Kết quả chỉ ra trong giai đoạn nhân nhanh, sử dụng bình trụ nút bông hoặc túi nilon thoáng khí để nuôi cấy cho chất lượng cây giống tốt nhất Kết quả thí nghiệm cho thấy nghiệm thức đèn LED 13R – 4B – 3W cho cây sinh trưởng chiều cao tốt, tuy nhiên đèn LED 17R – 3B lại có tác dụng kích thích cây tăng số lá, số chồi cao hơn và cho chất lượng cây giống tốt
1.4 Khái quát về môi trường nuôi cấy
1.4.1 Môi trường nuôi cấy
Nghiên cứu về môi trường nuôi cấy giữ một vị trí quan trọng trong lịch sử nuôi cấy mô tế bào Cơ sở cho việc thiết lập môi trường nuôi cấy là việc xem xét các thành phần cần cho sự sinh trưởng và phát triển của cây Ban đầu các nhà nuôi cấy sử dụng các chất dinh dưỡng tự nhiên như dịch chiết lá, nước nội nhủ thực vật,… sau đó một số môi trường đơn giản khác được sử dụng Đầu những năm 20,
Trang 19một số môi trường dinh dưỡng được sử dụng Môi trường nuôi cấy bao gồm muối khoáng, nguồn carbon, vitamin và một số chất bổ sung khác
1.4.2 Thành phần môi trường
Thành phần môi trường nuôi cấy mô thực vật thay đổi tùy loài, bộ phận nuôi cấy, mục đích nuôi cấy và nhiều yếu tố khác Tuy vậy, tất cả các môi trường nuôi cấy bao giờ cũng gồm 5 thành phần:
Đường làm nguồn carbon;
Các muối khoáng đa lượng;
Các muối khoáng vi lượng;
Các vitamin
Ngoài ta, người ta còn thêm vào môi trường nuôi cấy một số chất hữu cơ thành phần hóa học xác định (amino, acid, EDTA…) hoặc không xác định (nước dừa, nước chiết nấm men, dịch chiết muối,…)
a Đường
Trong nuôi cấy mô, nguồn carbon để mô, tế bào thực vật tổng hợp nên các chất hữu cơ giúp tế bào phân chia, tăng sinh khối của mô không phải do quang hợp cung cấp mà do đường trong môi trường Hai dạng đường thường được sử dụng nhất là saccharose và glucose, nhưng saccharose dung phổ biến hơn
Tùy theo mục đích nuôi cấy, nồng độ saccharose biến đổi từ 1 – 6% (w/v), thông dụng nhất là 2% tương ứng với 58,4 mM
Trong trường hợp nuôi cấy tế bào quang hơp nồng độ đường có thể giảm xuống hoặc bỏ hẳn
Các muối khoáng đa lượng:
Nhu cầu muối khoáng của mô tế bào tách rời không khác nhiều so với cây trồng trong điều kiện tự nhiên Các nguyên tố đa lượng cần phải bổ sung cung cấp
là nitơ, phosphor, kali, magie, sắt, canxi
Trang 20Nitrat được cung cấp dưới dạn muối canxi nitrat Ca(NO3)2.4H2O, kali nitrat (KNO3), natri nitrat (NaNO3) hoặc amon nitrat (NH4NO3)
c Nguồn phospho
Hai dạng phosphor thường dung nhất là NaH2PO4.H2O và KH2PO4 Nồng độ phosphor trong môi trường biến đổi từ 0,15 mM đến 4,0 mM thường dùng khoảng 1,0 mM
d Nguồn canxi
Canxi được cung cấp dưới dạng canxi nitrat Ca(NO3)2.4H2, canxicholorua CaCl2 hoặc CaCl2.2H2O Nồng độ Ca** trong môi trường từ 1,0 – 3,5mM, trung bình là 2,0mM
Na2–ethylen diamintetraacetat (EDTA) Ở dạng này sắt không bị kết tủa và giải phóng dần ra môi trường theo nhu cầu của mô thực vật
1.4.3 Các muối khoáng vi lượng
Nhu cầu muối khoáng vi lượng của mô thực vật trong nuôi cấy mô là lĩnh vực còn ít được nghiên cứu Để an toàn, người ta cung cấp hầu hết các nguyên tố vi lượng cần thiết đối với cây cho môi trường nuôi cấy trong môi trường nhân tạo, vì vậy sự cung cấp này có tính chất kinh nghiệm, trong những trường hợp cụ thể là không cần thiết
1.4.4 Các vitamin
Để kích thích cho sự sinh trưởng và phát triển của mô thực vật nuôi cấy, người ta còn bổ sung thêm một số loại vitamin: myo-inozitol, vitamin pp, vitamin B6, vitamin B1, vitamin B2…
Trang 211.4.5 Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật
Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật là những hợp chất hữu cơ (bao gồm hợp chất tự nhiên và nhân tạo) có tác dụng điều tiết các quá trình sinh lý, kích thích hay ức chế, ở nồng độ thấp chúng không phải là chất dinh dưỡng (sinh tố hay nguyên tố khoáng cần thiết cho thực vật)
Hormon thực vật là những hợp chất hữu cơ tự nhiên do tế bào của một bộ phận cơ thể tạo ra và được di chuyển đến một bộ phận khác Ở đó chúng gây ra phản ứng sinh lý ở nồng độ thấp
Các chất điều hòa sinh trưởng thực vật có ảnh hưởng quan trọng lên mọi quá trình sinh lý diễn ra trong cơ thể thực vật, do đó ảnh hưởng nhất định lên sự tạo chồi, rễ và tái sinh cây từ mô cấy
Bảng 2: Ngưỡng sử dụng chất điều hòa sinh trưởng
Tên các chất kích thích sinh trưởng Nồng độ (mg/l)
2,4-D (dichlophenoxy acetic acid) 0,2-5
2-ip (N6-Dimethylally amino purine) 0,1-2
Trang 221.4.6 Chất bổ sung vào môi trường
Agar là thành phần quyết định trạng thái vật lý của môi trường hàm lượng agar dùng cho môi trường nuôi cấy dao động từ 0,6-1,0% theo khối lượng Nồng độ cao của agar, môi trường trở nên cứng, sự khuếch tác của các chất dinh dưỡng cũng như sự hấp thu của các mô gặp khó khăn Đa số phôi nuôi cấy được thực hiện trên môi trường có agar nhưng phụ thuộc vào loài cây mà sử dụng cho phù hợp Tuy nhiên môi trường lỏng dễ gây ra hiện tượng mọng nước ở mẫu cấy
1.4.7 Độ pH của môi trường
Độ pH của môi trường thường được chỉnh từ 5,5 – 6, pH <5,5 agar không đông thành dạng gel hoàn toàn, pH >6 thì gel quá cứng, pH của môi trường giảm 0,6 – 1,3 đơn vị sau khi hấp khử trùng Một số trường hợp sau nuôi cấy, pH của môi trường giảm dần, pH của môi trường giảm dần do sự hình thành một số acid hữu cơ trong môi trường
Điều chỉnh pH bằng cách dùng HCl hay NaOH 1N hay 0,1N nhỏ giọt vào môi trường, khuấy đều môi trường trước khi đo Phải đo pH trước khi thêm agar vào môi trường
Với những ưu điểm của phương pháp nuôi cấy mô, cùng với những mục tiêu của đề tài được đề ra, chúng tôi càng mong muốn thực hiện nghiên cứu này với mục đích vùa nghiên cứu vừa tạo ra cây giống tốt phục vụ nhu cầu cây giống của người dân
1.5 Tình hình nghiên cứu hoa Baby trên thế giới và Việt Nam
1.5.1 Trên thế giới
Theo Fan Li (2019), nghiên cứu ảnh hưởng của biến đổi theo mùa và điều
chỉnh bằng Axit Gibberellic trên sự tăng trưởng và phát triển của Gypsophila
paniculata để tìm ra mùa thích hợp nhất và chất điều hòa sinh trưởng tốt nhất cho
hoa Baby
Theo Hussein Bosila (2016), trên tác dụng của các chất điều hòa sinh trưởng
thực vật, các chất keo và sucrose đối với vi nhân giống của Gypsophila paniculata
đã được kiểm tra Các thí nghiệm đã được thử nghiệm ở các cấp độ và sự kết hợp khác nhau của BA và NAA cho cảm ứng cây Sự tăng sinh chồi và tình trạng tăng nước được đánh giá dưới các mức độ khác nhau của sucrose, agar Hiệu quả cao
Trang 23nhất của sự hình thành chồi thu được với môi trường Murashige và Skoog (MS) chứa 0,5 mg / l mỗi BA và NAA
1.5.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vào năm 1992, công ty hoa Hasfarm của Hà Lan lần đầu đưa hoa Baby về Việt Nam trồng thử nghiệm tại Đà Lạt Với điều kiện khí hậu và thổ nhưỡng thích hợp ở Đà Lạt, hoa phát triển mạnh và cho năng suất cao (Dương Tấn Nhựt và ctv, 2014)
Giống hoa này được đưa và trồng phù hợp với khí hậu của Đà Lạt cây sinh trưởng và phát triển mạnh, cho năng suất cao, tạo ra nhiều que, hình dáng cân đối, giá trị cao Vì vậy ngày nay đang được thịnh hành và nhiều người tiếp nhận nên phát triển mạnh mẽ và nhu cầu về giống cao
Theo Nguyễn Thị Trang (2014), đã tìm hiểu vai trò của chất điều hòa tăng
trưởng thực vật để kéo dài đời sống của hoa Gypsophila paniculata trên phát tán cắt
rời nhằm tìm ra chất điều hòa sinh trưởng phù hợp để tăng dài tuổi thọ phát hoa cắt cành để phục vụ cho đời sống của con người
Từ những kết quả nghiên cứu trên đối tượng hoa Baby thì chưa có nghiên cứu nào về ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA và ánh sáng đèn LED đến quá
trình nhân giống hoa Baby (Gypsophila paniculata) bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế
bào thực vật nên việc thực hiện nghiên cứu này không bị trùng lặp với bất cứ đề tài nghiên cứu nào trước đây và là cần thiết cho quá trình nhân giống hoa Baby
Trang 24CHƯƠNG 2 ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Địa điểm, thời gian, vật liệu nghiên cứu
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu: Tiến hành tại phòng thí nghiệm Nuôi cấy mô tế bào thực vật thuộc khoa Nông Lâm, Trường Đại học Đà Lạt
2.1.2 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 11 năm 2019 đến tháng 4 năm 2020
2.1.3 Vật liệu nghiên cứu
Cây hoa Baby mẫu được nuôi cấy trong phòng thí nghiệm, chất điều hòa sinh trưởng BA, có 4 mức nồng độ (0; 0,5; 1; 1,5 mg/l BA với pH = 5.8 ± 0.1)
2.2 Nội dung nghiên cứu
Nội dung nghiên cứu ảnh hưởng của chất điều hòa sinh trưởng BA và ánh
sáng đèn LED đến nhân nhanh giống hoa BaBy bằng kĩ thuật nuôi cấy mô tế bào
Trang 252.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Môi trường nuôi cấy
Môi trường nuôi cấy là một trong những yếu tố quan trọng để quyết định sự thành công của một kỹ thuật nuôi cấy mô tế bào thực vật Chính vì vậy để đảm bảo được an toàn nhất cho thí nghiệm tôi lựa chọn môi trường cơ bản quen thuộc nhất là môi trường MS (Murashige – Skoog) Thành phần của môi trường MS là:
Bảng 3: Môi trường MS (Murashige – Skoog)
Trang 26Sau khi chuẩn bị môi trường, ta tiến hành khử trùng môi trường bằng nồi hấp ở nhiệt độ 1210 C trong 27 phút Đồng thời ta tiến hành khử trùng luôn dụng cụ, giấy hấp, và bịch môi trường Sau khi hấp ta tiến hành đổ môi trường, mỗi bịch chứa khoảng 50 – 60 ml môi trường, giai đoạn đổ môi trường được thực hiện tỷ mỉ và cẩn thận trong tủ cấy Tiến hành kiểm tra mức độ nhiễm vi khuẩn và nấm của môi trường trong thời gian 4 ngày ở nhiệt độ phòng là khoảng 250
C
2.4.2 Điều kiện nuôi cấy:
Thời gian chiếu sáng 16h/ngày
Cường độ chiếu sáng: 45µmolm-2s-1
Ánh sáng đèn LED vàng, đèn LED xanh, đèn LED
đỏ theo tỷ lệ 10 vàng: 10 xanh: 80 đỏ
B1
Ánh sáng đèn LED vàng, đèn LED xanh, đèn LED
đỏ theo tỷ lệ 10 vàng: 20 xanh: 70 đỏ
B2
Trang 27+ Nghiệm thức 3 (A1B3): Nồng độ BA 0 mg/l + ánh sáng LED 100% vàng
+ Nghiệm thức 4 (A1B4): Nồng độ BA 0 mg/l + ánh sáng huỳnh quang
+ Nghiệm thức 5 (A2B1): Nồng độ BA 0,5 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 10
xanh: 80 đỏ
+ Nghiệm thức 6 (A2B2): Nồng độ BA 0,5 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 20
xanh: 70 đỏ
+ Nghiệm thức 7 (A2B3): Nồng độ BA 0,5 mg/l + ánh sáng LED 100% vàng
+ Nghiệm thức 8 (A2B4): Nồng độ BA 0,5 mg/l + ánh sáng huỳnh quang
+ Nghiệm thức 9 (A3B1): Nồng độ BA 1 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 10
xanh: 80 đỏ
+ Nghiệm thức 10 (A3B2): Nồng độ BA 1 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 20
xanh: 70 đỏ
+ Nghiệm thức 11 (A3B3): Nồng độ BA 1 mg/l + ánh sáng LED 100% vàng
+ Nghiệm thức 12 (A3B4): Nồng độ BA 1 mg/l + ánh sáng huỳnh quang
+ Nghiệm thức 13 (A4B1): Nồng độ BA 1,5 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 10
xanh: 80 đỏ
+ Nghiệm thức 14 (A4B2): Nồng độ BA 1,5 mg/l + ánh sáng LED 10 vàng: 20
xanh: 70 đỏ
+ Nghiệm thức 15 (A4B3): Nồng độ BA 1,5 mg/l + ánh sáng LED 100% vàng
+ Nghiệm thức 16 (A4B4): Nồng độ BA 1,5 mg/l + ánh sáng huỳnh quang
Trang 28Bảng 5: Sơ đồ bố trí thí nghiệm
2.5.2 Chỉ tiêu theo dõi
Bốn nghiệm thức ánh sáng và bốn nghiệm thức nồng độ được thực hiện với
ba lần lặp lại Số liệu được lấy sau 7 ngày, 14 ngày, 21 ngày và 28 ngày nuôi cấy Chỉ tiêu theo dõi gồm:
Số cây ra chồi trung bình (chồi/cây) = Tổng số chồi/ Tổng số cây
Tỷ lệ phần trăm cây ra chồi (%) = (Cây ra chồi/ Tổng số cây)*100
Chiều cao cây trung bình (cm) = Tổng chiều dài các cây/ Tổng số cây
Chiều cao cây trung bình (cm) (chiều dài cây trung bình được tính từ gốc đến đỉnh ngọn của cây)
Mỗi túi lấy 5 cây để theo dõi các chỉ tiêu trên
2.6 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu:
Số liệu thô: Xử lý trên máy tính bằng phần mềm Excel
Số liệu tinh: Xử lý trên máy tính bằng phần mềm MSTATC Trắc nghiệm phân hạng các trung bình nghiệm thức ở mức = 0,05