Tình huống cạnh tranh về giá giữa unilever và p&g ở thị trường bột giặt tại việt nam bài học trong marketing cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nhanh Tình huống cạnh tranh về giá giữa unilever và p&g ở thị trường bột giặt tại việt nam bài học trong marketing cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nhanh Tình huống cạnh tranh về giá giữa unilever và p&g ở thị trường bột giặt tại việt nam bài học trong marketing cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nhanh
Trang 1HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA KINH TẾ
TIỂU LUẬN MÔN: MARKETING LÝ THUYẾT
ĐỀ TÀI: TÌNH HUỐNG CẠNH TRANH VỀ GIÁ GIỮA UNILEVER VÀ P&G Ở THỊ TRƯỜNG BỘT GIẶT TẠI VIỆT NAM: BÀI HỌC MKT CHO
CÁC DOANH NGHIỆP TIÊU DÙNG NHANH (FMCG)
GVHD : Phan Minh Đức Sinh viên : Nguyễn Quang Trung
Mã sinh viên : 1851020001
Lớp : Kinh tế chinh trị K38
Hà Nội -2021
Trang 2I Đặt vấn đề.
Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường Khi thực hiệnchuyển nền kinh tế cũ sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam phải chấpnhận những quy luật của nền kinh tế trị trường trong đó có quy luật cạnh tranh, cùng với
đó là xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng Nhiều doanh nghiệp nước ngoài tiếnvào thị trường Việt Nam nhất là đối với thị trường sản phẩm tiêu dùng nhanh (FMCG),trong đó không thể không kể đến hai tập đoàn đa quốc gia hàng đầu là P&G của Anh, HàLan và Unilever của Mỹ
Unilever và P&G xuất phát điểm của họ đều là 2 hãng sản xuất sà bông, sự khônngoan trong chiến lược đã giúp doanh nghiệp của họ vượt qua những thời điểm khó khănnhất và dần vươn lên trở thành doanh nghiệp số một trong nước và dần trở thành 2 gãkhổng lồ trong sản xuất hàng tiêu dùng P&G thâm nhập vào thị trường Việt Nam từ năm
1994 sau đó là Unilever vào năm 1995 với một thị trường tiềm năng nhưng non trẻ nhưnước ta thì 2 tập đoàn trên đã thâu tóm phần lớn thị trường nước ta kéo dài đến tận ngàynay Thị trường Việt Nam là một thị trường tương đối lớn và tiềm năng tuy nhiên với sựtham gia của hai ông lớn trên thì thị trường Việt Nam lại trở nên nhỏ bé Tất yếu dĩ nhiênthì 2 Unilever và P&G sẽ phải cạnh tranh nhằm có được thị phần ở thị trường Việt Nam.Các ngành hàng tiêu dùng của 2 hãng này cạnh tranh khá gay gắt với nhau ở mọilĩnh vực Trong đó có thị trường bột giặt, bởi với khí hậu nóng ẩm của Việt Nam cùng vớilượng dân số lớn hơn nữa không ngừng tăng qua các năm thì lượng tiêu thụ bột giặt củathị trường Việt Nam là rất lớn Trong môi trường kinh doanh những năm Unilever vàP&G thâm nhập vào thị trường Việt Nam cũng như đến hiện nay, sự cạnh tranh ngày càngtrở nên gay gắt, đặc biệt là sự cạnh tranh về giá để chiếm lĩnh thị trường và doanh thu Thịtrường đã chứng kiến bao cảnh thịnh vượng, khốn đốn thậm chí là lụi tàn của các thươnghiệu trong các cuộc cạnh tranh về giá Năm 2002, thị trường bột giặt Việt Nam bỗng độtbiến, Unilever và P&G đồng loạt thực hiện chính sách địa hạ giá, kết hợp với quảng cáorầm rộ, với nhiều chiêu thức tặng quà hay trùng thưởng hấp dẫn Tất cả chỉ nhằm nhanhchóng chiếm lĩnh thị phần giữa hai thương hiệu bột giặt hàng đầu là Omo đại diện choUnilever và Tide của P&G, những năm sau đó thị trường bột giặt Việt Nam đã bị hai tập
Trang 3đoàn này thâu tóm Xuất phát từ đó mà tôi quyết định chọn đề tài “Tình huống cạnh tranh
về giá giữa Unilever và P&G ở thị trường bột giặt tại Việt Nam: bài học trong Marketing cho các doanh nghiệp hàng tiêu dùng nhanh”.
II Cơ sở lý luận chính sách về giá.
1 Các khái niệm liên quan.
- Marketting: là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn những nhu cầu
và mong muốn của họ thông qua trao đổi
- FMCG: là thuật ngữ viết tắt của Fast Moving Consumer Goods (ngành hàng tiêu
dùng nhanh), bao gồm toàn bộ các loại hàng hóa tiêu dùng thiết yếu trong cuộcsống
- Markeitng – Mix: là một tập hợp các biến số mà công ty có thể kiểm soát và quản
lý được nó được sử dụng để cố gắng đạt tới những tác động và gây được nhữngảnh hưởng có lợi cho khách hàng với mục tiêu là:
o Chiến lược về sản phẩm (Product strategy)
o Chiến lược giá cả (Price strategy)
o Chiến lược phân phối (Place strategy)
o Chiến lược xúc tiến thương mại (Promotion strategy)
- Giá cả: Giá là lượng tiền người mua cam kết trả cho người bán trên một đơn vị sản
phẩm để được sơ hữu sản phẩm đó Là tín hiệu thị trường, đặt trong quan hệ cung cầu và các yếu tố cạnh tranh
Chiến lược giá cả: là sự lựa chọn mức giá bản sản phẩm trên thị trường Việc này
dựa trên những phân tích đầy đủ quan hệ cung – cầu, chiến lược định vị của doanhnghiệp, mức chi trả của khách hàng mục tiêu Giá bán là một trong 4 yếu cốquan trong của marketing – mix Người tiêu dùng luôn coi giá là một yếu tố quyếtđịnh để chọn lựa sản phẩm này hay sản phẩm khác Đối với doanh nghiệp, giá có
vị trí quyết định cạnh tranh trên thị trường Việc định giá sản phẩm có ý nghĩa quantrọng đối với doanh nghiệp vì nó ảnh hưởng trưcj tiếp đến doanh số và lợi nhuận
- Cạnh tranh: là sử dụng các chính sách và nghệ thuật để doanh nghiệp tạo ra nhiều
lợi thể để tồn tại trên thị trường
Trang 4- Cạnh tranh về giá: là hình thức cạnh tranh giữa những người kinh doanh với nhau
để tranh giảnh khách hàng bằng giá cả của sản phẩm hoặc dịch vụ Đây là mộtđiểm mang lại lợi ích cho khách hàng Bởi chúng góp phần mang tới mức gia phùhợp với chi phí cung ứng
- Độ nhạy cảm về giá: là mức độ phản ứng của khách hàng đối với việc tăng hay
giảm giá thành sản phẩm của doanh nghiệp, thể hiện thông qua độ co giãn nhu cầutheo giá cả Khi mức đầu tư khuyến mại về giá, tần suất của khuyến mại càngnhiều, người tiêu dùng càng tăng sự nhạy cảm về giá
2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quyết định về giá
II.1 Các yếu tố bên trong ảnh hưởng đến quyết định về giá
- Mục tiêu marketing:
o Sự tồn tại: khi cạnh tranh khôc liệt, doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn thì
mục tiêu chính là phải tồn tại và khi ấy họ phải định giá thấp
o Tối đa hóa lợi nhuận: Nhiều doanh nghiệp ước lượng mức cầu và phí tổn đi
liền với những mức giá khác nhau và chọn ra mức giá có được lợi nhuận tối
đa hoặc tỉ lệ doanh thu trên vốn đầu tư tối đa
o Dẫn đầu thị phần: có doanh nghiệp tin rằng ai có thị phần lớn nhất sẽ có phí
tổn thấp nhất và lợi nhuận về lâu dài là cao nhất, do đó tìm cách chiếm thịphần bằng cách định giá thấp và một chương trình phối hợp hoạt độngmarketing đồng bộ để đạt được mục tiêu này
o Dẫn đầu về chất lượng sản phẩm: Một doanh nghiệp có thể lấy lục tiêu dẫn
đầu về chất lượng sản phẩm trên thị trường, điều này đòi hỏi phải đề ra mứcgiá cao và phí tổn R&D cao
o Các mục tiêu khác: ví dụ để ngăn chặn không cho các đối thủ tham gia vào
thị trường thì định giá thấp, hoặc để ổn định thị trường thì định giá ngangvới đối thủ Giá có thể tạm thời giảm để tạo sự đáo ứng nồng nhiệt củakhách hàng đối với một sản phẩm hoặc để lôi kéo thêm nhiều khách hàng
- Marketing – mix: Giá cả là một trong các công cụ thuộc Marketing-mix mà doanhnghiệp sử dụng để đạt được mục tiêu marketing của mình Các quyết định về giáphải được phối hợp với những quyết định về mẫu mã, phân phối, xúc tiến cho sản
Trang 5phẩm để hình thành một chương tình marketing nhất quán và có hiệu quả Cácquyết định của những khâu khác thuộc Marketing – mix đều có ảnh hưởng đếnnhững quyết định về giá Chẳng hạn: Chiến lược sản xuất đại trà và bán lẻ rộng rãi
sẽ kéo theo chiến lược hạ giá, chiến lược bán chọn lọc với sản phẩm sản xuất hạnchế sẽ đi đối với mức giá cao
- Chi phí: Doanh nghiệp đề ra một mức giá để trang trải cho mọi chi phí về sản xuất,phân phối sản phẩm và tỉ lệ lợi nhuận hợp lý Có hai loại chi phí:
o Chi phí cố định (Fixed cost): Là những chi phí không thay đổi theo khốilượng sản xuất hay doanh thu
o Biến phí (Veriable Cost): là những chi phí thay đổi trực tiếp theo khối lượngsản xuất, khi khối lượng sản xuất tăng tổng biến phí sẽ tăng theo, nhữngbiến phí tính cho một đơn vị sản phẩm không thay đổi
o Tổng chi phí (Total Cost): TC = FC + TC
- Tổ chức định giá:
o Doanh nghiệp nhỏ: giá cả thường do giới quản trị cao cấp định ra
o Doanh nghiệp lớn: do các quản trị viên sản phẩm hay nhóm sản phẩm xử lý
II.2 Các yếu tố bên ngoài ảnh hưởng đến quyết định về giá
- Thị trường và nhu cầu:
Thị trường và mức cầu ảnh ưởng đến sự chấp nhận giá Cả khách hàng tiêu dùng lẫn nhàkinh doanh đều cân bằng giá cả của sản phẩm và dịch vụ dựa trên những lợi ích có dược
từ sản phẩm hay dịch vụ đó
Có bốn kiểu thị trường: THị trường cạnh tranh hoàn hảo, thị trường cạnh tranh độcquyền, thị trường cạnh tranh độc quyền nhóm và thị trường cạnh tranh độc quyền tuyệtđối Tùy thuộc vào mỗi thị trường mà doanh nghiệp sẽ đề ra những chiến lược giá phùhợp
- Những cảm nhận của người tiêu dùng: Khi định giá doanh nghiệp phải xét đếnnhững cảm nhận của người tiêu dùng về giá và những cảm nhận ấy ảnh hưởng rasao đến các quyết định mua hàng
Trang 6- Cạnh tranh: Giá cả của đối thủ cạnh tranh và phản ứng của họ về giá ảnh hưởngkhông nhỏ đến việc định giá của doanh nghiệp, vì người tiêu dùng đánh giá về giátrị và giá cả của một sản phẩm dựa trên những giá cả và giá trị của sản phẩm tươngđương.
- Các yếu tố bên ngoài khác:
o Tính hình kinh tế: Các yếu tố như lạm phát, tăng trưởng hay suy thoai vàlãi suất, đều ảnh hưởng đến các quyết đinh lập giá, bởi vì chúng ảnh hưởngđến chi phí sản xuất và những cảm nhận của người tiêu dùng về giá cả vàgiá trị của sản phẩm
o Những trug gian khác thuộc môi trường của mình: Doanh nghiệp nên địnhgiá sao cho họ có được một lợi nhuận thỏa đáng, khích lệ họ ủng hộ, và giúp
họ bán được sản phẩm một cách hiệu quả
II.3 Các phương pháp định giá:
II.3.1 Định giá trên cơ sở chi phí:
Định giá trên dựa vào chi phí sản xuất có lẽ là phương pháp định giá phổ biến nhất và hợp
lý nhất Phương pháp định giá chi phí có hai cách: định giá cộng chi phí và định giá theomục tiêu lợi nhuận:
- Phương pháp cộng chi phí: được xem là phương pháp đơn giản nhất Theo nguyêntắc này, một phần lợi nhuận được cộng vào chi phí sản xuất, phân phối và quảng báthương hiệu
o Công thức: G = Z + m (Với G là giá; Z là chi phí một đơn vị sản phẩm; m làmức lời dự kiến)
o Phương pháp này hạn chế ở chỗ nó bỏ qua yếu tố cầu và cạnh tranh trên thịtrường Tuy nhiên, phương phấp này được sử dụng khá phổ biến vì nhiều lý
do như:
An toàn và dễ tính toán
Trang 7 An toàn cho doanh nghiệp vì giá luôn cao hơn chi phí, nếu bán đượcthì công ty chắc chắn có lãi
Có tính công bằng cho nhà sản xuất và người tiêu dùng
- Phương pháp định giá bằng lợi nhuận mục tiêu: là cách định giá dựa vào việc phântích hòa vốn Để định giá, nhà sản xuất phải xem xét các mức giá khác nhau và ướcđoán sản lượng hòa vồn, khả năng về lượng cầu và lợi nhuận từ đơn vị sản phẩm
để xác định tính khả thi của lợi nhuận mục tiêu
Không chính xác khi sản lượng thay đổi
Không xét đến yếu tố cầu của thị trường và yếu tố khách hàng
Bỏ qua lợi nhuận ở mức giá cao hơn
II.3.2 Định giá trên cơ sở cạnh tranh
Định giá trên cơ sở cạnh tranh là một trong các phương pháp định giá được sử dụng phổbiến nhất trong quá trình quản trị doanh nghiệp, nhất là quản trị marketing, bán hàng,quản trị chiến lược Phương pháp định giá dựa vào cạnh tranh có hai cách chính: định giátheo cạnh tranh hiện hành và định giá đầu thầu kín
Định giá theo cạnh tranh biện hành: dựa hoàn toàn vào giá của đối thủ cạnh
tranh, ít chú ý vào chi phí cũng như cầu trên thị trường Công ty có thể định giá bằng hoặccao hơn hay thấp hơn một ít so với đối thủ cạnh tranh
Định giá theo đầu thầu kín: Là trường hợp công ty định giá dựa vào giá của đối
thủ cạnh tranh hơn là chi phí và cầu trên thị trường Cách định giá này có ưu điểm là dễtính toán, không phải xác định về nhu cầu thị trường; tránh chiến tranh về giá Khuyếtđiểm là itts quan tâm đến chi phí; Không chú ý đến cầu của thị trường; Bỏ qua lợi nhuận ởmức giá cao hơn
Trang 8II.3.3 Định giá trên cơ sở khách hàng
Giá cả đóng vai trò quan trọng trong quá trình quyết định tiêu dùng Phương pháp địnhgiá dựa vào khách hàng trên cơ sở cảm nhận của khách hàng về thương hiệu, nhận thứccủa khách hàng về giá trị và sự thỏa mẫn của họ là trọng tâm của phương pháp định giánày Ưu điểm của phương pháp này là phù hợp với nguyện vọng của khách hàng; Khắcphục được tình trạng người bán định giá cao Khuyết điểm là khoc thực hiện, đòi hỏi phải
có sự nghiên cứu sâu; Truyền thông rộng rãi; Chi phí cao
II.3.4 Chiến lược định giá tổng hợp
Ba phương pháp định giá trình bày ở phần trên đều có những ưu và nhược điểm tiêng vàkhông có một phương pháp nào hoàn chỉnh vì chúng tập trung vào mottj yếu tố và bỏ bênhai yếu tố còn lại Khi tập trung chi phí thì bỏ quên yếu tố cạnh tranh và khách hàng, khitập trung vào cạnh tranh thì bỏ quên yếu tố chi phí và khách hàng, khi tập trung vào kháchhàng thì bỏ quên yếu tố cạnh tranh và chi phí Vì cậy, các doanh nghiệp phải kết hợp cácyếu tố trên để xây dựng một chiến lược giá thích hợp cho thương hiệu trong từng thịtrường mục tiêu cụ thể
III Thực trạng canh tranh về giá giữa các doanh nghiệp thuộc ngành hàng tiêu dùng nhanh.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN của nước ta hiện nay thì cạnh tranh làmột xu hướng tất yếu của các nhàn sản xuất với nhiều hành hóa và dịch vụ có chủng loại
có thể thay thế cho nhau, người tiêu dùng có nhiều lựa chọn hơn và có xu hướng luônthay đổi và chuyển sang mua những hàng hóa và dịch vụ có tính cạnh tranh hơn về giá vàchất lượng sản phẩm
Từ năm 1986 sau khi tiến hành đổi mới toàn diện trong đó trọng tâm là đổi mới vềkinh tế Kể từ đó trở đi nền kinh tế nước ta được định hướng là nền kinh tế mở, hiện naynước chúng ta đang tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, ký nhiều hiệp định về thương mạivới các tổ chức kinh tế quốc tế và là thành viên có trách nghiệm của các tổ chức thươngmại quốc tế nhờ đó mà đã mở ra một thị trường vô cugf lớn đối với các doanh nghiệp xuấtkhẩu hàng hóa ở Việt Nam Nhưng điều dó cũng đồng nghãi với việc cạnh tranh ngày
Trang 9càng diễn ra khốc liệt, đặc biệt là phải kể đến là thị trường các mặt hàng tiêu dùng khôngchỉ gói gọn về tính đa dạng và chất lượng sản phẩm, àm còn là cuộc đấu trí không ngừngnghỉ của các nhà cung cấp Trong đó, giá thành vẫn là một yếu tố quan trọng quyết địnhthị phần của từng thuong hiệu Bất kể một thị trường hay ngành kinh tế nào yếu tố giá cảluôn là ưu tiên hàng đầu của khách hàng, quyết định hành vi tiêu dùng của họ.
Trong sản xuất thì cạnh tranh buộc các doanh nghiệp phải cải tiến chất lượng đểtồn tại và vươn lên nắm thị phần Phần lớn người tiêu dùng hiện nay đều là những ngườitiêu dùng thông minh nên họ có nhiều yêu cầu này càng cao hơn đối với những sản phẩm,
để những sản phẩm đó là những sản phẩm tốt nhất để họ sử dụng
Theo số liệu của Kantar Worldpanel cho biết năm 2017 có tổng cộng 5.796 sảnphẩm mới thuộc ngành hàng này Bình quân mỗi ngày có 10 (2012) sản phẩm mới xuấthiện trên thị trường, năm 2014 là 12, năm 2017 là 16 Năm 2021 thì bất chấp tình hìnhdiễn biến phúc tạp cảu dịch covid thì 2 ngày ngành hàng này cho ra mắt một sản phẩmmới, điều đó đã chp thấy rằng cạnh tranh trong ngành hàng này là rất khốc liệt
Một số doanh nghiệp thích ứng được và vận dụng tối đa đồng bộ các thủ pháp cạnhtranh hợp lý, linh hoạt để đạt tới các lợi thế tương đối nhằm tăng trường và phát triển cặpthị trường – sản phẩm, khách hàng tiềm năm – thị phần sẽ mang lại rất nhiều lợi ích chongười tiêu dùng như: giá thành cạnh tranh phù hợp với chất lượng sản phẩm, người tiêudùng có thể tự do lựa chọn giữa các sản phẩm liên tục được cải tiến về mẫu mã, chấtlượng Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam chưua được hưởng lợi hoàn toàn từ nhữnglợi ích đó từ thị trường cạnh tranh mang lại, do người tiêu dùng thiếu thông tin về giá cả
và đặc biệt là chất lượng sản phẩm Hệ thông phân phối còn phân tán, thiếu tổ chức.Dựa trên quan điểm đó những năm 1995 đến 2002 khi Unilever và P&G mới bắtđầu đặt chân vào thị trường Việt Nam Lúc đó 2 thương hiệu này còn khá xa lạ với ngườidân nước ta xong, những chính chất lượng sản phẩm vượt trội so với các sản phẩm đượcsản xuất trong nước hoặc nhập khẩu trong nước đã thực sự chinh phược được người tiêudùng ở thị trường Việt Nam Để đẩy nhanh tốc độ bao phủ của mình hai tập toàn trên đãđẩy mạnh hoạt động quảng cáo bằng những chiến dịch quảng cáo rầm rộ cả trên báo lẫn
Trang 10những phương tiện truyền thông phổ biến nhất tời bấy giờ với mục tiêu là chiếm được 50 -60% thị phần bột giặt nước ta và nhanh chóng tiêu diệt những doanh nghiệp nhỏ sản xuất chất tẩy rửa trong nước Tuy nhiên quảng cáo và những chiến dịch truyền thông là
chưa đủ để có thể kích thích được người tiêu dùng bỏ hầu bao ra để tiêu dùng bột giặt của
2 tập đoàn này, bởi rào cản còn là những thương hiệu bột giặt trong nước và nhập từTrung Quốc với giá thành rẻ hơn Đến năm 2002 thị trường bột giặt Việt nam xảy ranhững biến động vô cùng lớn mà ảnh hưởng của nó còn kéo dài đến tận bây giờ, đó làngành hàng bột giặt thực hiện chính sách đại hạ giá, cùng với nhiều chiêu thức khuyếnmại tặng quà, trúng thưởng hấp dẫn của hai tập đoàn trên với đại diện là 2 thương hiệuOmo của Unilever và Tide của P&G Vậy thì cuộc chiến về giá của Unilever và P&G đãdiến ra như thế nào? Cách mà 2 tập đoàn trên triển khai chính sách về giá ra sao?
IV Tình huống cạnh tranh về giá giữa Unilever và P&G
Năm 2002, thị trường bột giặt Việt Nam có những biến động lớn khi trước đó vào năm
1995 và 1996 thị trường có sự tham gia của hai ông lớn là Unilever và P&G Để thực hiện
2 mục tiêu như đã ề cập ở trên thì cả Omo và Tide đều thực hiện các chiến lược như:Giảm giá ngày càng thấp để thu hút khách hàng về phía mình; Hệ thống phân phối các sảnphẩm phải đạt được tiêu chuẩn; Sản phẩm thì luôn luôn phải thay đổi liên tục nhằm thuhút ngày càng nhiều khách hàng, đáp ứng các nhu cầu ngày càng đa dạng và những nhucầu tiềm năng của khách hàng; Chăm sóc khách hàng chu đáo; Thực hiện và lợi dụng triệt
để các phương tiện truyền thông để thu hút và lôi kéo khách hàng Nhưng nhìn chungtrong những chiến lược trên thì chính sách về giá vẫn là then chốt nhất
Tại thời điểm đó 2 tập đoàn trên thực hiện chính sách đại hạ giá Cụ thể thì vào tháng8/2002 những người tiêu dùng Việt Nam hết sức phần khởi khi Omo và Tide liên tục hạgiá Đầu tiên là Tide, hạ giá loại gói 400g 25% từ 8.000 đồng xuống còn 6.000 đồng Tiếp
đó không kém cạnh Omo đã giảm giá, ngay từ 7.500 đồng xuống còn 5.500 đồng/gói500g Tide lại hạ giá từ 6.000 đồng/gói 400g xuống còn có 4.500 đồng Như vậy, Tide đãgiảm giá 31,25% và Omo là 25% Đến giữa tháng 9/2002, thì Omo đã bắt đầu tăng giánhững tăng một cách kín đáo hơn: giá vẫn còn 5.500 đồng nhưng trọng lượng chỉ còn400g chứ không phải là 500g như trước nữa Omo cũng thực hiện chính sách về giá
Trang 11nhưng là nhằm để phát triển hệ thống phân phối của họ bằng cách có chính sách thưởngcho những nhà bán lẻ Thị trường nước ta lúc bấy giờ hệ thống phân phối chưa phát triểnnhư bây giờ chủ yếu là các cửa hàng tạp hóa và những nhà bản nhỏ lẻ, vì thế nên vớinhững nhà bán lẻ, cửa hàng bày hàng hóa của Omo thì sẽ được thưởng 1.000 đồng Nhiềuchủ cửa hàng, đại lý thấy lợi nên thi nhau trưng bày sản phẩm của Omo.
Các doanh nghiệp trong nước có liên quan đến ngành hàng này đều đang theo dõinhững biến động về giá của 2 thương hiệu này Bởi chỉ với 3 lần giảm giá của 2 thươnghiệu này đã khiến cho doanh số bán hàng của những công ty sản xuất chất tẩy rửa ViệtNam lúc bấy giờ giảm đi đáng kể Khốn đốn nhất lúc bấy giờ là bột giặt Vì Dân với Giámđốc là ông Nguyễn Mộng Lân của công ty Vico chủ sở hữu hàng bột giặt Vì Dân đã nhậnđịnh rằng “ Người dân sẽ là người chịu thiệt nếu như chúng tôi phá sản” Tại sao ông Lânlại nói như thế, bởi cần phải xem lại mục đích của hai tập đoàn này khi tiến vào Việt Namngoài việc chiếm lấy phần Việt Nam thì còn là tiêu diệt những doanh nghiệp Việt Nam.Bởi khi tiêu diệt được các doanh nghiệp này và nắm được phần lớn thị phần bột giặt củaViệt Nam trong tay thì họ sẽ thỏa sức tăng giá mà không gặp bất cứ trở ngại nào, đâychính là vấn đề về độc quyền
Chúng ta nên nhớ lại một vài năm trước 2002 thì người tiêu dùng rất sung sướng khicủa Pepsi và Coca bước vào thị trường Việt Nam và cũng thực hiện chiến lược giá giảmnhư thế, người tiêu dùng ai cũng vui vì được hưởng lợi trước mắt Pespi giảm giá từ 2.000đồng xuống còn 1.500 đồng , Coca giảm giá bằng cách tăng dung tích từ 200ml lên 300ml
mà vẫn giữ nguyên giá bản Thế là trong đợt hạ giá này có lúc Coca có lúc xuống còn 400đồng/chai Người tiêu dùng chưa phần khởi được lâu thì những doanh nghiệp sản xuấtnước có gas đã bước đến bờ vực phá sản Sau khi những doanh nghiệp Việt “chết hẳn” thìPepsi và Coca đồng loạt tăng giá gấp 7 lần đỉnh điểm của cuộc đại hạ giá
Cạnh tranh về giá tức là các doanh nghiệp đó lựa chọn chính sách giá thấp hoặc chínhsách bán phá giá nhằm thu hút khách hàng, giành thị phần so với các đối thủ cạnh tranh.Thực chất của cuộc cạnh tranh về giá lại chính là việc Omo và Tide bắt chước nhau Nếucác doanh nghiệp đều sản xuất cùng một loại hàng hóa với nhau, một doanh nghiệp tiếnhành hoạt động giảm giá thì các doanh nghiệp khác cũng sẽ giảm giá để bảo vệ thị phần