1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Báo cáo tổng kết thi hành luật cạnh tranh

44 36 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Báo Cáo Tổng Kết 12 Năm Thi Hành Luật Cạnh Tranh
Trường học Bộ Công Thương
Thể loại báo cáo
Năm xuất bản 2017
Định dạng
Số trang 44
Dung lượng 572,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ngay sau khi Luật Cạnh tranh được ban hành, hệ thống các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng được xây dựng và ban hành, bao gồm: 05/2006/NĐ-CP 09/01/2006 Nghị đị

Trang 1

BỘ CÔNG THƯƠNG CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

BÁO CÁO Tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh

Luật Cạnh tranh năm 2004 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩaViệt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 03 tháng 12 năm 2004, có hiệulực thi hành kể từ ngày 01 tháng 7 năm 2005 là văn bản pháp luật quan trọng, điềuchỉnh mối quan hệ cạnh tranh giữa các chủ thể hoạt động kinh doanh trên thịtrường Luật này là hành lang pháp lý quan trọng giúp tạo lập và duy trì môitrường kinh doanh bình đẳng, lành mạnh, từ đó tạo điều kiện phát triển kinh tế đấtnước, phân bổ hiệu quả các nguồn lực xã hội và đảm bảo lợi ích của người tiêudùng

Căn cứ Nghị quyết số 22/2016/QH14 ngày 29 tháng 7 năm 2016 của Quốchội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XIV về điều chỉnh Chươngtrình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnhnăm 2017; Nghị quyết số 34/2017/QH14 ngày 08 tháng 6 năm 2017 của Quốc hộikhoá XIV về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2018 và điều chỉnhChương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2017; Quyết định số 1840/QĐ-TTgngày 23 tháng 9 năm 2016 của Thủ tướng Chính phủ phân công cơ quan chủ trìsoạn thảo và thời hạn trình các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết được bổ sung vàoChương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2016 và Chương trình xây dựng luật,pháp lệnh năm 2017, Bộ Công Thương được giao chủ trì, phối hợp với các cơquan, tổ chức có liên quan xây dựng dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi)

Để có cơ sở cho việc xây dựng dự án Luật Cạnh tranh (sửa đổi), Bộ CôngThương đã triển khai các hoạt động: khảo sát ý kiến của cộng đồng doanh nghiệp;phỏng vấn chuyên gia để đánh giá những thành tựu cũng như bất cập, hạn chế củaLuật Cạnh tranh và hướng hoàn thiện; tổ chức lấy ý kiến của các Bộ, cơ quanngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương và 63 tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương;1 tổ chức lấy ý kiến của các chuyên gia, các cơ quan cạnh tranh quốc tế; tổchức lấy ý kiến rộng rãi của cộng đồng doanh nghiệp và các cơ quan, tổ chức liênquan; các hoạt động hội thảo, toạ đàm khoa học; nghiên cứu chuyên đề, rà soátpháp lý Trên cơ sở kết quả của các hoạt động nêu trên, Bộ Công Thương đã xâydựng Báo cáo tổng kết 12 năm thi hành Luật Cạnh tranh

1 Tính đến tháng 7 năm 2017, Bộ Công Thương đã nhận được tổng số 85 ý kiến đóng góp bằng văn bản của các Bộ,

cơ quan ngang Bộ, cơ quan, tổ chức ở Trung ương và UBND các Tỉnh, Thành phố trực thuộc Trung ương (Chi tiết

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT NHỮNG KẾT QUẢ ĐÃ ĐẠT ĐƯỢC QUA 12 NĂM THI HÀNH LUẬT CẠNH TRANH

LUẬT CẠNH TRANH VÀ CÁC ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO THI HÀNH

Công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật cạnh tranh, hệ thống cơquan cạnh tranh, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ cũng như phổ biến, tuyêntruyền pháp luật cạnh tranh là những hoạt động có tính thường xuyên, liên tục, tạođiều kiện đảm bảo hiệu quả của công tác thi hành Luật Cạnh tranh

1 Xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành

Sự ra đời của Luật Cạnh tranh đã đánh dấu một bước tiến, cột mốc mớitrong quá trình phát triển và tạo lập nền kinh tế thị trường ở Việt Nam Ngay sau khi Luật Cạnh tranh được ban hành, hệ thống các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã nhanh chóng được xây dựng và ban hành, bao gồm:

05/2006/NĐ-CP 09/01/2006 Nghị định của Chính phủ về việc thành lập và quyđịnh chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ

chức của Hội đồng cạnh tranh

06/2006/NĐ-CP 09/01/2006 Nghị định của Chính phủ về việc quy định chứcnăng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của

Cục Quản lý cạnh tranh

Luật Cạnh tranh và các văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành đã tạothành một hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật đồng bộ, tạo điều kiện thuậnlợi trong hoạt động của cơ quan cạnh tranh đồng thời thể hiện sự rõ ràng và minhbạch đối với cộng đồng doanh nghiệp Các quy định trong hệ thống các văn bảnnày đã tạo ra một hành lang và khuôn khổ pháp lý để các doanh nghiệp căn cứ vào

đó điều chỉnh các hành vi cạnh tranh trong kinh doanh tuân thủ đúng theo quy địnhcủa pháp luật và qua đó thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh trong nhiều ngành, lĩnh vựccủa nền kinh tế Tuy nhiên, trong quá trình thi hành, một số văn bản cũng đã bộc lộhạn chế dẫn đến yêu cầu hoàn thiện Bên cạnh đó, nhiều văn bản quy phạm phápluật liên quan khác cũng được sửa đổi dẫn tới không còn thống nhất với các quy

2

Trang 3

định của pháp luật về cạnh tranh Vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung là cần thiết nhằmđảm bảo hiệu quả thi hành và tính thống nhất của hệ thống pháp luật Cụ thể:

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với thành viên Hội đồng cạnh tranh kiêm nhiệm và người tiến hành, tham gia tố tụng cạnh tranh tại phiên điều trần

Thông tư của Bộ Công Thương quy định chi tiết thi hành một số điều của Nghị định số 42/2014/NĐ-CP của Chính phủ ngày 14/5/2014 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp, thay thế cho Thông tư số 19/2005/TT-BTM của Bộ Thương mại ngày 08/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/08/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp

và Thông tư 35/2011/TT-BCT của Bộ Công Thương ngày 23/9/2011 sửa đổi, bổ sung một số nội dung về thủ tục hành chính tại Thông tư số 19/2005/TT-BTM của Bộ Thương mại ngày 08/11/2005 hướng dẫn một số nội dung quy định tại Nghị định số 110/2005/NĐ-CP của Chính phủ ngày 24/8/2005 về quản lý hoạt động bán hàng đa cấp

Thông tư của Bộ Tài chính quy định mức thu, chế

độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định, lệ phí cấp Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động bán hàng đa cấp

Trang 4

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của Hội đồng cạnh tranh

Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về chế độ bồi dưỡng đối với thành viên Hội đồng cạnh tranh và người tiến hành, người tham gia tố tụng cạnh tranh

(thay thế Quyết định 82/2010/QĐ-TTg, có hiệu lực thi hành kể từ ngày 10/10/2016)

Nhìn chung, Luật Cạnh tranh và các văn bản hướng dẫn thực thi đã tạo lậpđược một khung pháp lý đầy đủ, thống nhất, toàn diện và tương đối ổn định trongsuốt thời gian qua nhằm điều chỉnh các hành vi phản cạnh tranh, tạo sân chơi bìnhđẳng hơn cho các doanh nghiệp nhằm bảo đảm sự phát triển ổn định của nền kinh

tế, bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng, đồng thời góp phần tạo nên sựhoàn chỉnh cho hệ thống pháp luật, tương hỗ cho các luật khác

2 Thành lập, tổ chức bộ máy của các cơ quan cạnh tranh

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, các cơ quan cạnh tranh tại Việt Nambao gồm Cơ quan quản lý cạnh tranh và Hội đồng cạnh tranh

Cơ quan quản lý cạnh tranh: Căn cứ Điều 49 Luật Cạnh tranh, Cơ quan

quản lý cạnh tranh (QLCT) do Chính phủ quyết định thành lập và quy định tổchức, bộ máy Thực hiện quy định này, ngày 09 tháng 01 năm 2006, Chính phủban hành Nghị định số 06/2006/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Cục QLCT là cơ quan quản lý cạnh tranh Cũng theo quy địnhcủa Nghị định số 06/2006/NĐ-CP nêu trên, Cục QLCT có chức năng giúp Bộ trưởng

Bộ Công Thương thực hiện quản lý nhà nước về cả ba lĩnh vực: cạnh tranh; bảo vệquyền lợi người tiêu dùng; và phòng vệ thương mại

Triển khai Nghị định số 95/2012/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2012 củaChính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của BộCông Thương, ngày 05 tháng 02 năm 2013, Bộ trưởng Bộ Công Thương ban hànhQuyết định số 848/QĐ-BCT quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổchức của Cục QLCT2, theo đó cơ cấu tổ chức của Cục QLCT cho đến tháng 8/2017bao gồm 08 phòng chuyên môn, 02 trung tâm, Văn phòng và 02 văn phòng đạidiện tại TP Hồ Chí Minh và Đà Nẵng Cùng với công tác kiện toàn tổ chức, cácnguồn lực hoạt động của Cục QLCT cũng không ngừng gia tăng Ngân sách hoạt

2 Ngày 18/8/2017, Chính phủ ban hành Nghị định số 98/2017/NĐ-CP quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và

cơ cấu tổ chức của Bộ Công Thương Theo đó, Cục QLCT được tách thành hai đơn vị: Cục Cạnh tranh và Bảo vệ người tiêu dùng (phụ trách lĩnh vực cạnh tranh và bảo vệ người tiêu dùng); Cục Phòng vệ thương mại (phụ trách lĩnh vực phòng vệ thương mại).

4

Trang 5

động của Cục QLCT có xu hướng tăng qua các năm Nguồn nhân lực của CụcQLCT cũng được tăng cường, đạt tới 104 nhân viên vào năm 2014 Từ năm 2015cho tới nay, do một số cán bộ chuyển công tác và thực hiện chủ trương tinh giảnbiên chế của Chính phủ nên số lượng cán bộ, nhân viên của Cục QLCT đã giảm.

Hội đồng cạnh tranh: Hội đồng cạnh tranh (HĐCT) có vai trò quan trọng

mang tính quyết định trong việc xử lý đối với các hành vi hạn chế cạnh tranh.HĐCT do Chính phủ thành lập theo Nghị định số 05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng

01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập và quy định chức năng, nhiệm vụ,quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HĐCT Theo quy định tại Điều 53 Luật Cạnhtranh, HĐCT có từ mười một đến mười lăm thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổnhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Công thương để thực hiệnnhiệm vụ tổ chức xử lý, giải quyết khiếu nại đối với các vụ việc cạnh tranh liênquan đến hành vi hạn chế cạnh tranh Để đảm bảo yêu cầu công tác, thành viênHĐCT được lựa chọn từ nhiều Bộ và cơ quan khác nhau như Bộ Công Thương, Bộ

Tư pháp, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Xâydựng, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Viện Nhà nước và Pháp luật

Nhằm kiện toàn bộ máy và cơ chế hoạt động cho HĐCT, ngày 16 tháng 01năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 07/2015/NĐ-CP quy định chức năng,nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HĐCT để thay thế cho Nghị định số05/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về việc thành lập vàquy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của HĐCT

Đồng thời với quá trình xây dựng, hoàn thiện tổ chức và hoạt động của các

cơ quan cạnh tranh, công tác đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ là mộttrong những nhiệm vụ trọng tâm luôn được các cơ quan cạnh tranh thực hiện hiệuquả trong suốt thời gian qua Bên cạnh đó, do các cơ quan cạnh tranh mới đượcthành lập, đội ngũ cán bộ hầu hết còn trẻ, thiếu kiến thức và kinh nghiệm thực tếnên công tác đào tạo nâng cao năng lực để phục vụ công tác càng trở nên quantrọng và vô cùng cấp thiết Công tác đào tạo cán bộ được triển khai với nhiều hìnhthức khác nhau, mức độ và thời gian khác nhau nhằm nâng cao trình độ chuyênmôn, kỹ năng nghiệp vụ cho các cán bộ trẻ, cán bộ cấp quản lý, các điều tra viên,thành viên HĐCT Có thể nói, thông qua các hoạt động đào tạo nâng cao năng lựcđội ngũ cán bộ đã giúp cho các cán bộ của các cơ quan cạnh tranh ngày càng đượctrưởng thành hơn và từ đó có thể hoàn thành tốt các công việc, đặc biệt trong côngtác điều tra, xử lý đối với các hành vi vi phạm pháp luật cạnh tranh

3 Phổ biến, tuyên truyền nâng cao nhận thức về pháp luật cạnh tranh

Để Luật Cạnh tranh thực sự phát huy hiệu quả, từng bước đi sâu vào đờisống xã hội và cộng đồng doanh nghiệp, các cơ quan cạnh tranh luôn quan tâm chútrọng và nỗ lực triển khai các hoạt động tuyên truyền, phổ biến nhằm nâng caonhận thức về pháp luật cạnh tranh cho cộng đồng xã hội và doanh nghiệp

Trang 6

Các hoạt động tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh đã được triển

khai trên diện rộng với nhiều nhóm đối tượng khác nhau, từ cộng đồng doanh

nghiệp, luật sư, các hiệp hội ngành hàng đến các cơ quan quản lý nhà nước và cả

các cán bộ, giảng viên, sinh viên tại trường đại học trong cả nước Hình thức tuyên

truyền đa dạng gồm giải đáp pháp luật, tổ chức hội thảo, diễn đàn, khóa đào tạo,

phát hành nhiều loại ấn phẩm, báo cáo nghiên cứu, tờ rơi… Nội dung tuyên truyền

không chỉ dừng lại ở lý thuyết mà còn đề cập đến thực tế điều tra, xử lý các vụ việccạnh tranh, từ đó tạo cơ hội phân tích, tranh luận sâu rộng về nhiều vấn đề bất cậptrong quy định của Luật Cạnh tranh và trong hoạt động thực thi của cơ quan cạnhtranh Đặc biệt, Luật Cạnh tranh những năm gần đây đã được đưa vào chương trìnhgiảng dạy như một môn học bắt buộc đối với các sinh viên chuyên ngành luật hệchính quy và tại chức, bậc đại học và sau đại học Trong một vài năm trở lại đây,cộng đồng doanh nghiệp đã dành sự quan tâm nhiều hơn đến việc tuân thủ phápluật cạnh tranh Nhiều doanh nghiệp đã có các bộ tài liệu và tập huấn nội bộ đểtrang bị cho nhân viên kiến thức luật cạnh tranh cho nhân viên

Hiệu quả của công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật cạnh tranh của các

cơ quan cạnh tranh cũng có thể được phản ánh qua mức độ nhận thức của cộngđồng xã hội và doanh nghiệp Hiểu biết của doanh nghiệp về Luật Cạnh tranhkhông chỉ đóng vai trò quan trọng trong việc thực thi hiệu quả pháp luật cạnh tranh

mà còn có ý nghĩa tích cực đối với chính hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Theo kết quả khảo sát của Bộ Công Thương năm 2015 về mức độ nhận thứccủa doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh và cơ quan cạnh tranh, có 72.8% doanhnghiệp được khảo sát trả lời là có biết về Luật Cạnh tranh Phần lớn các doanhnghiệp này tập trung ở 2 trung tâm kinh tế lớn nhất của cả nước là Hà Nội và TP

Hồ Chí Minh với tỉ lệ là 30.06% ở Hà Nội và 30.16% ở TP Hồ Chí Minh, còn ở

Đà Nẵng, các doanh nghiệp đã biết đến Luật Cạnh tranh chỉ chiếm tỉ lệ 12.6%

Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về pháp luật cạnh tranh

Về mức độ hiểu biết của doanh nghiệp đối với từng nhóm quy định, trong sốcác hành vi phản cạnh tranh, quy định về hành vi CTKLM được các doanh nghiệpbiết rõ hơn cả với mức điểm trung bình là 3.37 điểm Quy định về các hành vi thỏa

6

Trang 7

thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độcquyền và tập trung kinh tế vốn vốn khá phức để nhận biết dẫn đến việc hiểu biếtcủa doanh nghiệp về nhóm các hành vi này còn khá hạn chế.

Mức độ hiểu biết của doanh nghiệp về quy định của pháp luật cạnh tranh

Sự nhận biết của doanh nghiệp về cơ quan cạnh tranh

Đối với câu hỏi doanh nghiệp đã từng liên hệ làm việc với cơ quan cạnhtranh hay chưa, có 25.6% doanh nghiệp trả lời đã từng từng liên hệ hoặc làm việc

với cơ quan cạnh tranh.

Kết quả khảo sát cũng cho thấy các doanh nghiệp biết tới cơ quan cạnh tranhthông qua hoạt động hội thảo, đào tạo với tỉ lệ chiếm tới 48.2% Tiếp đến là thôngqua hoạt động tham vấn về các vấn đề cạnh tranh với tỉ lệ 24.8%, thông qua các vụviệc hạn chế cạnh tranh 17.1% và hoạt động được ít các doanh nghiệp lựa chọnnhất là thông qua các vụ việc tập trung kinh tế, chiếm 7.2%, và 2.7% còn lại thôngqua các hoạt động khác được các doanh nghiệp tự đề cập

III KẾT QUẢ THI HÀNH CÁC QUY ĐỊNH CỦA LUẬT CẠNH TRANH

1 Thi hành các quy định về kiểm soát hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh

thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Trang 8

Trong 12 năm thi hành, Bộ Công Thương đã chủ động tiến hành hoạt độngđiều tra tiền tố tụng đối với nhiều ngành, lĩnh vực có tính chất quan trọng, nhạycảm trong nền kinh tế nhằm tăng cường khả năng phát hiện dấu hiệu vi phạm phápluật cạnh tranh Hoạt động điều tra tiền tố tụng được tiến hành khi nhận thấy trênthị trường có biến động bất thường hoặc đang xảy ra tranh chấp liên quan đến phápluật cạnh tranh, hoặc có nghi vấn về hành vi vi phạm quy định của Luật Cạnhtranh Mục đích của hoạt động này là nhằm thu thập các thông tin, tài liệu cơ bản

về hành vi nghi vấn, cũng như thông tin chung về cạnh tranh trên thị trường Kếtquả của hoạt động điều tra tiền tố tụng là đưa ra các quyết định điều tra theo thủtục tố tụng cạnh tranh nếu có thông tin xác thực về hành vi vi phạm, hoặc tiếp tụctheo dõi diễn biến vụ việc nếu chưa đủ thông tin Tính đến năm 2016, đã có tổng

số 87 cuộc điều tra tiền tố tụng được thực hiện

Số vụ việc lạm dụng vị trí thống lĩnh/độc quyền và thỏa thuận HCCT

Tính đến năm 2016, số vụ việc điều tra liên quan đến các hành vi thoả thuậnhạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường và lạm dụng vị trí độcquyền là 08 vụ việc liên quan đến các thị trường bia, xăng dầu hàng không, bảohiểm, phim chiếu rạp, vật liệu xây dựng, vận tải hành khách và du lịch Trong đó

có 06 vụ đã được HĐCT tiến hành xử lý theo quy định Thông qua quá trình điềutra, xử lý với gần 70 doanh nghiệp bị điều tra, các cơ quan cạnh tranh đã ra quyếtđịnh xử lý, thu về ngân sách nhà nước tổng số tiền phạt và phí xử lý vụ việc cạnhtranh gần 5,5 tỷ đồng.3

2 Thi hành các quy định về kiểm soát tập trung kinh tế

Ngay từ khi Luật Cạnh tranh được ban hành đến nay, hoạt động tập trungkinh tế (TTKT) ở Việt Nam đã trở nên sôi động, phản ánh một nền kinh tế mở với

sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế

Tính đến hết năm 2016, Bộ Công Thương đã thụ lý 32 vụ việc thông báoTTKT và nhiều vụ việc tham vấn khác cả trước và trong quá trình các doanh

3 Số tiền phạt thu về từ các vụ việc liên quan đến thị trường xăng dầu hàng không và bảo hiểm.

8

Trang 9

nghiệp thực hiện TTKT Số vụ thông báo và tham vấn TTKT được thống kê nhưbảng dưới.

Thống kê số vụ việc tập trung kinh tế

lên đáng kể, xuất phát từ nhiều lý do nhưng chủ yếu là: (1) Công tác tuyên truyền,

phổ biến pháp luật cạnh tranh luôn giúp các doanh nghiệp có nhận thức và ý thức

tuân thủ pháp luật cạnh tranh tốt hơn (2) Sự phối hợp hiệu quả giữa các cơ quan

có liên quan trong việc kiểm soát hoạt động TTKT diễn ra trong nhiều ngành nghề,

lĩnh vực khác nhau của nền kinh tế (3) Có sự chuyển dịch về phương thức đầu tư

nước ngoài vào Việt Nam, nhiều doanh nghiệp đã lựa chọn phương thức đầu tư

thông mua hoạt động mua bán, sáp nhập nhằm tiết kiệm nguồn lực, dễ dàng thâmnhập thị trường và giảm thiểu các rào cản gia nhập thị trường

3 Thi hành các quy định về cạnh tranh không lành mạnh

Về các hành vi cạnh tranh không lành mạnh (CTKLM), tính đến hết năm

2016, đã có hơn 330 hồ sơ khiếu nại, trong đó có 182 vụ đã được điều tra, xử lý

Thống kê các vụ việc cạnh tranh không lành mạnh

Trang 10

Các vụ việc CTKLM thường diễn ra dưới nhiều hình thức, theo nhiều dạnghành vi vi phạm khác nhau Theo số liệu của Bộ Công Thương, nhóm vụ việc liênquan đến hành vi quảng cáo nhằm CTKLM chiếm tỷ lệ lớn nhất trong số các vụCTKLM (chiếm tới 62%), tiếp theo là các vụ việc liên quan tới hành vi bán hàng

đa cấp bất chính (chiếm 17%) Số vụ việc liên quan tới các dạng hành vi khác nhưchỉ dẫn gây nhầm lẫn, gây rối hoạt động của doanh nghiệp khác, gièm pha doanhnghiệp khác, xâm phạm bí mật kinh doanh chiếm tỷ lệ thấp Thông qua xử lý cáchành vi CTKLM đã thu về ngân sách nhà nước tổng số tiền phạt và chi phí xử lýđáng kể Nếu năm 2007, tổng số tiền phạt mới chỉ là 85 triệu đồng, thì năm 2008,tổng số tiền phạt đã tăng lên gần gấp 10 lần (khoảng 805 triệu đồng), và đến năm

2016 là 2,114 tỷ đồng

4 Thi hành quy định tại Điều 6 Luật Cạnh tranh

Thực tiễn trong những năm qua đã xảy ra tình trạng một số cơ quan quản lýnhà nuớc tại địa phuơng có hành vi hoặc ban hành các văn bản hành chính chứađựng nội dung mang tính mệnh lệnh để chỉ định doanh nghiệp cung cấp hàng hoá,cung ứng dịch vụ hoặc phân biệt đối xử giữa các doanh nghiệp Những hành vimang tính mệnh lệnh can thiệp trực tiếp vào các hoạt động cạnh tranh trên thịtrường như đề cập có thể gây những tác động tiêu cực và làm phương hại đến môitrường cạnh tranh, tạo ra sự phân biệt đối xử bất bình đẳng làm ảnh hưởng tớidoanh nghiệp khác trên thị trường Điều này không chỉ có dấu hiệu vi phạm quyđịnh tại Điều 6 Luật Cạnh tranh về các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhànước mà còn đi ngược lại tinh thần của nguyên tắc thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh

đã được ghi nhận và quy định tại Điều 51 Hiến pháp và Điều 10 Luật Thương mạicùng một số quy định pháp luật khác về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp

Trước tình hình đó, để tránh gây hiểu nhầm trong dư luận về chủ trương,chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, Bộ Công Thương đã tiến hành xácminh các sự việc, chủ động làm việc và nhận được sự ủng hộ, hợp tác tích cực,hiệu quả từ hầu hết các cơ quan và đơn vị có liên quan để tháo gỡ và xử lý đối vớitừng sự việc trên tinh thần thượng tôn pháp luật, phù hợp với điều kiện kinh tế xã

10

Trang 11

hội đặc thù ở từng địa phương và đồng thời cũng để giải toả những thắc mắc vàbức xúc từ cộng đồng xã hội.

Chỉ riêng trong hai năm 2014 và 2015, Bộ Công Thương đã tiến hành xácminh và xử lý 15 vụ việc có dấu hiệu vi phạm quy định tại Điều 6 Luật Cạnh tranh.Một số sự việc tiêu biểu như Sở Giáo dục và Đào tạo Hà Nội ban hành văn bản đềnghị các trường học, cơ sở giáo dục chỉ nên tham gia bảo hiểm với 5 doanh nghiệpbảo hiểm; Uỷ ban nhân dân tỉnh Nghệ An và một số huyện tại tỉnh Hà Tĩnh banhành văn bản yêu cầu các cơ quan, đơn vị, người dân địa phương ưu tiên sử dụngcác sản phẩm đồ uống sản xuất trong tỉnh như bia Hà Nội, Sài Gòn, Vida…; Uỷban nhân dân tỉnh Quảng Nam yêu cầu các cơ quan nhà nước tại địa phương phải

sử dụng xi măng Xuân Thành trong đầu tư kiên cố hoá mặt đường giao thông nôngthôn trên địa bàn tỉnh; Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh yêu cầu các cơ quan, đơn

vị địa phương phải sử dụng dịch vụ thanh toán tiền lương qua ngân hàng do Ngânhàng Techcombank cung cấp v.v…

Trang 12

PHẦN THỨ HAI BẤT CẬP, HẠN CHẾ TRONG THI HÀNH LUẬT CẠNH TRANH

VÀ NGUYÊN NHÂN

I BẤT CẬP, HẠN CHẾ CỦA LUẬT CẠNH TRANH

Mặc dù đạt được một số thành tựu nhất định nhưng kết quả 12 năm thi hànhLuật Cạnh tranh không được như kỳ vọng Số lượng vụ việc được điều tra và xử lýchưa nhiều, chưa phản ánh đúng thực tế cạnh tranh trên thị trường Một trong sốnguyên nhân là do quy định của Luật Cạnh tranh đã dần bộc lộ nhiều điểm hạn chế

và bất cập, gây khó khăn, vướng mắc trong quá trình thi hành

1 Chương Những quy định chung

1.1 Về phạm vi điều chỉnh của Luật

Với mục tiêu cơ bản là bảo vệ các quan hệ cạnh tranh, bảo đảm môi trườngcạnh tranh lành mạnh, bình đẳng, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước, LuậtCạnh tranh hướng đến kiểm soát các hành vi có tác động hoặc có khả năng dẫn tớiđộc quyền hoá thị trường, làm tổn hại hoặc xâm hại môi trường cạnh tranh

Với xu thế toàn cầu hoá và mở cửa thị trường, phạm vi hoạt động của cácdoanh nghiệp ngày càng có xu hướng mở rộng trên phạm vi quốc tế Thực tiễn tạiViệt Nam cũng như thế giới đã cho thấy ngày càng có nhiều hành vi phản cạnhtranh xuyên biên giới, đặc biệt là thoả thuận hạn chế cạnh tranh và tập trung kinh

tế, gây tác động phản cạnh tranh đối với nhiều quốc gia, xâm phạm lợi ích củangười tiêu dùng trong phạm vi nhiều nước, trong đó Việt Nam cũng không phải làmột ngoại lệ Chẳng hạn: thoả thuận ấn định phí và phụ phí vận chuyển tàu biểngiữa các hãng tàu lớn của nước ngoài ảnh hưởng đến các doanh nghiệp xuất nhậpkhẩu hàng hoá của Việt Nam; Tập đoàn Abbott mua lại Công ty dược phẩm CFR;Tập đoàn Boehringer Ingelheim International mua lại Sanofi SA trong lĩnh vựcthuốc thú y; Tập đoàn Central Group (Thái Lan) mua lại Hệ thống siêu thị Big CViệt Nam… Tại Hoa Kỳ, Canada, Úc, New Zealand, EU, Nhật Bản, Hàn Quốc,Singapore… các cơ quan cạnh tranh gần đây đã điều tra, xử lý nhiều vụ xuyên biêngiới, như: thoả thuận ấn định giá, phí vận chuyển hàng hoá bằng đường hàngkhông giữa hơn 20 hãng hàng không lớn trên thế giới; vụ mua bán, sáp nhập giữagiữa Western Digital và Hitachi, giữa Samsung và Seagate…

Với mục tiêu như đã nêu, những hành vi gây tác động xấu đến môi trườngcạnh tranh Việt Nam như trên cần thiết phải bị xử lý theo Luật Cạnh tranh Tuynhiên, quy định về phạm vi điều chỉnh của Luật Cạnh tranh hiện chưa rõ ràng vềviệc liệu có điều chỉnh các hành vi xảy ra bên ngoài lãnh thổ nhưng có tác độngtiêu cực đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam hay không Chính vì vậy, các cơquan cạnh tranh Việt Nam đang gặp khó khăn, lúng túng bởi thiếu cơ sở pháp lý

Trang 13

vững chắc để điều tra, xử lý các hành vi phản cạnh tranh xảy ra bên ngoài lãnh thổnhưng có ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường cạnh tranh tại Việt Nam.

1.2 Về đối tượng áp dụng của Luật

Cạnh tranh là quy luật tất yếu của nền kinh tế thị trường, là động lực pháttriển kinh tế Luật và chính sách cạnh tranh có vai trò tạo lập nền tảng cơ bản choquá trình cạnh tranh và điều tiết cạnh tranh trên mọi ngành, lĩnh vực Do đó, LuậtCạnh tranh cần được áp dụng đối với mọi đối tượng liên quan đến cạnh tranh trênthị trường

Tuy nhiên, hiện nay, quy định về đối tượng áp dụng tại Điều 2 Luật Cạnhtranh chưa bao quát hết các đối tượng, mới quy định về các tổ chức, cá nhân kinhdoanh và hiệp hội ngành nghề, mà chưa quy định đối tượng là các tổ chức, cá nhân

có liên quan khác (không phải tổ chức, cá nhân kinh doanh) tương thích với cáchành vi được điều chỉnh trong Luật Chẳng hạn: hành vi bị cấm đối với cơ quanquản lý nhà nước (Điều 6 Luật Cạnh tranh) có đối tượng áp dụng là cơ quan quản

lý nhà nước; các hành vi vi phạm quy định về cung cấp thông tin, tài liệu có đốitượng là các tổ chức, cá nhân liên quan trong vụ việc cạnh tranh (có thể họ khôngkinh doanh)

1.3 Khái niệm “Hành vi hạn chế cạnh tranh”

Khái niệm “Hành vi hạn chế cạnh tranh” là một trong những khái niệm quantrọng của Luật Cạnh tranh bởi nhóm hành vi này thuộc phạm vi điều chỉnh và làmục tiêu kiểm soát chính của Luật Cạnh tranh nhằm lành mạnh hoá môi trườngcạnh tranh Nội hàm của khái niệm “Hành vi hạn chế cạnh tranh” được tiếp cận từtác động của hành vi đến môi trường cạnh tranh như làm giảm, sai lệch, cản trở

cạnh tranh và liệt kê các hành vi hạn chế cạnh tranh được điều chỉnh: “Hành vi

hạn chế cạnh tranh là hành vi của doanh nghiệp làm giảm, sai lệch, cản trở cạnh tranh trên thị trường bao gồm hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh, lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, lạm dụng vị trí độc quyền và tập trung kinh tế.” (khoản 3

Điều 3 Luật Cạnh tranh)

Tuy nhiên, việc coi hành vi tập trung kinh tế (TTKT) là một hành vi hạn chếcạnh tranh là chưa phù hợp do không phản ánh đúng bản chất và ảnh hưởng củahành vi này đến môi trường cạnh tranh

TTKT là những hoạt động như mua bán doanh nghiệp, chuyển nhượng, tái

cơ cấu, tái cấu trúc và quyền sở hữu của doanh nghiệp… TTKT thực chất là hoạtđộng giành quyền kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc bộ phận doanh nghiệp,hoặc nhiều doanh nghiệp cùng liên kết lại nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh vàhiệu quả hoạt động; chứ không chỉ đơn thuần là sở hữu một phần vốn góp hoặc cổphần doanh nghiệp như các nhà đầu tư nhỏ lẻ TTKT là một hiện tượng bìnhthường trong hoạt động kinh doanh, thuộc phạm vi quyền tự do kinh doanh củadoanh nghiệp đã được pháp luật cạnh tranh, pháp luât doanh nghiệp, pháp luật đầu

tư, pháp luật chứng khoán v.v… ghi nhận Các giao dịch tập trung kinh tế không

Trang 14

đương nhiên mang tác động làm suy giảm cạnh tranh, mà có cả mặt tiêu cực vàtích cực Cơ quan quản lý chỉ cần xem xét nguy cơ liệu giao dịch TTKT đó có đủkhả năng gây hạn chế cạnh tranh trong tương lai hay không Chính vì lẽ đó, phápluật cạnh tranh trên thế giới đều xem xét TTKT theo cơ chế tiền kiểm mà khôngphải hậu kiểm Luật Cạnh tranh của Việt Nam cũng không cấm TTKT trong mọitrường hợp như các hành vi lạm dụng vị trí độc quyền hay thỏa thuận thông đồngđấu thầu v.v… Như vậy, bản thân TTKT chưa phải là hành vi hạn chế cạnh tranh.

Cách tiếp cận chưa phù hợp như trên đã dẫn đến nhiều quan niệm sai lầmkhi cho rằng TTKT là hành vi bị cấm, luôn tác động tiêu cực đến cạnh tranh trênthị trường Do đó, quy định kiểm soát TTKT hiện nay rất máy móc, chỉ đơn thuần

là xem các số liệu (thị phần của doanh nghiệp) có khớp với ngưỡng quy định củaLuật hay không để cho phép hoặc cấm thực hiện TTKT, mà thiếu đi các đánh giálinh hoạt của cơ quan cạnh tranh về cả tác động tiêu cực và tích cực của TTKT đốivới cạnh tranh trên thị trường

1.4 Khái niệm “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh”

Khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định “Hành vi cạnh tranh không lành

mạnh là hành vi cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh trái với các chuẩn mực thông thường về đạo đức kinh doanh, gây thiệt hại hoặc có thể gây thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp khác hoặc người tiêu dùng” Nhìn chung, cách tiếp cận hành vi CTKLM theo quy

định của pháp luật Việt Nam về cơ bản là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều10bis Công ước Paris năm 1883 về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp cũng như

pháp luật một số nước: “Hành vi cạnh tranh không lành mạnh là mọi hành vi đi

ngược lại các tập quán trung thực trong lĩnh vực công nghiệp hoặc thương mại”4

Bản chất pháp lý của hành vi CTKLM chính là mọi hành vi trái với cácchuẩn mực trung thực và lành mạnh trong quan hệ thương mại, gây thiệt hại đếndoanh nghiệp là đối thủ cạnh tranh trên thị trường liên quan và hoạt động cạnhtranh bình thường trên thị trường Như vậy, khi đề cập đến hành vi CTKLM người

ta thường nhấn mạnh đến tính “không lành mạnh” của hành vi cạnh tranh, tức lànhững hành vi cạnh tranh không đẹp, không phù hợp với đạo đức kinh doanh mànhắm trực tiếp đến đối thủ cạnh tranh hoặc người tiêu dùng Do vậy, định nghĩa vềhành vi CTKLM tại khoản 4 Điều 3 Luật Cạnh tranh chưa thực sự trọn vẹn khi quy

định hậu quả của hành vi là “thiệt hại đến lợi ích của Nhà nước” Đây là một điểm

mở rộng không cần thiết và chưa phù hợp với bản chất của hành vi Chính vì việcxác định hệ quả quá rộng như vậy đã dẫn đến cách tiếp cận chưa phù hợp trong

quy trình giải quyết vụ việc CTKLM sau này Đồng thời, cụm từ “chuẩn mực

thông thường về đạo đức kinh doanh” cũng cần được làm rõ và phù hợp hơn với

Công ước Paris 1883

4«Constitue un acte de concurrence déloyale tout acte de concurrence contraire aux usages honnêtes en matière

industrielle ou commerciale »

14

Trang 15

1.5 Thị phần và cách xác định thị phần

Khoản 5 Điều 3 Luật Cạnh tranh quy định:

“Thị phần của doanh nghiệp đối với một loại hàng hoá, dịch vụ nhất định là

tỷ lệ phần trăm giữa doanh thu bán ra của doanh nghiệp này với tổng doanh thu của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan hoặc tỷ lệ phần trăm giữa doanh số mua vào của doanh nghiệp này với tổng doanh số mua vào của tất cả các doanh nghiệp kinh doanh loại hàng hoá, dịch vụ đó trên thị trường liên quan theo tháng, quý, năm”.

Với quy định này, trên một số thị trường đặc thù như thị trường cho thuêphim, dịch vụ internet, truyền hình trả tiền, thị trường sữa, vận tải hành khách…thì việc xác định doanh thu của doanh nghiệp để tính thị phần là rất khó khăn, phức

tạp, khó có thể thực hiện được hoặc có thể gây ra nhiều tranh cãi.

Trên thực tế đối với những thị trường như vậy một số cơ quan cạnh tranhtrên thế giới thường tính thị phần của doanh nghiệp dựa trên các yếu tố khác dựatheo đặc trưng của ngành như sản lượng bán, năng lực sản xuất… của mỗi doanhnghiệp trên thị trường Ví dụ, cơ quan cạnh tranh Thụy Sỹ đã dựa trên số lượng cácthuê bao để tính thị phần của các doanh nghiệp tham gia thị trường cung cấp dịch

vụ internet ADSL Ngoài ra, theo kinh nghiệm thực thi của nhiều quốc gia, thịphần trên thực tế không thể tính toán được một cách chính xác, và sai số khoảngtrên dưới 5% là mức có thể chấp nhận được Hơn nữa, thị phần luôn là một đạilượng thay đổi theo thời gian và theo nhu cầu của thị trường Mọi diễn biến trên thịtrường hoặc những yếu tố khách quan khác đều có thể ảnh hưởng đến thị phần củadoanh nghiệp Vì vậy, để giải quyết các vụ việc cạnh tranh có hiệu quả, khi xácđịnh thị phần cần phải đặt chúng vào trạng thái động Thị phần sẽ phản ánh chínhxác sức mạnh của doanh nghiệp khi đánh giá thị phần trong sự phát triển củadoanh nghiệp ở quá khứ, hiện tại và tương lai, và với sự phát triển chung củangành cũng như tương quan với các đối thủ cạnh tranh khác

1.6 Về các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước

Quy định về các hành vi bị cấm đối với cơ quan quản lý nhà nước tại Điều 6Luật Cạnh tranh được cộng đồng doanh nghiệp, các chuyên gia trong và ngoàinước đánh giá cao Quy định này được coi là đặc biệt phù hợp với bối cảnh ở cácnước có nền kinh tế chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch hóa sang kinh tế thị trường nhưViệt Nam Tuy nhiên, Luật Cạnh tranh mới chỉ dừng lại ở quy định nền tảng nhưtrên mà chưa quy định các biện pháp xử lý, hoặc trách nhiệm của các cơ quan quản

lý nhà nước, của các cán bộ, công chức khi đã thực hiện các hành vi bị cấm tạiĐiều 6 Luật Cạnh tranh Việc thiếu quy định về xử lý như trên khiến việc thi hànhquy định tại Điều 6 Luật Cạnh tranh trở nên kém hiệu quả, không có tính răn đe,phòng ngừa vi phạm

Trang 16

2 Quy định về thoả thuận hạn chế cạnh tranh

2.1 Quy định cấm đối với thoả thuận hạn chế cạnh tranh

Luật Cạnh tranh 2004 quy định 08 dạng hành vi thỏa thuận hạn chế cạnhtranh và quy định cấm theo hai cách gồm cấm tuyệt đối và cấm trên cơ sở thị phầnkết hợp của doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trên thị trường liên quan trong đóbao gồm cả các hành vi thoả thuận thuộc nhóm thoả thuận hạn chế cạnh tranhnghiêm trọng (thoả thuận ấn định giá, phân chia thị trường, kiểm soát sản lượng).Việc không quy định cấm theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiên đối với một sốhành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh nghiêm trọng là chưa hợp lý và không phùhợp với xu thế phát triển của pháp luật cạnh tranh trên thế giới

Thực tiễn các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh có thể được chia làmnhóm: (1) thoả thuận theo chiều ngang trong đó có các thoả thuận ngang nghiêmtrọng và các thoả thuận ngang ít nghiêm trọng; và (2) thoả thuận theo chiều dọc

Đối với nhiều nước trên thế giới, các thoả thuận ngang nghiêm trọng (thỏathuận ấn định giá, phân chia thị trường, kiểm soát sản lượng và thông thầu) luônmang bản chất phản cạnh tranh, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc cạnh tranh

và tác động tiêu cực đến thị trường nên bị cấm theo nguyên tắc vi phạm mặc nhiên.Khi điều tra các hành vi này, cơ quan cạnh tranh không cần phải chứng minh tácđộng hạn chế cạnh tranh của hành vi Đối với thoả thuận ngang ít nghiêm trọng vàthoả thuận dọc thì phải thực hiện đánh giá tác động

Quy định cấm theo Điều 9 Luật Cạnh tranh không những không phù hợp vớithực tiễn thế giới mà còn tạo gánh nặng không cần thiết cho cơ quan cạnh tranhtrong quá trình điều tra các hành vi thoả thuận hạn chế cạnh tranh

2.2 Về chương trình khoan hồng

Thực tiễn thi hành pháp luật cạnh tranh trên thế giới cũng như tại Việt Nam,thỏa thuận hạn chế cạnh tranh sẽ có xu hướng ngầm hóa Điều này sẽ làm cho việcphát hiện và điều tra các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh trở nên khó khăn, phức tạphơn Vì vậy, hầu hết các nước đã sử dụng chương trình khoan hồng như một công

cụ quan trọng để phát hiện và điều tra các thỏa thuận hạn chế cạnh tranh

Chương trình khoan hồng được áp dụng nhằm miễn giảm mức xử phạt chocác chủ thể tham gia thỏa thuận hạn chế cạnh tranh chủ động đến khai báo đồngthời cung cấp các tài liệu chứng cứ giúp cơ quan cạnh tranh phát hiện và điều trahành vi thỏa thuận Thực tế, phần lớn các vụ việc điều tra thỏa thuận hạn chế cạnhtranh được các cơ quan cạnh tranh thế giới phát hiện thông qua chương trình khoanhồng Chẳng hạn tại Nhật Bản, chương trình khoan hồng là chương trình giảmhoặc miễn trừ tiền phạt phải nộp của doanh nghiệp trong trường hợp họ gửi cácbáo cáo tới Ủy ban Thương mại lành mạnh Nhật Bản (JFTC) liên quan đến hành vi

16

Trang 17

vi phạm Thông qua chương trình này, JFTC đã phát hiện ra rất nhiều vụ việc thỏathuận hạn chế cạnh tranh, đặc biệt là thông đồng đấu thầu, mà trước đó họ khôngthể phát hiện ra do không có chứng cứ Cụ thể, chương trình khoan hồng của NhậtBản mặc dù mới được đưa vào áp dụng từ tháng 4/2006 nhưng đến tháng 5/2007,JFTC đã nhận được sự khai báo của 105 công ty trong đó có cả Tập đoàn côngnghiệp nặng Mitsubishi Trong năm 2009, có 85 vụ JFTC nhận được thông báođúng sự thật về hành vi vi phạm, và đến cuối tháng 3 năm 2010 là 349 vụ.

Luật Cạnh tranh 2004 của Việt Nam chưa có quy định về chương trìnhkhoan hồng Các vụ thoả thuận hạn chế cạnh tranh được cơ quan cạnh tranh điềutra chủ yếu dựa trên các thông tin tự phát hiện hoặc được sự trợ giúp từ một số cơquan bên ngoài như cơ quan truyền thông, báo chí Hiện nay, trong Luật Cạnhtranh chỉ có quy định về các tình tiết giảm nhẹ áp dụng với các doanh nghiệp trongmột số trường hợp nhất định Tuy nhiên, qua 12 năm thi hành cho thấy quy định vềtình tiết giảm nhẹ không giúp khám phá hành vi thỏa thuận hạn chế cạnh tranh dochưa tạo được động cơ và áp lực lớn để doanh nghiệp tham gia thỏa thuận trìnhbáo và cung cấp thông tin về thỏa thuận mà họ tham gia Hơn nữa, bản chất, mụctiêu của chương trình khoan hồng cũng hoàn toàn khác biệt so với các quy định vềtình tiết giảm nhẹ Vì vậy, cần bổ sung quy định về chương trình khoan hồng đểtăng cường hiệu quả thực thi pháp luật cạnh tranh

3 Quy định về lạm dụng vị trí thống lĩnh thị trường, vị trí độc quyền

3.1 Xác định vị trí thống lĩnh thị trường của doanh nghiệp

Theo quy định của Luật Cạnh tranh, vị trí thống lĩnh thị trường của doanhnghiệp được xác định dựa trên hai căn cứ: thị phần trên thị trường liên quan hoặckhả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể Một doanh nghiệp được coi là

có vị trí thống lĩnh thị trường nếu có thị phần từ 30% trở lên trên thị trường liênquan hoặc có khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể

Thứ nhất, về việc xác định sức mạnh thị trường của doanh nghiệp dựa trên tiêu chí thị phần theo Luật Cạnh tranh hiện hành, khi một doanh nghiệp hoặc nhóm

doanh nghiệp nắm giữ mức thị phần nhất định thì sẽ được coi là có vị trí thống lĩnhtrên thị trường Thị phần của doanh nghiệp, nhóm doanh nghiệp được xem xét tạithời điểm thực hiện hành vi đó, tính theo tháng, quý hoặc năm

Về vấn đề này, Luật Cạnh tranh của các quốc gia phát triển đều thừa nhậnvai trò của thị phần trong việc đánh giá sức mạnh thị trường của doanh nghiệp bởithị phần của doanh nghiệp được thể hiện một cách khách quan, dựa trên các số liệu

cụ thể, rõ ràng và cho thấy sự tương quan trong sức mạnh của doanh nghiệp bị xemxét với các đối thủ khác trên thị trường Tuy nhiên, thị phần của doanh nghiệp bịxem xét được đem so sánh với thị phần của các đối thủ cạnh tranh hoặc được xemxét trong một quá trình để đánh giá sự tồn tại và sự bền vững của sức mạnh thịtrường mà doanh nghiệp nắm giữ Cách thức đánh giá như vậy là cần thiết để đảmbảo tính chính xác khi sử dụng tiêu chí thị phần để xác định vị trí thống lĩnh của

Trang 18

doanh nghiệp Chính vì vậy, bên cạnh tiêu chí thị phần, các cơ quan cạnh tranh trênthế giới sử dụng kết hợp nhiều tiêu chí khác nhau để đánh giá sức mạnh thị trườngcủa doanh nghiệp.

Thứ hai, khả năng gây hạn chế cạnh tranh một cách đáng kể hiện chỉ được

xem xét dừng lại ở trạng thái tĩnh Có nghĩa là, các yếu tố được cân nhắc đánh giáchỉ tập trung vào doanh nghiệp bị xem xét, tại một thời điểm nhất định chứ khôngđược đem so sánh trong mối tương quan với các đối thủ cạnh tranh khác trên thịtrường và trong bối cảnh cạnh tranh và xu hướng diễn biến của thị trường Các yếu

tố được quy định cũng chủ yếu liên quan đến năng lực tài chính hoặc năng lựccông nghệ của doanh nghiệp, mà thiếu các yếu tố phản ánh diễn biến thị trường

3.2 Quy định về các hành vi bị cấm

Quy định về các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh, lạm dụng vị trí độcquyền bị cấm tại Điều 13 Luật Cạnh tranh được thiết kế theo hướng đơn giản hoá.Các quy định về hành vi mới chỉ thể hiện một số hình thức biểu hiện bên ngoài, màchưa phản ánh đầy đủ, chính xác bản chất, mục tiêu phản cạnh tranh của hành vi.Bản chất của cạnh tranh thường được xem xét dưới góc độ kinh tế Bởi vậy, quyđịnh theo cách mô tả hình thức biểu hiện bên ngoài của hành vi sẽ hành vi dẫn đếnkhông phản ánh đúng bản chất, đồng thời, có thể bỏ sót các hành vi có bản chất hạnchế cạnh tranh hoặc ngược lại, cấm cả những hành vi không có bản chất, mục đíchphản cạnh tranh

4 Quy định về kiểm soát tập trung kinh tế

4.1 Về cách tiếp cận kiểm soát hành vi tập trung kinh tế

Đối với việc kiểm soát các hoạt động tập trung kinh tế, theo Điều 18 LuậtCạnh tranh 2004, tập trung kinh tế bị cấm nếu thị phần kết hợp của các doanhnghiệp tham gia tập trung kinh tế chiếm trên 50% trên thị trường liên quan (trừtrường hợp được miễn trừ theo quy định tại Điều 19) Đồng thời, các doanh nghiệptham gia tập trung kinh tế có thị phần kết hợp từ 30% đến 50% trên thị trường liênquan phải thông báo cho cơ quan cạnh tranh trước khi tiến hành tập trung kinh tế.Đây là cách tiếp cận kiểm soát TTKT theo hướng bị đơn giản hoá, chỉ dừng lại ởviệc xác định thị phần kết hợp của các bên tham gia TTKT mà chưa có đánh giátác động của TTKT đến thị trường ở nhiều phương diện Do đó, việc kiểm soátTTKT chưa phù hợp và chưa đạt được hiệu quả

Một là, về bản chất, đánh giá tác động của việc TTKT đến thị trường luôn

hướng về tương lai Khi tiến hành thủ tục thông báo (trước khi tiến hành TTKT),hậu quả hạn chế cạnh tranh chưa thực sự xảy ra Các số liệu chứng minh về thịphần chỉ phản ánh năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp tham gia trong quákhứ hoặc ở hiện tại Nếu chỉ dựa vào thông tin thị phần để đánh giá tác động củamột thương vụ TTKT đến cạnh tranh trong tương lai của thị trường có nghĩa làchúng ta đang đặt thị trường trong trạng thái tĩnh Trong sự vận động khôngngừng của thị trường, nhiều khi sự kiện sáp nhập, mua lại, liên doanh… giữa các

18

Trang 19

doanh nghiệp là nguyên nhân tạo nên những biến động về thị phần trên thị trườngmột cách nhanh chóng (doanh nghiệp sau khi TTKT không cần thực hiện bất cứchiến lược cạnh tranh nào mà có thể tăng được thị phần ở một mức độ nhất định).Thế nên, trong nhiều trường hợp, thị phần kết hợp của doanh nghiệp gần đạt đếnmức bị cấm mặc nhiên, song tác động của sự kiện TTKT đã làm cho chúng pháttriển đến hoặc vượt qua ngưỡng bị cấm Như vậy, mức thị phần kết hợp ở hiện tạichưa đủ để chứng minh về tác hại chắc chắn trong tương lai gần của việc TTKT.

Hai là, trong lý thuyết cạnh tranh, khả năng hạn chế cạnh tranh của TTKT

không chỉ là việc làm thay đổi cơ cấu cạnh tranh của thị trường mà còn là khả năngtăng cường quyền lực thị trường để thực hiện hành vi phản cạnh tranh trong tươnglai Thế nên, đặt trong bối cảnh nhất định, việc TTKT cũng có thể bị coi là nguyhại cho thị trường cạnh tranh nếu đem lại cho doanh nghiệp khả năng chi phối thịtrường và tiềm năng thực hiện hành vi phản cạnh tranh cho dù mức thị phần kếthợp hiện tại chưa đủ để bị cấm mặc nhiên Xét trong bối cảnh lịch sử, tại thời điểmban hành Luật Cạnh tranh thì quy định cấm này có thể có tính hợp lý nhất định,nhưng với sự vận động của nền kinh tế cũng như qua kinh nghiệm thực thi của cơquan cạnh tranh, quy định này rất cần được xem xét điều chỉnh cho phù hợp

Như vậy, việc đánh giá và cấm tập trung kinh tế chỉ dựa trên tiêu chí thịphần không phản ánh đầy đủ, chính xác thực tế thị trường và mức độ tác động của

vụ việc đến môi trường cạnh tranh, dẫn tới bỏ sót những trường hợp có khả năngtác động tiêu cực đến cạnh tranh hoặc ngược lại, cấm cả những trường hợp trênthực tế không gây ra tác động hạn chế cạnh tranh đáng kể

Ba là, việc chỉ sử dụng tiêu chí thị phần trên thị trường liên quan cũng gây

khó khăn cho doanh nghiệp trong việc xác định nghĩa vụ thông báo tập trung kinh

tế Thị trường liên quan là nội dung pháp lý theo quy định của Luật Cạnh tranh

2004 và do cơ quan cạnh tranh xác định Vì vậy, trên thực tế (1) quan điểm về thịtrường liên quan của cơ quan cạnh tranh và doanh nghiệp thường không tươngđồng, thậm chí có sự khác biệt rất lớn; (2) các doanh nghiệp chỉ có thể biết và chịutrách nhiệm về doanh thu, doanh số của mình mà không thể biết doanh thu, doanh

số chính xác của đối thủ cạnh tranh, do vậy, họ không thể tự xác định thị phần củamình trên thị trường liên quan nên khó có thể biết mình có thuộc trường hợp bịcấm hoặc phải thông báo tập trung kinh tế hay không

Bốn là, xuất phát từ việc Luật Cạnh tranh 2004 đánh giá TTKT chỉ dựa trên

tiêu chí thị phần kết hợp như đã nêu trên, vô hình chung đã loại các giao dịchTTKT theo chiều dọc và hỗn hợp khỏi phạm vi điều chỉnh Do thị phần kết hợp chỉ

có thể tính toán được trong các giao dịch TTKT theo chiều ngang nên mặc dùkhông có quy định cụ thể nhưng căn cứ Luật Cạnh tranh 2004, cơ quan cạnh tranhchỉ có căn cứ để kiểm soát TTKT theo chiều ngang Trong khi đó, TTKT theochiều dọc và hỗn hợp dù ít có khả năng gây hạn chế cạnh tranh hơn so với TTKTtheo chiều ngang nhưng vẫn cần được xem xét do tiềm ẩn những nguy cơ đối vớimôi trường cạnh tranh như gây sức ép cho doanh nghiệp khác để khống chế nguồnhàng hoặc đầu ra của đối thủ cạnh tranh Đặc biệt yêu cầu kiểm soát này càng trở

Trang 20

nên cấp thiết khi TTKT theo chiều dọc và hỗn hợp ngày càng xuất hiện phổ biếntrên thực tế và đang có xu hướng tăng lên về số lượng.

4.3 Về điều kiện miễn trừ trong tập trung kinh tế

Điều 19 Luật Cạnh tranh quy định TTKT bị cấm có thể được xem xét miễn

trừ trong các trường hợp: “1 Một hoặc nhiều bên tham gia tập trung kinh tế đang

trong nguy cơ bị giải thể hoặc lâm vào tình trạng phá sản; 2 Việc tập trung kinh tế

có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ

kỹ thuật, công nghệ”.

Đối với trường hợp miễn trừ cho TTKT trong trường hợp doanh nghiệpđang có nguy cơ bị giải thể hoặc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 19 LuậtCạnh tranh Theo quy định tại khoản 2 Điều 157 Luật Doanh nghiệp, giải thểdoanh nghiệp gồm trường hợp giải thể tự nguyện và giải thế bắt buộc, trong đóđiều kiện bắt buộc là doanh nghiệp phải có khả năng thanh toán được các nghĩa vụtài chính của mình Nhưng Luật Cạnh tranh và pháp luật doanh nghiệp không cómột định nghĩa hoặc giải thích rõ ràng hơn về khái niệm “nguy cơ bị giải thể” để

cơ quan quản lý có căn cứ để áp dụng Tương tự đối với quy định tại khoản 2 Điều

19 Luật Cạnh tranh, cơ quan quản lý và các doanh nghiệp cũng khó khăn trongviệc lý giải thế nào là có tác dụng mở rộng xuất khẩu hoặc góp phần phát triểnkinh tế-xã hội, tiến bộ kỹ thuật Giả sử các bên tham gia giao dịch đều là nhữngdoanh nghiệp chuyên kinh doanh mặt hàng xuất khẩu thì thị phần kết hợp của họsau sáp nhập có phải là một sự mở rộng xuất khẩu hay không Hệ quả của việcthiếu các tiêu chí đánh giá các trường hợp miễn trừ như trên có thể dẫn tới sự tùynghi của cơ quan có thẩm quyền khi xem xét cho hưởng miễn trừ như có thể dễ dãitrong việc đánh giá, xem xét; hoặc ngăn cản giao dịch mặc dù giao dịch đó có thểmang nhiều lợi ích cho kinh tế và người tiêu dùng hơn là những tác hại mà chúnggây ra

5 Quy định về cạnh tranh không lành mạnh

5.1 Sự mâu thuẫn giữa các văn bản QPPL quy định về hành vi CTKLM và

chồng chéo về thẩm quyền xử lý giữa các cơ quan

Hiện nay, một số hành vi CTKLM được quy định trong nhiều văn bản luậtkhác nhau như Luật Quảng cáo, Luật Sở hữu trí tuệ… được thi hành bởi các cơquan quản lý nhà nước khác nhau dẫn đến chồng chéo về thẩm quyền xử lý, hoặckhả năng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan hay những tranh luận trên bìnhdiện xã hội do chạm đến những nhóm quyền lợi khác nhau Cụ thể:

Đối với quy định về chỉ dẫn gây nhầm lẫn, Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữutrí tuệ đều quy định cấm hành vi sử dụng chỉ dẫn thương mại gây nhầm lẫn Điều

40 Luật Cạnh tranh quy định chỉ dẫn thương mại có thể bao gồm “tên thương mại,khẩu hiệu kinh doanh, biểu tượng kinh doanh, bao bì, chỉ dẫn địa lý và các yếu tốkhác theo quy định của Chính phủ” Khoản 2 Điều 130 Luật Sở hữu trí tuệ quyđịnh chỉ dẫn thương mại“ là các dấu hiệu, thông tin nhằm hướng dẫn thương mại

20

Trang 21

hàng hoá, dịch vụ, bao gồm nhãn hiệu, tên thương mại, biểu tượng kinh doanh,khẩu hiệu kinh doanh, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng bao bì của hàng hoá, nhãn hànghoá” Như vậy, cả hai văn bản này đều chưa làm rõ được bản chất pháp lý của chỉdẫn thương mại, mà chỉ mang tính chất liệt kê các đối tượng có thể coi là chỉ dẫnthương mại Mặc dù đã có nhiều quan điểm thực thi khác nhau nhưng hiện nay vẫnchưa có cơ sở pháp lý rõ ràng cho việc phân định phạm vi áp dụng giữa pháp luậtcạnh tranh và sở hữu trí tuệ.

Một vấn đề khác được đặt ra trong quá trình so sánh giữa các quy định vềchỉ dẫn gây nhầm lẫn trong Luật Cạnh tranh và Luật Sở hữu trí tuệ là cách thứcứng xử với các chỉ dẫn thương mại đã được bảo hộ và chỉ dẫn thương mại chưađược bảo hộ Luật Sở hữu trí tuệ chỉ bảo vệ các chỉ dẫn thương mại đã đăng kýbảo hộ, tuy nhiên căn cứ quy định của Luật Cạnh tranh, hành vi sử dụng chỉ dẫnlàm sai lệch nhận thức của khách hàng về hàng hóa, dịch vụ nhằm mục đích cạnhtranh là một dạng của hành vi cạnh tranh không lành mạnh, không phụ thuộc vàoviệc dấu hiệu chỉ dẫn đó đã được đăng ký chưa Như vậy trên lí thuyết, các chỉdẫn thương mại chưa đăng ký bảo hộ vẫn tìm được cơ sở pháp lý bảo vệ trongLuật Cạnh tranh, tuy nhiên trong quá trình thực thi, sẽ rất khó khăn cho cơ quanđiều tra khi chứng minh một chỉ dẫn chưa được đăng ký bảo hộ nhưng đã trở nênquen thuộc với người tiêu dùng và đang bị gây nhầm lẫn

Đối với quy định về xâm phạm bí mật kinh doanh, Điều 41 Luật Cạnh tranhquy định cấm doanh nghiệp thực hiện một số các hành vi xâm phạm bí mật kinhdoanh Khái niệm “bí mật kinh doanh” đều đã được định nghĩa tại khoản 10 Điều 3Luật Cạnh tranh và Điều 84 Luật Sở hữu trí tuệ Tuy nhiên, nếu Điều 41 Luật Cạnhtranh xem bí mật kinh doanh thuộc phạm vi bảo hộ của pháp luật về CTKLM, thìLuật Sở hữu trí tuệ lại không đưa hành vi xâm phạm bí mật kinh doanh vào nhómhành vi CTKLM về sở hữu trí tuệ tại Điều 130 mà coi đây là một hành vi xâm phạmquyền Đây là điểm chưa nhất quán giữa hai văn bản quy phạm pháp luật khi điềuchỉnh cùng một đối tượng

Liên quan đến thẩm quyền xử lý, sự tham gia của nhiều cơ quan quản lýnhà nước vào việc xử lý hành vi CTKLM một mặt tạo ra sự cần thiết trong việcliên kết và hợp tác giữa các cơ quan để đảm bảo giải quyết và xử lý triệt để cáchành vi xâm hại đến môi trường cạnh tranh lành mạnh; đảm bảo cho các doanhnghiệp, người tiêu dùng có nhiều cơ hội để bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình.Tuy nhiên, tình trạng này cũng có thể gây ra những hệ lụy không mong muốntheo hướng (i) chồng chéo về thẩm quyền xử lý cùng một hành vi CTKLM, (ii)khả năng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan thực thi pháp luật khi một hành

vi vi phạm được quy định trong nhiều văn bản pháp luật thuộc các lĩnh vực quản

lý kinh tế khác nhau Chẳng hạn, thẩm quyền của Cơ quan quản lý cạnh tranhtrong xử lý vi phạm về quảng cáo nhằm CTKLM có liên quan và có một số mảngchồng lấn với thẩm quyền của thanh tra chuyên ngành và lực lượng quản lý thịtrường khi xử lý vi phạm hành chính trong hoạt động quảng cáo khác

Trang 22

5.2 Về hành vi phân biệt đối xử của hiệp hội

Quy định về phân biệt đối xử của hiệp hội hướng đến một đối tượng đặc biệt

là các hiệp hội thương nhân Ở nhiều quốc gia có nền kinh tế thị trường phát triển,các hiệp hội mạnh có tầm ảnh hưởng lớn đến hoạt động thị trường và các quyếtđịnh của hiệp hội tác động đáng kể đến tương quan cạnh tranh, có thể tạo lợi thếcho một hoặc một số thành viên so với những đối thủ hoạt động trong cùng lĩnhvực và cùng tham gia hiệp hội khác, qua đó làm sai lệch cạnh tranh Tuy nhiên,trong điều kiện Việt Nam, khi tầng lớp thương nhân chưa đủ mạnh và các liên kếtcòn lỏng lẻo, vai trò của các hiệp hội thương mại, hiệp hội ngành hàng tỏ ra mờnhạt, quy định về hiệp hội chủ yếu mang tính chất răn đe, phòng ngừa, chưa thểhiện được hiệu quả tức thời Mặt khác, chủ thể thực sự của hành vi này là cácdoanh nghiệp, các doanh nghiệp là người quyết định và trực tiếp thực hiện hành vi,với mục tiêu loại bỏ đối thủ cạnh tranh khác Do vậy, hành vi phân biệt đối xửkhông phù hợp với khái niệm, bản chất của hành vi cạnh tranh không lành mạnh

5.3 Vấn đề quy định hành vi bán hàng đa cấp trong Luật Cạnh tranh

Về bản chất, bán hàng đa cấp bất chính không phải là hành vi CTKLM nhằmtạo lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường và càng không phải là mộtdạng hành vi hạn chế cạnh tranh

Nếu phân tích từ góc độ của các quan hệ phát sinh hành vi bán hàng đa cấpbất chính có thể thấy các hành vi được liệt kê tại điều 48 Luật Cạnh tranh chủ yếuxảy ra trong quan hệ giữa doanh nghiệp bán hàng đa cấp với người tham gia mạnglưới bán hàng đa cấp Các hành vi này khi được thực hiện đã tạo ra những hợpđồng bất cân xứng về quyền và nghĩa vụ hoặc bị khiếm khuyết về sự trung thực,công bằng giữa các bên tham gia Trong trường hợp doanh nghiệp thực hiện hành

vi nhằm trục lợi từ việc đặt ra các điều kiện giao dịch bất lợi cho người tham giabán hàng thì mục đích bất chính chỉ giới hạn trong quan hệ giữa doanh nghiệp tổchức bán hàng và người tham gia Yếu tố cạnh tranh không thể hiện rõ trong từnghành vi đã được quy định trong điều 48 Luật Cạnh tranh Bởi việc định danh hành

vi bán hàng đa cấp có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả điều chỉnh của pháp luật

Để có thể xử lý hiệu quả một hành vi hoặc một quan hệ cụ thể xảy ra trên thịtrường hoặc trong đời sống xã hội, nhà nước cần xác định rõ tính pháp lý của hành

vi để áp dụng các công cụ, các biện pháp xử lý phù hợp

Với Luật Cạnh tranh, các hành vi bị điều chỉnh phải mang bản chất cạnhtranh Các hành vi có thể ngăn cản sự công bằng trên thị trường nhưng khôngmang bản chất cạnh tranh thì không thể sử dụng các công cụ của Luật Cạnh tranh

để xử lý Có làm như vậy, chúng ta sẽ thuyết phục được công chúng Người viphạm xác định rõ được giới hạn vi phạm và nhà nước sẽ sử dụng các biện phápphù hợp theo tính chất của hành vi Với quan điểm như vậy, không thể quy kết bánhàng đa cấp bất chính là hành vi CTKLM và như vậy không thuộc phạm vi điềuchỉnh của Luật Cạnh tranh

22

Ngày đăng: 17/03/2022, 15:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w